1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ mẫu đến đời sống xã hội ở việt nam

48 483 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 127,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, trong xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa đang diễn ra trên toàn thế giới, Việt Nam cũng đang hòa nhập vào xu thế đó. Tuy nhiên chúng ta gặp phải một thách thức không nhỏ, khi mà bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế ngày càng rộng rãi như hiện nay. Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc như thế nào là một việc làm cần thiết, có lẽ chúng ta không cần nhắc lại tác hại của việc đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Điều quan trọng là phải tìm được những giải pháp giữ gìn và phát huy những yếu tố tích cực của bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hiện nay. Tôn giáo, tín ngưỡng là một nhu cầu tâm linh của một bộ phận cư dân trong xã hội. Trong hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam thì tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian khá phổ biến trong xã hội. Tin ngưỡng thờ Mẫu gần gũi với thiên nhiên, đất trời, gắn liền với thân phận của người phụ nữ Việt Nam… Người ta đến với Mẫu để tìm chỗ dựa về tinh thần, tìm sự che chở từ người mẹ… dẫu biết rằng khi đến với tín ngưỡng tức là con người đang cầu xin từ những cái vô hình, để hy vọng có thể nhận được cái hữu hình.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, trong xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa đang diễn ra trên toàn thếgiới, Việt Nam cũng đang hòa nhập vào xu thế đó Tuy nhiên chúng ta gặp phảimột thách thức không nhỏ, khi mà bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế ngày càng rộngrãi như hiện nay Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc như thếnào là một việc làm cần thiết, có lẽ chúng ta không cần nhắc lại tác hại của việcđánh mất bản sắc văn hóa dân tộc Điều quan trọng là phải tìm được những giảipháp giữ gìn và phát huy những yếu tố tích cực của bản sắc văn hóa dân tộctrong bối cảnh hiện nay

Tôn giáo, tín ngưỡng là một nhu cầu tâm linh của một bộ phận cư dân trong

xã hội Trong hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam thì tín ngưỡng thờ Mẫu làmột loại hình tín ngưỡng dân gian khá phổ biến trong xã hội Tin ngưỡng thờMẫu gần gũi với thiên nhiên, đất trời, gắn liền với thân phận của người phụ nữViệt Nam… Người ta đến với Mẫu để tìm chỗ dựa về tinh thần, tìm sự che chở

từ người mẹ… dẫu biết rằng khi đến với tín ngưỡng tức là con người đang cầuxin từ những cái vô hình, để hy vọng có thể nhận được cái hữu hình

“Tháng tám giỗ Cha, Tháng ba giỗ Mẹ” Đó là truyền thống quý báu của dântộc Việt Nam, trải qua bao thăng trầm của lịch sử cùng với những nấc thang pháttriển của dân tộc, chữ “hiếu” đã trở thành nét đẹp trong đời sống tinh thần củangười Việt từ bao đời nay

Đã từ lâu, ở mọi vùng quê trên đất nước Việt Nam thường diễn ra nhữngngày lễ hội gắn với các truyền thuyết và sự tích về các Nữ Thần, hay còn gọi làtín ngưỡng thờ Mẫu

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian mang sắc thái nguyên thủy

và có chiều dài lịch sử hàng ngàn năm, nó phát triển theo sự phát triển đa dạngcủa tín ngưỡng dân gian mà không theo một quy luật định sẵn nào Đây được

Trang 2

xem như là tín ngưỡng bản địa, người Việt từ ngàn đời xưa đến nay vốn coitrọng vai trò của người phụ nữ Đó là một trong những truyền thống tốt đẹp, cósức sống bền bỉ, chi phối đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Việt Nam.Cho đến nay, tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn luôn được bảo tồn và phát triển qua các lễhội, qua niềm tin và qua đời sống tâm linh để tồn tại lâu dài trong đời sống tinhthần của người dân đất Việt.

Đến với “Mẫu” không chỉ dùng lại ở việc đáp ứng những nhu cầu đời sốngtâm linh, tín ngưỡng thờ Mẫu còn là hiện tượng sinh hoạt văn hóa dân gianphong phú, hấp dẫn có sữ lôi cuốn con người Người ta đến với “Mẫu” còn có cả

sự đồng cảm về giá trị văn hóa và góp phần củng cố ý thức cộng đồng của dântộc Việt Nam

Với những lý do trên đây, chúng tôi chọn đề tài “Tín ngưỡng thờ Mẫu và ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay” để hiểu rõ hơn

những giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay vấn đề tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam nói riêng và một số tínngưỡng bản địa của Việt Nam nói chung đã được một số tác giả nghiên cứu dướinhiều góc độ, nhiều khía cạnh và ở những mức độ khác nhau với mục đích vàphương pháp nghiên cứu khác nhau

- Cuốn “Đạo Mẫu ở Việt Nam” do Ngô Đức Thịnh làm chủ biên

(NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội,1996) được coi là tác phẩm nghiên cứu tương

đối toàn diện về “Đạo Mẫu ở Việt Nam” Tập 1 của tác phẩm gồm hai phần: phần thứ nhất gồm những lý luận chung về “Đạo Mẫu”, phần thứ hai trình bày

khá chi tiết thờ Mẫu ở các địa phương khắp ba miền Bắc - Trung - Nam Tuynhiên trong tác phẩm này, tác giả chỉ tiếp cận ở góc độ văn hoá và phần nào xemxét nó ở góc độ tín ngưỡng

Trang 3

- Cuốn “Văn hoá dân gian Việt Nam” của Nguyễn Chí Bền (NXB.

Văn hoá dân tộc, 2000) đã giới thiệu khái quát kho tàng văn hoá cổ truyền củaViệt Nam, cùng với những mặt tiêu cực và hạn chế của nó trong đó có tínngưỡng thờ Mẫu

- Cuốn “Nữ thần và các Thánh Mẫu Việt Nam” của Vũ Ngọc Khánh

(NXB Thanh niên, 2002) thể hiện một cách khái quát về hệ thống nguồn gốc, về

sự tích phần lớn các Thánh Mẫu đang được thờ phụng ở Việt Nam, việc thờphụng nữ thần và Thánh Mẫu là thực chất là tôn vinh những người có công đónggóp cho dân tộc Việt Nam trong lịch sử

- Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu khác về tín ngưỡng thờ

Mẫu như: “Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á” do Ngô Đức Thịnh (chủ biên), (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004); “Các nữ Thần Việt Nam” của Đỗ Thị Hảo và Mai Thị Ngọc Chúc (NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1984); “Tam Toà Thánh Mẫu” của Đặng Văn Lung (NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội); “Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam” của

