1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BAN AN CONG TY DAY SAI GON

8 135 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 278,18 KB
File đính kèm BAN AN CONG TY DAY SAI GON.zip (267 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về việc xác định tư cách của người ký đơn khởi kiện và xác định nguyên đơn, bị đơn trong vụ án: Khi ký đơn khởi kiện nộp cho Tòa án, cả ông Nguyễn Văn Khảm và ông Trần Hải Âu đều nhân da

Trang 1

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC CHUYỂN GIAO TÀI LIỆU,

SỔ SÁCH, CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ CON DẤU CỦA CÔNG TY BẢN ÁN VÀ BÌNH

LUẬN BẢN ÁN

ThS Nguyễn Thị Hằng Nga

Khoa Đào tạo Luật sư - Học viện Tư pháp

Tranh chấp giữa các thành viên, cổ đông Công ty trong hoạt động của các doanh nghiệp

đang ngày càng trở nên đa dạng, phong phú và phức tạp, trong đó không ít tranh chấp phát

sinh trong quá trình hoạt động của Công ty liên quan đến hoạt động quản trị hoặc kiểm soát

được đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên bầu lại Việc chuyển giao phòng làm

việc, hồ sơ, tài liệu, sổ sách và con dấu của Công ty, giữa người tiền nhiệm và ban lãnh đạo

mới không được tự nguyện thực hiện Tranh chấp được khởi kiện ra tòa

Từ thực tiễn xét xử, xung quanh bản án số 511/2006/KDTM-ST của Tòa án nhân dân

thành phố Hồ Chí Minh (dưới đây gọi là “Bản án”) về việc giải quyết tranh chấp tương tự, đặc

biệt đã và đang đặt ra các vấn đề cần trao đổi về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp,

tư cách đương sự và việc áp dụng luật

1 Nhận định của bản án số 511/2006/KDTM-ST

…“Ngày 15/5/2006, Công ty cổ phần Sản xuất Dịch vụ Thương mại Đay Sài gòn đã tổ chức

Đại hội đồng cổ đông bất thường bãi miễn Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát nhiệm kỳ I

đồng thời bầu Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát nhiệm kỳ II (2006 – 2011) với tổng số cổ

đông có mặt là 48 đại biểu đại diện cho 157.938 cổ phần, chiếm tỷ lệ 99,81% Sau đó, vào

ngày 16/5/2006, Hội đồng quản trị nhiệm kỳ mới đã nhất trí bầu ông Nguyễn Văn Khảm làm

Chủ tịch Hội đồng quản trị và là người đại diện theo pháp luật của công ty Tuy nhiên, Hội

đồng quản trị cũ đã bị bãi miễn không chịu bàn giao tài liệu, sổ sách và con dấu của công ty

cho Hội đồng quản trị mới

Do đó, ngày 18/5/2006, ông Nguyễn Văn Khảm khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông

Trần Hải Âu và Ban lãnh đạo đã bị miễn nhiệm phải bàn giao ngay công việc, tài liệu, sổ

sách, cơ sở vật chất và con dấu của Công ty cho Hội đồng quản trị mới để công ty nhanh

chóng ổn định và đi vào sản xuất kinh doanh Đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Khảm

được gửi đến Tòa án nhân dân Quận 1- Thành phố Hồ Chí Minh Tòa án nhân dân Quận 1 đã

thụ lý vụ án và xác định đây là tranh chấp “quyền sở hữu tài sản”, nhưng sau đó lại chuyển vụ

án lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh để xét xử theo đúng thẩm quyền

Ngày 24/5/2006 ông Nguyễn Hải Âu lại có đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân thành

phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án hủy kết quả của Đại hội đồng cổ đông vì đại hội được tiến

hành không đúng trình tự đã ghi trong chương trình và quy chế tổ chức đại hội, vi phạm điều

lệ công ty và Luật doanh nghiệp

Trang 2

Ngày 8/6/2010, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý vụ án và đã xét xử

vụ việc với những nội dung của bản án (lược trích) như sau:

Nguyên đơn: Ông NGUYỄN VĂN KHẢM

Địa chỉ : 115/84 Lê Văn Sỹ, Phường 13, Q Phú Nhuận, TPHCM

Bị đơn : Ông TRẦN HẢI ÂU

Địa chỉ : 198 Bà Hom, Phường 13, Quận 6, TPHCM

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

49 CỔ ĐÔNG CÔNG TY CỔ PHẦN SX DV TM ĐAY SÀI GÒN

(Theo danh sách cổ đông đính kèm)

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn Trung và Luật sư Nguyễn Văn Hòa thuộc Đoàn luật sư TPHCM

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Đây là tranh chấp về kinh doanh, thương mại (tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến hoạt động của công ty) bị đơn cư trú tại TPHCM Vì vậy, căn cứ vào Điều 79 Luật doanh nghiệp năm 1999, Điều 107 Luật doanh nghiệp năm 2005 và khoản 3 Điều 29, khoản 1 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; vụ tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TPHCM theo thủ tục tố tụng dân sự

Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 15/5/2006, Công ty cổ phần Sản xuất Dịch vụ Thương mại Đay Sài Gòn tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường thông qua quyết định bãi miễn Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát nhiệm kỳ I và bầu Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát nhiệm kỳ II Ngày 18/5/2006, Tòa án nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Khảm và ngày 24/5/2006 nhận đơn khởi kiện của ông Trần Hải Âu

Căn cứ vào Điều 79 Luật doanh nghiệp năm 1999 (có hiệu lực tại thời điểm phát sinh tranh chấp) và khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn và bị đơn đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án trong thời hạn quy định (90 ngày kể từ ngày thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông), do đó, cần được chấp nhận thụ lý để giải quyết

Về việc xác định tư cách của người ký đơn khởi kiện và xác định nguyên đơn, bị đơn trong

vụ án:

Khi ký đơn khởi kiện nộp cho Tòa án, cả ông Nguyễn Văn Khảm và ông Trần Hải Âu đều nhân danh Công ty cổ phần Đay Sài Gòn (với tư cách người đại diện theo pháp luật của công ty) đưa ra yêu cầu giải quyết đối với phía bên kia

Trang 3

Tòa án nhân dân Quận 1 đã nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Khảm vào ngày 18/5/2006 và đã thụ lý vụ án ngay trong ngày 18/5/2006 với tư cách của các bên do người ký đơn khởi kiện tự xác định như trên (nguyên đơn là Công ty cổ phần Đay Sài Gòn do ông Khảm đại diện và bị đơn là ông Trần Hải Âu), đồng thời xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là “quyền sở hữu tài sản”

Tòa án nhân dân TPHCM đã nhận đơn khởi kiện của ông Trần Hải Âu vào ngày 24/5/2006 và

đã thụ lý vụ án vào ngày 08/6/2006 cũng với tư cách của các bên do người ký đơn khởi kiện tự xác định như trên (nguyên đơn là Công ty cổ phần Đay Sài Gòn do ông Âu đại diện và bị đơn

là ông Nguyễn Văn Khảm) nhưng xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là “tranh chấp giữa các thành viên công ty” (quan hệ giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến hoạt động của công ty) theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật Tố tụng Dân sự

Sau khi thụ lý vụ án do ông Nguyễn Văn Khảm ký đơn khởi kiện được Tòa án nhân dân Quận

1 chuyển lên để giải quyết theo thẩm quyền, xét thấy cần nhập hai vụ án nói trên thành một vụ

án để giải quyết do có cùng quan hệ pháp luật có tranh chấp là tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự (việc Tòa án nhân dân Quận 1 xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là quan hệ về quyền sở hữu tài sản là không đúng), Tòa án nhân dân TPHCM đã có quyết định số 298/2006/QĐ-NVA ngày 20/6/2006 nhập 2 vụ án nói trên thành một vụ án để giải quyết

