Cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi dân sinh sống, nơi diễn ra hoạt động của đời sống xã hội. Do đó, cơ sở gắn liền mật thiết với quyền và lợi ích của nhân dân. Hệ thống chính trị (HTCT) cấp cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc triển khai, tổ chức thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở; phát huy quyền làm chủ của nhân dân; phát huy mọi nguồn lực, khả năng của cơ sở; nơi nhạy cảm để phát hiện những mặt đúng, sai và đề xuất, bổ sung đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước với các cấp lãnh đạo thông qua thực tiễn ở cơ sở... Cơ sở là địa chỉ cần phải tới, là đích cần đạt được của tất cả mọi chỉ đạo chiến lược từ Trung ương đến địa phương.Gần 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, cùng với những thành tựu quan trọng về kinh tế xã hội, hệ thống chính trị (HTCT) nói chung và cấp cơ sở nói riêng đã có nhiều sự chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, HTCT nói chung và nhất là cấp cơ sở đang bộc lộ nhiều vấn đề bất cập như: mở rộng quyền dân chủ của người dân nhưng chưa làm được bao nhiêu; phát huy quyền tự chủ, tự quản địa phương nhằm huy động nguồn lực trong cộng đồng còn rất to lớn nhưng còn hạn chế; bất cập giữa yêu cầu phát huy nguồn lực địa phương với hạn chế của trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở v.v... Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vi phạm dân chủ, quyền làm chủ của dân xảy ra ở nhiều nơi, có nơi nghiêm trọng. Nội dung và phương thức hoạt động của HTCT cấp cơ sở chậm đổi mới, còn mang nhiều dấu ấn của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, không phù hợp với chuyển biến của xã hội 37, tr. 83. Vì vậy, Đảng ta xác định xây dựng và củng cố HTCT cấp cơ sở vừa là nhiệm vụ có tính cấp bách và chiến lược lâu dài, đây là đòi hỏi của công cuộc đổi mới, đồng thời cũng là những yêu cầu bức xúc, sự mong mỏi của người dân muốn phát huy quyền làm chủ của mình từ cơ sở.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi dân sinh sống, nơi diễn ra hoạt động của đờisống xã hội Do đó, cơ sở gắn liền mật thiết với quyền và lợi ích của nhân dân Hệ thốngchính trị (HTCT) cấp cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc triển khai, tổ chức thựchiện đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở; pháthuy quyền làm chủ của nhân dân; phát huy mọi nguồn lực, khả năng của cơ sở; nơi nhạycảm để phát hiện những mặt đúng, sai và đề xuất, bổ sung đường lối, chính sách củaĐảng và Nhà nước với các cấp lãnh đạo thông qua thực tiễn ở cơ sở Cơ sở là địa chỉ cầnphải tới, là đích cần đạt được của tất cả mọi chỉ đạo chiến lược từ Trung ương đến địaphương
Gần 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, cùng với những thành tựuquan trọng về kinh tế - xã hội, hệ thống chính trị (HTCT) nói chung và cấp cơ sở nói riêng
đã có nhiều sự chuyển biến tích cực Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu nhiệm vụ của sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, HTCT nói chung và nhất
là cấp cơ sở đang bộc lộ nhiều vấn đề bất cập như: mở rộng quyền dân chủ của ngườidân nhưng chưa làm được bao nhiêu; phát huy quyền tự chủ, tự quản địa phương nhằmhuy động nguồn lực trong cộng đồng còn rất to lớn nhưng còn hạn chế; bất cập giữa yêucầu phát huy nguồn lực địa phương với hạn chế của trình độ, năng lực của đội ngũ cán
bộ cơ sở v.v Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vi phạm dân chủ,quyền làm chủ của dân xảy ra ở nhiều nơi, có nơi nghiêm trọng Nội dung và phươngthức hoạt động của HTCT cấp cơ sở chậm đổi mới, còn mang nhiều dấu ấn của cơ chếtập trung quan liêu, bao cấp, không phù hợp với chuyển biến của xã hội [37, tr 83]
Vì vậy, Đảng ta xác định xây dựng và củng cố HTCT cấp cơ sở vừa là nhiệm vụ
có tính cấp bách và chiến lược lâu dài, đây là đòi hỏi của công cuộc đổi mới, đồng thờicũng là những yêu cầu bức xúc, sự mong mỏi của người dân muốn phát huy quyền làmchủ của mình từ cơ sở
Trang 2Nghiên cứu về nhân tố chủ quan (NTCQ) và phát huy vai trò của nó trong hoạtđộng của HTCT cấp cơ sở cho ta xác định rõ những yếu tố trực tiếp, có vai trò quyếtđịnh đến chất lượng hoạt động của HTCT cấp cơ sở; từ đó đề ra những giải pháp nângcao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HTCT cấp cơ sở hiện nay, đáp ứng với yêu cầu
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
2 Tình hình nghiên cứu
* Vấn đề chủ quan và khách quan đã được nhiều nhà triết học quan tâm, nghiên
cứu, vì đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến hoạt động thực tiễn của con người Cáccông trình nghiên cứu về lĩnh vực này có thể phân ra theo thời gian và vấn đề nghiêncứu như sau:
- Ở Liên Xô (trước đây): Vấn đề khách quan, chủ quan liên quan đến việc vận dụng
các quy luật xã hội trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH); do đó, thời kỳ
trước "Perestroika" (1985) đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, như "Phép biện chứng về điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong việc xây dựng chủ nghĩa cộng sản" của G.E.Gleserman, Tạp chí Những vấn đề triết học, số 6/1965; tác phẩm "Cái khách quan và cái chủ quan" của V.Ph.Cudơmin, Mátxcơva, 1976; "Biện chứng của cái khách quan và cái chủ quan trong sự biểu hiện của các quy luật xã hội" của A.Ph.Iaxkevích, Minxcơ, 1982; "Biện chứng của cái khách quan và cái chủ quan trong chủ nghĩa xã hội phát triển" của tập thể tác giả, Kiep, 1980, "Cái khách quan và cái chủ quan trong các quá trình xã hội" của B.A.Vôrônôvích, Tạp chí Khoa học triết học, số
3/1984… Trong những công trình, bài báo của mình, các nhà triết học Liên Xô cũ đãxuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng để xem xét khách quan, chủ quan, NTCQ vàđiều kiện khách quan (ĐKKQ), quan hệ biện chứng cái khách quan và cái chủ quan, vấn
đề phát huy vai trò của NTCQ trong quá trình xây dựng CNXH và chủ nghĩa cộng sảnv.v… Tuy là những tác phẩm, bài viết trong thời kỳ xây dựng CNXH trước đây ở Liên
Xô và Đông Âu, với hoàn cảnh lịch sử khác xa bây giờ; song, những công trình, bài báonày vẫn có giá trị về mặt khoa học, cung cấp cho chúng ta quan niệm mácxít về kháchquan, chủ quan, nhân tố chủ quan, về biện chứng cái khách quan và cái chủ quan
Trang 3- Ở Việt Nam, trong những năm gần đây cũng có một số công trình nghiên cứu
vấn đề ĐKKQ và NTCQ Đề cập trực tiếp đến vấn đề phát huy vai trò NTCQ trong hoạtđộng của chủ thể ở một số lĩnh vực liên quan đến HTCT có thể kể đến một số luận ántiến sĩ và bài viết sau đây:
+ Luận án Phó tiến sĩ Triết học của Lê Hữu Xanh, Hà Nội, 1994 về "Nâng cao vai trò nhân tố chủ quan trong việc xây dựng đội ngũ đảng viên nông thôn nước ta hiện nay" Tác giả luận án đã trình bày về NTCQ và vai trò của nó trong xây dựng đội ngũ
cán bộ đảng viên ở nông thôn hiện nay; trên cơ sở xem xét ĐKKQ tác động đến NTCQcủa đội ngũ đảng viên ở nông thôn, thực trạng về NTCQ của đội ngũ đảng viên ở nôngthôn, những vấn đề đặt ra; đã đưa ra phương hướng và giải pháp cơ bản nâng cao vai tròNTCQ trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nông thôn nước ta hiện nay Trong các vấn
đề của tác giả đề cập đến có vấn đề về NTCQ của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nôngthôn hiện nay [123]
+ Luận án Tiến sĩ Triết học của Phạm Ngọc Minh, Hà Nội, 1999: "Về nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan: một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay".
Tác giả đã hệ thống lại một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về chủ thể, khách thể,chủ quan, khách quan, NTCQ, ĐKKQ, mối quan hệ biện chứng của NTCQ và nhân tốkhách quan, phân tích NTCQ và nhân tố khách quan, những kinh nghiệm và vấn đề đặt
ra trong việc xây dựng mối quan hệ giữa chúng trong điều kiện cả nước tiến lên CNXH
và nêu lên những giải pháp nâng cao vai trò NTCQ trong giai đoạn hiện nay
Quan điểm của các nhà nghiên cứu và tác giả luận án trên về NTCQ có nhữngđiểm thống nhất, có những điểm khác biệt Qua đó giúp cho việc kế thừa một cách cóchọn lọc các quan điểm về NTCQ để đi sâu vào nghiên cứu vai trò NTCQ trong hoạtđộng của HTCT ở cơ sở
+ Trên nhiều tạp chí lý luận, sách tham khảo cũng có nhiều bài viết đề cập tới
vấn đề NTCQ, chẳng hạn: "Vấn đề phát huy và sử dụng đúng đắn tác dụng năng động của nhân tố chủ quan" của Lê Hữu Tầng, trong cuốn "Đại hội V, mấy vấn đề lý luận",
Trang 4Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984; "Nhân tố chủ quan trong cơ chế vận dụng và trong hoạt động của các quy luật xã hội" của Lương Việt Hải, Tạp chí Triết học, số 4/1986;
"Những yếu tố cơ bản tăng cường chất lượng của nhân tố chủ quan trong xây dựng chủ nghĩa xã hội" của Trần Bảo, Tạp chí Triết học, số 3/1991; "Vị trí vai trò nhân tố chủ quan trong cơ chế tác động của các quy luật xã hội" của Phạm Văn Đức, Tạp chí Triết
học, số 3/1989 Nhìn chung, những bài viết này xem xét nhiều khía cạnh của mối quan
hệ ĐKKQ và NTCQ, việc phát huy vai trò NTCQ trong quá trình xây dựng CNXH ởnước ta
* Vấn đề thứ hai liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án là HTCT cấp cơ
sở ở nước ta
+ Nghiên cứu về HTCT ở nước ta có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn đối với
công cuộc đổi mới đất nước hiện nay; vì vậy, vấn đề này đã thu hút được nhiều sự quantâm nghiên cứu Chỉ tính riêng về các đề tài khoa học nghiên cứu đổi mới HTCT cũng
đã có khá nhiều Trong đó, trước hết phải kể đến công trình tiêu biểu là Chương trình
khoa học cấp nhà nước KX05 nghiên cứu về HTCT trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta, với nhiều đề tài nhánh, tập hợp nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu,
các chuyên gia về lĩnh vực này tham gia Đây là một công trình nghiên cứu toàn diện cả
về lịch sử, lý luận và thực tiễn của HTCT ở nước ta hiện nay Hiện nay Ban tổ chức
Trung ương đang triển khai Chương trình khoa học cấp Nhà nước "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chủ động hội nhập quốc tế", mã số KX.10 Ngoài ra, còn rất nhiều cuốn sách, bài viết của các nhà nghiên cứu về HTCT, như: "Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới", GS Nguyễn Đức Bình, GS.TS Trần Ngọc Hiên,
GS Đoàn Trọng Truyến, Nguyễn Văn Thảo, PGS.TS Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; "Giải pháp đổi mới của hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi ở nước ta hiện nay", PGS.TS Tô Huy Rứa, PGS.TS Nguyễn Cúc, PGS.TS Trần Khắc Việt (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới", GS.TS Nguyễn Phú Trọng,
Trang 5PGS.TS Tô Huy Rứa, PGS.TS Trần Khắc Việt (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2004 v.v
+ HTCT cấp cơ sở là vấn đề được đặc biệt quan tâm nghiên cứu trong những năm
gần đây Điều này xuất phát từ thực tiễn của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhiềuvấn đề nảy sinh từ cơ sở, cho thấy vị trí, vai trò đặc biệt của cơ sở trong sự nghiệp đổimới đất nước hiện nay Muốn phát huy sức mạnh của HTCT cần phải bắt đầu từ cơ sở
Do đó, HTCT cấp cơ sở đã được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo sâu sát hơn Hộinghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ Năm (khóa IX) đã đề ra nghị quyết rất quan
trọng về "Đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cấp cơ sở xã, phường, thị trấn" Nhiều văn bản của Đảng, Chính phủ đã ban hành liên quan đến chức năng, nhiệm
vụ hoạt động của các tổ chức trong HTCT cơ sở, chế độ, chính sách đối với cán bộ, côngchức cơ sở v.v
Vì vậy, vấn đề này càng thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, cán
bộ lãnh đạo, quản lý từ Trung ương đến cơ sở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: "Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nước ta hiện nay: quan niệm, vấn đề và giải pháp" Hội thảo này góp phần triển khai đề tài cấp Nhà nước "Nghiên cứu một số vấn đề nhằm củng cố
hệ thống chính trị ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển ở nước ta hiện nay".