Nguyễn Minh San (NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1994)…

Những công trình nghiên cứu, những bài viết của các tác giả kể trên đãtiếp cận tín ngưỡng thờ Mẫu từ các góc dộ khác nhau nhưng nhưa có côngtrình nào nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu và ảnh hưởng của nó đến đời sống

xã hội ở Việt Nam hiện nay nên chúng tôi đã chọn đề tài này làm đề tàinghiên cứu khoa học của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về ín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam hiện nay với những ảnhhưởng của nó đến đời sống xã hội ở hai khía cạnh là ảnh hưởng tích cực và ảnhhưởng tiêu cực

Trang 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng bản địa của Việt Nam được hình thành từngàn xưa cho đến nay, nên khi nghiên cứu thì chủ yếu đề cập đến tín ngưỡng thờMẫu ở Việt Nam trong lịch sử và hiện đại với một số trung tâm thờ Mẫu tiêubiểu ở ba miền

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

4.1 Mục đích

Bước đầu trình bày một cách tương đối về khái niệm và nguồn gốc hìnhthành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam Sau đó tìm hiểu thực trạng tín ngưỡngthờ Mẫu ở Việt Nam hiện nay, tìm hiểu tín ngưỡng thờ Mẫu có ảnh hưởng nhưthế nào trong đời sống của nhân dân Việt Nam hiện nay

4.2 Nhiệm vụ

- Tìm hiểu về khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng thờ Mẫu cũng như

nguồn gốc hình thành tín ngưỡng ở Việt Nam

- Nêu lên thực trạng của hoạt động thờ Mẫu ở Việt Nam thông qua

một số trung tâm thờ Mẫu lớn, qua đó tìm hiểu ảnh hưởng của tín ngưỡng thờMẫu đến đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay

- Từ thực trạng và ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu đưa ra một số

giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm định hướng đúng đắn cho sinh hoạt văn hóađặc sắc này

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong đề tài này kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu trong đó lấy chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở lý luận chung.Ngoài ra, đề tài còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác như:

Phương pháp so sánh đối chiếu, để làm rõ nét đặc sắc của tín ngưỡng thờMẫu so với các tín ngưỡng bản địa khác ở Việt Nam

Trang 5

Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp lôgic, lịch sử

6 Đóng góp về khoa học của đề tài

- Tìm hiểu tín ngưỡng thờ Mẫu và nguồn gốc hình thành tínngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

- Khát quát thực trạng hoạt động của tín ngưỡng thờ Mẫu quađótìm hiểu ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội ở Việt Nam hiệnnay, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm định hướng đúng đắn cho hoạtđộng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam hiện nay

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài có

3 chương, 6 tiết

Trang 6

Chương 1:

TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM 1.1 Khái niệm về tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ Mẫu

1.1.1 Khái niệm về tín ngưỡng

Có rất nhiều nhà nghiên cứu trên các lĩnh vực, góc độ khác nhau đã đưa ra kháiniệm về tín ngưỡng với những cách nghĩ khác nhau, thậm chí là đối nghịch nhau Chủ nghĩa Mac-Lenin coi tín ngưỡng, tôn giáo là một loại hình thái ý thức xãhội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan Điều này đãđược Angghen khẳng định: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh

hư ảo vào trong đầu óc của con người”

Chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng: Tín ngưỡng, tôn giáo là một sứcmạnh thần bí, thuộc lĩnh vực tinh thần tồn tại vĩnh hằng, là cái chủ yếu đem lạisinh khí, sức mạnh cho con người Đại diện cho trường phái này là Platon,Heghen, …

Đối với các nhà thần học như Tomat Đacanh, … xem tín ngưỡng, tôn giáo làniềm tin vào cái thiêng liêng, cái huyền bí, ở đó chứa đựng những yếu tố siêunhiên, nó có một sức mạnh, một quyền lực to lớn có thể cứu giúp con ngườithoát khỏi khổ đau, có được hạnh phúc và sự bình yên

Việt Nam từ trước đến nay cũng có nhiều quan điểm khác nhau

Trong Hán-Việt từ điển, Đào Duy Anh đã giải nghĩa: “Tín ngưỡng là lòngngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa”

GS Đặng Nghiệm Vạn cho rằng: thuật ngữ tín ngưỡng có thể có 2 nghĩa Khinói đến tự do tín ngưỡng, người ta có thể hiểu là niềm tin nói chung hay niềm tintôn giáo Nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo, nếu

Trang 7

hiểu là niềm tin tôn giáo thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cấuthành của tôn giáo.

Nguyễn Chính cho tín ngưỡng là tâm linh, vì tín ngưỡng và tâm linh là hạtnhân của tín ngưỡng tôn giáo Đây là niêm tin, sự trông cậy và yêu quý một thếlực siêu nhiên mà với tri thức của con người và kinh nghiệm chưa đủ để giảithích và lý giải được

Một số học giả khác xem tín ngưỡng là tín ngưỡng dân gian với các nghi lễ thờcúng thể hiện qua lễ hội, tập quán, phong tục truyền thống của dân tộc Việt Nam Như vậy, khái niệm tín ngưỡng được nhiều tác giả, nhiều ngành khoa họctiếp cận với nhiều quan điểm khác nhau Vì thế tựu chung các quan điểm nêutrên về tín ngưỡng thể hiện nội dung sau:

Tín ngưỡng là một bộ phận của ý thức xã hội, là 1 yếu tố thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần, là hệ quả của các quan hệ xã hội, được hình thành bởi quá trình lịch sử văn hóa, là sựu biểu hiện niềm tin dưới dạng tâm lý xã hội vào cái thiêng liêng thông qua hệ thống lễ nghi, thờ cúng của con người và cộng đồng người trong xã hội.

Thuật ngữ tín ngưỡng bao gồm tín ngưỡng tôn giáo và tín ngưỡng dân gian:Tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên theo những nguên tắcthực hành tôn giáo nhất định

Tín ngưỡng dân gian phản ánh những ước nguyện tâm linh của con người vàcủa cả cộng đồng, là niềm tin vào thần linh thông qua những nghi lễ, gắn liềnvới phong tục tập quán truyền thống

Theo GS.TS Phạm Ngọc Quang: Tín ngưỡng dân gian cũng có thể và cầnđược xem là một yếu tố, một bộ phận của văn hóa dân gian Từ quan niệm đó,nếu văn hóa dân gian được hiểu là loại hình văn hóa ra đời nhờ sự sáng tạo củachính nhân dân, thì tín ngưỡng dân gian cũng có thể được xem là loại hình tín

Trang 8

ngưỡng tôn giáo do chính nhân dân – trước hết là những người lao động – sángtạo ra trên cơ sở những tri thức phản ánh sai lạc dưới dạng kinh nghiệm cảm tính

từ cuộc sống thường nhật của bản thân mình

Khi đề cập đến sự tương đồng và khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo cũng cầnlàm rõ sự giống và khác nhau giữa tín ngưỡng và mê tín, mê tín với mê tín dị đoan Thực chất, tín ngưỡng và tôn giáo là mê tín vì tin vào những điều không cóthực, nhưng bản chất của tín ngưỡng và tôn giáo là không có dị đoan

