Dưới đây là một số nghiên cứu vềrừng ngập mặn trên thế giới: Các hệ sinh thái RNM có vai trò quan trọng trong việc duy trì đa dạng sinh học,sinh kế bền vững và bảo vệ bờ biển [25].. Nhận
Trang 1Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng không chỉ có vai trò về mặt kinh tế, sinh thái mà rừng còn là ngôi nhàchung của nhiều loài động, thực vật Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều người sốngphụ thuộc vào rừng Tại Việt Nam có đến 54 dân tộc thuộc hơn 1200 xã vùng cao cócuộc sống gắn liền với rừng Tuy nhiên trong thực tế những năm trước đây, diện tíchrừng bị suy giảm vô cùng nghiêm trọng
Trong những năm qua, ngành lâm nghiệp đã thành công trong công tác phục hồirừng, mặc dù chất lượng rừng vẫn còn nhiều hạn chế, đồng thời nguồn giống cây bảnđịa cho năng suất và chất lượng cao còn nghèo nàn Những nỗ lực thuần hóa các loàicây rừng hiện nay mới chỉ tập trung vào các loài cây nhập nội sinh trưởng nhanh, trongkhi các loài cây bản địa và cây lâm sản ngoài gỗ chưa được chú trọng Việc phát triểnmột chiến lược thuần hóa giống cây rừng sẽ giúp đẩy mạnh công tác thuần hóa các loàicây bản địa ưu tiên, cải thiện sinh kế cho người trồng rừng và bảo tồn nguồn gen thựcvật quý và giá trị kinh tế cao, đồng thời góp phần bổ sung vai trò của cây bản địa trongcông tác trồng rừng ở Việt Nam Có thể nói việc tìm ra loại cây đáp ứng nhu cầu kinh
tế mà vẫn hoàn thành nhiệm vụ phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nhanh chóng kiến thiếtlại diện tích rừng là vấn đề khó khăn
Rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái đa dạng có nhiều tài nguyên quý giá
và có vai trò quan trọng, đóng góp cho đời sống con người, đặc biệt là cư dân vùngcửa sông ven biển Tuy nhiên do phương thức quản lý và sử dụng chưa thật hiệu quả,RNM hiện nay đang chịu nhiều sức ép, đang bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng.Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có những cố gắng đáng khích lệ trongcông tác quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cũng như RNM Mục tiêu cuối cùngcủa công tác này là bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên, đồng thời đáp ứng đượcnguyện vọng và nhu cầu của con người hướng tới phát triển bền vững
RNM Rú Chá thuộc thôn Thuận Hòa, xã Hương Phong là một hệ sinh thái đặcthù, nhạy cảm, có tính đa dạng sinh học cao Tuy nhiên trong những năm gần đâydiện tích ngày càng bị thu hẹp do việc mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản, việckhai thác gỗ củi cũng như ý thức của con người trong quản lý và sử dụng nguồn tàinguyên này Xong do thiếu những cơ chế thích hợp nên hiệu quả chưa cao do chưacoi trọng đúng mức vai trò của người dân địa phương tham gia trong công tác bảo vệrừng Những kinh nghiệm thực tiễn trong công tác bảo vệ và phát triển nguồn tàinguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên rừng nói riêng ở nước ta cho thấy, nếubiết tổ chức và phát huy tốt vai trò của cộng đồng trong công tác bảo vệ rừng sẽ có
Trang 2hiệu quả rất tốt Do vậy dựa vào cộng đồng sẽ là một hướng đi đúng góp phần bảo vệ
và phát triển RNM tại địa phương
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất phát triển và kinh doanh rừng trồng tại tỉnh Thừa Thiên Huế”
Trang 3Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan về rừng ngập mặn trên thế giới
2.1.1 Hiện trạng rừng ngập mặn trên Thế giới
Rừng ngập mặn trên thế giới phân bố trên 2 khu vực chính là Ấn Độ - Thái BìnhDương và khu vực Tây Phi - Châu Mỹ Rừng ngập mặn chủ yếu phân bố ở vùng xíchđạo và vùng nhiệt đới ở cả hai bán cầu Trên thế giới có tổng số 124 quốc gia và vùnglãnh thổ được xác định có thực vật ngập mặn thực thụ phân bố Hầu hết RNM phân bố
tự nhiên ở Châu Á, tiếp theo đó là Châu Phi, rồi đến Bắc và Trung Mỹ Trong tổng sốdiện tích RNM trên thế giới có tới 41,4% diện tích RNM phân bố tự nhiên ở Nam vàĐông Nam Á [23]
Theo nghiên cứu của FAO (2006) đã chỉ ra sự suy giảm của rừng ngập mặn trênthế giới, tổng diện tích RNM trên thế giới đã giảm từ 18,8 triệu ha năm 1980 xuốngcòn 15,2 triệu ha năm 2005 Tuy nhiên, có sự chậm lại trong tỷ lệ mất RNM: từkhoảng 187.000 ha bị phá hủy hàng năm trong thập niên 1980 thì giai đoạn 2000 -
