Chính vì vậy, việc tìm ra các giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh là yêu cầu cấp thiết, cần được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chí
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VƯƠNG THỊ THU HÀ
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN RỪNG PHÒNG HỘ TẠI THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU,
TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VƯƠNG THỊ THU HÀ
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN RỪNG PHÒNG HỘ TẠI THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU,
TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 62.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Sỹ Trung
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong một công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2017
Tác giả
Vương Thị Thu Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Khoa Sau đại học - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên theo chương trình đào tạo Cao học Lâm học khoá 23, giai đoạn 2015 - 2017
Trong quá trình hoàn thành đề tài, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Khoa Đào tạo sau đại học cũng như của các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Kinh tế, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Hạt Kiểm lâm Đông Triều, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều và các hộ dân địa phương Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn
về sự giúp đỡ quý báu đó
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới PGS-TS Lê Sỹ Trung - người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập cũng như hoàn thành luận văn
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên trong suốt thời gian học tập
và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và các đồng nghiệp để công trình nghiên cứu này được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2017
Tác giả
Vương Thị Thu Hà
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Khái niệm và vai trò của hệ sinh thái rừng phòng hộ 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Tài nguyên rừng 5
1.1.3 Rừng phòng hộ 6
1.1.4 Phục hồi rừng 7
1.1.5 Tái sinh rừng 7
1.2 Các kết quả nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 7
1.2.1 Kết quả nghiên cứu trên thế giới 7
1.2.2 Kết quả nghiên cứu trong nước 15
1.2.3 Nhận xét và đánh giá chung 24
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
2.2 Nội dung nghiên cứu 26
Trang 62.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài 26
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 28
2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Hiện trạng tài nguyên rừng thị xã Đông Triều, Quảng Ninh 32
3.1.1 Diện tích đất đai và tình hình sử dụng đất 32
3.1.2 Hiện trạng thực vật rừng 40
3.1.3 Thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 43
3.1.4 Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ 45
3.1.5 Các chính sách trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ 47
3.1.6 Thu nhập của người dân từ rừng phòng hộ 48
3.2 Kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến rừng phòng hộ bảo vệ môi trường 49
3.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố điều kiện tự nhiên 49
3.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội 54
3.2.3 Ảnh hưởng về tổ chức thực hiện 56
3.2.4 Ảnh hưởng của chính sách 57
3.2.5 Ảnh hưởng về nhân lực 58
3.2.6 Ảnh hưởng của thị trường 59
3.3 Kết quả phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong quản lý rừng phòng hộ 59
3.4 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng phòng hộ thị xã Đông Triều 61
3.4.1 Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức, vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân 61
3.4.2 Giải pháp lâm nghiệp 62
Trang 73.4.3 Giải pháp về tổ chức 64
3.4.4 Giải pháp về Chính sách 64
3.4.5 Chính sách phát triển nguồn nhân lực 65
3.4.6 Giải pháp về Phát triển kinh tế xã hội, nâng cao thu nhập cho cộng đồng 66 3.4.7 Giải pháp về khoa học công nghệ 67
3.4.8 Giải pháp về tăng cường thực thi luật pháp liên quan đến quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng 68
3.4.9 Nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền các cấp và sự tham gia của các ngành, các tổ chức xã hội vào bảo vệ rừng 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Kiến nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 80
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 BVMT : Bảo vệ môi trường
2 DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
10 NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
11 PTNT : Phát triển nông thôn
13 QPN 14-92 : Quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng
cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa
14 QHSDĐLN : Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Diện tích đất đai, tài nguyên của thị xã Đông Triều 32Bảng 3.2: Diện tích rừng phòng hộ theo đơn vị hành chính 34Bảng 3.3: Bảng tổng hợp diện tích rừng trồng phòng hộ 35Bảng 3.4: Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp trong ranh giới khoáng sản
thuộc đất rừng phòng hộ 37Bảng 3.5: Kết quả công tác tuyên truyền, ký cam kết bảo vệ rừng 46Bảng 3.6: Danh mục các loài cây trồng chính 63
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài 28
Hình 3.1: Diện tích ba loại rừng 33
Hình 3.2: Diện tích rừng phòng hộ 33
Hình 3.3: Diện tích rừng phòng hộ theo đơn vị hành chính 35
Hình 3.4: Diện tích rừng trồng trong rừng phòng hộ 36
Hình 3.5: Trữ lượng rừng phòng hộ 38
Sơ đồ 3.1: Công tác quản lý nhà nước về Rừng Đông Triều 43
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là “lá phổi xanh” của trái đất, rừng chiếm 31% tổng diện tích trái
đất trên thế giới với khoảng 4 tỷ ha, phân bố trên 3 vùng khí hậu: Bắc cực, ôn đới và nhiệt đới, trong đó có khoảng 93% là rừng tự nhiên và 7% là rừng trồng, các nước có diện tích rừng lớn nhất trên thế giới là Trung Quốc, Canada, Mỹ, Nga và Brazil, diện tích rừng chia đầu người khoảng 0.6 ha/người (FAO (2010) [31]
Trên thế giới có khoảng 1.6 tỷ người tham gia vào các hoạt động liên quan đến rừng và là môi trường sống của hơn 2/3 động thực vật được xác định trên toàn Thế giới Đặc biệt, rừng là bể hấp thụ CO2 lớn, ước tính 650 tỷ tấn Cacbon trong toàn hệ sinh thái, chiếm 44% tỏng sinh khối, lưu giữ khoảng
298 Gt (Giga tấn) CO2 trong sinh khối Ước tính giá trị khai thác từ rừng mỗi năm 122 tỷ USD [32]
Việt Nam có tổng diện tích rừng tự nhiên là 10.175.519 ha; rừng trồng: 3.886.337 ha, độ che phủ rừng 39.5% Phân bố diện tích cho 3 loại rừng như sau: Rừng sản xuất trên 6,6 triệu ha, rừng phòng hộ trên 4,4 triệu ha, rừng đặc dụng khoảng 2,1 triệu ha [58], với 32 vườn quốc gia và 120 khu bảo tồn thiên nhiên (Bộ NN&PTNT (2016) [24]
Đông Triều nằm ở cửa ngõ phía Tây của tỉnh Quảng Ninh, là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi có bề dày truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng, nơi gắn liền với cội nguồn nhà Trần, một trong những triều đại hùng mạnh nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nơi có quần thể di tích kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng linh thiêng, kỳ bí chứa đựng trong mình những giá trị tinh thần bất diệt Với diện tích tự nhiên gần 397 km2; Diện tích đất lâm nghiệp của thị xã với tổng diện tích 19.717,94 ha chiếm 49,71% diện tích đất tự nhiên toàn thị