Dị đoan là những điều quái lạ huyễn hoặc do tin vào những điều nhảm nhí

mà có Dị đoan là hệ quả của mê tín, làm theo những điều quái dị không thật,không hợp lẽ phải Dị đoan là mức cao hơn của mê tín

Mê tín dị đoan là niềm tin của con người và các lực lượng siêu nhiên đếnmức độ mê muội, cuồng tín với những hành vi cực đoan, thái quá, phi nhân tính,phản văn hóa Mê tín dị đoan thường gây ra những hậu quả tiêu cực, ảnh hưởngxấu đến đời sống xã hội Hiện tượng mê tín dị đoan thường gắn liền với các hìnhthức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo

1.1.2 Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian của dân tộc ViệtNam, được hình thành từ ngàn đời xưa, nó ăn sâu vào tiềm thức của dân tộc vàđóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc văn hoá Việt Nam Chođến nay tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn đang phát triển mạnh mẽ trong đời sống sinhhoạt của nhân dân Trong tín ngưỡng dân dã của người Việt thì việc tôn thờ Nữthần, thờ Mẫu là một hiện tượng khá phổ biến trong đời sống văn hoá, bắt nguồn

từ lịch sử xã hội Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam thể hiện sự ngưỡng mộ chânthành của con người về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng nhưtrong xã hội, trong công cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước

Trang 9

Mẫu là một từ gốc Hán Việt được hiểu là Mẹ, hay Mụ, Mạ, Mế, dùng để chỉngười phụ nữ nói chung, người mà đã có công sinh thành, nuôi dưỡng nhữngđứa con nên người Ngoài ra, Mẫu còn được hiểu theo nghĩa rộng hơn đó là sựtôn vinh, tôn xưng một nhân vật nữ nào đó (có thật hoặc không có thật) như:Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Nghi Thiên hạ, …Trong tâm thức của ngườiViệt, Mẫu cũng có nghĩa là sự sinh sôi, nảy nở của vạn vật trong vũ trụ.

Cho dù hiểu như thế nào thì vị trí của Mẫu trong tiềm thức của người ViệtNam luôn là sự thành kính, sự tôn trọng trong đời sống của họ Việt Nam là nước

đa tôn giáo, đa tín ngưỡng với đặc điểm nổi bật là sự bao dung, sự hoà hợp lẫnnhau của các tôn giáo trong cùng một quốc gia, vì thế trên khắp đất nước ta trảidài từ Bắc đến Nam có khoảng 1000 di tích văn hoá trong đó có 250 các di tíchthờ cúng các vị thần hay danh nhân là Nữ Chính vì thế trong kho tàng văn hoádân gian về truyền thuyết hay thần thoại có nhiều những câu chuyện về các nữthần như: Nữ thần Mặt Trời, Nữ thần Mặt Trăng người đã soi sáng xuống trái đất

tạo lập nên đất trời, hay sự tích về “Nữ Oa đội đá vá trời” Còn các nữ thần Tứ

pháp như: pháp Vân, pháp Vũ, pháp Lôi, pháp Điện tạo ra các hiện tượng Mây,Mưa, Sấm, Chớp Đây chính là những yếu tố mang tính bản thể của vũ trụ cũngđược dân gian nữ tính hoá, hay những yếu tố được xem là bản nguyên đầu tiêncủa thế giới như: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ cũng được nhân dân ta gọi là Bà Trong quan niệm của người Việt thì Mẹ đầu tiên nuôi sống và che chở chocon người là Mẹ Cây Không chỉ là nơi che chở cho con người mà còn mang lạihoa thơm quả ngọt nuôi sống cho con người, là nơi mà con người trú ngụ vàtránh thú dữ Chính vì thế tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam xuất hiện từ rất xaxưa, từ lúc mà con người còn sinh sống trong rừng xanh, hang hẻm, cho nênhình ảnh đầu tiên mà con người tôn thờ là Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Sơn Lâm Người dân luôn tôn thờ Mẫu Thượng Ngàn cho dến khi mở rộng địa bàn cưtrú xuống đồng bằng, lênh đênh sông nước xuống miền xuôi, lúc này Mẹ cây

Trang 10

không còn nâng đỡ được họ nữa mà người che chở cho họ là Mẹ nước thế nên ýthức về Mẫu Thoải dần dần được hình thành.

Cuộc sống sinh sôi và nhu cầu của con người ngày càng nhiều thì con ngườikhông chỉ trú ngụ ở sông núi mà còn phải khai phá đất đai để sinh sống Lúc nàyhình ảnh Mẹ Đất được hình thành với sự tôn vinh là Mẫu Địa cùng với Mẫuthoải, Mẫu Thượng Ngàn phù hộ cho cuộc sống bình an, mưa thuận, gió hoà củacon người

Cho đến thế kỷ XVI, tín ngưỡng thờ Mẫu được làm phong phú hơn với hìnhtượng công chúa Liễu Hạnh được tôn là Thánh Mẫu Khác với Mẫu ThượngNgàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa đều có nguồn gốc từ tự nhiên thì Mẫu Liễu là hìnhtượng con người trần thế có thật được người Việt Nam sáng tạo ra hội tụ đầy đủcác yếu tố và đức tính quý báu của người phụ nữ Việt Nam Chính vì thế ngườiViệt Nam tôn vinh Liễu Hạnh là Tiên, là Thánh, là một trong tứ bất tử của mình Trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam, nhân dân ta còn tôn thờnhững bà mẹ có công sinh thành ra dân tộc, những người phụ nữ có tài giữ nước

và dựng nước trong lịch sử

Như vật ta có thể hiểu rằng: Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng

bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ nữ thần (nhưng không phải tất cả nữ thần đều là Mẫu), là một bộ phận của ý thức xã hội, được hình thành từ chế độ thị tộc mẫu

hệ, để tôn vinh nhữnh người phụ nữ có công với nước, với cộng đồng tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội làm Thánh Mẫu, Vương Mẫu… và qua đó người ta gửi gắm niềm tin vào sự che chở, giúp đỡ của các lực lượng siêu nhiên thuộc nữ thần.