Sau hai năm nghiên cứu (2000-2002), đề tài hoàn thành Kết quả nghiên cứu đề tài khoa
học đã được xuất bản thành sách có tựa đề "Hệ thống chính trị cơ sở ở nông thôn nước ta hiện nay", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, GS.TS Hoàng Chí Bảo (chủ biên).
Đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về HTCT ở cơ sở nước ta hiện nay vớitính chất và quy mô một đề tài khoa học cấp Nhà nước [12, tr 9] Trong công trìnhnghiên cứu, các tác giả đã luận chứng khoa học về HTCT và HTCT ở cơ sở; lịch sử và
lý luận về cơ sở và HTCT ở cơ sở nông thôn nước ta; thực trạng tổ chức và hoạt độngcủa HTCT ở cơ sở nông thôn hiện nay; những phương hướng, quan điểm và giải phápnhằm tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng HTCT ở cơ sở nông thôn Những quan
Trang 6điểm về cơ sở và HTCT ở cơ sở của các công trình khoa học trên giúp cho tác giả luận
án có thể kế thừa về lý luận và thực tiễn khi nghiên cứu về vai trò NTCQ trong hoạtđộng của HTCT cấp cơ sở của Bà Rịa - Vũng Tàu (BR-VT)
Ngoài các công trình nghiên cứu khoa học trên còn có những cuốn sách chuyên
khảo khác liên quan đến HTCT cấp cơ sở như: "Chính quyền cấp xã và quản lý nhà nước ở cấp xã", Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, Hà Nội, 1999; "Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay", Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2001; "Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay - Một số vấn đề và giải pháp", Phan Đại Doãn (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; "Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay", TS Nguyễn Văn Sáu, GS Hồ Văn Thông (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003,"Hệ thống chính trị cấp
cơ sở - thực trạng và một số giải pháp đổi mới", Bộ Nội vụ, Viện Nghiên cứu khoa học tổ
chức Nhà nước, TS Chu Văn Thành (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 v.v Các công trình nghiên cứu trên đề cập đến vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nướccủa chính quyền cơ sở ở nông thôn hiện nay
Trên một số tạp chí chuyên ngành gần đây có nhiều bài viết nghiên cứu về đổi
mới và nâng cao chất lượng HTCT cấp xã, phường, thị trấn, như: "Quan điểm và giải pháp để củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở" của PGS.TS Hoàng Chí Bảo, (Tạp chí Dân vận, số 1+2, 2002); "Hệ thống chính trị cơ sở vùng sâu, vùng xa và những vấn đề đặt ra cần được giải quyết" của Hồ Minh Đức (Tạp chí Dân vận, số 1+2, 2002)
+ Tỉnh BR-VT trong những năm qua cũng đã có một số đề tài nghiên cứu liên quan đến HTCT cấp cơ sở như: "Mô hình và con đường hình thành người cán bộ lãnh đạo chính trị ở phường, xã của Vũng Tàu", do Ngô Thành làm chủ nhiệm, Vũng Tàu, 1992; "Cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị huyện, thị, thành phố, xã, phường, thị trấn của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", do Nguyễn Việt Nhân
làm chủ nhiệm, Vũng Tàu, 1996
Trang 7Đề tài "Nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cấp cơ sở ở Bà Rịa - Vũng Tàu, đáp ứng yêu cầu giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Chủ nhiệm đề tài Nguyễn
Quang Phi, Nguyễn Hồng Lương, nghiên cứu từ 6/2003 đến 6/2005 Đây là đề tài khoahọc cấp tỉnh đầu tiên có quy mô nghiên cứu khá toàn diện về hoạt động của HTCT cấp
cơ sở xã, phường, thị trấn của tỉnh Trên cơ sở xác định những tiêu chí cơ bản về chấtlượng hoạt động của HTCT cơ sở, đề tài đánh giá thực trạng hoạt động của HTCT ở xã,phường, thị trấn của BR-VT và những vấn đề đặt ra, từ đó đưa ra phương hướng, giảipháp và kiến nghị về nâng cao chất lượng hoạt động của HTCT ở cơ sở của BR-VT đápứng yêu cầu giai đoạn CNH, HĐH Đề tài cung cấp những tư liệu thực tiễn về hoạt độngcủa HTCT ở cơ sở, giúp cho luận án có thể khái quát về vai trò NTCQ trong hoạt độngcủa HTCT cấp cơ sở của BR-VT Những phương hướng, giải pháp của đề tài khoa họccũng là những gợi mở cho phương hướng và giải pháp phát huy vai trò NTCQ tronghoạt động của HTCT ở cơ sở
Như vậy, mặc dù rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu liên quan đến luận án,tuy nhiên, chưa có một công trình khoa học nào trực tiếp nghiên cứu về vai trò NTCQtrong hoạt động của HTCT ở cơ sở Đây là cách tiếp cận riêng của luận án để nghiêncứu về HTCT ở cơ sở, nó cho phép xem xét toàn diện những yếu tố tác động (ĐKKQ)
và những yếu tố trực tiếp, "là nguyên nhân" tạo ra sự tích cực, năng động, sáng tạo củacác chủ thể trong HTCT ở cơ sở Từ nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa NTCQ vàĐKKQ trong hoạt động của HTCT cấp cơ sở sẽ giúp cho ta đánh giá thực trạng và đề ranhững giải pháp góp phần nâng cao chất lượng HTCT cấp cơ sở hiện nay Do đó,
nghiên cứu vấn đề: "Phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong hoạt động của hệ thống
chính trị cấp cơ sở ở Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay" sẽ có ý nghĩa cả về lý luận và thực
tiễn, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của HTCT ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu giaiđoạn mới, nhất là đối với tỉnh BR-VT
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án
3.1 Mục đích
Trang 8Trên cơ sở nhận thức về vai trò NTCQ trong hoạt động của HTCT cấp cơ sở vàthực trạng việc phát huy vai trò NTCQ trong hoạt động của HTCT cấp cơ sở ở BR-VT,luận án đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò NTCQ tronghoạt động của HTCT cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt mục đích trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ cần giải quyết sau:
- Phân tích NTCQ và vai trò của nó trong hoạt động của HTCT cấp cơ sở
- Đánh giá thực trạng việc phát huy vai trò NTCQ trong hoạt động của HTCTcấp cơ sở ở BR-VT hiện nay và những vấn đề đặt ra
- Luận chứng cơ sở khoa học phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huyvai trò NTCQ trong hoạt động của HTCT cấp cơ sở ở BR-VT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò NTCQ trong hoạt động của HTCT cấp cơ sở ở
BR-VT qua khảo sát ở xã, phường, thị trấn của tỉnh BR-VT và một số tỉnh khu vực kinh
tế trọng điểm phía Nam hiện nay BR-VT nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam,
có rất nhiều mặt tương đồng với các tỉnh này về mặt địa lý, tự nhiên, lịch sử và quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội Nghiên cứu HTCT cấp cơ sở của BR-VT có sự phân tích, sosánh với các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam sẽ giúp cho việc hiểu được những nétchung và nét đặc thù của BR-VT; trên cơ sở đó đề ra những giải pháp và kiến nghị vừa cótính thiết thực với BR-VT và vừa có thể tham khảo vận dụng với các tỉnh khác trong vùngcũng như cả nước
Nước ta là nước nông nghiệp, do đó khi nói đến cơ sở thì xã ở nông thôn là chủyếu Ở BR-VT xã cũng chiếm khoảng 3/4 trên tổng số các xã, phường, thị trấn của tỉnh.Các phường, thị trấn ở BR-VT cũng chỉ mới hình thành không lâu do quá trình đô thịhóa, vì vậy vẫn mang đậm nét của xã Do đó, luận án khái quát vai trò NTCQ chung của
Trang 9HTCT cả ba loại hình xã, phường, thị trấn ở BR-VT, nhưng chủ yếu khái quát từ loạihình xã, có xem xét sự khác biệt của phường và thị trấn
5 Cái mới về mặt khoa học
Luận án góp phần làm rõ vai trò NTCQ trong hoạt động của HTCT cấp cơ sở; từgóc nhìn khách quan, chủ quan, luận án phân tích, đánh giá thực trạng việc phát huy vaitrò NTCQ trong hoạt động của HTCT cấp cơ sở ở BR-VT, đề xuất phương hướng, giảipháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò NTCQ trong hoạt động của HTCT cấp cơ sở ở BR-
VT hiện nay
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vềHTCT ở cơ sở; kế thừa có chọn lọc quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước vềvấn đề NTCQ trong hoạt động của HTCT cấp cơ sở
- Cơ sở thực tiễn: Chủ yếu nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn hoạt động của HTCT
cấp cơ sở ở BR-VT hiện nay, có tham khảo ở một số tỉnh khu vực kinh tế trọng điểmphía Nam và cả nước
- Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện
chứng, kết hợp các phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp, điều tra xã hộihọc để phân tích, đánh giá thực trạng việc phát huy vai trò NTCQ trong hoạt động củaHTCT cấp cơ sở của BR-VT và đề ra phương hướng, giải pháp phát huy vai trò NTCQ
7 Giá trị của luận án
- Dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu trong lĩnh vựctriết học ở các trường chính trị tỉnh và trung tâm giáo dục chính trị cấp huyện;
- Phục vụ tham khảo trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn về xây dựngHTCT ở cơ sở
Trang 108 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungcủa luận án gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 111.1.1.1 Quan niệm về nhân tố chủ quan
Khái niệm "nhân tố chủ quan" có mối quan hệ chặt chẽ trong hệ thống các kháiniệm "chủ thể", "khách thể", "khách quan", "chủ quan", "cái chủ quan", "cái kháchquan" và được hình thành, phát triển trong quá trình nghiên cứu hoạt động của conngười Vì thế, để hiểu "nhân tố chủ quan" trước hết cần bắt đầu nghiên cứu các kháiniệm trên