xã Trong đó rừng sản xuất 8.910,49 ha; rừng phòng hộ 10.129,82 ha; rừng đặc dụng 677,63 ha; rừng tự nhiên có diện tích 4.405,52 ha ước tổng trữ
Trang 12lượng 155.200 m3; rừng trồng tổng diện tích hiện có là 11.431,65 ha; đất chưa
có rừng là 3.880,77 ha (bao gồm cả diện tích rừng trồng chưa thành rừng) [65], dân số có 173.141 người, với 11 dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn 6 phường và 15 xã
Rừng phòng hộ của thị xã Đông Triều giữ vai trò rất quan trọng trong điều hòa nguồn nước, chống sạt lở đất vào mùa mưa lũ và các chức năng bảo
vệ môi trường khác, đồng thời là cảnh quan tạo nên khu du lịch tâm linh huyền bí Ngọa Vân - Yên Tử, đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt (Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013), kèm theo Quyết định số 307/QĐ-TTg, ngày 07/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể Khu di tích lịch sử Nhà Trần ở huyện Đông Triều (nay là thị xã), với diện tích 2.206 ha đã tạo hành lang pháp lý quan trọng, có ý nghĩa to lớn vừa góp phần bảo tồn di tích lịch sử nhà Trần, đồng thời liên quan và tác động rất lớn đến diện tích rừng, nhất rừng phòng hộ của thị xã Tuy nhiên, rừng phòng hộ ở Đông Triều hiện đang gặp phải rất nhiều thách thức làm giảm số lượng và chất lượng rừng như các vấn đề về xâm lấn rừng phòng hộ của người dân địa phương, khai thác trái phép Nhằm phát huy vai trò phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan, đặc biệt là di tích quốc gia nhà Trần tại Đông Triều - Di tích Quốc gia đặc biệt Theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thị xã Đông Triều đến năm
2020 tầm nhìn 2030 đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1618/QĐ-UBND ngày 09/6/2015, trong đó đã xác định con đường phát triển văn hóa - du lịch là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển KT-
XH của thị xã với 03 định hướng đó là: du lịch văn hoá tâm linh, du lịch làng nghề truyền thống và du lịch sinh thái trải nghiệm Thì vấn đề quản lý và bảo
vệ rừng nói chung và rừng phòng hộ nói riêng là cần thiết hơn bao giờ, vì đây
là nguồn để nâng cao thu nhập cho người dân bằng cách gián tiếp: như thu từ sản phẩm của rừng hoặc thu được từ việc cho thuê môi trường rừng, du lịch
Trang 13sinh thái và chuyển nhượng chứng chỉ các bon nhưng cần phải làm thế nào,
ra sao để nguồn thu từ lâm nghiệp là nguồn thu bền vững, thì vẫn là bài toán
để ngỏ cần có đáp án
Chính vì vậy, việc tìm ra các giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh là yêu cầu cấp thiết, cần được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan quản lý và sản xuất lâm nghiệp và sự nỗ lực cố gắng của mỗi người dân trên địa bàn thị
xã Với lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài "Nghiên cứu cơ sở thực tiễn và đề xuất một số giải pháp phát triển rừng phòng hộ tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh" làm đề tài luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo Thạc sĩ
Xây dựng được một số luận cứ cho việc đề xuất giải pháp quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng phòng hộ tại thị xã Đông Triều tỉnh Quảng Ninh
Góp phần bổ sung thông tin về cơ sở khoa học cho các nhà quản lý đánh giá một cách đầy đủ các chỉ tiêu quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ
Trang 142.2.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Các giải pháp đề xuất là thông tin quan trọng cho chính quyền địa phương tham khảo trong quản lý bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại thị xã Đông Triều
- Từng bước làm cho người dân hiểu rõ thêm về tầm quan trọng của rừng từ đó tham gia bảo vệ phát triển rừng bền vững
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm và vai trò của hệ sinh thái rừng phòng hộ
1.1.1 Khái niệm
Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối quan hệ lẫn nhau, nó chiếm một
phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển (Nguồn: Morozov
1930) Rừng chiếm phần lớn bề mặt trái đất và là một bộ phận của cảnh quan
địa lý Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau với
hoàn cảnh bên ngoài (Nguồn: M.E.Tcachenco (1952) Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cư bản của sinh quyển địa cầu (Nguồn:
I.S Mê Lê Khôp (1974)
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây
gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng
sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng (Nguồn: theo khoản 1 điều 3
của Luật bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam năm 2004)
và không khí Con người có thể sử dụng tài nguyên thiên nhiên này để khai thác, sử dụng hoặc chế biến ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống Ở những vùng khí hậu khác nhau thì tài nguyên rừng cũng khác nhau
Trang 161.1.3.1 Rừng phòng hộ đầu nguồn
Rừng phòng hộ đầu nguồn là rừng được xác lập nhằm tăng cường khả năng điều tiết nguồn nước của các dòng chảy, hồ chứa nước để hạn chế lũ lụt,
giảm xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế bồi lấp các lòng sông, lòng hồ
Diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn gồm diện tích rừng và đất lâm nghiệp do cơ quan có thẩm quyền quy hoạch để phát triển rừng phòng hộ
Quy mô của rừng phòng hộ đầu nguồn phù hợp với quy mô của lưu vực sông, hồ và việc quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn gắn với công tác quản
lý tổng hợp lưu vực sông, hồ;
Rừng phòng hộ đầu nguồn được phân ra cấp xung yếu và rất xung yếu, xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số về: lượng mưa, độ dốc, độ cao tương đối, thành phần cơ giới và độ dày tầng đất và quy mô diện tích [7]
1.1.3.2 Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường
Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường được xác lập nhằm điều hoà khí hậu, chống ô nhiễm môi trường ở khu dân cư, đô thị và khu công nghiệp, kết hợp phục vụ du lịch, nghỉ ngơi
Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường được xác lập dựa trên các tiêu chí
và chỉ số về diện tích, các yếu tố môi trường, ô nhiễm, độc hại do hoạt động kinh tế, xã hội trong khu vực tạo nên hoặc yêu cầu về an ninh, quốc phòng
Diện tích rừng phòng hộ bảo vệ môi trường gồm diện tích rừng và đất lâm nghiệp do cơ quan có thẩm quyền quy hoạch để phát triển rừng phòng hộ[7]
Trang 17là quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái, một quần xã sinh vật mà trong đó cây
gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu, nó chi phối các quá trình biến đổi tiếp theo
1.1.5 Tái sinh rừng
Tái sinh rừng, được hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của cả hệ sinh thái rừng Tái sinh rừng, hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng (Phùng Ngọc Lan (1986) [38]
1.2 Các kết quả nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Kết quả nghiên cứu trên thế giới
1.2.1.1 Các kết quả nghiên cứu về tổ chức quản lý rừng phòng hộ
A Các chính sách Tổ chức, quản lý rừng phòng hộ