1.2 Nguồn gốc hình thành và tồn tại của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

1.2.1 Điều kiện kinh tế-xã hội cho sự hình thành và tồn tại tín ngưỡng thờ

Mẫu ở Việt Nam

 Điều kiện kinh tế - xã hội

Trang 11

Tôn giáo, tín ngưỡng nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng cũng ra đời

từ nguồn gốc kinh tế-xã hội, nhận thức và tâm lý tình cảm

Theo quan điểm Mác-xít thì tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng lịch sử xãhội, là một bộ phận của ý thức xã hội Cho nên nó có quy luật hình thành, tồn tại

và phát triển riêng, được nảy sinh trên cơ sở kinh tế-xã hội nhất định, chịu sựquy định của tồn tại xã hội

Điều kiện địa lý tự nhiên chính là môi trường sinh thái mà trong đó conngười sinh sống và tồn tại Đặc biệt môi trường tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếpđến sinh hoạt, phong tục tập quán canh tác của con người Cũng chính từ môitrường tự nhiên mà con người có được những tư liệu sản xuất cần thiết cho sựtồn tại của bản thân mình và nuôi sống gia đình để duy trì sự phát triển của xãhội Kể từ đó con người hình thành mối quan hệ với tự nhiên Vì thế môi trường

tự nhiên thuận lợi hay khó khăn đều tác động trực tiếp đến đời sống tinh thầnhay vật chất của con người trên tất cả các lĩnh vực như: phong tục, tập quán, tínngưỡng, văn hoá, lễ hội…

Việt Nam là quốc gia nằm ở vùng Đông Nam Á có địa hình phong phú và đadạng, với những đồng bằng rộng lớn, hệ thống sông ngòi dày đặc, bên cạnh đó còn

có địa hình rừng núi hiểm trở, vùng biển rộng với bờ biển dài và có nhiều bãi biểnđẹp Hơn thế nữa, Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, có bốn mùaxuân, hạ, thu, đông, khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô Đây lànhững yếu tố quan trọng góp phần hình thành nên những sắc thái riêng biệt trongtập tục sản xuất, canh tác của cư dân nông nghiệp cũng như những nét sinh hoạttrong đời sống văn hóa tinh thần, trong đó có tôn giáo, tín ngưỡng

Việt Nam là một nước thuần nông, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp.Thời gian đầu khi công cụ sản xuất chưa phát triển, phương thức canh tác cònlạc hậu nên con người sống còn phụ thuộc vào tụ nhiên Chính trong cuộc sốngsản xuất nông nghiệp của nhân dân luôn thể hiện khao khát, mong chờsự che

Trang 12

hiện tượng tự nhiên và vô hình chung gắn cho các hiện tượng tự nhiên một sứcmạnh siêu nhiên và tôn thờ nó Vì thế trong đời sống tâm linh của người Việtxuất hiện tín nưỡng thờ thần trong đó thần thánh hóa các vị nữ thần, vì theoquan niệm của họ sản xuất nông nghiệp gắn liền với các yếu tố như đất nước (làyếu tố âm) hay những yếu tố của tự nhiên khác như mặt trăng, mặt trời, tínngưỡng thờ Tứ pháp (pháp Vân, pháp Vũ, pháp Lôi, pháp Điện).

Như vậy trong nền “văn minh lúa nước” có nhiều tập tục gắn với quy trình

canh tác đặc thù của cây lúa Với tập tục đó xuất hiện nhiều tín ngưỡng hay nghithức liên quan đến các yếu tố đất, nước, cây lúa Theo kinh nghiệm của cư dânnông nghiệp thì yếu tố đất và nước là yếu tố quan trọng hàng đầu liên quan đến

sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa Thế nên dân gian ta thường truyền nhau

kinh nghiệm trong canh tác: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Vì thế

người xưa tôn thờ những yếu tố đất, nước, cây lúa và coi nó như là thần linh từ

đó hình thành tín ngưỡng thờ thần như: Thần đất, Thần nước, Thần lúa, … vìnhững yếu tố đó gắn liền với việc sinh sản ra lúa, gạo để nuôi sống con ngườinên theo quan niệm dân gian các vị thần ấy thường là các Nữ Thần

 Quá trình hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

Ở nước ta thường gọi là Mẹ Nước, Mẹ Đất, Mẹ Lúa và cho đến ngày nay cảnước ta vẫn còn nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẹ Đất, Mẹ Nước, MẹLúa Bởi vì trong tâm linh của người Việt, Mẹ Đất, Mẹ Nước, Mẹ Lúa như dòngsữa mẹ mang lại cho cây lúa trĩu bông, mùa màng bội thu, đời sống của conngười được no ấm, thuận hoà, bình an, vì thế tương truyền trong nhân dân taluôn tôn thờ những vị nữ thần này trong cuộc sống của mình

Do đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp nên vai trò của người phụ nữđược đề cao, bởi người phụ nữ là người tham gia hầu hết vào công việc đồngáng, quán xuyến mọi việc trong gia đình.Trong các khâu của sản xuất nôngnghiệp thì: “Đàn ông làm các công việc cày, bừa, đắp bờ ruộng, khai mươngphai, chuẩn bị công việc gieo trồng Còn các công việc như gieo hạt thóc giống,

Trang 13

nhổ mạ cấy lúa, làm cỏ, gặt hái đều do đàn bà đảm nhiệm Như thế là chỉ có đàn

bà mới được tiếp xúc với cây lúa đang độ sinh trưởng (Từ khi là cây lúa cho đếnkhi thành cây lúa chín vàng)” Đối với gia đình, người phụ nữ không nhữngchăm lo cho gia đình mà còn đảm nhiệm vai trò dạy dỗ, giáo dục con cái Chính

vì thế hình ảnh người mẹ luôn in sâu trong tiềm thức của những đứa con, là hìnhảnh theo người con trong suốt cuộc đời Người mẹ không chỉ mang nặng đẻ đauban cho ta sự sống, mà người còn dạy dỗ ta nên người

Không chỉ có các giai thoại về các nữ thần được nhân dân ta thần thánh hoá

mà trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước thì nhân dân ta cũng tôn thờnhững người phụ nữ có tài, có đức, có công với dân tộc trong công cuộc dựngnước và giũ nước như: Hai Bà Trưng, Thái Hậu Dương Vân Nga, Nguyên Phi ỶLan, Bà Phạm Ngọc Trần (hoàng hậu nhà Lê) hay những nhân vật huyền thoạinhư: công chúa Liễu Hạnh, Bà mẹ của Phù Đổng Thiên Vương, Bà Âu Cơ… ỞMiền Trung hay cả Miền Nam nhân dân ta cũng tôn thờ những người mẹ cócông với dân tộc như: ở Miền Trung thờ Nữ thần Yana (bà mẹ y theo mệnh trời)thờ ở điện Hòn Chén - Huế và Tháp Bà - Nha Trang Người Chăm có tục NữThần Poh Nagar (người mẹ xứ sở) Ở Miền Nam có tục thờ các bà chúa như: Bàchúa Xứ ở núi Sam - An Giang, ở núi Linh Sơn Núi Bà Đen) có tục thờ LinhSơn Thánh Mẫu

Từ khi sơ khai hình thành cho đến khi phát triển rực rỡ, trải qua bao lớpbụi thăng trầm của lịch sử thì ngày nay tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn được nhândân ta coi trọng trong đời sống sinh hoạt văn hoá cộng đồng, nó như một nétđẹp thanh nhã trong đời sống tâm linh của người Việt Sự ra đời và phát triểncủa tín ngưỡng thờ Mẫu luôn chịu sự quy định của tồn tại xã hội và phản ánhtồn tại xã hội Với những biến cố của thời đại thì tín ngưỡng thờ Mẫu củaViệt Nam còn chịu ảnh hưởng cũng như sự giao thoa, tiếp biến của nhiều tínngưỡng, tôn giáo khác