Từ thời triết học cổ đại đến nay, vấn đề chủ thể - khách thể, chủ quan - kháchquan đã được đề cập và nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, bởi nó liên quan trựctiếp đến vấn đề cơ bản của triết học Tuy nhiên, chưa có nhà triết học nào trước C.Mácnghiên cứu trực tiếp các vấn đề trên với tư cách là những khái niệm mang nội dung duyvật khoa học như hiện nay Các nhà triết học trước C.Mác chỉ xem chúng trong khuônkhổ hoạt động nhận thức của con người hoặc tách rời với hoạt động thực tiễn Khác vớicác quan điểm đó, C.Mác cho rằng đây không chỉ là vấn đề của nhận thức luận, màtrước hết là vấn đề của hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen đềukhông dành riêng một tác phẩm, một bài viết, hoặc chuyên luận nào nghiên cứu các kháiniệm trên Chúng ta chỉ có thể tìm thấy những chỉ dẫn hết sức quan trọng về mặtphương pháp luận trong tác phẩm của các ông
Theo quan niệm của C Mác, khách thể, chủ thể và mối quan hệ của chúngkhông đồng nhất với vấn đề cơ bản của triết học, song, để giải quyết đúng đắn quan hệgiữa chủ thể, khách thể cần phải đứng trên lập trường duy vật triệt để, khoa học Con
Trang 12người, theo Mác, chỉ trở thành chủ thể khi tham gia vào hoạt động nhằm cải tạo và nhậnthức thế giới Còn khách thể là một bộ phận của hiện thực khách quan chịu sự tác độngcủa chủ thể
Quan niệm mácxít về khách thể và chủ thể được tiếp tục phát triển và cụ thể hóatrong các tác phẩm của V.I.Lênin, như "Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệmphê phán" và "Bút kí triết học" Theo V.I.Lênin, quá trình nhận thức từ những giai đoạnđầu đã được nhằm vào khách thể Người chỉ rõ, ngay trong cảm giác, cái được đem lạicho chủ thể không phải là bản thân chủ thể mà là thực tại khách quan đối lập với chủthể Đồng thời sự vận động của tri thức đi vào chiều sâu của khách thể có thể được hiểu
là sự vận động từ ý niệm chủ quan đến chân lý khách quan [58, tr 215]
Lênin hiểu tri thức chủ quan trong trường hợp này không phải là "sự tự ý thứcthuần túy" tách khỏi thế giới hiện thực và không phải là kết quả của óc tưởng tượng thấtthường của chủ thể ánh xạ vào thế giới hiện thực Gắn sự vận động từ cái chủ quan đếncái khách quan với quá trình vận động biện chứng của nhận thức đến chân lý kháchquan, V.I.Lênin coi tư tưởng chủ quan là tri thức mà nội dung của nó do khách thể quyđịnh, nhưng trong đó các quan hệ khách quan giữa các yếu tố của nội dung chưa đượcphát hiện đầy đủ, chưa được thực tiễn kiểm nghiệm Nhận thức là một quá trình vô tậnđược đặc trưng bằng sự nâng cao tính khách quan của tri thức
Như vậy, mặc dù trong các tác phẩm kinh điển Mác-Lênin không trực tiếp đềcập đến khái niệm NTCQ, nhưng đã cho chúng ta phương pháp luận duy vật biện chứng
để hiểu các vấn đề khách thể, chủ thể, khách quan, chủ quan và mối quan hệ biện chứngcủa chúng trong hoạt động của con người Đây là cơ sở quan trọng để chúng ta có thể đisâu tìm hiểu quan niệm về NTCQ
Các nhà triết học Mác - Lênin hầu hết đều thống nhất về những vấn đề cơ bảntrong các khái niệm chủ thể - khách thể, khách quan - chủ quan, NTCQ, ĐKKQ Tuynhiên, cho đến nay vẫn còn những ý kiến khác nhau về một số vấn đề
Trước hết, về khái niệm chủ thể - khách thể Các nhà triết học mácxít đều cho
Trang 13rằng "chủ thể" của hoạt động nhận thức và cải tạo tự nhiên, xã hội đó là con người Dovậy, khi nói đến "chủ thể" là nói đến con người, đến tổ chức và xã hội tham gia vàotrong hoạt động nhận thức, cải tạo thế giới và cải tạo chính bản thân mình Tuy nhiên,
"chủ thể" không phải là con người, hay một tổ chức nói chung, mà là con người hay tổchức cụ thể đang tham gia vào những hoạt động cụ thể, tác động vào giới tự nhiên, xãhội Chỉ trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới con người mới bộc lộ mình với tư
cách là chủ thể của lịch sử Vì vậy, có thể đồng ý với quan điểm cho rằng "chủ thể" - đó
là con người hoạt động với những cấp độ tồn tại khác nhau đã, đang thực hiện sự tác động đến khách thể [75, tr 10] Đặc trưng chủ yếu nhất của con người với tư cách là
chủ thể là năng lực hoạt động sáng tạo, là "khuynh hướng tự mình thực hiện mình, tựcho mình, qua bản thân mình, một tính khách quan trong thế giới khách quan và tự hoànthiện (tự thực hiện) mình" [58, tr 228-229] Điều đó có nghĩa là con người chỉ trở thành
"chủ thể" khi tự bộc lộ năng lực sáng tạo của mình, tự thể hiện bản chất của mình thông
qua hoạt động Tùy theo cấp độ mà "chủ thể" có thể là cá nhân, một tổ chức (như Đảng,
Nhà nước, đoàn thể), một cộng đồng xã hội (như giai cấp, dân tộc ) hay xã hội loàingười khi tham gia vào hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới khách quan
Trong quá trình hoạt động, con người với tư cách là chủ thể tác động vào hiệnthực khách quan (bao gồm cả trong tự nhiên và đời sống xã hội) như là đối tượng bênngoài, mà con người cần nhận thức và cải tạo, nhằm thỏa mãn nhu cầu và lợi ích củamình Hoạt động là một phương thức đặc thù của con người quan hệ với thế giới, mộtquá trình qua đó con người nhận thức và cải tạo thế giới, do đó làm cho bản thân mình trởthành chủ thể hoạt động [103, tr 493] Bộ phận của hiện thực khách quan mà con ngườihướng tới nhận thức và cải tạo là khách thể Tuy nhiên, khái niệm khách thể khác với kháiniệm đối tượng - chỉ là một phần của khách thể mà chủ thể trực tiếp tác động đến Kháchthể bao gồm những hiện tượng không chỉ thuộc lĩnh vực vật chất, mà còn có thể thuộc
cả lĩnh vực tinh thần Nó là tất cả những gì mà chủ thể hướng tới nhận thức và cải tạo
Như vậy, có thể đồng ý với quan điểm cho rằng, "khách thể" là tất cả những gì mà chủ
thể trong hoạt động của mình tác động vào nó [75, tr 12] Tùy từng cấp độ xác định về
Trang 14chủ thể và hoạt động của nó mà có các khách thể tương ứng Do hiện thực khách quanhết sức phong phú, nên sự tác động của chủ thể vào nó cũng tạo ra khách thể đa dạng.
Có khách thể là những hiện tượng, quá trình thuộc giới tự nhiên; có những khách thể lànhững hiện tượng, quá trình thuộc về lĩnh vực đời sống xã hội Chẳng hạn, những đốitượng vật chất, quan hệ kinh tế, những quan hệ chính trị - xã hội, kể cả những quan hệ
tư tưởng cũng có thể đóng vai trò là khách thể của những chủ thể tương ứng
Khách thể và chủ thể thống nhất biện chứng với nhau Không thể nói tới mộtkhách thể cụ thể, nếu không nói tới một chủ thể tương ứng và ngược lại Khách thể vàchủ thể luôn gắn liền với nhau, không có khách thể, chủ thể trừu tượng Điều này chothấy, con người chỉ trở thành chủ thể khi tác động vào hiện thực khách quan, và biến nóthành khách thể của quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn Trong mối quan hệ chủthể - khách thể, chủ thể luôn tìm cách nhận thức và cải tạo khách thể theo mục đích củamình, tức là chủ thể có tính tích cực, sáng tạo V.I.Lênin viết: "Đối với chủ nghĩa duyvật thì, khách thể tồn tại độc lập với chủ thể và được phản ánh vào trong ý thức của chủthể một cách chính xác nhiều hay ít" [56, tr 93] Tuy nhiên, đây là mối quan hệ biệnchứng, tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể Mặc dù chủ thể có vai trò nhận thức
và cải tạo khách thể, nhưng khách thể lại quy định nhận thức và hành động của chủ thể.Chừng nào chủ thể nhận thức đúng quy luật vận động của khách thể, thì chủ thể có thểvận dụng quy luật đó để tác động một cách tích cực và sáng tạo vào khách thể Trong sựtương tác lẫn nhau ấy, khách thể được cải tạo, được "nhân tính hóa" bởi chủ thể, cònchủ thể cũng được "khách thể hóa"
Khái niệm chủ thể và khách thể có mối liên hệ chặt chẽ với khái niệm khách quan và chủ quan Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, khái niệm "chủ
quan" và "khách quan" nói lên thuộc tính chung của chủ thể và khách thể bộc lộ trong quátrình hoạt động của con người Theo Iu.K.Pletnicôp, "giải thích một cách chung nhất, chủquan và khách quan là những thuộc tính của chủ thể và khách thể" [126, tr 228] Như
vậy, có thể đồng ý với quan điểm của nhiều tác giả rằng: Những tính chất, yếu tố phụ
Trang 15thuộc vào chủ thể và thuộc về chủ thể là chủ quan; những tính chất, yếu tố không phụ thuộc vào chủ thể, tồn tại ngoài chủ thể là khách quan Tuy nhiên, không thể đồng nhất
khái niệm cái khách quan với khái niệm hiện thực khách quan hay thế giới vật chất nóichung Vật chất bao giờ cũng có tính chất khách quan, nhưng mọi cái khách quan lạikhông thể quy về vật chất được Bởi vì, cái khách quan ở đây được xem xét trong tácđộng qua lại giữa chủ thể và khách thể còn được hiểu bao hàm cả những cái thuộc về ýthức, đóng vai trò là những khách thể mà con người tác động vào và tồn tại không phụthuộc vào ý thức, ý chí của chủ thể Như vậy, tính khách quan của những hiện tượng tinhthần trên không thể chỉ hiểu như tính khách quan của vật chất đối với ý thức, mà phải hiểu
nó là khách quan đối với một chủ thể cụ thể Lênin khi phân tích tình thế cách mạng đã chorằng "nỗi bất bình và lòng phẫn nộ của giai cấp bị áp bức tính tích cực của quần chúngdần dần được nâng lên rõ rệt" là những yếu tố "không phụ thuộc vào ý chí của một tậpđoàn này hay của một đảng kia mà còn không phụ thuộc vào ý chí của giai cấp này haygiai cấp khác" [57, tr 268] Như vậy, theo Lênin thì cái khách quan không chỉ là nhữnghiện tượng vật chất, mà còn là những hiện tượng tinh thần, tồn tại ngoài chủ thể, khôngphụ thuộc vào chủ thể
Hiện nay cũng vẫn còn những ý kiến khác nhau về khái niệm cái chủ quan Có
tác giả cho rằng, cái chủ quan chỉ thuộc về ý thức, chỉ có trong chủ thể; có tác giả đồngnhất "cái chủ quan" với ý niệm, hoặc với chủ thể; cũng có tác giả lại mở rộng khái niệm