Phương thức Quản lý rừng cộng đồng (hay lâm nghiệp cộng đồng) xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ và dần dần biến thái thành các hình thức quản lý khác nhau như lâm nghiệp trang trại, lâm nghiệp xã hội (Nêpan, Thái Lan, Philippin, )
Nhằm khắc phục tình trạng khai thác rừng quá mức, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả Quản lý rừng như: Các nhà lâm học Đức (Heyer (1883) [38] đã đề xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đồng tuổi
Theo báo cáo của Oli Krishna Prasad (1999) [73], tại Khu bảo tồn Hoàng gia Chitwan ở Nepal, để quản lý rừng bền vững, cộng đồng dân cư vùng đệm được tham gia hợp tác với một số bên liên quan trong việc quản lý tài nguyên vùng đệm phục vụ cho du lịch Lợi ích của cộng đồng khi tham gia
Trang 18Quản lý tài nguyên là khoảng 30 - 50% thu được từ du lịch hằng năm sẽ được đầu tư trở lại cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng
Một số nghiên cứu cho thấy các mối quan hệ truyền thống trong xã hội
có vai trò quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề về sở hữu, sử dụng tài nguyên (Laslo Pancel (1990) [35] Thông qua các nghiên cứu và thực tiễn sản xuất, chính phủ các nước đã đưa ra các chương trình quan trọng như
“Lâm nghiệp cộng đồng”, các chính sách quản lý tài nguyên thiên nhiên và
đều chú trọng đến sự tham gia của người dân, sự phân cấp và chuyển giao trách nhiệm quản lý tài nguyên sang các cộng đồng địa phương và các nhóm
sử dụng
Như vậy, có thể thấy rằng người dân đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sử dụng đất bền vững và là nhân tố quyết định tới việc quản lý bảo vệ, phục hồi rừng phòng hộ Ở Trung Quốc, Chính phủ khuyến khích sự tham gia của người dân thông qua hệ thống hợp đồng quản lý đất (dẫn theo
Vũ Long (2002) [40]
Ngoài ra, thông qua các chính sách đất đai cũng đã giải quyết được vấn
đề như thúc đẩy kinh tế, bình đẳng và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và
sử dụng đất bền vững (Ulrich (1996) (dẫn theo Nguyễn Văn Hùng (2002) Như vậy, sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức, các chính sách về đất đai, dựa trên những mục tiêu củng cố vai trò của người dân địa phương, trong đó việc xác định rõ quyền sở hữu, sử dụng đất đai được coi như là cơ bản cho việc sử dụng đất hiệu quả, bền vững và bảo vệ tài nguyên
Trang 19C Sự tham gia của HGĐ trong phục hồi RPHĐN
Trong những năm 1970 trở lại đây, nhiều nhà khoa học đã đi sâu
nghiên cứu về quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng Ở khu vực
châu Á - Thái Bình Dương “nền lâm nghiệp cộng đồng” đã trở thành một
chương trình quan trọng nhất về Lâm nghiệp được Chính phủ các nước thực hiện với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế Phần lớn các chính sách quản lý tài nguyên thiên nhiên đã được ban hành đều chú trọng đến sự tham gia của người dân, trong đó việc phân cấp và chuyển giao trách nhiệm quản lý tài nguyên từ các cơ quan thuộc Chính phủ sang các cộng đồng địa phương, các nhóm sử dụng và HGĐ được xem là một trong những việc làm quan trọng nhất (dẫn theo Đỗ Đức Bảo) [25]
Việc thực hiện hình thức quản lý lâm nghiệp nhà nước đã không mang lại hiệu quả như mong muốn và hình thức quản lý rừng cộng đồng trở thành một hướng đi mới đầy triển vọng Thực tế cho thấy, nơi nào mà vai trò làm chủ của người dân đối với rừng được khẳng định, có cơ chế hưởng lợi rõ ràng thì nơi đó rừng được giữ tốt và ngược lại Vai trò của HGĐ trong phục hồi rừng được khẳng định rõ ràng khi hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay đều rất chú trọng tới giao rừng, bao gồm cả RPH cho các HGĐ bảo vệ, khai thác sử dụng và phát triển, có thể kể tới như:
- Ở Thụy Điển 50% diện tích rừng và đất rừng được giao cho các HGĐ,
cá nhân quản lý, sử dụng Nhà nước và các công ty lớn chỉ quản lý 50% diện tích còn lại (dẫn theo Triệu Văn Lực (1999) [22]
- Ở Nhật Bản các công ty và HGĐ, cá nhân sở hữu tới 14,6 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp, chiếm 58,1% tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp
cả nước, trong đó có tới 88% chủ rừng là các HGĐ tư nhân Chính phủ có chương trình trợ cấp nhằm hỗ trợ cho các hoạt động lâm sinh, xây dựng đường lâm nghiệp thông qua Hội các chủ rừng, ngoài ra các chủ rừng còn được ưu tiên vay vốn để sản xuất kinh doanh với lãi suất thấp, đồng thời còn được giảm thuế đất lâm nghiệp [22]
Trang 20- Ở Pháp: Rừng tư nhân chiếm khoảng 10 triệu ha và rừng nhà nước chỉ chiếm khoảng 4 triệu ha Trong 10 triệu ha rừng tư nhân thì có một nửa diện tích thuộc về 1,5 triệu tiểu chủ (dẫn theo Triệu Văn Lực (1999) [22]
- Ở Thái Lan nhằm hạn chế tốc độ mất rừng đầu nguồn, từ năm 1968 chính phủ đã có chính sách khuyến khích người dân định canh, định cư trên các vùng đất đã bị tàn phá nặng nề do đốt nương làm rẫy và khai thác gỗ Năm 1985 chính sách lâm nghiệp nước này đã chỉ rõ: Chính phủ khuyến khích mọi hoạt động lâm nghiệp cộng đồng, khuyến khích trồng rừng bao gồm cả RPHĐN do các HGĐ và cá nhân đảm nhận đồng thời Nhà nước sẽ phát triển các chương trình khuyến lâm để nâng cao nhận thức và hỗ trợ người dân phát triển lâm nghiệp [46]
- Ở Phần Lan các HGĐ có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý, sử dụng và phát triển rừng, có tới 2/3 diện tích rừng và đất rừng thuộc sở hữu của
tư nhân và có khoảng 430.000 chủ rừng, bình quân mỗi chủ rừng sở hữu 33
ha [46]
1.2.1.2 Các kết quả nghiên cứu về kỹ thuật kinh doanh rừng phòng hộ
A Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn
Tái sinh rừng là một giải pháp quan trọng và hiệu quả để phục hồi tài nguyên rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn Những nghiên cứu về tái sinh rừng nhiệt đới được đề cập tới từ những năm 1930 với vấn đề được quan tâm là thế hệ cây tái sinh có tổ thành giống nhau hay khác biệt với tổ thành tầng cây cao (Mibbread (1930); Richards (1933, 1939, 1965, 1986); Aubrerille (1938); Beard (1946); Lebrun và Gibert (1954); Jones (1955,1956); Van Steenis J (1956); Schultz (1960); Baur (1964); Rollet (1969); A.B Said (1991) [2], [67], [74], [75], [76]
Tiếp đó một số vấn đề về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đã được nghiên cứu như hiệu quả của các phương thức xử lý lâm sinh đến tái sinh các loài cây mục đích trong các kiểu rừng (Kennedy (1935); Lancaster (1953);
Trang 21Taylor (1954); Jones (1960); Foggie (1960); Rosevear (1974) ; phương thức chặt dần tái sinh ở dưới tán (Schultz (1960); phương thức chặt dần nhiệt đới (Brooks (1941); Ayoliffe (1952); phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann (Griffith (1947); Barnerji (1959); phương thức chặt rừng đều tuổi
ở Malaysia (Bernard (1950-1954); Wyatt Smith (1961, 1963), phương thức đồng hoá tầng trên (Nichalson, 1958; Maudova (1951, 1954) Đây là những nghiên cứu có hệ thống nhằm điều tiết tổ thành cây tái sinh tạo nên những lâm phần rừng có cấu trúc hỗn loài, nhiều tầng, khác tuổi và bền vững
Về xây dựng hệ thống rừng phòng hộ: Phương Chính Tam và cộng sự (1973) đã nghiên cứu ở Trung Quốc, với địa hình đất dốc đã tiến hành bố trí rừng phòng hộ cứ 20-50 m lại có một đai rừng cây bụi xen cây gỗ Khi nghiên cứu các biện pháp tác động nhằm nâng cao chất lượng rừng phòng hộ Gyenge