Đồng thời, xét thấy các bên (ông Nguyễn Văn Khảm và ông Trần Hải Âu) đang tranh chấp về quyền quản lý và nhân danh công ty (theo quy định tại khoản 1 Điều 80 Luật doanh nghiệp

năm 1999), để bảo đảm cho việc xét xử được khách quan và đúng với bản chất của quan hệ

tranh chấp giữa các bên là tranh chấp giữa các cổ đông trong công ty (không phải tranh chấp

giữa công ty với cổ đông), Tòa án nhân dân TPHCM đã xác định lại cho chính xác tư cách của

người ký đơn khởi kiện là tư cách cá nhân (cổ đông) và xác định nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Khảm (do khởi kiện trước), bị đơn là ông Trần Hải Âu (do khởi kiện sau); không chấp

nhận tư cách đại diện theo pháp luật cho công ty như 2 bên đã tự xác định trong đơn khởi kiện

Về việc xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thanh Xuân là cổ đông và bà Đặng Kim Lan là một trong 3 đại diện được ủy quyền của cổ đông LIKSIN vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ

3 Ngoài ra, có 5 cổ đông, bao gồm: các bà Hà Thị Thanh Thủy; Huỳnh Thị Bảy; Lê Thị Hồng Lan; Huỳnh Thị Tâm và Bùi Thị Diễm Trinh vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt Riêng trường hợp cổ đông Nguyễn Đình Lê có mặt tại phiên tòa vào buổi sáng và vắng mặt vào buổi chiều ngày 09/10/2006 nhưng cũng đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 3 Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 201 và Điều 202 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nói trên

Về nội dung tranh chấp:

Trang 4

a) Xét yêu cầu của nguyên đơn đòi ông Trần Hải Âu và các thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ I đã bị miễn nhiệm phải bàn giao ngay trách nhiệm, tài sản, tài liệu, sổ sách và con dấu của công ty cho Hội đồng quản trị nhiệm kỳ II mới được bầu tại Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/5/2006:

Căn cứ vào các chứng cứ do các bên đương sự cung cấp đã được thẩm tra tại phiên tòa, bao gồm:

- Biên bản Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/5/2006 do ông Bùi Văn Hoàng Thêm làm chủ tọa và các thư ký Nguyễn Thị Ngọc Giàu, Đặng Thị Mỹ Hạnh lập;

- Biên bản Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/5/2006 do ông Nguyễn Đình Hạnh làm chủ tọa và các thư ký Nguyễn Thị Ngọc Liên, Nguyễn Huỳnh Diễm Thúy, Đặng Thị Mỹ Hạnh lập;

- Chương trình Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/5/2006;

- Danh sách đại biểu dự Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/5/2006;

- Biên bản về việc bãi nhiệm HĐQT và Ban kiểm soát nhiệm kỳ I;

- Biên bản kiểm phiếu bầu HĐQT và Ban kiểm soát nhiệm kỳ II;

Cùng với sự xác nhận của 26 cổ đông còn lại (đại diện cho 51,30% số cổ phần biểu quyết của công ty) sau khi xảy ra sự cố một số cổ đông rời khỏi đại hội (vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 15/5/2006); sự xác nhận tại phiên tòa của ông Bùi Văn Hoàng Thêm, chủ tọa đại hội, các thành viên trong Ban bầu cử (gồm các ông Đặng Trần Cường; Nguyễn Văn Sơn; Nguyễn Văn Tiến; Hồ Thanh Võ) và của bị đơn là ông Trần Hải Âu, đã có đủ căn cứ để xác định:

- Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/5/2006 đã có mặt 48 đại biểu là cổ đông hoặc đại diện cổ đông sở hữu 157.938 cổ phần, đạt tỷ 99,81% số cổ phần có quyền biểu quyết là 158.238 cổ phần (160.000 cổ phần – 1.762 cổ phần công ty đã mua lại) (vì công ty chỉ có một loại cổ phần duy nhất là cổ phần phổ thông)

- Đại hội đã được tiến hành đến giai đoạn kiểm phiếu bầu HĐQT và Ban kiểm soát nhiệm kỳ

II, tức là đã thực hiện xong việc biểu quyết, thông qua quyết định bãi nhiệm HĐQT và Ban

kiểm soát nhiệm kỳ I; đã thực hiện xong việc bỏ phiếu bầu HĐQT và Ban kiểm soát nhiệm kỳ