"cái chủ quan" và cho rằng "cái chủ quan" bao hàm cả những cái nằm ngoài chủ thể Rõràng, hoạt động của con người nói chung, cũng như toàn bộ sản phẩm của hoạt động đóbao giờ cũng chứa đựng, mang dấu ấn của cái chủ quan Tuy nhiên, không thể coi tất cảnhững cái mang dấu ấn chủ quan (nằm ngoài chủ thể) là thuộc về cái chủ quan Mặtkhác, chủ quan cũng không chỉ là những hiện tượng ý thức mà còn bao hàm cả nhữngyếu tố thuộc về thể chất, cùng bản thân hoạt động của chủ thể Bởi vì, những yếu tố vềthể chất và hoạt động của chủ thể không tồn tại ngoài chủ thể mà luôn gắn với chủ thể,phụ thuộc vào chủ thể Quả là ý thức là yếu tố quan trọng, song, nếu chỉ có ý thức, tưtưởng, như C.Mác đã nhận xét, không thể đưa người ta vượt ra ngoài trật tự thế giới cũ
Trang 16Ông viết: "Tư tưởng căn bản không thể thực hiện được gì hết Muốn thực hiện tư tưởngcần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn" [64, tr 181] Như vậy, chủ quankhông chỉ bao gồm ý thức mà còn bao gồm cả thể lực và những yếu tố thuộc về hoạtđộng của chủ thể tác động vào khách thể
Khái niệm NTCQ và nhân tố khách quan Trong hoạt động của chủ thể, không
phải toàn bộ các yếu tố khách quan đều chịu tác động của chủ thể ở mức độ như nhau vàđóng vai trò như nhau Một bộ phận của cái khách quan mà chủ thể tác động trực tiếpvào đó là nhân tố khách quan Như vậy, có thể đồng ý với ý kiến chung của các tác giả
rằng "nhân tố khách quan" là tất cả những gì tồn tại bên ngoài chủ thể, không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của chủ thể và trực tiếp tham gia vào hoạt động của chủ thể, là
đối tượng của chủ thể Mỗi chủ thể trong hoạt động của mình tác động vào những kháchthể cụ thể, những khách thể ấy đóng vai trò là nhân tố khách quan, còn những yếu tốkhác là điều kiện khách quan Nhân tố khách quan chỉ là một bộ phận của điều kiệnkhách quan tham gia vào hoạt động của chủ thể Nhân tố khách quan là toàn bộ nhữngyếu tố tự nhiên và xã hội có quan hệ với một chủ thể hiện thực nhất định, thể hiện với tưcách là những yếu tố không phụ thuộc vào ý thức của chủ thể và quyết định ý thức, hoạtđộng của nó [41, tr 17]
Trong hoạt động của con người không phải những gì thuộc về chủ thể đều được
sử dụng trong quá trình tương tác với khách thể cụ thể Những thuộc tính, phẩm chất, năng lực tham gia trực tiếp vào hoạt động của chủ thể mới được coi là NTCQ Ở đây có
thể phân biệt khái niệm "yếu tố" và khái niệm "nhân tố" Mặc dù " yếu tố" và "nhân tố"
có nghĩa cơ bản là giống nhau, nhưng cũng có nhiều quan điểm cho rằng, nên phân biệtkhái niệm "yếu tố" chỉ cái bộ phận, cái hợp phần cấu thành các sự vật, hiện tượng, còn
khái niệm "nhân tố" chỉ cái trực tiếp gây ra sự biến đổi Theo L.I.Trinacova, "nhân tố là
một bộ phận của nguyên nhân trọn vẹn, là một trong những hoàn cảnh tham gia vào việcquy định một hiện tượng nhất định và tác động với những hiện tượng khác" [127, tr
37] Như vậy, nhân tố là một bộ phận của nguyên nhân, và điều kiện trực tiếp gây ra sự
Trang 17biến đổi Do đó, không thể đồng nhất "nhân tố chủ quan" với tất cả các yếu tố tạo thành
"cái chủ quan" Nhân tố chủ quan chỉ là một bộ phận của "cái chủ quan" được sử dụngtrực tiếp trong quá trình tương tác với khách thể cụ thể Nhân tố chủ quan cũng khôngphải là bản thân chủ thể, mà là những thuộc tính, những phẩm chất của chủ thể đượchuy động trực tiếp tạo ra khả năng tích cực, sáng tạo, cùng hoạt động của chủ thể nhằmbiến đổi khách thể
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất cần đưa hoạt động của chủ thể vàoNTCQ Có thể đồng ý kiến với quan điểm rằng, NTCQ bao gồm cả hoạt động của chủ thể,
từ hoạt động nhận thức đến hoạt động thực tiễn [10, tr 21] Tuy nhiên, xem trong hoạtđộng của con người những yếu tố nào thuộc về NTCQ còn yếu tố nào thì không, vẫn có
sự khác nhau Chúng tôi đồng ý với quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, hoạtđộng của con người là phạm trù rộng, không chỉ bao hàm NTCQ, mà còn bao hàm cảNTKQ [122, tr 63] Do đó, NTCQ không thể đồng nhất với toàn bộ hoạt động của chủthể (con người) mà nó chỉ là một phần của hoạt động đó C.Mác trong bộ "Tư bản", khinghiên cứu NTCQ của quá trình lao động, đã chỉ ra rằng " nhân tố chủ quan của quátrình lao động, nghĩa là sức lao động đang hoạt động" Ở một chỗ khác C.Mác viết: "Sứclao động đang hoạt động, tức lao động sống" [61, tr 308] Như vậy, vận dụng tư tưởng
của C.Mác, chúng ta có thể hiểu, hoạt động sống là hoạt động tham gia trực tiếp vào
NTCQ, còn phần lao động đã "vật thể hóa" không thuộc NTCQ mà thuộc về nhân tốkhách quan Điều đó có nghĩa là trong hoạt động của chủ thể, NTCQ là hoạt động sốngtrực tiếp của chủ thể, phụ thuộc vào chủ thể, còn nhân tố khách quan là hoạt động củachủ thể đã được đối tượng hóa, bởi vì nó không còn phụ thuộc vào chủ thể Ví dụ,những sản phẩm mà con người làm ra chứa đựng lao động quá khứ, thuộc về nhân tốkhách quan Như vậy, không phải toàn bộ hoạt động của chủ thể đều thuộc NTCQ:
NTCQ chỉ là mặt hoạt động sống trực tiếp, phụ thuộc vào chủ thể, gắn liền với chủ thể; còn mặt hoạt động đã được đối tượng hóa thuộc về nhân tố khách quan Tuy nhiên,
"hoạt động sống" tham gia trực tiếp vào NTCQ trong hoạt động của con người cũng vẫnphụ thuộc vào quy luật khách quan Đồng nhất NTCQ với hoạt động của con người sẽ
Trang 18dẫn đến quan niệm "chủ quan hóa" hoạt động của con người.
Cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về NTCQ Cótác giả đồng nhất khái niệm "nhân tố chủ quan" với hoạt động nói chung của con người.Một số ý kiến đồng nhất NTCQ với hoạt động có ý thức của con người; hoặc giới hạnNTCQ với hoạt động tự giác "NTCQ trong việc phát triển xã hội đó là hoạt động có ýthức của con người, của giai cấp, của các đảng để tạo ra lịch sử" [42, tr 2] Theo chúngtôi, hoạt động có ý thức, hay tự giác đều tham gia vào NTCQ
Có quan điểm của một số tác giả lại đồng nhất NTCQ với ý thức của chủ thể.Phê phán quan điểm này, A.K.Uledốp đã khẳng định rằng, NTCQ không phải là ý thứcnói chung mà là cái ý thức đã trở thành sự chỉ đạo phương châm hoạt động của chủ thể[122, tr 67] Như vậy, NTCQ chỉ bao gồm những bộ phận ý thức của chủ thể tham giavào chỉ đạo hoạt động của chủ thể tác động đến khách thể Chúng tôi đồng ý với quanđiểm này Nội dung của ý thức bao gồm tri thức, tức là sự hiểu biết của chủ thể về tựnhiên và xã hội được hình thành từ cuộc sống, từ quá trình học tập và nghiên cứu Cùngvới tri thức là những quan điểm, tư tưởng tạo thành niềm tin của chủ thể trong hànhđộng, là ý chí quyết tâm của chủ thể trong hoạt động cải tạo thế giới Tri thức, quanđiểm, tư tưởng, niềm tin và ý chí của chủ thể hòa quyện, thống nhất biện chứng vớinhau tham gia vào chỉ đạo hoạt động của chủ thể, tạo thành những yếu tố của NTCQ
Thuộc về "nhân tố chủ quan" còn là năng lực thể chất của chủ thể, ý thức củachủ thể tham gia vào việc định hướng cho hoạt động và chính bản thân hành động củachủ thể Sở dĩ "nhân tố chủ quan" bao hàm cả mặt hoạt động của chủ thể là vì bản thân ýthức, tư tưởng nếu thiếu hoạt động của con người thì không làm thay đổi được hiện thực,không thể trở thành "nhân tố chủ quan"
Ngoài ra, cũng có những ý kiến khác nhau về việc đưa những hoạt động nào vàoNTCQ Một số chỉ đưa hoạt động tinh thần; một số khác đưa hoạt động tinh thần, chínhtrị và tổ chức; một số khác đưa cả những mặt xác định của hoạt động sản xuất vàoNTCQ Theo chúng tôi, nhân tố khách quan và NTCQ là hai mặt đối lập và thống nhất
Trang 19của bất kỳ hoạt động nào: dù là hoạt động sản xuất vật chất, hay hoạt động chính trị vàtinh thần; hoạt động tự giác hay tự phát Điều đó có nghĩa NTCQ là một phần của bất kỳhoạt động nào của chủ thể
Một số ý kiến khác cho rằng, khái niệm "nhân tố chủ quan" đồng nhất với kháiniệm "nhân tố con người" Theo chúng tôi, điều đó không hoàn toàn đúng Mặc dù, đây
là hai khái niệm cùng cấp độ, đều chỉ những thuộc tính của con người Tuy nhiên, khinói đến nhân tố con người là nói đến tất cả những cái thuộc về con người trong quan hệvới tự nhiên và xã hội, còn NTCQ chỉ là những thuộc tính, những yếu tố trực tiếp thamgia vào hoạt động cụ thể NTCQ bao gồm những gì thuộc về con người trong hoạt độngcải tạo xã hội, tự nhiên và cải tạo chính bản thân mình Còn nhân tố con người - đó là tất
cả những cái gì thuộc về con người trong quan hệ với tự nhiên và xã hội
Tóm lại, kế thừa các quan niệm về NTCQ một cách có chọn lọc, chúng tôi đồng
ý với nhiều tác giả rằng: NTCQ là những thuộc tính của chủ thể tham gia trực tiếp vào hoạt động của chủ thể cùng bản thân hoạt động của chủ thể tác động vào khách thể Ở
đây cần phân biệt rằng, thuộc về NTCQ không phải là toàn bộ các yếu tố trong hoạtđộng của chủ thể NTCQ là những thuộc tính, những phẩm chất tham gia trực tiếp vàohoạt động của chủ thể, tạo ra khả năng tích cực, sáng tạo trong hành động của chủ thể,cùng bản thân hoạt động của chủ thể nhằm cải tạo các khách thể xác định NTCQ chỉ là
một phần hoạt động của chủ thể, phụ thuộc vào chủ thể, gắn liền với chủ thể xác định,
tức là hoạt động sống, còn phần trong hoạt động đã được đối tượng hóa là nhân tố kháchquan
Với quan niệm về NTCQ như trên, chúng tôi đồng ý với nhiều tác giả [75], cấu trúcNTCQ bao gồm các yếu tố sau đây:
Thứ nhất, NTCQ là một phần ý thức của chủ thể Không phải toàn bộ ý thức nói
chung của chủ thể mà chỉ bộ phận ý thức đã trở thành sự chỉ đạo, sự kích thích và làphương châm của hoạt động, tức là cái ý thức đã biến thành động lực của hành vi, của hoạtđộng của chủ thể mới tham gia vào NTCQ [122, tr 69] Tất nhiên đây là sự khác biệt rấtmong manh, nhiều khi khó xác định, nhưng rõ ràng cần có sự phân biệt giữa toàn bộ ý
Trang 20thức và một bộ phận của ý thức tham gia trực tiếp vào trong hoạt động của chủ thể.