Trang 14

Ngoài ra, tâm lý và tình cảm của con người cũng là một trong những nguyênnhân cho sự ra đời hình thức tín ngưỡng Xét dưới góc độ triết học thì tâm lý,tình cảm là một bộ phận của ý thức xã hội; tín ngưỡng, tôn giáo được hình thànhtrên cơ sở tâm lý, tình cảm của con người và cộng đồng người trong xã hội Conngười luôn tự hỏi về nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng cũng như số phậncủa con người Về những vấn đề này thì đôi khi những giải đáp khoa học haytriết học chưa đủ thỏa mãn, trong tình hình đó thì tín ngưỡng, tôn giáo lại có thểđem lại cho con người một lời giải thích không chính xác, nhưng có sức hấpdẫn, thuyết phục bởi nó có tính huyền bí, tính logic của nó.

Con người có nhu cầu là được tâm sự, giải tỏa những bức xúc trong đời sốngtinh thần và luôn có nhu cầu vươn tời một cuộc sống tốt đẹp Vì thế, họ cần rấtnhiều thứ ngoài vật chất, lý trí, đạo lý truyền thống…đó là sự thiêng liêng, “bùđắp hư ảo” Điều đó chỉ có ở tín ngưỡng, tôn giáo

Chúng ta cần phải nghiên cứu đến một khía cạnh tâm lý khác của con người

đó là lòng biết ơn đến công sinh thành, sự kính trọng, tình yêu thương…đóchính là điều mà chế độ mẫu hệ tồn tại dai dẳng trong đời sống các dân tộc, haybắt nguồn từ hình tượng tôn thờ giới nữ, phản ánh vai trò của người mẹ, người

mẹ là sự bảo tồn sinh sôi giống nòi

Trên đây là một số nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của hình thức tín ngưỡngthờ Mẫu ở Việt Nam

1.2.2 Mối quan hệ giữa tín ngưỡng thờ Mẫu và các loại hình tín ngưỡng, tôn

giáo khác

Việt Nam là nước đa tôn giáo, tín ngưỡng Một đặc điểm nổi bật của tínngưỡng tôn giáo ở Việt Nam là sự đan xen, dung hoà của các tôn giáo Điểm nàycũng xuất phát từ bản thân tính cách của người Việt đó là tính nhân ái, bao dungcho nên bất cứ một tín ngưỡng, tôn giáo nào du nhập vào Việt Nam chúng ta đềutiếp nhận trên cơ sở kế thừa và chọn lọc những yếu tố phù hợp với phong tục,

Trang 15

tập quán của người Việt, hay nói cách khác khi các tôn giáo du nhập vào Việt

Nam thì nó đã bị “bản địa hoá” Giữa các tôn giáo và tín ngưỡng không có sự

phân biệt rạch ròi mà giữa chúng có sự đan xen hoà quyện lẫn nhau, tạo nên nétđặc sắc trong văn hoá Việt Nam Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam được xem làtín ngưỡng bản địa nhưng cũng chịu ảnh hưởng của một số tín ngưỡng, tôn giáokhác như: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ thần, tín ngưỡng ThànhHoàng làng, Đạo giáo, Nho giáo, Kitô giáo…

Tín ngưỡng thờ Mẫu được xem là thoát thai từ đạo thờ thần và chịu ảnhhưởng sâu sắc của Đạo giáo ở Trung Quốc, “Đạo Mẫu” với tư cách là một biếnthể ở Việt Nam đã và đang có sự thâm nhập vào các tín ngưỡng, tôn giáo khác

 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Tín ngưỡng thờ mẫu cũng tiếp thu những ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ cúng

tổ tiên, một tín ngưỡng có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong đời sống tinh thầnngười Việt Trong điện thờ của tín ngưỡng thờ Mẫu mang tính gia tộc, có vua

Cha, có thánh Mẫu, có phong tục “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ” Tín

ngưỡng thờ Mẫu lấy hình ảnh người Mẹ làm hình tượng, bên cạnh Mẹ còn có

cha.Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có ý nghĩa giáo dục truyền thống “Uống nước

nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” một đạo lý bất diệt muôn đời của

người Việt

 Tín ngưỡng thơ thần và tín ngưỡng phồn thực

Tín ngưỡng thờ thần là một loại tín ngưỡng nguyên thuỷ nó ra đời thể hiện sựbất lực của con người trước tự nhiên Vì thế họ tôn thờ các vị thần có nguồn gốc

từ tự nhiên như Thờ Tứ pháp (pháp Vân, pháp Vũ, pháp Lôi, pháp Điện), ThờThần Mặt Trời, Thờ Thần Mặt Trăng… và đều có liên quan đến Nữ Thần.Người Việt không chỉ thờ Thần có công sáng tạo ra vũ trụ như: Nữ Oa, ThầnLửa, Thần Mộc,… mà còn thờ các vị thần có công giúp dân trong việc dựngnước và giữ nước, lập bản, lập làng, mở mang nghề nghiệp, gương sáng trung

Trang 16

hiếu nghĩa tình như: Đức Thánh Trần, Các Vua Hùng, Liễu Hạnh, Thánh Gióng,Mẫu Thượng Ngàn, … Do đó, có thể nói rằng những anh hùng dân tộc, nhữngngười có công, những nhà văn hoá, … được nhân dân ta tôn thờ hầu hết là cónguồn gốc từ Nữ Thần Vì thế tín ngưỡng thờ Thần cũng có những ảnh hưởngđến tín ngưỡng thờ Mẫu và ngược lại tín ngưỡng thờ Mẫu cũng ảnh hưởng trởlại tín ngưỡng thờ Thần ở Việt Nam.