II và đang tiến hành kiểm phiếu đối với số phiếu bầu này

- Kết quả kiểm phiếu bầu HĐQT và Ban kiểm soát nhiệm kỳ II như sau:

+ Các ông Nguyễn Quốc Định; Trần Thanh Huy; Nguyễn Văn Khảm; Thái Thành Nam và bà Nguyễn Thị Thu Lan đều được bầu vào HĐQT với tỷ lệ 51,30% số cổ phần có quyền biểu quyết của các cổ đông có mặt tại đại hội Các ứng cử viên còn lại đều được bầu với tỷ lệ dưới 49%

+ Các ông Nguyễn Viết Nhuận; Phạm Minh Trí và bà Nguyễn Thị Ngọc Liên đều được bầu vào Ban kiểm soát với tỷ lệ 51,30% Các ứng cử viên còn lại đều được bầu với tỷ lệ dưới 49%

Trang 5

Mặc dù ông Trần Hải Âu và các cổ đông rời khỏi đại hội trước khi công bố kết quả kiểm phiếu không xác nhận kết quả này nhưng 26 cổ đông sở hữu 51,30% số cổ phần có quyền biểu quyết tiếp tục tiến hành đại hội đã xác nhận bằng văn bản và xác nhận tại phiên tòa rằng họ đã bỏ phiếu bầu cho các cổ đông có tên nói trên, nếu cộng tất cả số cổ phần mà họ sở hữu thì đúng với kết quả ghi trong các biên bản kiểm phiếu

Từ các sự kiện đã được xác định nói trên, căn cứ vào các khoản 1, 4 và 5 Điều 22 của Điều lệ công ty cũng như quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 76 và khoản 1, khoản 2 Điều 77 Luật doanh nghiệp năm 1999 (có hiệu lực thi hành tại thời điểm tiến hành đại hội), có cơ sở để khẳng định:

- Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/5/2006 đã đủ điều kiện để tiến hành (có số cổ

đông dự họp đại diện ít nhất 51% số cổ phần có quyền biểu quyết)

- Quyết định của Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/5/2006 có giá trị thực hiện (được

số cổ đông có mặt tại đại hội biểu quyết hoặc bỏ phiếu kín tỷ lệ trên 51%)

Căn cứ vào các Điều 6, 26, 35 Điều lệ công ty cũng như các Điều 70, 80, 88 Luật doanh nghiệp năm 1999; các Điều 96, 108, 109, 121 Luật doanh nghiệp năm 2005, yêu cầu của nguyên đơn đòi ông Trần Hải Âu và các thành viên HĐQT nhiệm kỳ I đã bị miễn nhiệm phải bàn giao ngay trách nhiệm, tài sản, tài liệu, sổ sách và con dấu của công ty cho Hội đồng quản trị mới được bầu tại Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/5/2006 là có căn cứ và hợp pháp, cần được chấp nhận.………”

2 Vấn đề cần trao đổi

Vì không có điều kiện tiếp cận hồ sơ vụ việc, tác giả không bình luận về việc Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng hay sai mà chỉ băn khoăn một số vấn đề mong muốn được trao đổi thêm

2.1 Xác định tư cách khởi kiện của ông Nguyễn Văn Khảm và quan hệ pháp luật tranh chấp

Theo nhận định của bản án yêu cầu khởi kiện của ông Khảm là: buộc ông Trần Hải Âu

và Ban lãnh đạo đã bị miễn nhiệm phải bàn giao ngay công việc, tài liệu, sổ sách, cơ sở vật chất và con dấu của Công ty cho Hội đồng quản trị mới để công ty nhanh chóng ổn định và đi vào sản xuất kinh doanh