J et all (2009) [70] cho rằng: Cây bản địa sử dụng ít nước hơn cây ngoại lai, Sun G et all (2005) cho rằng: Rừng rụng lá sử dụng ít nước hơn rừng thường xanh khoảng 20% [78] Chính vì vậy, khi xây dựng rừng phòng hộ cần ưu tiên phát triển rừng bằng các loài cây bản địa
B Biện pháp kỹ thuật trồng RPHĐN:
Khi nghiên cứu về cấu trúc tầng tán của lâm phần hỗn loài tác giả Hudson H.W (1971) thấy rằng kết cấu tầng tán của rừng trồng hỗn loài phụ thuộc vào đặc tính sinh trưởng và tính hợp quần của các loài cây trong lâm
phần [72] Nghiên cứu này cho thấy, để tạo lập được RPHĐN có cấu trúc hỗn
loài, đa tầng có tác dụng phòng hộ cao thì việc nghiên cứu đặc điểm sinh học của từng loài và mối quan hệ giữa các loài khi phối trí với nhau có tính quyết định tới sự thành công
Những nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật điều chỉnh các lâm phần rừng
trồng hỗn loài theo quá trình sinh trưởng các tác giả Gyenge J et all (2009) [70] đã tác động vào các lâm phần rừng trồng hỗn loài thông qua việc giảm bớt sự cạnh tranh giữa các loài cây Kết quả cho thấy sau khi tác động các
Trang 22biện pháp tỉa cành, tỉa thưa các loài cây mục đích đã được tạo điều kiện thuận
lợi để sinh trưởng, phát triển tốt hơn Nghiên cứu này rất có ý nghĩa trong
trồng RPHĐN, trong giai đoạn đầu khi trồng RPHĐN có thể áp dụng biện pháp trồng với mật độ dày để rừng mau khép tán, nhanh phát huy tác dụng phòng hộ nhưng sau đó có thể tỉa thưa một số cây sinh trưởng chậm, giảm bớt mật độ để tạo điều kiện cho những cây còn lại phát triển tốt đồng thời góp phần tăng thu nhập cho người dân
Ngoài việc xác định được loài cây phù trợ thích hợp thì việc nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của các loài cây cũng là vấn đề rất quan trọng khi
xây dựng mô hình trồng RPHĐN hỗn loài
C Biện pháp kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh RPHĐN
Một số biện pháp KTLS đảm bảo tính hiệu quả và rẻ tiền thường được
sử dụng trong phục hồi rừng ở các nước trên thế giới là tái sinh tự nhiên, xúc tiến tái sinh tự nhiên, xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung và làm giàu rừng (Van Dijk et all (2004) Kèm theo nó là hàng loạt các phương thức
xử lý lâm sinh khác nhau nhằm đạt được mục tiêu phục hồi như: Chặt gieo giống, xử lý tầng cây trên, xử lý tầng lâm hạ (Phạm Xuân Hoàn, Hoàng Kim
Ngũ (2003) [37] Các biện pháp kỹ thuật này được ứng dụng rất rộng rãi
trong phục hồi RPHĐN bị suy thoái là rừng tự nhiên tại rất nhiều nước trên thế giới
Theo ITTO (2002), phục hồi rừng bằng khoanh nuôi là quá trình thúc đẩy diễn thế đi lên của HSTR, nâng cao mức độ ĐDSH, điều chỉnh cấu trúc, sản lượng của chúng thông qua việc bảo vệ không tác động hoặc sử dụng các biện pháp KTLS như: Xúc tiến tái sinh; xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung, làm giàu rừng,… Nghiên cứu này được ứng dụng rất rộng rãi trong việc phục hồi RPHĐN ở các nước trên thế giới, tùy thuộc vào hiện trạng rừng, mức độ suy thoái, mật độ cây tái sinh có triển vọng đủ hay không đủ, cây tái sinh phân bố đều hay không đều, tầng cây cao có cây mẹ gieo giống hay
Trang 23không mà nhà lâm nghiệp quyết định biện pháp áp dụng cho phù hợp, ít tốn kém nhất [35]
D Nghiên cứu về khả năng bảo vệ đất, điều tiết nước và thuỷ văn rừng
Nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước hạt mưa, cường độ mưa, phân bố mưa tới xói mòn đất: Nghiên cứu của Hudson
HW (1981) [46] , G Fiebige (1993) [71] xác nhận rằng, nguy cơ xói mòn đất dưới tầng cây gỗ có thể tăng lên do giọt mưa dưới tán rừng có kích thước lớn hơn
Ngoài ra, các nhân tố khác gây ảnh hưởng tới xói mòn đất như độ dốc, chiều dài sườn dốc, loại đất, lớp phủ thực vật, cũng được nghiên cứu sâu, rộng: Smith D.D (1941) đã xác định lượng đất xói mòn cho phép và lần đầu tiên đã đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố cây trồng (C), cũng như việc áp dụng các biện pháp bảo vệ đất (P) ở các mức độ khác nhau đến xói mòn đất bằng các công trình nhân tạo Tiếp đó, nhiều phương trình dự báo xói mòn đã được nghiên cứu và công bố, trong đó phương trình của Wischmeier W.H - Smith D.D được thừa nhận và ứng dụng rộng rãi (Wischmeier W.H (1966; 1971) [79] [80], Ching J.G (1978) [64], Bennet K., (1958), Daxlavxkii, (1962; 1977)), (Dẫn theo Võ Đại Hải (1996) [33]
Nghiên cứu của Black và Kelliher (1989) cho thấy, lượng nước bốc hơi
từ vật rơi rụng của các kiểu rừng khác nhau chiếm khoảng 3 -21% tổng lượng nước bốc hơi trên bề mặt đất rừng Schaap và Bouten (1997) đã sử dụng thiết
bị đo lường Lysimeter để xác định lượng nước bốc hơi của vật rơi rụng và sự khác biệt của nhiệt độ không khí trên bề mặt của nó đến độ cao 1 mét (Dẫn theo Vu Chí Dân và Vương Lễ Tiên (2001) [25] Hiệu quả thấm nước và giữ nước của đất rừng đã được Dunne T (1978) nghiên cứu, tác giả cho rằng đất rừng có tốc độ thấm nước lớn hơn so với dưới các thảm thực vật khác, tốc độ thấm nước ổn định của đất rừng có thể đạt 800 mm/giờ trở lên [33]
Trang 24Các công trình nghiên cứu thủy văn rừng trên thế giới thường tập trung chủ yếu vào việc đánh giá vai trò điều tiết nước của rừng như khả năng ngăn cản nước mưa của tán rừng, lượng nước phân chia thành dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm, lượng nước chảy men thân cây,… Nổi bật nhất là công trình của Lutshev A.A (1940), Morozop G.F (1949), Moltranov A.A (1960, 1973), Matveev P.N (1973) (Dẫn theo Võ Đại Hải (1996) [33]
Xây dựng các mô hình hoá trong nghiên cứu thuỷ văn rừng cũng được nhiều tác giả quan tâm như: Richard A., et all., (2000) [75], Ward R.C & Robinson M (2010), Van Dijk et all (2004) [77], Yong G Lai (2009),[81] FAO (1995) cho rằng, rừng có tác dụng quan trọng trong việc điều tiết dòng chảy, giảm lưu lượng nước bề mặt, góp phần làm giảm lũ lụt Đối với lưu vực nhỏ, thấy rằng độ che phủ của rừng có thể làm giảm thiểu lượng nước lúc chảy xuống hạ lưu (Dẫn theo Vũ Tấn Phương (2009) [51]
1.2.1.3 Các kết quả nghiên cứu về hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường rừng phòng hộ
A Các chính sách về kinh tế - xã hội liên quan đến phục hồi rừng phòng hộ
Vai trò của chính sách Nhà nước đối với hiệu quả sử dụng đất đã được nhiều tác giả trên thế giới đề cập đến (Hirch (1995); Deder (1991); Pearce (1993) Thông qua các nghiên cứu và thực tiễn sản xuất, chính phủ các nước
đã đưa ra các chương trình quan trọng như “Lâm nghiệp cộng đồng”, các
chính sách quản lý tài nguyên thiên nhiên và đều chú trọng đến sự tham gia của người dân, sự phân cấp và chuyển giao trách nhiệm quản lý tài nguyên sang các cộng đồng địa phương và các nhóm sử dụng
Mặt khác, để giải quyết mâu thuẫn này và khuyến khích sử dụng đất hiệu quả, các nhà khoa học cho rằng người dân có vai trò trọng yếu trong quản lý sử dụng đất bền vững Ngoài ra, thông qua các chính sách đất đai cũng đã giải quyết được vấn đề như thúc đẩy kinh tế, bình đẳng và công bằng
Trang 25xã hội, bảo vệ môi trường và sử dụng đất bền vững (Ulrich (1996) (theo Nguyễn Văn Hùng (2002) [35]
Như vậy, sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức, các chính sách về đất đai, dựa trên những mục tiêu củng cố vai trò của người dân địa phương, trong