Tín ngưỡng phồn thực biểu tượng cho sự sinh sôi, nảy nở để tạo ra sự sốngcủa muôn loài Người xưa tôn thờ tín ngưỡng này với mơ ước mong cho cuộcsống con người luôn trường tồn, cuộc sống sinh sôi, no đủ Chính sự sinh sôi đóbao hàm yếu tố âm gắn liền với hình tượng người phụ nữ - chủ thể của sự sinhsôi, nảy nở, theo người xưa quan niệm từ người mẹ mà sự sinh sôi, nảy nở diễn

ra không ngừng Cũng chính vì ý nghĩa đó mà người ta tôn thờ tín ngưỡng phồnthực và coi nó như một nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá dân gian của người Việt,

nó được bảo tồn cho đến ngày nay và là cơ sở nền tảng để các tín ngưỡng ngoại

lai khi du nhập vào Việt Nam đều bị “bản địa hoá” Trong đó hình tượng người

Mẹ của tín ngưỡng thờ Mẫu cũng ảnh hưởng và quy định trở lại tín ngưỡngphồn thực được xem là đặc nét văn hoá đặc sắc của người Việt từ bao đời nay

 Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng

Thờ Thành Hoàng là một tín ngưỡng phổ biến của người Việt Nam Cơ sở tâm

lý và xã hội của tín ngưỡng này chính là sự tin tưởng vào một vị thần nào đó đểbảo vệ cho cuộc sống nhân dân được bình yên, phồn thịnh, phát triển Ở ViệtNam tín ngưỡng này phát triển khá rộng rãi ở bất kỳ một bản, một làng nào củangười Việt cũng tôn thờ một vị thần được nhân dân tôn vinh là Thành Hoàng vàlập đình thờ Tất cả các vị Thành Hoàng ở khắp Bắc - Trung - Nam đều có nguồngốc lịch sử rõ ràng Mặc dù có nguồn gốc khác nhau nhưng tựu chung lại họ đều

có tấm lòng bao dung và mang tính linh thiêng Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng đềukhơi dậy ở mỗi con người ý thức về dân tộc, về nguồn gốc tổ tiên của mình:

“Chim có tổ, người có tông” Tín ngưỡng thờ Mẫu và tín ngưỡng thờ Thành

Trang 17

Hoàng đều là tín ngưỡng bản địa, giữa chúng có mối quan hệ với nhau Chúngđều có điểm xuất phát từ đạo thờ thần, trong đó thì nhiều Thành Hoàng làng cónguồn gốc từ Nữ Thần và đều mang đặc trưng là hướng tới tổ tiên, nhớ về cộinguồn với mơ ước cuộc sống muôn đời của nhân dân được phúc lộc, bình an.

 Đạo giáo

Đạo giáo là một thứ tôn giáo ra đời ở Trung Quốc, tư tưởng cơ bản của ĐạoGiáo là sống tuân theo lẽ tự nhiên và luôn đề cao tự nhiên, hướng con người đếnvới cuộc sống của thế giới thần tiên, có được cuộc sống vui vẻ, trường sinh Hệthống các vị thần trong Đạo giáo hết sức phong phú và mang tính đa thần ĐạoGiáo vào Việt Nam khá sớm và ăn sâu, bám rễ vào trong cuộc sống của cư dânngười Việt cổ Có thể thấy rằng trong số các tôn giáo du nhập vào Việt Nam thìĐạo giáo là tôn giáo gần gũi có quan hệ chặt chẽ với các tín ngưỡng dân gianbản địa trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu

Tín ngưỡng thờ Mẫu đã tiếp thu và cải biến một số nội dung của Đạo Giáo phùhợp với tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam như các hình thức lên đồng, các hìnhthức phù thuỷ, hệ thống điện, thờ… những nội dung xuyên suốt và cốt lõi của tínngưỡng thờ Mẫu là tôn thờ Mẹ Cho dù là có sự tiếp biến nhưng tín ngưỡng thờMẫu ở Việt Nam không thể đồng nhất với Đạo Giáo mà ở Việt Nam tín ngưỡngthờ Mẫu mang đậm bản sắc dân tộc

 Phật giáo

Trong quá trình Đạo Phật du nhập vào nước ta thì dần dần cũng được dângian hoá Giữa Đạo Phật và Đạo Mẫu có sự tiếp thu và thâm nhập lẫn nhau khásâu sắc Điều mà chúng ta dễ nhận biết là hầu hết trong các ngôi chùa hiện nayđều có điện thờ Mẫu

Cần phải thấy rằng Quan Âm trong Phật Giáo Ấn Độ vốn là nam thần nhưng

khi qua Trung Quốc vào nước ta đã bị “Nữ Thần hoá” thậm chí “Mẫu hoá” để

Trang 18

trở thành quan thánh của Đạo Mẫu ở Việt Nam Trong các ngày giỗ Mẫu, giỗ

Mẹ đều có nghi thức rước Mẫu lên chùa để đón Phật về phủ

Trong xã hội nông thôn Việt Nam thì có sự thâm nhập của hai thứ tôn giáo,hay tín ngưỡng này cũng là điều dễ hiểu Tất cả đều hướng con người tới cái từ

bi, bác ái, tinh thần cộng đồng, khuyến thiện, trừ ác và hai thứ tôn giáo tínngưỡng này bổ sung cho nhau nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân.Theo Phật để tu nhân, tích đức cho đời sau để lên cõi Niết Bàn cực lạc, còn theoĐạo Mẫu mong được phù hộ độ trì cho sức khoẻ, tài lộc, may mắn trong cuộcsống thường ngày

 Thiên chúa giáo

Đối với Thiên Chúa Giáo thì Đạo Mẫu cũng không tạo thành bức tường ràongăn cách Truyền thống tôn thờ Mẫu ở Việt Nam cũng có cái gì gần gũi gắn bóvới hình ảnh Đức Mẹ Maria của Thiên Chúa Giáo Do vậy, khi du nhập vàonước ta Thiên Chúa Giáo ở Việt Nam vẫn đề cao vai trò của người Mẹ - Đức MẹMaria Ở những trung tâm Thiên Chúa Giáo của Việt Nam, bên cạnh hình tượngĐức Chúa Giêsu thì vẫn tôn thờ Đức Mẹ Maria như: Nhà Thờ Phát Diệm, NhàThờ Lớn (Hà Nội), … Như vậy, khi Thiên Chúa Giáo vào Việt Nam cũng dần

dần bị “bản địa hoá” và ảnh hưởng tác động trở lại các tín ngưỡng , tôn giáo

khác trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu

Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam đã có sự tiếp biến, giao thoa với các tínngưỡng, tôn giáo bản địa cũng như ngoại nhập tạo nên tính đặc sắc của tínngưỡng mang tính bao dung, ôn hoà giữa các tôn giáo, tín ngưỡng đều hướngcon người tới cuộc sống bình yên, no đủ, hạnh phúc

Trang 19

Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam cũng là một bộ phận của hình thái ý thức xãhội, nhằm phản ánh cuộc sống của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, cùng vớiviệc đề cao vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội Đó là một tínngưỡng bản địa tiêu biểu của người Việt, được hình thành trên cơ sở những điềukiện kinh tế - xã hội, văn hoá nhất định Trong quá trình hình thành và tồn tạicủa mình tín ngưỡng thờ Mẫu có mối quan hệ biện chứng với các loại hình tínngưỡng, tôn giáo khác như: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Tín ngưỡng thờ thần,Tín ngưỡng phồn thực, Đạo Giáo, Nho Giáo, Phật Giáo, Thiên chúa giáo, …Cho đến ngày nay thì tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn là nét đẹp trong sinh hoạt văn hoácủa người Việt Nam.