Với yêu cầu khởi kiện này, cần xác định rõ ông Khảm khởi kiện với tư cách là cá nhân

cổ đông của Công ty hay với tư cách người đại diện theo pháp luật của Công ty? Nếu theo tình tiết vụ việc thì ông Khảm đã được đại hội bầu lại để thay thế cho ông Hải Âu, nhưng việc thay thế này chưa được đăng ký thay đổi tại cơ quan quản lý Nhà nước về đăng ký kinh doanh (tác giả phỏng đoán dựa vào tình tiết ngày tháng của vụ việc được nhận định trong bản án) Như vậy, ông Khảm không thể khởi kiện với tư cách là người đại diện theo pháp luật của Công ty

mà chỉ có thể là tư cách cổ đông Công ty

Trang 6

Vấn đề đặt ra là ông Khảm có quyền yêu cầu như vậy với tư cách cổ đông không? Quan điểm của chúng tôi là không vì chủ thể có quyền yêu cầu là Công ty Đay Sài Gòn Theo qui định của Luật Doanh nghiệp hồ sơ, tài liệu, con dấu của Công ty là tài sản của Công ty và quyền này được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật

Tuy nhiên sẽ có câu hỏi đặt ra là, phải chăng trong trường hợp này Công ty Đay Sài Gòn rơi vào tình cảnh không có người đại diện theo pháp luật để khởi kiện (vì ông Hải Âu vẫn đang đương nhiệm)? Theo tác giả, nhẽ ra ông Khảm phải khởi kiện với yêu cầu đề nghị Tòa án công nhận kết quả của cuộc họp đại hội đồng cổ đông do có cổ đông phản đối hiệu lực của nghị quyết đại hội và không thực hiện các nghĩa vụ phát sinh và từ đó tiến hành đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật với cơ quan có đăng ký kinh doanh1 Trên cơ sở đó cơ quan quản lý về đăng ký kinh doanh sẽ cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ghi nhận sự thay đổi này Nếu những người đã bị thay thế vẫn tiếp tục chiếm giữ các tài sản nói trên của Công ty, người đại diện theo pháp luật sẽ đại diện cho Công ty để khởi kiện đòi người đó phải giao trả Tranh chấp lúc này không là tranh chấp giữa thành viên Công ty với nhau hay tranh chấp giữa thành viên Công ty với Công ty mà là tranh chấp dân sự về quyền sở hữu tài sản (kiện đòi tài sản) Khi ông Khảm khởi kiện với tư cách đại diện theo pháp luật của Công ty Đay Sài Gòn thì Tòa án Quận 1 nhận định đây là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản mới đúng Theo quan điểm của tác giả, sai lầm của nguyên đơn là đã lựa chọn nội dung khởi kiện

sai hướng và không phù hợp với tư cách pháp lý của mình Với yêu cầu khởi kiện như vậy, Tòa án Quận 1 có thể trả lại đơn kiện vì “người khởi kiện không có quyền khởi kiện” theo qui định tại Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự2 Nếu ông Khảm khởi kiện để đề nghị Tòa án công nhận kết quả của đại hội đồng cổ đông, buộc cổ đông chống đối phải thực hiện nghĩa vụ của cổ đông trong việc chấp hành quyết định của đại hội đồng cổ đông theo qui định tại khoản 3 Điều

54 Luật Doanh nghiệp 1999 thì đây là loại việc về tranh chấp giữa thành viên công ty với nhau liên quan đến hoạt động của Công ty và Tòa án Quận 1 chuyển lên TANDTPHCM xét xử theo thẩm quyền mới đúng

2.2 Về việc xác định tư cách đương sự

Bản án đã nhận định: “…Đồng thời xét thấy các bên (ông Nguyễn Văn Khảm và ông Trần Hải Âu) đang tranh chấp về quyền quản lý và nhân danh công ty (theo quy định tại khoản 1 Điều 80 Luật doanh nghiệp năm 1999), để bảo đảm cho việc xét xử được khách quan

và đúng với bản chất của quan hệ tranh chấp giữa các bên là tranh chấp giữa các cổ đông trong công ty (không phải tranh chấp giữa công ty với cổ đông), Tòa án nhân dân TPHCM đã xác định lại cho chính xác tư cách của người ký đơn khởi kiện là tư cách cá nhân (cổ đông) và xác định nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Khảm (do khởi kiện trước), bị đơn là ông Trần Hải