Thứ hai, nói tới NTCQ là nói tới hoạt động có ý thức của chủ thể (con người
cụ thể, giai cấp, chính đảng ) để tác động (nhận thức, cải tạo) vào khách thể xác định.Như vậy, NTCQ không chỉ thuần túy là một bộ phận của ý thức chủ thể mà còn baogồm cả bản thân quá trình hoạt động có ý thức của chủ thể tác động vào khách thể.Hoạt động của chủ thể tham gia vào NTCQ là hoạt động có ý thức gắn với chủ thể,phụ thuộc vào chủ thể, còn một phần hoạt động đã "vật hóa", tồn tại ngoài chủ thểtham gia vào nhân tố khách quan
Thứ ba, NTCQ còn bao gồm cả những phẩm chất, những trạng thái thuộc về năng
lực thể chất của chủ thể trực tiếp tham gia vào hoạt động của chủ thể Bởi vì, trạng thái
về năng lực thể chất của chủ thể là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động của chủthể trong quá trình tác động vào khách thể Tuy nhiên, không phải tất cả những trạngthái thể chất của con người thuộc về NTCQ, mà chỉ là một phần thể chất được huy độngtrực tiếp trong quá trình hoạt động mới trở thành NTCQ Khi chủ thể là con người cụthể thì năng lực thể chất là khả năng hoạt động thần kinh và sức lực của cơ thể conngười Còn chủ thể là tổ chức, lực lượng xã hội thì "năng lực thể chất" được hiểu là tính
tổ chức, sự phối hợp giữa những bộ phận cấu thành tổ chức hay lực lượng xã hội
Khái niệm NTCQ có quan hệ mật thiết với khái niệm ĐKKQ Bất cứ một chủthể lịch sử - xã hội nào trong hoạt động và tồn tại đều gắn liền với một hoàn cảnh cụ thể
- đó là ĐKKQ Những ĐKKQ đóng vai trò là tiền đề của hoạt động của chủ thể Cácnhà nghiên cứu có nhiều cách tiếp cận khác nhau về điều kiện khách quan, song nhìnchung cơ bản ý kiến thống nhất với nhau Kế thừa quan điểm của các nhà nghiên cứu,
chúng tôi đồng ý với quan điểm rằng: ĐKKQ là tổng thể các mặt, các yếu tố, các mối quan hệ tồn tại ở bên ngoài chủ thể, độc lập với chủ thể, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên tác động, quy định hoạt động của chủ thể trong mỗi hoạt động xác định [81, tr 12] ĐKKQ trước hết là những điều kiện vật chất tạo nên hoàn cảnh hiện
thực, độc lập với chủ thể và quy định hoạt động của chủ thể đó Tuy nhiên, ĐKKQ
Trang 21không phải chỉ là điều kiện vật chất mà có thể còn cả những yếu tố thuộc lĩnh vực ýthức, tư tưởng, khi nó tồn tại khách quan, độc lập với một chủ thể cụ thể và đóng vai tròquy định hoạt động của chủ thể ấy.
1.1.1.2 Quan hệ giữa nhân tố chủ q uan với điều kiện khách quan
Vai trò của NTCQ được thể hiện thông qua mối quan hệ biện chứng giữa ĐKKQ
mà trái lại, còn quyết định ý chí, ý thức và những dự định của họ" [52, tr 200] Rõ ràngđối với cá nhân, hay đối với tổ chức, lực lượng xã hội nói chung, không thể đặt ra mụcđích tùy tiện, mà phải xuất phát từ khả năng hiện thực của ĐKKQ thì hoạt động của chủthể mới có khả năng thành công Nếu mục đích, dự định chỉ dựa vào ý muốn chủ quanthì hoạt động của con người chắc chắn sẽ thất bại
ĐKKQ quy định NTCQ còn thể hiện ở chỗ, trong hoạt động thực tiễn, thì nhữngphương pháp, cách thức, phương tiện tác động của chủ thể đều bị quy định bởi điềukiện, hoàn cảnh khách quan Mác đã từng chỉ ra rằng, nhân loại bao giờ cũng đặt ra chomình những nhiệm vụ có thể giải quyết được, điều đó có nghĩa, trong nhiệm vụ mà conngười đặt ra đó, thì ĐKKQ đã ít nhiều mách bảo khả năng của hiện thực, mách bảophương tiện và phương pháp để có thể thực hiện được mục tiêu ấy Những phươngpháp, phương tiện tác động của chủ thể đến khách thể phải phù hợp với ĐKKQ cụ thể
Tính quy định của ĐKKQ còn thể hiện ở chỗ, nó còn sinh ra NTCQ phù hợp yêu
Trang 22cầu phát triển của nó Các phẩm chất của chủ thể tạo thành NTCQ đều được nảy sinh, pháttriển trên những tiền đề từ những ĐKKQ nhất định Khi ĐKKQ thay đổi thì NTCQ cũng
bị thay đổi theo cho phù hợp với đòi hỏi của ĐKKQ mới Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã từng dạy, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng rèn luyện phẩmchất đạo đức, không ngừng nâng cao trình độ mới có thể đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụcủa cách mạng
- Thứ hai, NTCQ có vai trò tác động tích cực đối với sự biến đổi của ĐKKQ.
Tuy bị ĐKKQ quy định, nhưng NTCQ không phải hoàn toàn thụ động, mà nó cótính tích cực; tính độc lập tương đối của nó Vai trò tích cực, sáng tạo của NTCQ thểhiện trước hết ở chỗ, chủ thể có thể nhận thức, cải tạo ĐKKQ, trên cơ sở nhận thức vàvận dụng quy luật khách quan Thực chất vai trò NTCQ ở đây là sự phát hiện ra khảnăng khách quan, trên cơ sở những điều kiện, phương tiện vật chất của hoàn cảnh kháchquan để tác động và biến đổi nó theo quy luật vốn có của nó Như vậy, vai trò NTCQchính là tính tích cực, sáng tạo của chủ thể trong quá trình nhận thức và cải tạo khách
thể Việc phát huy vai trò NTCQ chính là phát huy tính tích cực, sáng tạo của chủ thể, trong việc vận dụng quy luật khách quan, tác động vào ĐKKQ; ngăn ngừa hai khuynh hướng đó là: chủ thể thụ động, ỷ lại, trông chờ vào hoàn cảnh khách quan mà không tích
cực nhận thức và hành động tích cực, chủ động; hoặc hành động duy ý chí, bất chấphoàn cảnh khách quan, không tôn trọng, hoặc không vận dụng sáng tạo quy luật kháchquan vào hoàn cảnh cụ thể
Trong hoạt động thực tiễn, việc phát huy vai trò NTCQ được thể hiện con ngườikhông thụ động trông chờ sự chín muồi của ĐKKQ theo lối "há miệng chờ sung", màchủ động chuyển hóa nhân tố khách quan, ĐKKQ tạo ra sự chín muồi đó Trong sự vậnđộng, phát triển của hiện thực, có rất nhiều khả năng xảy ra NTCQ luôn thực hiện sựlựa chọn khả năng nào đáp ứng nhu cầu, lợi ích của mình và phù hợp với tiến trình lịch
sử Trước quy luật khách quan, NTCQ có vai trò điều chỉnh hình thức, trật tự tác độngcủa quy luật; thậm chí tạo ra những ĐKKQ mới, làm xuất hiện những quy luật mới.Hơn nữa, trong sự tác động tổng hợp của nhiều quy luật, NTCQ có thể điều chỉnh một
Trang 23cách tự giác sự tác động tổng hợp ấy, nhằm đạt kết quả cao nhất cho hoạt động củamình Trong sự tác động trở lại nhân tố khách quan, vai trò của NTCQ sẽ ngày càngtăng lên trong quá trình phát triển của lịch sử Đây là vấn đề mang tính quy luật Tuynhiên, NTCQ có vai trò to lớn đến đâu cũng không được xa rời khách quan trong việcxem xét và giải quyết vấn đề.
Nghiên cứu quan hệ giữa ĐKKQ và NTCQ nói trên, chúng tôi đồng ý với quan
điểm của nhiều tác giả về một số kết luận sau:
- Thứ nhất, khách quan và chủ quan có mối quan hệ biện chứng Cái khách quan
quy định cái chủ quan về nội dung, phương hướng và tính chất Cái chủ quan tác độngtrở lại cái khách quan thông qua hoạt động tích cực của chủ thể Hoạt động tích cựcsáng tạo của NTCQ chỉ có hiệu quả khi xuất phát từ cái khách quan Ngược lại, cáikhách quan chỉ biến đổi theo đúng mục đích và nhu cầu đặt ra khi thông qua hoạt động
tự giác, sáng tạo của NTCQ Không thể dùng ý chí chủ quan tùy tiện tác động đến cáikhách quan, cũng không thể lấy ý chí chủ quan thay thế cho ĐKKQ Nói cách khác,trong hoạt động, con người phải lấy khách quan làm điểm xuất phát, tôn trọng và hànhđộng theo quy luật khách quan
- Thứ hai, chủ quan không bị động, phụ thuộc cũng không phải tùy tiện khi tác
động vào hoàn cảnh khách quan NTCQ phải luôn vận động vươn lên căn cứ vào hoàncảnh khách quan, vận dụng quy luật khách quan để làm chủ hoàn cảnh khách quan, biếnkhả năng vốn có thành hiện thực cho ta [77, tr 27] Chỉ như thế mới là chủ quan đúngđắn
- Thứ ba, thế giới khách quan vận động và phát triển theo quy luật vốn có của nó,
bản thân xã hội cũng vậy Vì lẽ đó, việc nâng cao năng lực chủ quan, khách quan hóa cáichủ quan đặt ra như một tất yếu Trong hoạt động của HTCT ở cơ sở nước ta hiện nay, việcnâng cao năng lực NTCQ đang là đòi hỏi bức xúc
- Thứ tư, chủ quan do khách quan quy định và biến đổi theo cái khách quan Vai
Trang 24trò của chủ quan chỉ có thể được khẳng định khi nó được khách quan hóa Điều đó còn
có nghĩa là nếu chủ quan không mang nội dung khách quan, vi phạm quy luật kháchquan, thì không những không thúc đẩy mà còn kìm hãm tiến trình phát triển của cáikhách quan Thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với phát triển kinh tế - xã hội đã chỉ rõ,nếu đường lối, chính sách đúng đắn sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội,ngược lại sẽ dẫn đến trì trệ, thậm chí dẫn tới khủng hoảng kinh tế - xã hội như thời kỳtrước năm 1986 do duy trì quá lâu cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp
Mối quan hệ biện chứng giữa khách quan và chủ quan bao giờ cũng biểu hiệntrong hoạt động và hiệu quả hoạt động của con người Tiến bộ xã hội là kết quả tác độngcủa khách quan và chủ quan Quan hệ khách quan và chủ quan tồn tại trong mỗi giaiđoạn phát triển khác nhau, biểu hiện dưới những hình thức khác nhau Đây là một mâuthuẫn biện chứng phản ánh quan hệ giữa một bên là thế giới bên ngoài với một bên làhoạt động của con người với tư cách là chủ thể nhận thức và cải tạo thế giới Sự tácđộng qua lại giữa chúng là sự đấu tranh của hai mặt đối lập mà nội dung cụ thể tùythuộc vào các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội
Tóm lại, việc phát huy vai trò NTCQ chính là phát huy tính tích cực, sáng tạo của
chủ thể, trong việc vận dụng quy luật khách quan, tác động vào ĐKKQ Phát huy vai trò
NTCQ hoàn toàn trái ngược với sự chủ quan, duy ý chí, coi thường và bất chấp quy luậthay thụ động, trông chờ vào hoàn cảnh khách quan
1.1.2 Hệ thống chính trị cấp cơ sở
1.1.2.1 Khái niệm hệ thống chính trị
* Quan điểm Mác - Lênin về chính trị
Để hiểu HTCT cần bắt đầu từ khái niệm chính trị C.Mác, Ph.Ăngghen mặc dùkhông đưa ra định nghĩa chính trị, nhưng trong những tác phẩm của mình, các ông đãtrình bày khá rõ về nguồn gốc của chính trị Theo các ông, chính trị có nguồn gốc từ sựphát triển của kinh tế và chỉ tồn tại trong điều kiện xã hội phân chia giai cấp Trong lịch
sử xã hội loài người không phải bao giờ cũng có chính trị Xã hội cộng sản nguyên thủy
Trang 25là "một xã hội chưa từng biết đến nhà nước" [67, tr 146], do đó, cũng chưa từng biếtđến chính trị C.Mác, Ph.Ăngghen cũng dự kiến rằng, trong xã hội cộng sản văn minh sẽkhông còn chính trị, "chỉ có trong một chế độ không còn giai cấp và đối kháng giai cấpnữa thì sự tiến hóa của xã hội mới không còn là những cuộc cách mạng chính trị nữa"[65, tr 258] Bằng quan điểm duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minhrằng, chính trị, chế độ chính trị là do kinh tế, chế độ kinh tế quy định C.Mác viết:
"Trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và vô sản, thì trước hết, vấn đề là ở nhữnglợi ích kinh tế" [67, tr 439] Như vậy, đằng sau những hành động chính trị là sự thúcđẩy của các "lợi ích kinh tế"; mỗi hình thức chính trị đều mang một "nội dung" về "lợiích kinh tế" Kinh tế không chỉ là nguồn gốc và cơ sở mà còn là động cơ và nội dungcủa chính trị Tuy nhiên, C.Mác, Ph.Ăngghen không bao giờ quan niệm mối quan hệkinh tế và chính trị là quan hệ một chiều Trong quan hệ đó, xét cho cùng thì kinh tế baogiờ cũng quy định đối với chính trị Và dĩ nhiên, chính trị có sự tác động to lớn, quantrọng với kinh tế Vì chính trị gắn liền với giai cấp và nhà nước cho nên trong mọi thờiđại, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng thống trị về chính trị
Kế thừa quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về chính trị, Lênin đã hoàn thiện, pháttriển các luận điểm về chính trị, đồng thời là người đầu tiên thực hiện thành công họcthuyết chính trị của C.Mác, Ph.Ăngghen trong thực tiễn Theo Lênin, bản chất của chính trị
là quan hệ giữa các giai cấp, là "biểu hiện tập trung của kinh tế", "trung tâm của nó là vấn
đề nhà nước", "là việc tổ chức chính quyền nhà nước" Trong thời kỳ mà đảng cầmquyền thì "chính trị là sự tham gia vào những công việc của nhà nước, vạch hướng đicho nhà nước, xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước" [48, tr 23;41; 43; 44]
Như vậy, theo quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và Lênin, chúng ta có thểhiểu chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, tổ chức thành các đảng phái, đấu tranh vớinhau nhằm giành chính quyền, giữ chính quyền và sử dụng chính quyền để thống trịtoàn xã hội Hạt nhân của chính trị là quyền lực nhà nước mang bản chất giai cấp [46, tr.91]
Trang 26Chính trị không thể tự thực hiện được, mà phải có cơ chế, tổ chức bộ máy thựchiện, đó là HTCT của xã hội Tuy vậy, C.Mác, Ph.Ăngghen chưa bao giờ đưa ra khái niệmHTCT với nghĩa như chúng ta quan niệm Trong lĩnh vực chính trị, C.Mác vàPh.Ăngghen có dùng thuật ngữ hệ thống vào những trường hợp như: hệ thống hànhchính quan liêu [60, tr 55], hệ thống cai trị [60, tr.28], hệ thống đẳng cấp chính trị [62,tr.119], hệ thống trật tự xã hội mới [63, tr.358-359] C.Mác và Ph.Ăngghen đã sử dụng một
số khái niệm gần với thuật ngữ HTCT như: "hệ thống cai trị", "thiết chế chính trị", "cơcấu chính quyền", "cơ cấu chính trị" Căn cứ vào văn cảnh mà Mác đã sử dụng cáckhái niệm này thì chế độ chính trị bao hàm hệ thống các quan hệ giai cấp
Một số thuật ngữ C.Mác, Ph.Ăngghen thường dùng có nghĩa gần với khái niệmHTCT như chúng ta hiểu hiện nay đó là: hình thức chính trị [59, tr.349], thiết chế chínhtrị [63, tr 360], thiết chế xã hội và chính trị [63, tr 357]; cơ cấu chính quyền [60, tr 62],
tổ chức chính trị [60, tr 116], kết cấu chính trị của xã hội [63, tr 151]; thể chế nhà nước[66, tr 500] Khái niệm chuyên chính vô sản cũng có nghĩa gần với khái niệm HTCT.Theo C.Mác, Ph.Ăngghen chuyên chính vô sản thực chất là chế độ nhà nước sau khigiai cấp vô sản giành được chính quyền, đó là cơ sở xã hội của HTCT vô sản Chuyênchính vô sản không phải là sự thống trị độc quyền của giai cấp vô sản mà là chínhquyền thực sự nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo
Cũng như C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin không đưa ra khái niệm HTCT Trongcác tác phẩm của mình, Lênin thường sử dụng khái niệm "cơ cấu chính trị", và đã đềcập đến " chính quyền Xô-viết là một cơ cấu chính trị" [51, tr 37] Ngoài chính quyềnnhà nước, Lênin cũng nhiều lần đề cập đến vai trò chính trị của quần chúng Người chỉ
ra rằng, mọi cuộc cách mạng chính trị lớn, quần chúng phải có kinh nghiệm chính trịbản thân [50, tr 97] Đồng thời, Lênin đặc biệt quan tâm đến vai trò của Đảng "cầmquyền" lãnh đạo chính trị, giữ vai trò then chốt trong chính trị của giai cấp công nhân vànhân dân lao động Lênin cũng nói nhiều đến mối quan hệ chính trị giữa ba tổ chứcđảng, chính quyền, đoàn thể trong vai trò, chức năng, nhiệm vụ và sự hoạt động chínhtrị của các tổ chức ấy [50, tr 97], [53, tr 74]
Trang 27* Quan điểm của Đảng ta về HTCT
Hồ Chí Minh lúc sinh thời cũng không đề cập trực tiếp khái niệm HTCT, nhưngtrong tác phẩm của Người chứa đựng phong phú tư tưởng về xây dựng HTCT Tư tưởngxây dựng HTCT bao gồm việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ sức đảmđương nhiệm vụ lãnh đạo nhân dân ta đi theo con đường XHCH; xây dựng một nhànước của dân, do dân và vì dân; xây dựng mặt trận, các tổ chức đoàn thể chính trị - xãhội thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Hồ Chí Minh đã từng dạy:Đảng ta là đảng cầm quyền phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trungthành của nhân dân Đảng là một bộ phận trong HTCT, Đảng không đứng trên HTCT,Đảng có sứ mệnh to lớn là lãnh đạo HTCT Nhà nước ta là nhà nước dân chủ nhân dân,nhà nước chuyên chính vô sản Muốn vậy phải xây dựng theo nguyên tắc:
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [71, tr 698]
Chính vì vậy chính quyền nhà nước phải hoạt động theo nguyên tắc:
Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm
Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh [70, tr 56-57]
Quan điểm của Đảng về xây dựng HTCT chuyên chính vô sản có từ rất sớm.Trong Chính cương sách lược vắn tắt thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng ngày 3tháng 2 năm 1930 đã thể hiện điều đó Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (năm 1931) đã đề
ra nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ, sau khi đánh đuổi đế quốc thực dân, đánh đổchế độ phong kiến sẽ xây dựng nhà nước theo chế độ dân chủ công nông Từ sau Cáchmạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng ta trởthành đảng cầm quyền, quan điểm về xây dựng, hoàn thiện HTCT của Đảng thể hiệntrên cả phương diện lý luận và thực tiễn Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dânPháp và đế quốc Mỹ, và sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc, Đảng ta đã đúc kết
Trang 28nhiều kinh nghiệm về xây dựng, hoàn thiện HTCT của nước ta - HTCT xã hội chủnghĩa Bước vào thời kỳ đổi mới, gắn liền với tư tưởng đổi mới toàn diện, việc đổi mới tưduy, lý luận của Đảng về HTCT có những bước phát triển mới Đại hội VI đã đề ra chủtrương đổi mới tư duy, gắn đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị; xây dựng HTCT trên
cơ sở có phân định rõ chức năng giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể nhân dân vàthực hiện theo nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ TrongHội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần 6 (khóa VI) tháng 3 năm 1989, Đảng ta
đã chính thức sử dụng khái niệm HTCT, đây là thể hiện tầm tư duy mới của Đảng Quanđiểm chỉ đạo quá trình đổi mới HTCT được nêu lên trong Hội nghị này là: đổi mới tổchức và phương pháp hoạt động của HTCT là nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo củaĐảng, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhândân
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6-1991), Cương lĩnh xây dựng đấtnước trong thời kỳ quá độ lên CNXH được thông qua Trong Cương lĩnh đã có một phầnbàn về HTCT, trong đó nhấn mạnh: "Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trịnước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hộichủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân" [30, tr 19] Để hoàn thiện HTCT, Cươnglĩnh xác định rõ vai trò, chức năng và đề ra những yêu cầu đổi mới bộ máy và phương thứchoạt động của nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân Đồng thời, Cương lĩnh cũngxác định cụ thể về vai trò lãnh đạo của Đảng trong HTCT "Đảng lãnh đạo hệ thống chínhtrị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sựgiám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật" [30, tr 20-21] Những quan điểm về xây dựng HTCT, hoàn thiện HTCT được nêu trong Cươnglĩnh, được thể chế hóa vào Hiến pháp năm 1992 Đại hội VIII và IX của Đảng và nhiềuHội nghị Trung ương đã nêu hàng loạt quan điểm lý luận cơ bản, toàn diện về xây dựng
và hoàn thiện HTCT XHCN ở nước ta, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạngtrong giai đoạn mới
Trang 29* Quan niệm về HTCT
Các nhà nghiên cứu hiện nay nhìn chung đều có quan niệm HTCT là hệ thốngcác tổ chức chính trị như đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hộikhác HTCT là hiện tượng xã hội lịch sử chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế - xãhội nhất định, đó là xã hội có sự phân chia giai cấp, với sự tồn tại giai cấp HTCT gắnliền với chính trị, cho nên HTCT là hệ thống tổ chức và thực hiện quyền lực chính trịcủa một giai cấp thống trị này hay một giai cấp thống trị khác đối với xã hội Có một sốquan điểm cho rằng, HTCT bao gồm không chỉ các tổ chức, thiết chế mà còn cả cácquan điểm, tư tưởng, truyền thống chính trị như "các chuẩn mực, truyền thống và chếđịnh chính trị" [18, tr 9] Theo chúng tôi, quan niệm về HTCT như vậy lẫn sang cảthượng tầng chính trị nói chung Cho đến nay, hầu hết các nhà nghiên cứu đều quanniệm HTCT là tập hợp các tổ chức chính trị tạo thành một hệ thống, "là tổ hợp có tínhchỉnh thể các thể chế chính trị" [45, tr 262], tuy nhiên cũng có ít nhất hai quan niệmkhác nhau về HTCT [13, tr 46-47]:
Quan niệm thứ nhất trên cơ sở xem HTCT chỉ bao gồm những tổ chức chính trị
-xã hội mang bản chất của giai cấp cầm quyền, hoặc là phục vụ cho quyền lực chính trịcủa giai cấp đó, thì HTCT là cách gọi khác của phạm trù "hệ thống chuyên chính củagiai cấp cầm quyền" Hay nói một cách khác, đây là những phạm trù đồng nhất - xét cả
về ngoại diên lẫn nội hàm của chúng Điều đó có nghĩa rằng, HTCT tư bản chủ nghĩa là
hệ thống chuyên chính tư sản, HTCT XHCN là hệ thống chuyên chính vô sản
- Quan niệm thứ hai xem HTCT là một phạm trù có ngoại diên rộng hơn so vớiphạm trù hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền Trong HTCT ngoài hệ thốngchuyên chính của giai cấp cầm quyền với tư cách là bộ phận cơ bản, quan trọng nhất,quy định bản chất và chức năng cơ bản của toàn hệ thống, còn có các tổ chức, các thiếtchế chính trị hợp pháp khác Phù hợp với quan điểm này, hệ thống chính trị được hiểu làmột phạm trù dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm nhà nước, các đảng chính trị hợppháp, các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp, nhưng ưu thế cơ bản và vai trò chủ đạo
Trang 30thuộc về các thiết chế của giai cấp cầm quyền để tác động vào các quá trình kinh tế - xãhội nhằm củng cố, duy trì và phát triển chế độ xã hội đương thời [13, tr 47].
Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai về HTCT, bởi vì qua đó có thể xác địnhcác yếu tố thực thể cơ bản cấu thành HTCT và chức năng tổng quát của hệ thống đó Trên
quan điểm này, chúng ta có thể hiểu: HTCT là hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính trị - xã hội, bao gồm nhà nước, các đảng chính trị hợp pháp, các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp, cùng mối quan hệ giữa chúng với nhau, hợp thành cơ chế chính trị nhằm bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị đối với toàn xã hội Phân
biệt HTCT với thể chế chính trị ở chỗ, thể chế chính trị là hệ thống các chế định, các giá trịtạo thành nguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của một chế độ chính trị, là hìnhthức thể hiện các thành tố của HTCT thuộc thượng tầng kiến trúc [83, tr 19]
Hệ thống chính trị ở nước ta có thể xét trên các mặt chủ yếu sau là:
- Hệ thống các tổ chức bộ máy và thiết chế bao gồm các hệ thống tổ chức Đảng,chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội hợp pháp
- Hệ thống các mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành trong HTCT bao gồmcác quan hệ dọc, ngang như quan hệ theo lãnh thổ, theo ngành Đây chính là tính hệthống, tính chỉnh thể trong quan hệ giữa các bộ phận cấu thành HTCT [87, tr 16]
- Hệ thống các cấp độ bao gồm trung ương, tỉnh, huyện, cơ sở Tuy nhiên, cầnhiểu rằng các cấp trong HTCT nằm trong thống nhất chỉnh thể của cả HTCT chứ khôngphải là HTCT từng cấp riêng biệt
- HTCT là cơ chế chính trị nhằm bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị của giai
cấp thống trị đối với toàn xã hội
Như vậy, khi xét về hoạt động thì HTCT biểu hiện ở hệ thống các mối quan hệtheo mục đích, chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt động Các mối quan hệ nàyvừa diễn ra theo chiều dọc (hệ thống tổ chức của từng thiết chế), vừa theo chiều ngang(tác động và ảnh hưởng qua lại giữa các thiết chế khác nhau) Với tư cách là một hệ
Trang 31thống chỉnh thể, như một cơ thể sống, tổ chức và hoạt động của từng bộ phận cấu thànhHTCT (Đảng - chính quyền - đoàn thể) được định hình và biểu hiện bởi những quan hệ,liên hệ nội tại của bản thân nó với các bộ phận, thực thể khác theo chiều dọc và theo chiềungang
Trong xã hội có giai cấp, nhà nước là bộ phận cơ bản nhất cấu thành HTCT Bởi
vì, chính nó là thiết chế quan trọng bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền Điều đó giảithích vì sao Mác và Ăngghen đã khẳng định rằng, giai cấp công nhân và nhân dân laođộng muốn giải phóng mình, trước hết họ phải lật đổ nhà tư sản, phải tự trở thành chủthể của Nhà nước Chỉ sau đó, giai cấp công nhân mới có công cụ chính trị hữu hiệu đểphát triển kinh tế và các mặt khác của đời sống xã hội nhằm giải phóng mình và nhân dânlao động nói chung
Trong thời đại ngày nay, vai trò của đảng chính trị, đặc biệt là đảng cầm quyềntrong HTCT có vị trí hết sức quan trọng Nó là thiết chế tổ chức, quy tụ những đại diệntiêu biểu nhất của giai cấp để thực hiện lợi ích của giai cấp đó Đảng chính trị là hìnhthức cao nhất của tổ chức giai cấp Đảng chính trị đại diện cho một hệ tư tưởng nhấtđịnh Chính hệ tư tưởng đó quy định những nguyên tắc chủ đạo của chiến lược, quyđịnh xây dựng mặt tổ chức và hoạt động thực tiễn của đảng chính trị
Đảng chính trị cầm quyền là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội để thực hiệnlợi ích cơ bản của giai cấp mà đảng đó là người đại diện Dưới các hình thức khác nhau,các nhà nước trong xã hội hiện đại đều đóng vai trò là thiết chế tổ chức để thực hiệnquan điểm chính trị của đảng cầm quyền Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Namvới Nhà nước được Đảng ta khẳng định là một nguyên tắc hoạt động cơ bản, bất di bấtdịch của Đảng và của cả HTCT, là trụ cột của cơ chế vận hành của cả HTCT [96, tr 20]
Ngoài đảng cầm quyền, trong HTCT còn bao gồm các đảng chính trị, các tổchức chính trị - xã hội khác Đó là những tổ chức của các cộng đồng người trong cơ cấu
xã hội theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, thống nhất trong hoạt động ở mức độ nhấtđịnh Các tổ chức ấy lấy hoạt động chính trị làm phương thức chủ yếu để quy tụ các
Trang 32thành viên nhằm gây ảnh hưởng với mức độ khác nhau đối với quyền lực chính trị đểthực hiện lợi ích của các thành viên trong tổ chức của mình.
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội, có HTCT tương ứng mang những nét đặc trưngcủa nó HTCT XHCN là một chỉnh thể bao gồm Nhà nước chuyên chính vô sản, ĐảngCộng sản cùng các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp và mối quan hệ qua lại giữa cácyếu tố đó nhằm bảo đảm quyền lực của nhân dân Xét về bản chất HTCT XHCN chính là
hệ thống chuyên chính vô sản; nhưng xét về tính chỉnh thể các yếu tố cấu thành, thì hệthống chuyên chính vô sản là một bộ phận quan trọng nhất của HTCT XHCN
* HTCT ở nước ta hiện nay
HTCT ở nước ta hiện nay chủ yếu hình thành từ khi nước Việt Nam dân chủcộng hòa ra đời (năm 1945), đã trải qua giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ (từ 1945đến 1975), đến nay, đang trong giai đoạn quá độ lên CNXH Vì vậy, có thể nói rằngHTCT ở nước ta hiện nay là HTCT trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tuynhiên, như Đảng ta xác định, thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta bao gồm nhiều chặngđường khác nhau, chúng ta đã trải qua "chặng đường đầu tiên" và hiện nay đang thựchiện nhiệm vụ "đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" Do đó, HTCT cấp
cơ sở hiện nay mà luận án tập trung xem xét là HTCT cấp cơ sở trong giai đoạn thựchiện CNH, HĐH đất nước Việc nghiên cứu HTCT cấp cơ sở chủ yếu căn cứ vào tổngkết thực hiện nhiệm vụ mà nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra, do đóphạm vi khảo sát tập trung vào giai đoạn từ năm 2001 đến nay Từ việc xác định vềHTCT cấp cơ sở hiện nay như trên, có thể thấy một số đặc điểm về kinh tế - xã hội chủyếu tác động đến đối tượng nghiên cứu như sau:
Về kinh tế: Nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng hiện nay là nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý nhà nước, theođịnh hướng XHCN; đó chính là kinh tế thị trường định hướng XHCN [35, tr.86] Đườnglối chung được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định là đẩy mạnh CNH, HĐH,thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nền
Trang 33kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ tồn tại các hình thức sở hữu đa dạng, đan xen với 6thành phần kinh tế khác nhau: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ;kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Về kết cấu xã hội: nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần tồn tại nhiều hình thức
sở hữu, vì vậy, cũng tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội Tuy nhiên
về cơ bản, cơ cấu xã hội nước ta hiện nay vẫn chủ yếu là giai cấp công nhân, nông dân
và tầng lớp trí thức "Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợptác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng" [35, tr 85]
Về chính trị: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, là lực lượng duy nhất
thực hiện chức năng lãnh đạo đối với HTCT, cũng như đối với toàn xã hội; Nhà nước ta
là Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng;Mặt trận Tổ quốc là liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân và cá nhân có vai tròtập hợp, đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thắt chặt mối quan hệ giữaĐảng, Nhà nước với nhân dân Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện quá trìnhdân chủ hóa đời sống xã hội, đột phá vào dân chủ ở cơ sở
HTCT ở nước ta hiện nay thực chất là HTCT trong thời kỳ quá độ lên CNXH, doĐảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Vì vậy, HTCT mang bản chất của HTCT XHCN, đó làHTCT nhằm thực hiện chế độ dân chủ cho nhân dân Sự tồn tại, củng cố và nâng caochất lượng HTCT, sẽ không có mục đích tự thân mà hướng tới phát huy quyền làm chủcủa nhân dân Quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là người làm chủ xãhội trong xã hội mới Do đó, dân (nhân dân lao động, nòng cốt là khối liên minh giữagiai cấp công nhân, nông dân và trí thức) tất yếu phải là chủ thể xã hội của HTCT [12,
tr 15] Các tổ chức trong HTCT, bao gồm Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể chính trị
- xã hội phải thực sự là của dân, do dân và vì dân Do đó, khi nghiên cứu HTCT ở nước
ta cần xem xét cấu trúc và hoạt động của nó cùng với những mối quan hệ, tác động qua
Trang 34lại của các bộ phận hợp thành nhằm đảm bảo thực hiện quyền làm chủ của nhân dân laođộng
HTCT các nước XHCN nói chung và HTCT ở nước ta hiện nay có đặc điểm nổibật là do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là đảng duy nhất, cũng là đảng cầm quyền Việcnghiên cứu đặc trưng của HTCT giai đoạn quá độ lên CNXH ở nước ta đã được nhiềunhà nghiên cứu quan tâm Đề tài KX.05.04 nằm trong chương trình KX.05 đã đưa ranhững đặc trưng cơ bản của HTCT Việt Nam giai đoạn quá độ lên CNXH Kết quảnghiên cứu của đề tài đã dẫn đến một số kết luận đặc trưng chủ yếu của HTCT ở nước tagiai đoạn hiện nay, đó là:
- Tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc Tính nhân dân là đặc trưng bảnchất của HTCT kiểu mới của nước ta Đó là HTCT của nhân dân lao động do ĐảngCộng sản Việt Nam lãnh đạo [43, tr 13]
- Sự nổi trội tính dân tộc là đặc thù của quan hệ giai cấp - dân tộc trong lịch sửdân tộc Việt Nam Sự nổi trội của tính dân tộc được thể hiện trong mục đích hoạt động,nhiệm vụ, chức năng của HTCT giai đoạn quá độ lên CNXH [43, tr 20]
- HTCT ở nước ta hiện nay là sự phát triển kế tục một cách tất yếu, trực tiếp, tựnhiên và hợp lôgíc của HTCT dân chủ nhân dân Đó là HTCT quá độ từ HTCT dân chủnhân dân sang HTCT XHCN [43, tr 37] HTCT ở nước ta phải thực hiện từng bước nềndân chủ XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trong khi vẫn phải thực hiệnquá trình dân chủ hóa
Tóm lại, khi nghiên cứu về HTCT ở nước ta cần phải quán triệt một số vấn đề cơ
bản sau đây:
- HTCT là hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính trị - xã hội, bao gồm nhànước, các đảng chính trị hợp pháp, các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp Không phảimọi tổ chức hình thành trong đời sống xã hội đều tham gia vào HTCT Những tổ chứcđược thành lập ra nhằm thỏa mãn nhu cầu về giao tiếp xã hội, chẳng hạn như những tổchức hoạt động yêu nước, tiến bộ của các tôn giáo, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp thì
Trang 35không tham gia vào HTCT Tuy không tham gia vào HTCT nhưng những tổ chức nàylại có tác dụng rất lớn để tạo ra sự đồng thuận xã hội, hòa giải các mâu thuẫn trong cộngđồng dân cư.