đó việc xác định rõ quyền sở hữu/sử dụng đất đai được coi như là cơ bản cho việc sử dụng đất hiệu quả, bền vững và bảo vệ tài nguyên
B Nghiên cứu các biện pháp kinh tế - xã hội trong phục hồi RPHĐN
Chất lượng phục hồi của hệ sinh thái rừng bị thoái hóa mang đến nhiều phúc lợi xã hội cho cộng đồng sống trong và gần rừng Theo tác giả có 3 nhóm giải pháp tổng thể biểu hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa các biện pháp kỹ thuật lâm sinh và các biện pháp Kinh tế xã hội có thể được ứng dụng để giám sát và đánh giá xu hướng vận động của phục hồi rừng là: (i) Sự ổn định; (ii) Hiệu quả của hoạt động phục hồi rừng; và (iii) Sự linh hoạt [53]
Chất lượng phục hồi của Hệ sinh thái rừng thường đề cập đến quy mô tái thiết của toàn bộ Hệ sinh thái, bao gồm: Khả năng tái sản xuất của khu hệ động thực vật, Đa dạng sinh học, hiệu quả sinh thái và chức năng phòng hộ của rừng được cải thiện Trong khi đó, phúc lợi xã hội lại đề cập đến những mục tiêu đầy tham vọng, nhưng lại thiết thực với nhu cầu của con người, không chỉ là những lợi ích của các sản phẩm lâm sản có giá trị trực tiếp mà còn bao gồm các giá trị gián tiếp của dịch vụ môi trường rừng như: Bảo vệ và điều tiết nguồn nước, hấp thụ Cacbon và giảm thiểu biến đổi khí hậu Vì vậy, khi những mục tiêu của phúc lợi xã hội được quan tâm thì sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến việc lựa chọn các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm thúc đẩy nhanh quá trình phục hồi rừng
1.2.2 Kết quả nghiên cứu trong nước
Tính đến ngày 31/12/2015, diện tích rừng và cây lâu năm có tán che phủ và có tác dụng phòng hộ trong toàn quốc như sau:[24]
Trang 26- Diện tích rừng hiện có: 14.061.856 ha; (Diện tích rừng tự nhiên: 10.175.519 ha; diện tích rừng trồng: 3.886.337 ha)
- Diện tích cây lâm nghiệp: 13.613 056 ha, độ che phủ là 39,5%
- Diện tích trồng cây lâu năm (cao su, đặc sản) trồng trên đất lâm nghiệp: 448.800 ha, độ che phủ là 1,34%
Diện tích rừng để tính độ che phủ toàn quốc là: 13.520.984 ha, độ che phủ là 40,84%
1.2.2.1 Các kết quả nghiên cứu về tổ chức quản lý rừng phòng hộ
A.Các chính sách Tổ chức, quản lý rừng phòng hộ
Việc tổ chức quản lý rừng phòng hộ đã được quy định cụ thể trong
nhiều các văn bản pháp quy của Nhà nước như: Luật Bảo vệ và Phát triển
rừng năm 2004; Quy chế quản lý rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/ QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị định số 23/2006/NĐ - CP ngày 03 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về thí hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Quyết định 17/2015/QĐ-TTg, ngày 09/6/2015 của
Thủ tướng chính phủ về Quy chế quản lý rừng phòng hộ…
Rừng phòng hộ nói chung và rừng phòng hộ Bảo vệ môi trường nói riêng được Nhà nước thống nhất quản lý xác lập thành hệ thống các khu rừng phòng hộ quốc gia do Bộ NN & PTNT trực tiếp quản lý Mỗi khu rừng phòng
hộ được xác lập, tổ chức quản lý theo mục đích sử dụng trên từng địa bàn cụ thể và có chủ quản lý Chủ rừng được giáo quản lý rừng và quyền sử dụng đất, chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ, xây dựng và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng theo quy định của pháp luật và không được trái với Quy chế Quản rừng phòng hộ, Luật Bảo vệ Phát triển rừng
B Các biện pháp quản lý rừng
Ở nước ta vấn đề quản lý rừng cũng có sự phát triển cùng với giai đoạn phát triển của đất nước Trước những năm 1945, diện tích rừng của chúng ta còn lớn, dân số còn ít, nhu cầu của con người đối với các sản vật từ rừng còn
Trang 27được đáp ứng đầy đủ do vậy mà vấn đề quản lý rừng chưa được quan tâm chú trọng Thời kỳ từ 1946 - 1990 cùng với sự ra đời của ngành lâm nghiệp thì vấn đề quản lý rừng cũng có nhiều chuyển biến, sau khi hòa bình lập lại toàn
bộ diện tích rừng được giao cho 2 nhóm đơn vị quản lý chủ yếu là lâm trường quốc doanh và hợp tác xã, trong giai đoạn này việc quản lý rừng chủ yếu chỉ nhằm khai thác gỗ theo chỉ tiêu được giao mà không có sự quan tâm phát triển vốn rừng, do vậy giai đoạn này tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng
Giai đoạn 1991 tới nay, ngành lâm nghiệp đã có nhiều chuyển biến tích cực, ngành lâm nghiệp nước ta chuyển đổi cơ chế quản lý lâm nghiệp Nhà nước sang Lâm nghiệp xã hội, nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển rừng, các biện pháp nhằm quản lý rừng đa mục đích, quản
lý rừng bền vững, hợp tác quản lý trong quản lý rừng, mô hình lâm nghiệp xã hội,… ngày càng được thực hiện đầy đủ phát huy tối đa các lợi ích tổng hợp
mà rừng mang lại nhằm đạt được bền vững không chỉ về mặt kinh tế mà còn
cả các mặt xã hội và môi trường sinh thái
Việc xác định cơ chế chia sẻ lợi ích, gắn chặt quyền và nghĩa vụ của người dân đối với rừng rất được nhà nước ta quan tâm trong thời gian qua và
đã được thể chế hóa thông qua hệ thống văn bản chính sách, có thể thống kê một số vấn đề liên quan tới rừng phòng hộ như:
- Giao rừng và đất rừng phòng hộ
Công tác xây dựng và quản lý, bảo vệ rừng được thể hiện trong Luật Đất đai năm (1993, 1998 và 2003) [56]; [57]; [58], Luật bảo vệ phát triển rừng 2004 [2], Nghị định số 02/CP, Nghị định 163/1999/NĐ-CP [15]; [16] Đối tượng giao đất rừng là Ban quản lý rừng phòng hộ, các tổ chức của Nhà nước, lực lượng vũ trang; một số rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu, đất khu phòng hộ đầu nguồn phân tán không đủ điều kiện để thành lập Ban Quản
lý rừng thì giao cho các tổ chức khác, chi cục kiểm lâm, hộ gia đình, cá nhân, theo hướng dẫn của Bộ NN & PTNT Hạn mức và thời hạn giao đất
Trang 28theo quy định của Nhà nước (Ban quản lý, tổ chức nhà nước, giao lâu dài; các thành phần kinh tế khác giao 50 năm), rừng phòng hộ đầu nguồn, giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ; rừng phòng hộ kết hợp với mục đích khác giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân,
- Cho thuê, giao khoán đất và thu hồi rừng phòng hộ
Các tổ chức kinh tế có thể thuê đất kết hợp với các mục đích khác, người thuê có quyền lợi và nghĩa vụ như trường hợp giao rừng phòng hộ (Nghị định 163/1999/NĐ-CP) Giao khoán đất rừng phòng hộ với các quy
định cụ thể, bên giao khoán thực hiện theo quy hoạch hoặc luận chứng kinh
tế, kỹ thuật và cấp vốn đã được phê duyệt, thời hạn 50 năm, diện tích tối thiểu
5 ha Bên nhận khoán là các cá nhân, các tổ chức có nhiệm vụ thực hiện đầy
đủ các nội dung ghi trong hợp đồng khoán đã phê duyệt [16] Ngoài ra, bên nhận khoán được nhận tiền theo hợp đồng, khai thác sản phẩm theo quy định, chuyển quyền nhận khoán, (Nghị định 01/CP ngày 4/1/1995 [17]; Quyết định số 202/QĐ-TTg ngày 2/5/1994 [18]; Quyết định số 175/1998/QĐ/BNN-KHCN ngày 4/11/1998 [9]) Nghiệm thu được thực hiện theo Quyết định số 162/1999/QĐ/BNN/ PTLN ngày 10/12/1999 của Bộ NN&PTNT [10] Đất và rừng có thể bị thu hồi trong các trường hợp như sử dụng vào mục đích của quốc gia, chủ rừng tự nguyện trả lại hoặc không thực hiện theo hợp đồng, rừng hết thời hạn giao,
- Chính sách đầu tư và tín dụng
Chính phủ và các tỉnh đã có nhiều chính sách hỗ trợ đầu tư cho hộ gia đình tham gia bảo vệ và xây dựng rừng phòng hộ Cấp tiền trồng rừng, bảo vệ rừng, vay vốn không lãi, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung,