1 Những người có quyền lợi phải chủ động khởi kiện vì khi các bên có tranh chấp về quyết định của đại hội đồng cổ đông,

cơ quan quản lý Nhà nước về đăng ký kinh doanh cũng từ chối thực hiện việc thay đổi cho đến khi có bản án của Tòa án

2 Về khái niệm “quyền khởi kiện” xem thêm bài trao đổi của tác giả ở bài viết “Thụ lý hay trả lại đơn khởi kiện?” đăng trên Tạp chí Nghề Luật của Học viện Tư pháp

Trang 7

Âu (do khởi kiện sau); không chấp nhận tư cách đại diện theo pháp luật cho công ty như 2 bên

đã tự xác định trong đơn khởi kiện”

Chúng tôi cho rằng Hội đồng xét xử không nên chủ động không chấp nhận tư cách đại diện theo pháp luật cho công ty như hai bên tự xác định trong đơn kiện vì như vậy là không tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự Việc tự điều chỉnh tư cách khởi kiện là quyền của đương sự Không hiểu Hội đồng xét xử căn cứ vào qui định nào để không chấp nhận tư cách đại diện theo pháp luật của ông Khảm và ông Hải Âu, đặc biệt là ông Hải Âu- người mà về mặt pháp lý vẫn đương nhiên là đại diện theo pháp luật của Công ty trước khi có phán quyết của tòa án? Theo chúng tôi, trong giai đoạn khởi kiện nếu Tòa án nhận thấy các đương sự vì không hiểu biết pháp luật mà ghi không đúng đơn khởi kiện thì Tòa án phải hướng dẫn đương

sự ghi lại cho đúng Nếu đương sự không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện thì tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện theo hướng dẫn của Nghị quyết 02/2006/HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC Hoặc nếu đương sự khởi kiện không đúng quyền hạn pháp lý của mình thì Hội đồng xét xử có thể xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chứ không được chủ động điều chỉnh tư cách đương sự, thậm chí phản bác quyền đại diện theo pháp luật của đương sự

mà không có bất kỳ một cơ sở pháp lý nào cho nhận định của mình

2.3 Về việc áp dụng luật

Trước hết Hội đồng xét xử đánh giá các bên đang tranh chấp về quyền quản lý và nhân danh công ty theo qui định của khoản 1 Điều 80 Luật doanh nghiệp 1999 dường như là hơi “gò ép” trong việc viện dẫn điều luật Bản thân khoản 1 Điều 80 chỉ qui định về phạm vi chức

năng nhiệm vụ của Hội đồng quản trị Các bên không tranh chấp về quyền hạn của Hội đồng quản trị để Hội đồng xét xử viện dẫn điều luật này như là cơ sở pháp lý của việc nhận định quan hệ tranh chấp Bản chất tranh chấp của các bên là tranh chấp về hiệu lực của các quyết định mà đại hội đồng cổ đông đã thông qua và tranh chấp về nghĩa vụ của cổ đông trong việc chấp hành các quyết định của đại hội đồng cổ đông được qui định tại khoản 3

Điều 54 Luật doanh nghiệp 1999 Nếu bản án nhận định như vậy chúng tôi cho rằng sẽ là thuyết phục hơn

Mặt khác, trên cơ sở phân tích tình tiết vụ việc, Hội đồng xét xử đã nhận định quyết định của đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/5/2006 có giá trị thực hiện vì được số cổ đông có mặt tại đại hội biểu quyết hoặc bỏ phiếu kín trên tỷ lệ 51% (cụ thể là 51,30%) theo

điểm a khoản 2 Điều 77 Luật Doanh nghiệp 1999 Và căn cứ vào các điều 6, 26, 35 Điều lệ

công ty cũng như các điều 70, 80, 88 Luật doanh nghiệp năm 1999; các điều 96, 108, 109, 121 Luật doanh nghiệp năm 2005, yêu cầu của nguyên đơn đòi ông Trần Hải Âu và các thành viên HĐQT nhiệm kỳ I đã bị miễn nhiệm phải bàn giao ngay trách nhiệm, tài sản, tài liệu, sổ sách

và con dấu của công ty cho Hội đồng quản trị mới được bầu tại Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/5/2006 là có căn cứ và hợp pháp, cần được chấp nhận

