Trong tâm thức người Việt ở nông thôn, thần làng ấp Việt Nam là vị thần có sự ảnh hưởng và chi phối rất lớn đối với đời sống mỗi cộng đồng người làng ấp. Chỗ ở của thần là các đình, đền, miếu, đặt trên đất làng ấp, được che chở bởi lũy tre làng. Thần làng người Việt là một vị thần được dân thờ từ trước, sau đó mới được vua phong tước với chức danh Thành Hoàng.Dân ta vẫn lưu truyền câu “Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ” đã nói lên rằng không thần làng nào giống thần làng nào, cho dù hai làng có ở cạnh nhau. Có thể nhận ra trong hàng nghàn vị Thành Hoàng có các loại như sau: Các thiên thần; Các sơn thần; Các thủy thần; Thành hoàng là thần động vật hay hiện vật; Thành hoàng là người nước ngoài; Những tạp thần khác… Tiềm thức về thờ cúng thần Thành hoàng đã in sâu vào tâm thức của mỗi người Việt, trong từng thôn xóm, làng ấp. Chính vì vậy, tín ngưỡng thờ cúng thần Thành Hoàng có sự giống và khác biệt giữa hai miền Nam – Bắc đã góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc qua các nghi lễ thờ cúng thần Thành Hoàng của từng địa phương trên khắp đất nước Việt Nam.
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong tâm thức người Việt ở nông thôn, thần làng ấp Việt Nam là vị thần có
sự ảnh hưởng và chi phối rất lớn đối với đời sống mỗi cộng đồng người làng ấp.Chỗ ở của thần là các đình, đền, miếu, đặt trên đất làng ấp, được che chở bởi lũytre làng Thần làng người Việt là một vị thần được dân thờ từ trước, sau đó mớiđược vua phong tước với chức danh Thành Hoàng
Dân ta vẫn lưu truyền câu “Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng
ấy thờ” đã nói lên rằng không thần làng nào giống thần làng nào, cho dù hai làng
có ở cạnh nhau Có thể nhận ra trong hàng nghàn vị Thành Hoàng có các loại nhưsau: Các thiên thần; Các sơn thần; Các thủy thần; Thành hoàng là thần động vậthay hiện vật; Thành hoàng là người nước ngoài; Những tạp thần khác… Tiềm thức
về thờ cúng thần Thành hoàng đã in sâu vào tâm thức của mỗi người Việt, trongtừng thôn xóm, làng ấp Chính vì vậy, tín ngưỡng thờ cúng thần Thành Hoàng có
sự giống và khác biệt giữa hai miền Nam – Bắc đã góp phần làm phong phú thêmbản sắc văn hóa dân tộc qua các nghi lễ thờ cúng thần Thành Hoàng của từng địaphương trên khắp đất nước Việt Nam Với mong muốn hiểu rõ hơn về nét độc đáo
trong loại hình tín ngưỡng dân gian truyền thống này, tác giả chọn đề tài: “ Tín ngưỡng thờ Thành hoàng và ảnh hưởng của nó trong cộng đồng dân cư Việt Nam” để nghiên cứu.