- HTCT là một chỉnh thể bao gồm các mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau củacác bộ phận hợp thành HTCT ở nước ta vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nướcquản lý, nhân dân làm chủ
- HTCT bao gồm các cấp độ, mỗi cấp độ có chức năng, nhiệm vụ của nó, nhưngđều nằm trong hệ thống chỉnh thể từ Trung ương đến cơ sở
- Hệ thống chính trị ở nước ta không có mục đích tự thân, mà là HTCT của dân,
do dân và vì dân
- HTCT ở nước ta là HTCT quá độ lên CNXH, do Đảng Cộng sản Việt Nam làđảng duy nhất lãnh đạo, vừa mang bản chất của HTCT XHCN, vừa có những nét đặcthù do những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của thời kỳ quá độ quy định Do đó, đổimới HTCT cần phải phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạngXHCN, nhằm phát huy mọi tiềm năng to lớn của xã hội, phát huy quyền dân chủ củanhân dân
Trang 36chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đồng thời là môi trường xã hội giúp chocán bộ, đảng viên rèn luyện, thử thách trưởng thành
HTCT cấp cơ sở là một cấp trong HTCT chỉnh thể từ Trung ương đến cơ sở,mang đầy đủ những đặc điểm chung Song, khi nói đến HTCT cấp cơ sở là nói đến "hệthống tổ chức, bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức đảng, chínhquyền, mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội của quần chúng ở cơ sở bao gồm xã,phường, thị trấn" [11, tr 4] HTCT cơ sở có những nét đặc thù của cấp thấp nhất trongHTCT đang vận hành ở nước ta
Từ các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, có thể khái quát một số đặc điểm
về vị trí, vai trò của HTCT cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) như sau:
- Cơ sở với tính cách là một cấp thấp nhất trong hệ thống quản lý hành chínhnhà nước ở nước ta; ở đó có hệ thống chính trị, tức HTCT cấp cơ sở Hay nói cách khác,
đó là cấp độ cơ sở của HTCT Cơ sở là nơi dân sinh sống, HTCT cấp cơ sở là cấp sátvới dân Hoạt động của HTCT cấp cơ sở trực tiếp tác động đến đời sống hàng ngày củangười dân, trực tiếp phát huy quyền làm chủ của nhân dân Cơ sở là nền tảng của chế
độ, nền móng của tòa nhà, cơ sở yếu, rệu rã là khởi đầu những suy yếu, làm ảnh hưởngtrực tiếp sự vững mạnh của chế độ Vì vậy, phải chăm lo sự bền vững của cơ sở, từ cơ sở,làm cho HTCT ở cơ sở phải thực sự là của dân, do dân và vì dân Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã dạy: "Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việcthì mọi công việc đều xong xuôi" [71, tr 371-372]
- Đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở là những người sống và làm việc hàng ngàyvới dân, có điều kiện gần gũi tiếp xúc với dân, hiểu tâm tư nguyện vọng của dân Do đó,đội ngũ cán bộ cơ sở vừa là người đem chủ trương đến với dân, hướng dẫn nhân dân,động viên dân; đồng thời cũng là người có thể nắm bắt tâm tư nguyện vọng của dân phảnánh cho đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ cơ sở phần lớnxuất thân trực tiếp từ các thôn, ấp, nên có quan hệ họ hàng, thân thích với nhiều ngườitrong thôn, ấp Vì vậy, trong giao tiếp hàng ngày, cũng như trong giải quyết công việc
Trang 37với dân, đội ngũ cán bộ cơ sở thường bị tác động trực tiếp từ các mối quan hệ này Độingũ cán bộ cơ sở cũng chịu ảnh hưởng của "văn hóa làng" Những tác phong nông dâncòn in đậm trong đội ngũ cán bộ cơ sở nhất là ở các vùng nông thôn
- HTCT cấp cơ sở không phải là cấp hoạch định mà là cấp chấp hành, cấp trựctiếp tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nơihiện thực hóa sinh động nghị quyết của Đảng vào cuộc sống
Ở cơ sở nảy sinh từ thực tế biết bao kinh nghiệm có thể tổng kết để khái quát thành lýluận, để điều chỉnh, bổ sung và đổi mới đường lối, chính sách Thước đo hiệu quả vàtính đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết được thể hiện ở cơ sở làkhông ngừng nâng cao dân sinh, dân trí, thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhândân, tổ chức ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của nhân dân.Chính thông qua hoạt động thực tiễn, các tổ chức và đội ngũ cán bộ cơ sở có thể tổngkết thành những bài học kinh nghiệm, góp phần bổ sung cho đường lối chủ trương, củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
- HTCT cấp cơ sở mang tính đặc thù là kết hợp chặt chẽ giữa quản lý nhà nước
và tự quản Ở nông thôn nước ta, xã như một tập hợp mở rộng của các thôn (làng, ấp,bản) Nếu xã với đặc trưng quản lý nhà nước thì thôn (làng, ấp, bản) đặc trưng là tựquản của cộng đồng dân cư Do đó, nâng cao hiệu quả hoạt động của HTCT cấp cơ sởđòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa quản lý nhà nước với tự quản của thôn (làng, ấp,bản) Quản lý và tự quản không đối lập nhau, loại trừ nhau, không chia cắt nhau mà dựavào nhau, hỗ trợ, thúc đẩy, chi phối lẫn nhau Quản lý chặt chẽ, nghiêm minh, có hiệulực sẽ tạo ra môi trường, điều kiện để thúc đẩy tự quản Tự quản hỗ trợ mạnh mẽ choquản lý, làm giảm bớt gánh nặng và sự quá tải của quản lý [12, tr 200]
Nước ta là nước nông nghiệp, vì vậy, cơ sở xã hội ở nước ta trước hết và chủ yếu
là cơ sở nông thôn Hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nước ta trước hết và chủ yếu là hệthống chính trị cấp xã" [12, tr 33] Cấp xã là cấp "điển hình, bao trùm và phổ biến trong
sự hình dung về cấp cơ sở, về đời sống kinh tế - xã hội và văn hóa cũng như về hệ thống
Trang 38chính trị ở cơ sở hiện nay" [89, tr 131] Điều này thể hiện trong thực tế, cả nước có8.947 xã, 565 thị trấn, riêng phường chỉ có 1.026 [89, tr 129] Như vậy, xã, thị trấnchiếm trên 90,26%, phường chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp (9,14%) Không ít phường ở cácthành phố (cả Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) mới được thành lập trong quá trình
đô thị hóa những năm gần đây, do đó còn mang đậm dáng dấp của xã
Từ cách hiểu về HTCT nói chung và đặc điểm của HTCT cấp cơ sở, chúng ta có thể
đi sâu tìm hiểu hai vấn đề cơ bản là cấu trúc và hoạt động của nó:
- Cấu trúc HTCT cấp cơ sở bao gồm các tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ), chính
quyền, gồm Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND), Mặt trận Tổquốc (MTTQ) và đoàn thể chính trị - xã hội HTCT ở nước ta là HTCT "của dân, do dân
và vì dân", dân là nền tảng của HTCT, tất cả các tổ chức của HTCT do dân ủy quyền, do
đó dân là chủ thể đích thực HTCT cấp cơ sở như một chỉnh thể các tổ chức thiết chếgắn liền với hệ thống các quan hệ, các lớp quan hệ giữa tổ chức và con người Vì vậy, các
tổ chức của HTCT cấp cơ sở không chỉ có mối quan hệ với nhau mà còn có mối quan hệgiữa nó với các bộ phận thực thể khác theo chiều dọc và chiều ngang, trong đó có các mốiquan hệ, tác động qua lại với các cấp của HTCT chung và quan hệ chặt chẽ với tổ chứcđảng, đoàn thể và cộng đồng tự quản ở thôn (khu phố) và các tầng lớp dân cư
- Khi nói đến hoạt động thì HTCT cấp cơ sở được biểu hiện là hoạt động của từng tổ chức và cá nhân trong HTCT trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ được quy định Hoạt động của HTCT cấp cơ sở có nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất
là phương thức và nội dung hoạt động Trong HTCT cấp cơ sở thì phương thức hoạtđộng là cách thức tác động, còn nội dung là những hoạt động cụ thể của các chủ thểnhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ chính trị của HTCT cấp cơ sở trong từng giaiđoạn Phương thức và nội dung hoạt động của HTCT cấp cơ sở có quan hệ hữu cơ vớinhau nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đặt ra cho HTCT cấp cơ sở Do đó, cóthể nói rằng, hoạt động của HTCT cấp cơ sở là hoạt động của các tổ chức (Đảng, chínhquyền, đoàn thể ở cơ sở) trên hai phương diện là nội dung và phương thức thực hiện
Trang 39chức năng nhiệm vụ của các tổ chức đó trong tác động qua lại theo cơ chế: Đảng lãnhđạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ
Do đó, khi nghiên cứu HTCT ở cơ sở, chúng ta không thể tách rời cấu trúc vớihoạt động một cách riêng rẽ mà phải đặt trong quan hệ thống nhất Bởi vì, mọi hoạtđộng luôn gắn liền với tổ chức cụ thể, không có hoạt động trừu tượng Hoạt động củaHTCT cấp cơ sở là hoạt động của các tổ chức đảng, chính quyền, MTTQ và đoàn thể,cùng với đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở (xã, phường, thị trấn), nhằm thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ theo quy định
* Tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn
Điều 21, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội IX thông qua quy định: ở
xã, phường, thị trấn, cơ quan, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị cơ sở trong quân đội,công an và các đơn vị cơ sở khác có từ 3 đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức cơ sở
đảng [36, tr 31] TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn là hạt nhân chính trị ở cơ sở; là tổ chức
trực tiếp lãnh đạo, biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước thànhhành động cách mạng của đảng viên và quần chúng; là nơi để bổ sung, hình thành nênđường lối, chính sách của Đảng trong quá trình vận động của xã hội Trong HTCT ở xã,phường, trị trấn, "tổ chức cơ sở đảng (chi bộ, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, làhạt nhân chính trị ở cơ sở" [36, tr 31], trực tiếp lãnh đạo HTCT ở cơ sở Nhiệm vụ lãnhđạo chính trị của các TCCSĐ chủ yếu là: Quán triệt đường lối, chính sách của Đảng vàcăn cứ vào tình hình đơn vị, đề ra chủ trương, nhiệm vụ của đảng bộ, kiểm tra việc thựchiện, bảo đảm cho nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước được chấp hànhnghiêm chỉnh Các chức năng, nhiệm vụ cụ thể của TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn đượcquy định tại Quy định 94-QĐ/TW và 95-QĐ/TW ngày 3/3/2004 của Ban Chấp hànhTrung ương (khóa IX) Có sự khác nhau trong chức năng lãnh đạo của đảng bộ phườngvới đảng bộ xã Đảng bộ phường, thị trấn chủ yếu "lãnh đạo thực hiện chức năng quản lýhành chính nhà nước và quản lý đô thị trên địa bàn", "nhằm tạo môi trường thuận lợi đểkhuyến khích các thành phần kinh tế và hộ gia đình phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch
Trang 40vụ đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước " [38]; còn đảng bộ xã lãnh đạo toàn diện
"phát triển kinh tế - xã hội" [39] Các TCCSĐ thực hiện lãnh đạo bằng việc đề ra chủtrương, nghị quyết; thông qua tổ chức và cán bộ; bằng việc kiểm tra, giám sát Phươngthức lãnh đạo của TCCSĐ thực hiện theo phương thức tuyên truyền, giáo dục, thuyếtphục và đề cao tính kỷ luật tự giác
* Chính quyền ở cơ sở
Chính quyền cơ sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong phạm vi địa giớihành chính Về mặt pháp lý và thực tiễn, có thể coi chính quyền cơ sở là trụ cột củaHTCT cơ sở Chính quyền cơ sở (xã, phường, thị trấn) là người đại diện cho ý chí,nguyện vọng, quyền và lợi ích của nhân dân trong xã; thực hiện các chức năng quản lýnhà nước ở địa phương, trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật, dưới sự lãnh đạo của TCCSĐ.Chính quyền cấp xã, bao gồm HĐND và UBND có chức năng, nhiệm vụ được quy địnhtrong Luật Tổ chức HĐND và UBND được Quốc hội khóa XI thông qua ngày26/11/2003 [86]
Hội đồng nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân ở
địa phương bầu ra HĐND cấp xã vừa là bộ phận cấu thành, không thể tách rời vớiquyền lực nhà nước thống nhất, với quyền làm chủ của nhân dân, vừa đại diện cho ýchí, nguyện vọng của nhân dân địa phương Vì vậy, trong tổ chức và hoạt động của mình,HĐND phải thể hiện đầy đủ hai tính chất là tính đại diện và tính quyền lực Xuất phát từ
vị trí, tính chất của HĐND cấp xã, nhiệm vụ quyền hạn của HĐND cấp xã có hai nhómlớn:
- Quyết định những chủ trương và biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năngcủa địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốcphòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địaphương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước
- Giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địaphương