Chúng tôi cho rằng, việc áp dụng điểm a khoản 2 Điều 77 Luật Doanh nghiệp 1999 chỉ phù hợp khi nội dung mà Đại hội thông qua không liên quan đến việc sửa đổi Điều lệ Công ty

Trang 8

Thực tế cho thấy việc thay đổi người đại diện theo pháp luật trong nhiều trường hợp phải dẫn đến việc thay đổi nội dung Điều lệ Vì vậy, khi thay đổi người đại diện, tỷ lệ biểu quyết phải

áp dụng tỷ lệ theo điểm b khoản 2 Điều 77 Luật Doanh nghiệp 1999 (tỷ lệ 65% trở lên) Và

nếu không quan tâm đến thông tin này thì việc áp dụng điểm a để quyết định sẽ là phiến diện Cũng vì lẽ đó, bản án sẽ chặt chẽ hơn nếu nhận định việc thay đổi này không ảnh hưởng đến nội dung Điều lệ Công ty

Ngoài ra, điều mà chúng tôi băn khoăn là bản án áp dụng cả các điều luật của Luật Doanh nghiệp 1999 và cả các điều luật của Luật Doanh nghiệp 2005 Có thể một số điều luật của Luật Doanh nghiệp 2005 mà bản án trích dẫn không khác và mâu thuẫn với các điều luật của Luật Doanh nghiệp 1999, tuy nhiên việc trích dẫn cả điều luật ở hai văn bản làm cho định hướng xét xử của bản án này không rõ ràng Cách viện dẫn đó làm cho người đọc không thể hiểu được vì sao Hội đồng xét xử khi viện dẫn điều luật để nhận định về tỷ lệ thông qua quyết định của đại hội trên 51% tổng số phiếu có quyền biểu quyết là hợp pháp theo Điều 77 Luật Doanh nghiệp 1999 mà không phải là tỷ lệ 65% theo Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005? Theo quan điểm của chúng tôi Hội đồng xét xử cần phải nhận định rõ tại sao vụ việc lại được áp dụng Luật Doanh nghiệp 1999 mà không phải là Luật Doanh nghiệp 2005 vì thời điểm áp dụng luật là thời điểm có sự chuyển giao giữa luật cũ và luật mới, thay vì viện dẫn cả hai văn bản cùng một lúc

Mặc dù Hội đồng xét xử cũng đã lý giải tại sao Luật Doanh nghiệp 1999 được áp dụng,

nhưng chúng tôi nhận thấy việc lý giải rằng đó là luật “có hiệu lực tại thời điểm phát sinh tranh chấp” là không chính xác về nguyên tắc áp dụng luật Chẳng lẽ, đến tháng 8/2006 các

bên mới phát sinh tranh chấp thì khi này luật áp dụng lại phải là Luật Doanh nghiệp 2005? (Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực từ 1.7.2006) Với tình huống cụ thể này, bản án cần lý giải thời điểm tổ chức đại hội đồng cổ đông của Công ty Đay Sài Gòn là thời điểm mà Luật Doanh nghiệp 1999 còn có hiệu lực mới đúng

Trên đây là một số băn khoăn của tác giả xung quanh bản án số 511/2006/KDTM-ST của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Có thể quan điểm của tác giả quá nặng về hình thức vì xét cho cùng để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hay không, Tòa án cũng phải xem xét về hiệu lực của các quyết định mà đại hội đồng cổ đông ngày 15/5/2006 đã thông qua Tuy nhiên cách xử lý của Hội đồng xét xử trong vụ việc này tạo cho người đọc cảm giác

là Hội đồng xét xử đã quá chủ động làm thay công việc của đương sự, mặt khác không thể phủ nhận bản án gợi lên nhiều vấn đề đáng bàn, ở góc độ kỹ thuật./

Ngày đăng: 10/04/2018, 13:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w