Trang 2Chương 1 VÀI NÉT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG
1.1 Khái niệm Thành hoàng
Thành hoàng làng (Thành hoàng) là danh từ chung để chỉ vị thần được thờtrong một làng xã Việt Nam Thành hoàng cai quản và quyết định họa phúc củamột làng và thường được thờ ở đình làng Do vậy hầu hết ở mọi nơi trên đất nước
ta đều lập đình (hoặc đền, miếu) thờ vị Thành hoàng có công với dân, với nước, lậplàng, dựng ấp hay sáng lập nên một nghề (ông tổ của nghề)
Theo chữ Hán: “ thành ” là cái thành, “ hoàng ” là hào bao quanh cái thành.Vậy Thành hoàng dùng để chỉ vị thần coi giữ, bảo trợ cho cái thành Như thế, ởTrung Quốc, tín ngưỡng Thành hoàng là sinh hoạt văn hóa thị dân, bao gồm kinhthành, tỉnh thành và quận, huyện thành Nhưng ở xứ ta, tín ngưỡng Thành hoàng làsinh hoạt văn hóa của làng, nơi không hề có thành hoàng (thành, hào lũy) bảo vệ Nhà văn Sơn Nam cho biết thêm: Ông thần ở đình làng gọi là thần Thànhhoàng, cai quản khu vực trong khung thành Thoạt tiên là thần ngự trị nơi thị tứ,sau áp dụng cả nơi thôn xóm, vì vẫn có điếm canh bố trí bao quanh
1.2 Nguồn gốc và phân loại
1.2.1 Nguồn gốc
Trang 3Tục thờ Thành hoàng hay thần hoàng ở nước ta là do ảnh hưởng từ văn hóaTrung Hoa truyền sang từ thời Đường Tuy nhiên, theo Phan Kế Bính thì trước đónhân dân ta cũng đã có những tín ngưỡng dân gian rồi Sau khi du nhập vào làng
xã Việt Nam đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người nông dân Việt, trởnên hết sức đa dạng, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” Tôn thờ Thànhhoàng làng chính là một nhu cầu tâm lý, người dân thờ Thành hoàng làng để phục
vụ cho hiện thực cuộc sống, là chỗ dựa tinh thần không thể thiếu được, là phươngtiện, là động lực thúc đẩy sản xuất và ổn định cuộc sống
Sử sách cho biết Thành hoàng đầu tiên ở nước ta là thần Tô Lịch – ThầnThành hoàng của thành Đại La, trụ sở của phủ đô hộ Đường tại nước ta (thế kỷ thứIX) Thần Tô Lịch là do Lý Nguyên Gia và Cao Biền tôn vinh là "Đô phủ Thànhhoàng thần quân", chữ Thành hoàng bắt đầu có từ đó
Còn ở trong văn học Việt, theo các nhà nghiên cứu, thì việc thờ Thần hoàngđược đề cập lần đầu tiên ở bài Chuyện thần Tô Lịch trong sách Việt điện u linh
1.2.2 Phân loại
Thành hoàng làng có thể là nhân thần, có thể là nhiên thần, nhưng tựu trunglại là các vị thần đã được lịch sử hóa hay huyền thoại hóa Tuy nhiên các thànhhoàng được sắc vua phong (trừ những tà thần, yêu thần ) luôn luôn tượng trưngcho làng xã mà mình cai quản là biểu hiện của lịch sử, của đạo đức, phong tục,pháp luật cũng như hy vọng sống của cả làng Thành hoàng có sức toả sáng vôhình như một quyền uy siêu việt, khiến cho làng quê trở thành một hệ thống chặtchẽ
Theo tục lệ xưa, các đời vua thường phong các vị Thành hoàng thành ba bậc:Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần, tuỳ theo sự tích và công
Trang 4trạng của các vị thần đối với nước với dân, với làng xã Các vị thần cũng được xétđưa từ thứ vị nọ lên thứ vị kia, nếu trong thời gian cai quản các vị này đã phù hộ,giúp đỡ được nhiều cho đời sống vật chất và tâm linh của dân chúng Việc thăngphong các vị Thành hoàng căn cứ vào sớ tâu của làng xã về công trạng của các vịthần Sớ này phải nộp về triều đình trong một thời gian quy định Mỗi lần thăngphong triều đình đều gửi sắc vua ban rất linh đình và cất nó trong hòm sắc thờ ởhậu cung đình làng.
Nhưng có khi Thành hoàng chỉ là một người dân mà theo quan niệm, là ngườiđược các vị thần ban cho sứ mệnh để sau này thay họ cai quản làng xã, được gọi làThành hoàng sống
Để đơn giản hóa, sau nhiều làng chỉ xây một cái đình lớn, phía ngoài làm nơihội họp (đình), phía trong là miếu
Thần Thành hoàng dù có hay không có họ tên, lai lịch; và dù xuất thân bất kỳ
từ tầng lớp nào, thì cũng là chủ tể trên cõi thiêng của làng và đều mang tính chấtchung là hộ quốc tỳ dân (hộ nước giúp dân) ở ngay địa phương đó Vai trò trên củathần còn có ý nghĩa hơn nữa, nhất là đối với những cư dân từ miền ngoài vào khaikhẩn vùng đất hoang Nam Bộ, vì lẽ họ đã gặp không ít khó khăn do thiên tai địch
Trang 5họa, do thú dữ hoành hành Điều đó có nghĩa, thần Thành hoàng đã trở thành mộtbiểu tượng tâm linh; bởi theo họ, chỉ có thần mới có thể giúp cho mưa thuận gióhòa, mùa màng tươi tốt; giúp cho cuộc sống của họ ngày một thêm ổn định, thịnhvượng.