hỗ trợ cho hộ gia đình tự bỏ vốn trồng rừng (từ 50.000 đồng đến 2,5 triệu đồng/ha), suất đầu tư là 2,5; 4; 6; 10 triệu đồng/ha (Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng) [20], Ngoài ra, đầu tư nước ngoài cũng được ưu đãi (Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000) , đầu tư khoa học công nghệ và môi trường trong
Trang 29nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật, (Quyết định TTg, ngày 10/12/1999) [19] Tín dụng ưu đãi đầu tư, thương mại và khuyến khích tiêu thụ sản phẩm thể hiện ở các hình thức khác nhau như cho vay, hỗ trợ lãi suất và bảo lãnh tín dụng với mức vay và lãi suất ưu đãi khi có đảm bảo tiền vay của các cấp có thẩm quyền hoặc phương án sản xuất hiệu quả Đối tượng không phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập là các hoạt động kinh doanh, buôn chuyến các loại hàng hoá là nông, lâm sản chưa qua chế biến, khuyến khích các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp với người sản xuất (Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/06/2000, Thông
225/1999/QĐ-tư số 91/2000/TT/BTC ngày 06/9/2000) [21]
- Khai thác rừng phòng hộ và hưởng lợi
Trong thời gian qua có khá nhiều các văn bản pháp lý quy định việc khai thác lâm sản trong rừng phòng hộ đầu nguồn, các văn bản này quy định khá chặt chẽ về phạm vi, đối tượng và thủ tục khai thác Ngoài các chính sách của nhà nước còn có các công trình nghiên cứu về chính sách kinh tế - xã hội liên quan đến rừng phòng hộ đầu nguồn Công trình của Nguyễn Văn Sản và Don Gilmour (1999) cho thấy, các chính sách phát triển rừng từ thời kỳ kế hoạch hoá tập trung và sự phát triển trong những năm đầu của cơ chế thị trường thông qua nhiều chương trình (327, dự án 661, dự án định canh định cư), một số nguyên nhân chính trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra mất rừng như: Tình trạng dân số gia tăng, nạn khai thác gỗ củi, cháy rừng,… nghèo đói ở các vùng nông thôn miền núi, thiếu đất canh tác, năng lực hạn chế và cơ cấu của các đơn vị không phù hợp Nghiên cứu chính sách khuyến khích tham gia phục hồi rừng, cho thấy các chính sách chưa đồng bộ, khi đi vào thực tiễn còn
có khoảng cách nhất định (Hoàng Ngọc Tống (1999) [61]
Khi nghiên cứu các chính sách lâm nghiệp về bảo vệ rừng đầu nguồn, lâm sản ngoài gỗ và xoá đói giảm nghèo ở miền núi Bắc Bộ, tác giả Vũ Long cho biết cần phải giao đất lâm nghiệp và quyền sử dụng đất cho người dân và
Trang 30cộng đồng vùng đầu nguồn theo nguyện vọng của người dân, vì cộng đồng thôn bản có vị trí, vai trò quan trọng trong việc tham gia quản lý rừng phòng
hộ đầu nguồn (Vũ Long (2002; 2005) [40]; [41] Tuy nhiên, người dân còn thiếu kiến thức và năng lực quản lý, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ; chuyển giao kỹ thuật, vốn đầu tư, vật tư,… để người dân chủ động tham gia quản lý, đồng thời đây là mô hình quản lý rừng phù hợp với mục tiêu xây dựng rừng phòng hộ cần được nhân rộng
Nguyễn Bá Ngãi (2001) [44] đã nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp cấp xã vùng Trung tâm miền núi phía Bắc Việt Nam, tác giả đã phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến phát triển lâm nông nghiệp làm cơ sở đề xuất quy hoạch Nguyễn Bá Ngãi (2005) [45], Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (2004) [43] đã nghiên cứu về lâm nghiệp cộng đồng, các tác giả đã đưa ra một số mô hình quản lý rừng cộng đồng có hiệu quả, xây dựng
đề xuất về nghĩa vụ và quyền hưởng lợi của cộng đồng quản lý rừng Một số nghiên cứu khác cũng đã đề cập đến tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng thuộc các vườn quốc gia hoặc khu bảo tồn thiên nhiên như: Nguyễn Thị Phương (2003) [47], Ngô Ngọc Tuyên (2007) [62], Trần Ngọc Thể (2009) [64],…
Trong những năm gần đây, giá trị sinh thái, phòng hộ của rừng phòng
hộ ngày càng được quan tâm và làm rõ Vũ Tấn Phương và cộng sự (2006; 2009) cho biết giá trị phòng hộ của rừng có vai trò quan trọng hàng đầu thông qua các giá trị bảo vệ cố định đất, bảo vệ độ phì đất, phòng chống lũ lụt, tăng nguồn nước, Ngoài ra, rừng còn bảo tồn đa dạng sinh học, cố định, hấp thụ các bon và điều hoà khí hậu, du lịch và cảnh quan,…[51]; [54]
C Sự tham gia của HGĐ trong phục hồi RPHĐN
Vai trò của chủ rừng trong phục hồi RPHĐN càng được khẳng định thông qua số lượng HGĐ tham gia vào công tác phục hồi rừng ở các chương
Trang 31trình lớn như: Chương trình 327, Dự án 661 Trong chương trình 327, mục tiêu chính của chương trình này là xây dựng RPH và đối tượng HGĐ được coi làm lực lượng thực thi chủ lực, Ban quản lý dự án 327 chỉ có vai trò như bà
đỡ, giúp đỡ các HGĐ tổ chức triển khai thực hiện Theo báo cáo tổng kết dự
án 661, tính tới năm 2010 đã có 1.249.602 HGĐ với 4.657.211 nhân khẩu tham gia các hoạt động của dự án, trong đó một số lượng rất lớn HGĐ tham gia vào hoạt động phục hồi RPHĐN
1.2.2.2 Các kết quả nghiên cứu về kỹ thuật kinh doanh rừng phòng hộ
A Các giải pháp kỹ thuật phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn
Ở Việt Nam hiện nay có 2 giải pháp kỹ thuật chủ yếu để phục hồi và phát triển rừng phòng hộ, đó là trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung Vấn đề khoanh nuôi phục hồi rừng ở nước ta đã được đặt ra từ rất sớm, vào khoảng những năm 1950 sau khi miền Bắc được giải phóng, vấn
đề này được đề cập đến trong thuật ngữ “khoanh núi nuôi rừng” Tuy nhiên,
vì nhiều lý do mà trong một thời gian rất dài sau đó người ta chỉ chú ý đến
khai thác rừng tự nhiên là chính Mãi đến những năm 1990, “khoanh núi nuôi
rừng” mới được định hình và phát triển theo cụm thuật ngữ “phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh” Điều này được thể hiện trong 2 quy
phạm ngành QPN 14-92 và QPN 21-98 [4], [5], [6], [7], [8], [9] Hệ thống kỹ thuật khoanh nuôi có ưu điểm là phù hợp với nhiệm vụ phục hồi rừng phòng
hộ đầu nguồn mà chủ yếu là rừng ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, điều kiện cơ
sở vật chất kỹ thuật còn nhiều khó khăn, chưa có điều kiện để trồng rừng Mặt khác, trong hoàn cảnh nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn thì việc đầu tư một khoản tiền lớn cho trồng rừng phòng hộ đầu nguồn là một việc khó thực hiện Trong những năm qua, hàng ngàn ha rừng phòng hộ đầu nguồn đang được khôi phục từ các biện pháp này
Các nghiên cứu về khoanh nuôi phục hồi rừng cũng rất được quan tâm
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như Bước đầu nghiên
Trang 32cứu rừng miền Bắc Việt Nam (Trần Ngũ Phương (1964, 1990) [48] [49], nghiên cứu khả năng phục hồi lại rừng phòng hộ đầu nguồn ở Mù Căng Chải
- Yên Bái trên đất nương rẫy (Lâm Phúc Cố (1994) [22] nghiên cứu xây dựng
mô hình canh tác rẫy rút ngắn thời gian bỏ hoá theo hướng sử dụng đất bền vững ở Tây Bắc (Ngô Đình Quế và Cs (2001) [54] Công trình nghiên cứu của
Phùng Ngọc Lan (1964)[38], Đinh Quang Diệp (1993) [26] Trần Đình Đại (1990) [29], Nguyễn Minh Đức (1998) [30], Nguyễn Anh Dũng (2001) [28]…, các tác giả đã nghiên cứu quá trình tái sinh và ảnh hưởng của một số nhân tố đến từng giai đoạn tái sinh, từ đó các tác giả đề nghị một số nguyên tắc chính trong khai thác, xúc tiến tái sinh, bảo vệ, nuôi dưỡng cây tái sinh, đồng thời đề ra một số biện pháp kỹ thuật về xử lý hạt giống, gieo trồng một