Trang 20

Chương 2:

HOẠT ĐỘNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU

VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU

ĐẾN ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Hoạt động của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam hiện nay

Đi suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, trải qua những chặng đường gian nantrong công cuộc dựng nước và giữ nước Nền văn hóa Việt Nam không ngừngđược bồi đắp, cùng với đó thì tín ngưỡng bản địa của nước ta phát triển mạnh

mẽ khắp ba miền Bắc - Trung - Nam Đặc biệt với tín ngưỡng thờ Mẫu pháttriển rộng khắp các địa phương từ Bắc vào Nam, từ miền ngược lên miền xuôi

Ở mỗi một địa phương do đặc thù về điều kiện tự nhiên, về phong tục tập quánnên tín ngưỡng thờ Mẫu đều mang những dấu ấn đặc sắc, từ đó làm cho tínngưỡng bản địa này thêm phong phú, đa dạng, muôn màu muôn vẻ Tuy nhiênđều thống nhất với nhau về giá trị tinh thần, giá trị văn hóa trong tâm thức củangười Việt Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài cho đến ngày hômnay tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn phát triển và bảo tồn được nhiều giá trị ở một sốtrung tâm thờ Mẫu lớn khắp cả ba miền

Đặc biệt là miền Bắc cho đến nay vẫn được xem là nơi có tín ngưỡng thờMẫuphát triển nhất cả nước với hệ thống chùa chiền, đình thờ Mẫu nhiều nhấttrong cả nước nằm rải rắc ở hầu khắp các địa phương, trong đó nổi lên ở một sốtrung tâm thờ Mẫu lớn như: Thờ Mẫu Liễu ở Phủ Giày, Phủ Tây Hồ với sự tích

về Mẫu Liễu Hạnh, thờ Mẫu ở Lạng Sơn…

Bên cạnh đấy thờ Mẫu ở Nam Bộ và Trung Bộ cũng phát triển rất mạnh mẽ

Có thể kể tới một số trung tâm nổi tiếng như thờ Bà chúa Xứ núi Sam (Nam Bộ)hay thờ mẫu ở Huế và thờ bà mẹ Chăm (Trung Bộ)

Trong số các lễ hội thờ Mẫu, thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Giày – Nam Địnhđược rất nhiều người biết đến và có số lượng người tham gia đông đảo Đây làmột trong những lễ hội thờ Mẫu nổi tiếng nhất trong cả nước

Trang 21

Thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Giày

 Một số nét khái quát về di tích Phủ Giày

Phủ Giày là tên gọi chung của quần thể di tích thuộc xã Kim Thái huyện VụBản tỉnh Nam Định Đây được xem là trung tâm thờ Mẫu của đạo Tứ Phủ lớnnhất ở Miền Bắc nói riêng và cả nước nói chung gắn liền với truyền thuyết vềThánh Mẫu Liễu Hạnh với nhiều giai thoại ly kỳ, hấp dẫn

Vùng đất Kim Thái - Vụ Bản là nơi có điều kiện địa lý đặc biệt cho việchình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu Nằm trong khu vực miền

hạ thổ sông Hồng, sông Đáy, vùng đất này hiện còn lưu giữ lại những dấuvết của vùng cửa sông ven biển xa xưa, vùng đầm lầy trũng xen lẫn đồi núisót Lịch sử của vùng đất Thiên Bản (gốc trời) gắn liền với lịch sử hàngngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Trải qua các triềuđại phong kiến đặc biệt là nhà Trần đã để lại nơi đây nhiều dấu tích lịch sử.Điều kỳ diệu trên mảnh đất này gắn với nhiều truyền thuyết về tôn giáo vềtín ngưỡng thờ Mẫu Truyền thuyết về Mẫu Liễu Hạnh từ ngàn đời xưa chođến ngày nay gắn với quần thể di tích Phủ Giày

Truyền thuyết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Nhân vật trung tâm được thờ phụng trong di tích Phủ Giầy là Liễu Hạnh Mỗikhi đến hội mọi người trở về đây đều với tâm niệm trở về với quê hương củaMẫu Liễu Hạnh Liễu Hạnh cũng được coi là thần chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu ởViệt Nam Nói về Thánh Mẫu Liễu Hạnh thì xung quanh bà là một màn huyềnthoại dày đặc những yếu tố vừa thực, vừa ảo

Trong các văn bản có tính chất truyền thuyết, thần thoại về Thánh Mẫu LiễuHạnh được kể như sau:

Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một cô gái xinh đẹp, trải qua “tam sinh tam hóa”

Bà chính là người con thứ hai, tên Quỳnh Hoa của Ngọc Hoàng, được giáng sinhvào nhà họ Phạm, có nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành, nhưng không chịulấy chồng Bà quyết tâm ở nhà phụng dưỡng cha mẹ, cứu giúp người nghèo, tusửa đền chùa Nhưng vào ngày 30 tháng 2 năm Quý Tỵ (1473) thời vua LêThánh Tông thì bà về trời, thọ 40 tuổi

Trang 22

Ở làng An Thái, xã Vân Cát huyện Thiên Bản có ông Lê Thái Công hiềnlành, phúc đức thường ngày đem đốt hương thờ Trời Phật Năm Thiên Hựu (đời

Lê Anh Tông 1557), bà vợ ông có mang đã đến kỳ sinh nở thì mắc bệnh chữamãi không khỏi Có một đạo sĩ đến giúp, làm phép cho ông được nằm mộng lênthiên đình Tại đây ông chứng kiến cảnh Đệ nhị Tiên chúa Quỳnh Hoa phạm lỗi(đánh vỡ chén ngọc) bị đày xuống trần gian Khi ông tỉnh giấc thì vợ ông vừachuyển dạ sinh được một cô con gái Đêm ấy có hương lạ thơm nức ở trong nhàtrăng sáng soi vào cửa sổ Ông bèn nhớ lại giấc mộng nên đặt tên con gái tên làGiáng Tiên Cô con gái lớn lên xinh đẹp lạ thường đủ tài văn thơ đàn nhạc Ông

bà Lê Thái Công gả con gái cho Đào Lang (chàng trai dưới gốc Đào), là connuôi của bạn ông là Trần Công

Vợ chồng Giáng Tiên sinh được hai con thì ngày mùng 3 - 3, Gáng Tiênkhông bị bệnh gì mà mất, mới có 21 tuổi Nàng đã hết hạn đày phải trở về trời

Vì còn nặng duyên trần nên nàng luôn sầu não, cố xin vua cha cho tái hợp vớigia đình Vua cha vì thương con nên đồng ý phong cho nàng là Liễu Hạnh côngchúa Nàng về thăm cha mẹ, chồng con nhưng vì là thần tiên nên không thể ở lạitrần gian Khi cha mẹ và chồng mất, con cái đã trưởng thành, Liễu Hạnh đi mây

về gió hóa phép, biến hóa bỡn với với người đời Khi trở thành bà già tự gậytrúc bên đường, khi thì biến thành cô gái đẹp trong quán trọ Người hiền lành thìđược ban phúc, người bỡn cợt thì tai vạ Nàng lên Lạng Sơn biến thành ngườiđẹp họa, thơ phách đố với Trạng Bùng (Phùng Khắc Khoan), về Hồ Tây họp bạnvăn chương với các văn sĩ họ Phùng, Ngô, Lý Rồi Liễu Hạnh vào làng Sóc ởNghệ An Tại đây nàng kết hôn với một hậu sinh của chồng cũ, nhưng chỉ được