1.4 Ý nghĩa thờ Thành hoàng
Tín ngưỡng Thành hoàng gắn bó chặt chẽ với làng xã như một thành tố, mộtnhu cầu tất yếu không thể thiếu vắng trong đời sống tâm linh của con người Dovậy, tín ngưỡng Thành hoàng có ý nghĩa sâu sắc về mọi mặt Trước hết, tín ngưỡngThành hoàng thỏa mãn được nhu cầu tinh thần của con người, cầu cho người an vậtthịnh, hướng con người đến một lý tưởng chân, thiện, mỹ Vì thế, thờ cúng Thànhhoàng không chỉ có ý nghĩa phồn thực mà còn có ý nghĩa về mặt đạo đức, giáo dụcđạo lý “uống nước nhớ nguồn” cho thế hệ trẻ, biểu lộ sự nhớ ơn của cộng đồng đốivới Thành Hoàng, các vị tiền hiền, hậu hiền và tổ tiên Ngoài ý nghĩa trên, thờcúng Thành hoàng còn có ý nghĩa chính trị sâu sắc Thờ thần, mời thần giúp mìnhtập hợp dân chúng để dễ cai trị, vương quyền kết hợp với thần quyền Ngày nay,thông qua thờ cúng Thành hoàng có thể giúp chính quyền địa phương phát độngnhiều phong trào thi đua, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, tinh thầncộng đồng được khơi xa, xiết lại
Trang 6Chương 2 TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG Ở HAI MIỀN BẮC VIỆT NAM
NAM-2.1 Lịch sử hình thành
Miền Bắc
Tục thờ Thành hoàng ở nước ta xuất hiện đầu tiên tại miền Bắc do ảnh hưởng
từ văn hóa Trung Hoa truyền sang từ thời Đường vào khoảng năm 833 Và sau đótiếp tục phát triển và phổ biến ở khắp các vùng miền trên cả nước
Miền Nam
Tục thờ Thành hoàng ở miền Nam được hình thành là do những cư dân ngườiViệt ở miền Bắc di cư vào phương Nam khai khẩn đất đai nên thời gian xuất hiệnmuộn hơ so với miền Bắc Họ cũng lập làng, dựng đình và thờ Thành Hoàng Tuynhiên, cũng giống như trong các nét văn hoá khác trong vùng ĐBĐNCL, họ đã tạo
ra những biến đổi trong văn hoá Việt về phương diện tín ngưỡng
2.2 Quan niệm về đối tượng thờ
Thành Hoàng là vị Thần bảo hộ một thành lũy, là vị Thần linh làm chủ trongthành, cai quản thôn xã, chở che và phù hộ cho dân làng được an bình, thịnhvượng
2.2.1 Ở miền Bắc:
Người dân cho rằng thần Thành Hoàng có thể là vị thần có nguồn gốc là thiênnhiên hay nhân thần
Thành hoàng của các làng không chỉ là và không phải là vị thần bảo vệ thành
và hào của làng, mà đó là người – theo truyền thuyết – có công với dân với nướctrong các cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm, hoặc là người có công lập ralàng, có công truyền dạy một nghề nào đó cho dân làng, hoặc là một ông quan tốt.Tín ngưỡng thờ thành hoàng của các làng vùng đồng bằng Bắc Bộ hầu hết cáclàng đều thờ hai loại thành hoàng, trong đó một vị là biểu tượng của sức mạnh tựnhiên, một vị là nhân vật lịch sử hoặc người có công với làng
Các vị Thành hoàng được phân chia thành:
Trang 7* Thiên thần