số loài cây bản địa có giá trị
Trồng rừng phòng hộ là giải pháp quan trọng để khôi phục rừng trên những vùng đất trống, đồi núi trọc, đất rừng đã bị thoái hóa Các kết quả nghiên cứu cũng như quy định về kỹ thuật trồng rừng phòng hộ nước ta cũng khá chặt chẽ và hiệu quả Tiêu chuẩn định hình rừng phòng hộ đầu nguồn
được khẳng định lần đầu tiên trong Quy chế quản lý, sử dụng rừng phòng hộ
ban hành kèm theo quyết định số 1171, ngày 30 tháng 12 năm 1986 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp nay là Bộ NN&PTNT và văn bản pháp lý có hiệu lực
cao nhất là Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 [4]
B Biện pháp kỹ thuật trồng RPHĐN:
Võ Đại Hải (1996), trong công trình nghiên cứu “Nghiên cứu các dạng
cấu trúc hợp lý cho rừng phòng hộ đầu nguồn ở Việt Nam” đã cho biết rừng
tự nhiên có kết cấu 3 tầng, độ tàn che cao đạt 0,7 - 0,8 có khả năng phòng hộ cao hơn nhiều so với rừng tự nhiên chỉ có kết cấu 1 hoặc 2 tầng, độ tàn che
thấp, trong đó vai trò của lớp cây bụi và thảm tươi là đặc biệt quan trọng Kết
quả nghiên cứu này đã góp phần quan trọng trong việc định hướng xây dựng RPHĐN ở nước ta trong những năm qua đó là hướng tới việc xây dựng
Trang 33RPHĐN có kết cấu nhiều tầng, độ tàn che lớn để tăng cường khả năng phòng
hộ của rừng
C Biện pháp kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh RPHĐN
Theo Trần Ngũ Phương (1970) khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con người khai thác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là hình thành đất trống đồi núi trọc
Vũ Đình Huề (1975) khi nghiên cứu về tình hình tái sinh rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam, Nghiên cứu này cho thấy, trong phục hồi RPHĐN ở những nơi thiếu cây tái sinh, ít cây mục đích thì có thể áp dụng biện pháp trồng bổ sung, làm giàu rừng bằng các loài cây bản địa, đa tác dụng vừa nâng cao khả năng phòng hộ của rừng, vừa có tác dụng cải thiện sinh kế cho cộng đồng kết hợp chặt chẽ giữa chức năng phòng hộ với chức năng sản xuất của rừng
D Nghiên cứu về khả năng bảo vệ đất, điều tiết nước và thuỷ văn rừng
Nghiên cứu về xói mòn đất và điều tiết nước của rừng là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn Ở nước ta vấn
đề này được nhiều tác giả rất quan tâm Theo Nguyễn Quang Mỹ (1984) [42] thì vấn đề xói mòn đất đã bắt đầu được quan tâm từ trước những năm 1954, bước đầu mới chỉ là những biện pháp chống xói mòn sơ khai như làm ruộng bậc thang, xây kè cống Từ những năm 1960 trở đi, các nghiên cứu về xói mòn đất được đẩy mạnh theo chiều sâu với các nghiên cứu về ảnh hưởng của
độ dốc đến xói mòn đất (Nguyễn Ngọc Bình (1991) [14], nghiên cứu về biện pháp công trình và cây phân xanh che phủ đất ở Tây Bắc, Bắc thái, Sơn La, Phú Thọ, Lào Cai (Tôn Gia Huyền; Chu Đình Hoàng; Nguyễn Xuân Quát và Bùi Ngạnh (1963)
Nghiên cứu của Võ Đại Hải (1996), trong đó nghiên cứu khá toàn diện
về thuỷ văn và cấu trúc rừng phòng hộ đầu nguồn trên các đối tượng rừng tự
Trang 34nhiên lá rộng thường xanh, rừng trồng, rừng Luồng và rừng Le với các dạng cấu trúc tầng thứ và độ tàn che khác nhau Nghiên cứu này, ngoài việc làm rõ vai trò phòng hộ về điều tiết nguồn nước và chống xói mòn của các dạng cấu trúc rừng còn định hướng kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn Tuy vậy, nội dung nghiên cứu về thực tiễn mới dừng lại ở việc định hướng các giải pháp, chưa có mô hình trình diễn, thử nghiệm nên việc áp dụng trong thực tiễn còn nhiều hạn chế [33] Việc phá rừng đầu nguồn gây ra những tác động nghiêm trọng, đặc biệt là hiện tượng xói mòn và bồi lắng Vai trò của rừng trong việc giữ nước là rất quan trọng Nghiên cứu của Võ Minh Châu (1993) cho thấy sự suy giảm diện tích rừng đầu nguồn sông Ngàn Mọ từ 23.971 ha xuống còn 6.000 ha đã làm cho lượng nước hồ Kẻ Gỗ giảm đi đáng
kể, giảm từ 340 triệu m3 nước xuống còn 60 triệu m3, do đó không đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trên diện tích 6.000 ha (Dẫn theo Võ Đại Hải (1996) [33]
Trong quan điểm chung, giá trị giữ nước của rừng có nghĩa là giữ và tích luỹ nước ở bất kỳ dạng nào, bao gồm: làm tăng trữ lượng của nó trong đất, giảm thoát hơi nước mặt đất, tăng mực nước ngầm và làm sạch nước Khả năng giữ nước của rừng được quyết định bởi khả năng giảm dòng chảy mặt, tăng lượng nước ngầm Lượng nước giữ lại trên tán rừng phụ thuộc vào kiểu rừng, tuổi rừng, tổ thành loài, độ che phủ, điều kiện khí tượng, loại mưa, cường độ mưa, …Tính trung bình cho các kiểu rừng ở các điều kiện khí hậu khác nhau lượng nước bị giữ lại trên tán chiếm 30 - 35% tổng lượng giáng
thuỷ [33]
1.2.3 Nhận xét và đánh giá chung
Tổng hợp các công trình nghiên cứu về rừng phòng hộ ở trên thế giới cho thấy, vấn đề nghiên cứu chức năng phòng hộ môi trường nuôi dưỡng nguồn nước, chống xói mòn, biện pháp sử dụng đất, biện pháp phục hồi rừng phòng hộ, giải pháp kinh tế - xã hội trong khôi phục bảo vệ rừng phòng hộ đã
Trang 35ñược các tác giả quan tâm nghiên cứu từ rất lâu đời, các nghiên cứu ngày càng được thực hiện theo cả chiều rộng và chiều sâu, đi từ những nghiên cứu định tính chuyển dần sang những nghiên cứu định lượng với độ chính xác cao, góp phần tạo cơ sở khoa học cũng như thực tiễn trong xây dựng và quản
lý rừng phòng hộ
Ở Việt Nam, các nghiên cứu có liên quan tới rừng phòng hộ mới chỉ được thực hiện mạnh mẽ từ những năm 1970 trở lại đây, tuy nhiên bước đầu cũng đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc nghiên cứu chức năng phòng hộ của rừng, cùng với nó là sự ra đời của những quy trình, quy phạm
có tính pháp lý cao trong xây dựng và quản lý rừng phòng hộ Nhà nước cũng
có nhiều chính sách kinh tế - xã hội nhằm khuyến khích các thành phần kinh
tế và đặc biệt là người dân tham gia phát triển rừng phòng hộ Tuy nhiên, thực tiễn ở nước ta trong những năm qua cho thấy, những giải pháp kinh tế -
xã hội đã được thực hiện là chưa đủ sức lôi cuốn đối với người dân, suất đầu
tư cho các hoạt động phát triển rừng phòng hộ còn thấp, cơ chế hưởng lợi ích còn chưa rõ ràng,… dẫn tới việc phát triển rừng phòng hộ của nước ta trong thời gian qua chưa thực sự hiệu quả
Đối với rừng phòng hộ Đông Triều cho tới nay chưa có một công trình nghiên cứu nào Thực tiễn sản xuất và quản lý rừng phòng hộ tại Đông Triều
đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết cả trên góc độ kỹ thuật, chính sách, kinh tế và xã hội, an ninh quốc phòng Chính vì vậy, việc tìm hiểu thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm góp phần quản lý hiệu quả khu rừng phòng hộ ở Đông Triều được đặt ra là thực sự cần thiết
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Rừng phòng hộ thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Căn cứ vào diện tích quy hoạch đất lâm nghiệp cho rừng phòng hộ thị
xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, đề tài chọn 05 xã, phường đại diện có rừng phòng hộ làm cơ sở cho việc điều tra nghiên cứu gồm: An Sinh; Bình Khê; Tràng Lương; Hồng Thái Tây và Hồng Thái Đông