ít lâu nàng lại phải trở về trời Ở thiên cung nàng vẫn khao khát cuộc sống trầnthế, nàng lại nằng nặc xin xuống trần thế một lần nữa thượng đế đành phải chiều

ý cho thêm hai cô Quế và Thị cùng Liễu Hạnh về Phố Cát (Thanh Hóa) Nàngvẫn tiếp tục tác quái và người dân ở đây phải lập đền thờ, vua chúa cho quân đếndẹp phá tan đền của Liễu Hạnh nhưng sau đó Nàng làm phép cho bệnh dịch lantràn Nhân dân hoảng sợ cho là Liễu Hạnh trừng phạt nên xin triều đình lập lại

Trang 23

đền thờ ở Phố Cát và sắc phong “Mã hoàng công chúa” Tiên chúa sau đó nhiều lần giúp vua đánh giặc được tặng là “Chế Thắng Hòa Diệu Đại Vương”.

Như vậy, qua tác phẩm của Đoàn Thị Điểm về sự tích Liễu Hạnh ta thấy có

sự gặp gỡ giữa văn học dân gian văn chương bác học Vân Cát thần nữ mangtính truyền kỳ bằng cảm quan và cảm thụ của một nhà thơ nên ít nhiếu có giatăng những chi tiết những yếu tố xã hội so với truyền thuyết trong dân gian Tuyvậy qua đó chúng ta thấy được sự phong phú về con người của Mẫu Liễu cũngnhư vị trí của Mẫu trong tâm thức của nhân dân

 Quần thể di tích Phủ Giày

Có thể khẳng định rằng hiếm có một nơi nào trên đất nước ta, trong bán kínhchừng1 km lại có mật độ di tích đậm đặc như Phủ Giầy Đây là quần thể di tích cógiá rị to lớn về mặt lịch sử cũng như giá trị về văn hóa, nghệ thuật Quần thể di tíchnằm rải rác trong phạm vi của ba thôn Tiên Hương, Vân Cát, Báng Già (Xuân Bảng)các di tích này hoặc xen lẫn những mái nhà lụp sụp dưới bóng cây hoặc nằm ngangmặt đường chính xe cộ qua lại nườm nượp hoặc đứng biệt lập giũa cánh đồng mênhmông Trước kia nơi đây gồm có 17 di tích nhưng theo năm tháng một số di tích đã

bị phá hủy Hiện nay có nhiều tài liệu cho rằng nơi đây còn 13 di tích Hầu hết những

di tích nơi đây đều có một kiến trúc độc đáo, trong các di tích còn lại ta có thể dễdàng nhận thấy sự tồn tại đan xen của nhiều loại hình tôn giáo như: Chùa thờ Phật,đình thờ Thành Hoàng, đền thờ Vua, thờ Phúc thần, thờ thần tự nhiên Đặc biệt còn

có lăng Mẫu với dáng vẻ như một đài tế trời đất Sự tồn tại song song của các loạihình di tích này một mặt phản ánh sự hỗn dung của các loại hình tôn giáo bản địa,mặt khác chứng tỏ sự dung hòa của tín ngưỡng thờ Mẫu với các tôn giáo khác trongcùng sự tồn tại và phát triển bền lâu

Mặc dù quần thể di tích Phủ Giày kéo dài với hệ thống các di tích khác nhaunhưng chúng đều có mối quan hệ với nhau Ta có thể nhận thấy rằng các di tíchchuyên thờ Mẫu Liễu có diện tích lớn nhất Tín ngưỡng thờ Mẫu có ảnh hưởng

Trang 24

sinh Mặt khác quần thể di tích Phủ Giày có xu hướng quy tụ là trung tâm củacác vị thần linh với hệ thống thần linh hoàn chỉnh trong Tứ Phủ Như vậy quầnthể di tích Phủ Giày thể hiện vị trí và phạm vi ảnh hưởng to lớn của tín ngưỡngthờ Mẫu trong đời sống tâm linh của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ nói riêng

và người Việt nói chung

 Lễ hội ở Phủ Giày

Cũng như sự phức tạp, biến đổi về truyền thuyết Liễu Hạnh thì các nghi thức

và lễ hội ở đây cũng vận động và biến đổi theo những bước thăng trầm của lịch

sử và quá trình nhận thức của con người

Do tính chất đa dạng của các loại hình di tích nên cũng quy định nên tính đadạng phong phú của các hình thức lễ hội nơi đây Các nghi lễ ở Phủ Giày ngoàinhững nét riêng biệt, độc đáo của địa phương còn mang những nét chung của tínngưỡng thờ Mẫu Việc cúng bái, thắp hương trong các di tích cũng được tiếnhành thường xuyên Vào ngày sóc, ngày vọng con nhang đệ tử đi lễ Mẫu nhưđến Chùa lễ Phật Ngày thường thủ nhang của các Phủ chăm sóc việc đèn nhang.Ngoài ngày hội tháng Ba các phủ còn làm một số ngày lễ gắn liền với các chu

kỳ tự nhiên (đền Đức Vua làm vào ngày 18 - 1), lễ vào hè (1 - 4), lễ ra hè (1 - 7),hoặc các ngày lễ kỵ (đền quan lớn 26 - 4), Phủ Khâm Sai (14 - 3), …lễ tiệc Cô

Bơ (12 - 6), tiệc ông Hoàng Bảy (17 - 7), tiệc ông Hoàng Mười (10 -10), … Người đi lễ Phủ Giày gồm đủ mọi thành phần, mọi lứa tuổi nhưng đông hơn

cả là phụ nữ Nhũng người phụ nữ đến đây họ tìm thấy ở Mẫu sự đồng cảm, gầngủi, vì theo truyền thuyết Mẫu từng là người vợ, người mẹ với bao nỗi lo toanvất vả để làm tròn sứ mệnh của mình Vì vậy mà hàng năm mọi người đi PhủGiầy với tâm thức là tìm về với Mẹ chứ không phải là đi lễ Phật hay lễ Vua Các đồ lễ thường được chuẩn bị rất cẩn thận, tùy theo ban thờ mà họ đặt đồcúng cho phù hợp, ví như bàn thờ chính thường đặt đồ cúng theo tục lệ cúng nhàPhật (hương, hoa, đăng, trà, quả, thực) Trong cung Mẫu (Đệ Nhất, Đệ Nhị) chỉ

Ngày đăng: 10/04/2018, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w