Có các vị thần thánh là các hiện tượng tự nhiên được nhân hoá, thánh hoá(sấm, chớp, mưa gió…), những vị thần có "lý lịch" là những yếu tố thiên nhiên(thần cây, thần đá, thần nước, thần núi, thần biển, thần động vật…)
* Nhiên thần:
Các vị thần có nguồn gốc Nhiên thần thường là các thần có xuất thân từ tựnhiên như: thần Cây, thần núi, thần sông, thần đá,… các vị thần Thành hoàng cónguồn gốc từ Nhiên thần khá được người dân tin tưởng và thờ phụng
- Thời chống Minh: Đăng Dung, Lương Minh Nguyệt (Kiến Quốc phunhân)
- Thời Lê sơ: Nguyễn Phục, Lương Thế Vinh
- Thời Lê - Trịnh: Điền Quận công
- Thời Nguyễn: Phạm Văn Nghị, Vũ Hữu Lợi
Còn nếu quy chiếu theo thánh tích, công huân của các vị thần, thì trong tậphợp trên có:
Trang 8- Những vị thần có công huân với đất nước, có công với các triều đình phongkiến (đánh giặc, dẹp loạn, phò tá triều chính, hoặc "âm phù" nhà vua ) như Đinh
Bộ Lĩnh, Trần Minh Công, Hưng Đạo Vương, Trần Quang Khải, Lương Nguyệt,Đăng Dung
- Những vị là tiền hiền khai khẩn, mở đất, lập làng: Trần Vu, Vũ Chi, HoàngGia, Phạm Cập (Hải Anh, Hải Hậu), Ngô Miễn (An Cư - Xuân Trường), Phạm VănNghị, Nguyễn Điển, Phạm Thanh (Hải Lạng - Nghĩa Hưng)
- Những vị là những nhà khoa bảng tài danh (Trạng nguyên, Tiến sĩ) mở đầucho truyền thống khoa bảng của làng, của họ, danh tiếng cho làng: Phạm Bảo,Phạm Đạo Phú (Dương Phạm - Nghĩa Hưng)
- Có thần là các vị tổ nghề, như Tô Trung Tự nghề trồng Hoa (Vị Khê-NamTrực), Lê Công Hành (Hàng Thêu- thành phố Nam Định), Lục Vị tổ sư (VânChàng- Nam Trực )
2.2.2 Ở Miền Nam:
Đối tượng thờ tự có vài nét tương đồng như đối tượng thờ tự của miền bắc.Tuy nhiên, theo sách “Việt Nam phong tục”, mỗi làng phụng sự một vị Thầnhoàng; có làng thờ hai ba vị, có làng thờ năm bảy vị, gọi chung là Phúc Thần PhúcThần có ba hạng:
*Thượng đẳng thần là những thần danh sơn Đại xuyên, và các bậc thiên thầnnhư Đông thiên vương, Sóc thiên vương, Sử đồng tử, Liễu Hạnh công chúa Các
vị ấy có sự tích linh dị, mà không rõ tung tích ẩn hiện thế nào, cho nên gọi là Thiênthần Thứ nữa là các vị nhân thần như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo Các vịnày lúc sinh tiền có đại công lao với dân với nước; lúc mất đi, hoặc bởi nhà vuatinh biểu công trạng mà lập đền thờ hoặc bởi lòng dân nhớ công đức mà thờ Cácbậc ấy đều có sự tích công trạng hiển hách và họ tên rõ ràng, lịch triều có mỹ tựbao phong làm Thượng đẳng thần
Trang 9*Trung đẳng thần là những vị thần ân làng thờ đã lâu, có họ tên mà không rõcông trạng; hoặc là có quan tước mà không rõ họ tên, hoặc là những thần có chútlinh vị, tới khi nhà vua sai tinh kỳ đảo võ, cũng có ứng nghiệm thì triều đình cũngliệt vào tự điển, mà phong làm Trung đẳng thần.