- Vấn đề nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến tài nguyên rừng, những giải pháp góp phần quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng phòng hộ thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng tài nguyên rừng; hiện trạng công tác quản lý bảo
vệ và phát triển rừng phòng hộ tại thị xã Đông Triều
- Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển rừng phòng hộ
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệm trong quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại thị xã Đông Triều
- Đề xuất các giải pháp Quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng phòng hộ
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài
- Quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng là một vấn đề rất phức tạp, liên quan đến nhiều yếu tố từ các chính sách vĩ mô của Chính
Trang 37phủ cho tới các vấn đề kinh tế, xã hội và điều kiện cụ thể của địa phương Đồng thời để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững, phải thực hiện một chuỗi hoạt động tổng hợp, đa ngành, vừa mang tính kỹ thuật, nhưng đồng thời cũng vừa mang tính kinh tế - xã hội sâu sắc
Đề tài tổng hợp, xem xét đánh giá công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng gắn với các chính sách về lâm nghiệp trên địa bàn; những giải pháp quản
lý, bảo vệ và phát triển rừng sẽ bao gồm: những giải pháp về tổ chức quản lý,
về khoa học, kỹ thuật và những giải pháp về kinh tế - xã hội
- Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững vừa phải bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên, vừa phải hướng tới cải thiện chất lượng cuộc sống con người, đặc biệt là những người sống gần rừng, liên quan trực tiếp đến rừng
Do đó, nghiên cứu quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phải được thực hiện theo cách tiếp cận của nghiên cứu phát triển và có sự tham gia của những người dân địa phương
- Trong quá trình nghiên cứu, quan điểm lịch sử sẽ được quán triệt Đề tài không chỉ quan tâm đánh giá công tác quản lý rừng hiện tại mà sẽ xem xét
nó trong quá trình lịch sử từ quá khứ đến hiện tại (giai đoạn 2013 đến nay),
khi thu thập số liệu sẽ sử dụng phương pháp “lấy không gian thay thế thời
gian” mà các cơ quan, nhân dân đã thực hiện để đánh giá một quá trình quản
lý, bảo vệ và phát triển rừng
Phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài “Nghiên cứu cơ sở thực tiễn
và đề xuất một số giải pháp phát triển rừng phòng hộ tại thị xã Đông Triều”
cụ thể như sau:
Trang 38Hình 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài 2.3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.3.2.1 Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng của thị xã Đông Triều
Đề tài đã kế thừa các thông tin và số liệu sau:
- Các kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch hàng năm về quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng của tỉnh Quảng Ninh, thị xã Đông Triều và các xã, phường trên địa bàn; các báo cáo sơ kết, tổng kết về công tác quản lý, bảo vệ
và phát triển rừng của Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Quảng Ninh và Hạt kiểm lâm thị xã Đông Triều
- Các số liệu về diện tích, trạng thái, bản đồ hiện trạng, bản đồ quy hoạch rừng phòng hộ thị xã Đông Triều; thông tin về tài nguyên động vật,
Thu thập các thông tin,
tài liệu về điều kiện tự
nhiên, kinh tế - xã hội của
khu vực nhiên cứu liên
quan đến quản lý, bảo vệ
và phát triển rừng
Thu thập các thông tin về thực trạng quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng
hộ trong khu vực nghiên cứu
Tìm hiểu về thể chế, chính sách trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
Quản lý tài nguyên rừng
Phân tích, xử lý, đánh giá thông tin
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu quản lý,
bảo vệ và phát triển rừng
Trang 39thực vật trong khu vực nghiên cứu, báo cáo theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp hàng năm của Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ninh
- Xử lý số liệu và tổng hợp thông qua các bảng, hình vẽ minh hoạ và phân tích sự kiện
2.3.2.2 Đánh giá tình trạng công tác quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn tại thị xã Đông Triều
* Thu thập số liệu thông qua phương pháp thừa kế chọn lọc số liệu từ:
Những tài liệu về thể chế, chính sách trong nông lâm nghiệp ở Việt Nam như Luật đất đai, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Chính sách giao đất lâm nghiệp, Chính sách khoán bảo vệ rừng; quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp; trách nhiệm quản lý Nhà nước các cấp về rừng và đất lâm nghiệp, vv
Những kết quả thực hiện có liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở địa phương
* Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
Sử dụng một số công cụ của phương phương pháp đánh giá nông thôn
có sự tham gia của người dân (PRA) cụ thể:
+ Đề tài chọn 05 xã có diện tích rừng và đất rừng phòng hộ trên địa bàn thị xã Đông Triều
Tiến hành phỏng vấn cán bộ xã và lựa chọn 3 thôn để tiến hành phỏng vấn: Đề tài đã lựa chọn mỗi xã phỏng vấn 01 Lãnh đạo xã, công cụ này được thực hiện đầu tiên khi tới xã, nhằm tìm hiểu chung về kinh tế - xã hội của xã, như: tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất lâm nghiệp, diện tích rừng các loại, tình hình giao đất, giao rừng, sự tham gia của chính quyền, các đoàn thể và người dân trong xã với công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng Công cụ điều tra chủ yếu là bảng các câu hỏi phỏng vấn với những câu hỏi định hướng, bán định hướng và câu hỏi mở
Trang 40+ Nghiên cứu đề tài tiến hành chọn thôn, cụ thể: mỗi xã chọn 3 thôn theo phương pháp điển hình về diện tích đất lâm nghiệp:
(1) Xã An Sinh: Thôn Trại Lốc 1; Tam Hồng và Ba Xã
(2) Xã Bình Khê: Thôn Đồng Đò; Tây Sơn và Bến Vuông
(3) Xã Tràng Lương: Thôn Năm Giai; Linh Tràng và Trại Thụ
(4) Xã Hồng Thái Tây: Thôn 2; Thôn 6 và thôn 7
(5) Xã Hồng Thái Đông: Thượng Thông; Vĩnh Thái, Tân Yên
+ Từ các thôn chọn 05 hộ theo phương pháp ngẫu nhiên, điển hình nhằm tiến hành điều tra phỏng vấn về: tình hình tham gia công tác quản lý bảo vệ và tham gia trồng rừng, khoán quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Phúc tra lại tình hình triển khai công tác quản lý bảo vệ và phát triển và phát triển rừng từ các cơ quan, phòng ban của tỉnh và đặc biệt của thị xã Đông Triều tham gia chỉ đạo, triển khai
2.3.2.3 Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển rừng phòng hộ
Đề tài đã kế thừa các thông tin và số liệu sau:
- Các kết quả về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường qua các báo cáo hằng năm của thị xã Đông Triều và các xã, phường trên địa bàn; các báo cáo sơ kết, tổng kết về công tác quản lý, bảo vệ môi trường, báo cáo tác động của môi trường của phòng Tài Nguyên và môi trường, các báo cáo liên quan của phòng Kinh tế, phòng Lao động và thương binh xã hội, phòng thống kê, kế hoạch thị xã
- Các số liệu về diện tích, trạng thái, bản đồ hiện trạng, bản đồ quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh, của thị xã; thông tin về các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn thị xã, việc khai thác mỏ tác động đến môi trường
- Xử lý số liệu và tổng hợp thông qua các bảng, hình vẽ minh hoạ và phân tích sự kiện