*Hạ đẳng thần do dân xã thờ phụng, mà không rõ sự tích ra làm sao, nhưngcũng thuộc về bậc chính thần, thì triều đình cũng theo lòng dân mà phong cho làm
hạ đẳng thần
Ngoài ba bậc thần ấy, còn nhiều nơi thờ các vị tạp thần khác, như: thần bánlợn, thần trẻ con, thần ăn xin, thần chết nghẹn, thần tà dâm, thần rắn, thần rết Cáchạng ấy gọi là tà thần, yêu thần, đê tiện thần vì dân tin bậy mà thờ chớ không đượcvào tự điển, không có phong tặng gì
Riêng ở đồng bằng sông Cửu Long, theo Sơn Nam thì các hạng tà thần tuyệtnhiên không có, họa chăng chỉ là vài am miếu dựng lên nơi có người chết oan ức vìtai nạn xe cộ, đắm thuyền, hùm tha sấu bắt; cúng sơ sài, không tế lễ
Tuy nhiên, điểm khác biệt trong đối tượng thờ Thành hoàng của nhân dânmiền Nam là người ta chú trọng vào Thành hoàng có nguồn gốc Nhân thần hơn các
vị Thành hoàng có nguồn gốc Thiên thần hay Nhiên thần Điều này được hìnhthành từ trong quá trình di dân của cư dân miền bắc vào miền nam khai khẩn đấtđai, lập nghiệp định cư
Trang 10Âm), tượng trưng cho cái tốt, cái lành Về mặt thực tiển, hướng Nam là “hướng giómát mẻ vào mùa hè, tránh gió rét vào mùa đông”
Về cảnh quan đình làng: Người ta thường trồng các loại cây có tán rộng nhưcây đa, cây gạo, cây si
Về bố cục: Đình làng miền Bắc có bố cục khá giống với đình làng miền Namnhưng người ta thường thấy chúng có khá nhiều kiến trúc quanh tòa đại đình Thực
ra, các kiến trúc phụ đó được bổ sung dần về sau Mở đầu, với các đình thời Mạc(thế kỷ XVI), dấu vết cho thấy, chúng có kết cấu mặt bằng hình chữ nhật (chữnhất), ba gian hai chái, dựng trên nền cao vừa phải, có sạp để dân đình ngồi và cósàn cao nối hai cột cái phía sau gian giữa với hai cột hàng nhì để thờ Thành hoànglàng Ban đầu đình không có tường cao, đến cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIIItrong xu hướng thâm nghiêm hóa thần linh nói chung, đình làng khẳng định thêmchức năng đền thờ thì kiến trúc đình nảy sinh thêm phần hậu cung Cuối thế kỷXVII, bắt đầu có cổng trụ, rồi sang thế kỷ XIX hình thành dần nhà tiền tế, tả vu vàhữu vu
Về kiến trúc điêu khắc: Khi bước vào bên trong đình, không khí mát dịu làm
ta như trút bỏ vướng mắc của đời sống, chìm vào không gian tâm linh bao bọcxung quanh để tĩnh trí mà chiêm bái trước đức Thành Hoàng làng, nhìn ngắmnhững hình chạm khắc trên kiến trúc Và ta hiểu rằng ngôi đình đang ôm vào bêntrong, thầm lặng giữ gìn một di sản nghệ thuật vô giá, mà đến ngày hôm nay nhìnngắm nó vẫn thấy hiển hiện, xôn xao đời sống xã hội mấy trăm năm về trước và đểlại những giá trị to lớn về văn hóa, lịch sử và nghệ thuật
Nhìn một cách khái quát, nghệ thuật điêu khắc đình làng ở đồng bằng Bắc Bộphát triển từ những bước đầu tiên ở thế kỷ XVI, đạt dấu ấn rực rỡ đỉnh cao ở thế kỷXVII, chững lại, chín muồi ở thế kỷ XVIII và thoái trào ở thế kỷ XIX Có thể nói,
Trang 11giá trị nhiều mặt mà điêu khắc đình làng để lại tập trung ở di sản điêu khắc đìnhlàng thế kỷ XVI - XVII Điêu khắc đình làng của 2 thế kỷ này đại diện điển hìnhnhất cho toàn bộ nghệ thuật điêu khắc ở đồng bằng Bắc Bộ
Các thủ pháp tạo hình của điêu khắc đình làng: Cái nhìn trẻ thơ, Đồng hiện,Cường điệu, Nhiều điểm nhìn, Kết hợp huyền thoại và hiện thực, trang trí và tảthực, Biểu tượng hóa
Đặc trưng của nghệ thuật điêu khắc đình làng: Hồn nhiên, mộc mạc, sinhđộng trong phản ánh hiện thực; Khái quát cao trong thủ pháp tạo hình; Giàu tínhnhân bản; Tính lưỡng nguyên trong nghệ thuật tạo hình,
2.3.2 Ở miền Nam
Về vị trí xây đình làng: Do địa hình tương đối bằng phẳng, ít đồi núi, hệ thốngkênh rạch chằng chịt Đình thường được xây cất trên những khu đất cao ráo Vềsau, trong thời Pháp thuộc, nhiều đường bộ được làm ra, một số kênh rạch bị lấp đi
để làm đường bộ thì một số Đình cũng phải thay đổi chính diện cho phù hợp vớihoàn cảnh mới
Về hướng xây đình: Người dân Miền Nam không hoàn toàn lệ thuộc vàotruyền thống chọn hướng Nam này Ở Miền Nam, Đình thường được xây trên cáckhu đất cao ráo, cạnh bờ kênh rạch, nên phần nhiều hướng theo dòng chảy của cáckênh rạch này, chứ không nhất thiết phải theo hướng Nam như truyền thống ởMiền Bắc Và trên thực tế, người dân Miền Nam lưu tâm nhiều hơn đến chuyệntránh hướng của gió mùa và mưa nắng hắt tạt vào bên trong Đình Vì thế một sốĐình trong Miền Nam đã chọn hướng Đông hoặc Đông Nam, thay vì hướng Namnhư truyền thống
Trang 12Về cảnh quan đình làng: Chung quanh Đình thường có trồng các loại cây cóthân cao vút, dáng đẹp và tán gọn như cây dương, cây sao, cây dầu Các loại câynầy được trồng để làm “một điểm nhấn cho cảnh quan ngôi đình nhằm cuốn hút sựchú ý của khách từ xa ”
Về bố cục: Đình của Miền Nam, trên tổng thể, cũng giống như các Đình ởMiền Bắc, với kiến trúc mặt bằng hoặc theo hình chữ Công hoặc theo hình chữMôn Tuy nhiên cách sắp xếp các bộ phận kiến trúc thì có nhiều khác biệt so vớiĐình ở Miền Bắc, thậm chí còn có những phần kiến trúc mà Đình ở Miền Bắc hoàntoàn không có Một cách tổng quát, bố cục một ngôi đình ở Miền Nam, từ trước rasau, thường gồm những bộ phận kiến trúc sau đây:
• Cổng Đình, hay còn gọi là Nghi Môn
• Sân Đình, ngay ở giữa là bình phong có đấp hình cọp, gọi là Bia Ông Hổ
• Hai bên sân Đình, là các Miếu nhỏ hình vuông thờ các thần phụ của Đình,thường là thờ Bạch Hổ, Thần Ngũ Hành, Cửu Thiên Huyển Nữ, Thổ Thần, Ông Tà(thần Neakta của người Khmer), vv
• Nhà Vỏ Ca, một ngôi nhà trống, dùng làm chổ tập hợp những chức sắc cónhiệm vụ tế lễ, và cũng là nơi diễn tuồng hát bội trong các dịp lễ hội
• Nhà Vỏ Quy, thường dùng làm nơi tụ họp cho dân chúng trước khi vào lểbái ở Chánh Điện
• Chánh Điện, nơi thờ thần Thành Hoàng của làng và các thần phụ
• Nhà Túc, hay Nhà Khách, nơi khách sau khi lễ thần xong tụ tập lại đây đểuống nước, hàn huyên; loại nhà nầy có hai cách sắp đặt; một cách là xây ngay bênsau Chánh Điện; cách thứ hai là xây thành hai căn dọc theo hai bên hông của
Trang 13Chánh Điện, trong trường hợp nầy thì được gọi là Đông Lang (bên phải) dành cho
nữ giới, và Tây Lang (bên trái) dành cho nam giới
• Nhà Trù, thường xây ngay sau Chánh Điện, bên cạnh Nhà Túc, chính là nhàbếp, nơi chuẩn bị thức ăn để cúng thần cũng như để đãi khách
• Nhà Cối, bên cạnh Nhà Trù, chính là kho để chứa vật dụng của Đình
Nhà Vỏ Ca là một ‘kiến trúc đặc biệt chỉ tồn tại các đình Nam Bộ’
Trong Chánh Điện, ở giữa và trong cùng là bàn thờ thần “Đình làng Nam Bộkhông bao giờ thờ tượng mà chỉ thờ một chữ “thần” Và thần ở đây là thần ThànhHoàng Bổn Cảnh, một danh xưng gọi chung có nghĩa là “Thành Hoàng của vùngđất này”, không chỉ định một danh tánh cụ thể nào cả Chính vì vậy mà Đình MiềnNam thường không có thờ thần tượng như vừa nói ở trên
Ngoài việc thờ vị Thần chánh (thường là Thành Hoàng Bổn Cảnh), các Đìnhcòn thờ rất nhiều vị thần linh phụ khác Do đó, hai bên bàn thờ chánh còn có thêm
từ 4 đến 8 bàn thờ phụ Hai bàn thờ sát ngay hai bên cạnh của bàn thờ chánh, gọi là
Tả ban và Hữu ban, là để thờ các vị thần hộ vệ cho Thành Hoàng
Về nghệ thuật điêu khắc: Phần lớn chạm khắc gỗ này đã có từ giữa thế kỷXIX Bốn cột đình thường được trang trí hình rồng, nên gọi là "long trụ" Nhiềunơi, long trụ chạm rời bên ngoài ốp vào, nhưng cũng có nơi long trụ được trổ mộtkhối nguyên Ngoài những cột long trụ đình Nam Bộ thường có các bao lam trướcđiện thờ, như cửa võng trong các đình miền Bắc, được chạm trổ rất tinh vi, đề tàithường là tứ linh, cá hóa long, rồng, hổ
Như vậy, điêu khắc trang trí, cùng với kiến trúc đã làm cho đình có những nétriêng trên chiều dài của đất nước
Trang 142.4 Nghi lễ thờ Thành hoàng
Trong việc thờ cúng thần Hoàng làng thì cúng lễ là 1 điều quan trọng; không
có cúng lễ là không có sự phụng thờ Tuy nhiên ở 2 miền Bắc – Nam cũng cónhững nét riêng biệt trong lễ hội thờ Thành hoàng
Phần lễ hội thờ Thành hoàng ở miền Nam được diễn ra vào những ngày nhấtđịnh trong năm mà Thần tích đã quy định tuy nhiên ở miền Nam lại tùy vào hoàncảnh của từng địa phương mà thời gian tổ chức lễ hội thờ Thành hoàng nhưngthông thường diễn ra vào rằm tháng giêng đến rằm tháng ba âm lịch
Sau đây là sự đối chứng những nét khác nhau trong lễ hội thờ thần Hoànglàng ở 2 miền Nam – Bắc phần lễ có thể kể tới nghi thức cúng lễ, tế tự, đám rước…còn phần hội là cuộc thi tài, trò chơi, trình diễn văn hóa nghệ thuật…, thông quaphần lễ hội ở hai miền
2.4.1 Ở miền Bắc
- Trước ngày chính hội, làng tổ chức một đoàn người mang long ngai, bátbửu, chiêng chống, cờ quạt… từ đình đến đền để rước thành hoàng Nếu nhiều làngcùng thờ một thành hoàng thì các làng phụ thuộc (làng em) phải rước long ngai,bát bửu… từ làng mình về làng chính (làng anh) để tế công đồng Hết hội, dân lànglại rước thành hoàng từ đình về đền Sở dĩ có hai cuộc rước là vì thành hoàng đượcthờ chính là ở đền, còn đình chỉ là nơi thờ vọng Để ly kỳ hoá sự linh thiêng củathành hoàng làng mình, làng nào cũng có những truyền thuyết về sự khác thườngcủa thời tiết hôm đó (chẳng hạn như: các làng xung quanh hôm đó đều có mưa -hay nắng to, chỉ duy có đám rước là trời dâm mát), hoặc sự quở phạt của thànhhoàng đối với những ai dám có hành vi xúc phạm hay báng bổ ngài (chẳng hạn: có
ai đó trong người không sạch sẽ đi trong đám rước, bỗng nhiên bị lăn ra bất tỉnh,