2005 chỉ còn 102.000 ha mỗi năm, điều này phản ánh sự nâng cao nhận thức về giá trịcủa hệ sinh thái RNM Tổng diện tích rừng ngập mặn trên toàn thế giới tính đến năm
2005, đã giảm xuống còn 15,2 triệu ha [24] Các hoạt động của con người từ cuối thể
kỷ thứ XIX đã làm giảm đáng kể diện tích RNM toàn cầu Sự suy giảm này đã đe dọanghiêm trọng đến sự bền vững của hệ sinh thái RNM trên toàn thế giới và tác độngtiêu cực đến dân số loài người
2.1.2 Tình hình nghiên cứu rừng ngập mặn trên thế giới
Các nghiên cứu về rừng ngập mặn tập trung vào ba lĩnh vực chính: (1) Sự hìnhthành, đặc điểm cấu trúc và sinh thái RNM; (2) Giá trị kinh tế và sử dụng RNM; và (3)Vấn đề xã hội và chính sách cho quản lý RNM Dưới đây là một số nghiên cứu vềrừng ngập mặn trên thế giới:
Các hệ sinh thái RNM có vai trò quan trọng trong việc duy trì đa dạng sinh học,sinh kế bền vững và bảo vệ bờ biển [25] Nhiều thế kỷ qua, hệ sinh thái RNM đãcung cấp nhiều hàng hóa và dịch vụ ở cấp cộng đồng cũng như ở cấp quốc gia vàquốc tế [26] Rất nhiều dịch vụ trong số đó ngày nay vẫn còn nguyên giá trị, bao gồmnhiên liệu (gỗ, củi, than); vật liệu xây dựng (ván lợp nhà, gỗ xây dựng, dầm, cột);nghề cá (cột, phao nổi); nông nghiệp (cỏ khô, vôi); sản xuất giấy; thuốc và đồ uống(dấm, rượu, thuốc); đồ gia dụng (đồ gỗ, keo); dệt may và sản phẩm da (thuốc nhuộm,tanin); thức ăn gia súc; và các thực phẩm chủ yếu là cá, giáp xác, động vật thân mềm
và mật ong [23], [26] Ngoài ra, RNM còn đóng vai trò như một vùng đệm bảo vệ
Trang 4vùng duyên hải khỏi tác hại của bão và nước biển dâng, giảm xói mòn bờ bằng cách
ổn định các chất trầm tích, kiểm soát ô nhiễm bằng cách loại bỏ các chất dinh dưỡng,chất rắn lơ lửng, kim loại nặng và các hydrocarbon độc hại (Davis, 1940, Saenger vàctv, 1983; Hamilton và Snedaker, 1984; Phillips, 1994), giữ đất (Thom, 1967), bảo
vệ bờ biển khỏi tác động của sóng thần (Mazda và ctv, 2005, Kathiresan vàRajendran, 2005, Harada và ctv, 2006)
Hệ sinh thái RNM được coi là hệ sinh thái có năng suất sinh học rất cao, đặc biệt
là nguồn lợi thủy sản Người ta ước tính trên mỗi hecta RNM năng suất hàng năm là91kg thủy sản (Snedaker, 1973)
Riêng đối với các loài tôm, cá, cua… sống trong RNM, hàng năm thu hoạchkhoảng 750.000 tấn Trong năm 1978, Indonesia đánh bắt được 550.000 tấn cá trựctiếp có quan hệ với RNM cửa sông (Salm, 1981)
Những nghiên cứu mới đây ở Indonesia cũng cho thấy mối quan hệ mật thiếtgiữa những vùng cửa sông có RNM và sản lượng đánh bắt tôm thẻ xuất khẩu ở venbiển Người ta tính bình quân trên mỗi hecta đầm lầy RNM cho năng suất hàng năm là160kg tôm xuất khẩu (Chan, 1986)
Nếu tính cả các loài hải sản đánh bắt được ở các vùng ven biển, cửa sông cóRNM hoặc liên quan với RNM thì sản lượng lên tới 925.000 tấn, tức là tương đươngvới 1% tổng sản lượng thủy sản đánh bắt được trên toàn thế giới
Theo Ronnback (1999), mỗi năm, 1ha RNM có thể tạo ra 13 - 756kg tôm thuộc
họ Tôm he có giá trị 91 - 5.292 đô la Mỹ (USD), 13 - 64kg cua bể với số tiền tươngứng là 39 - 352 USD, 257 - 900kg cá quy ra tiền là 475 - 713 USD, 500 - 979kg ốc, sòvới giá trị tương ứng là 140 - 274 USD
Theo Talbot và Wilkenson (2001) với 40.000ha RNM được quản lý tốt ở phía tâyMalaysia đã hỗ trợ cho ngành thuỷ sản 100 triệu USD, mỗi hecta thu 2.500 USD/năm
Cứ 1km dải RNM là đường viền bờ biển ở vịnh Panama cũng thu hoạch được 85.000USD từ đánh bắt tôm, cá và các giáp xác khác Còn ở Thái Lan, mỗi năm, 1ha RNM chothu hoạch 1000 USD từ nghề cá và sản phẩm của rừng (trích dẫn bởi Midas, 1995).Sản lượng tôm đánh bắt được trong những vùng có liên quan với RNM ởAustralia vào năm 1979 - 1980 là 22.000 tấn tươi (Bant, J.S., 1987)
Tuy nhiên, các hoạt động của con người từ cuối thế kỷ thứ XIX đã làm giảmđáng kể diện tích RNM toàn cầu Sự suy giảm này đã đe dọa nghiêm trọng đến sự bềnvững của hệ sinh thái RNM trên toàn thế giới, và tác động tiêu cực đến dân số loàingười
Phục hồi RNM đã và đang nhận được sự quan tâm rộng rãi ở cấp độ toàn cầu bởicác lý do sau: Thứ nhất, những giá trị kinh tế cũng như môi trường của RNM trên thế
Trang 5giới đã không được quan tâm và tư liệu hóa trong một thời gian dài; thứ hai, con ngườingày càng có sự phụ thuộc lớn vào RNM, và trên thực tế mất RNM đã dẫn đến hiệntượng xói mòn bờ biển, giảm nguồn lợi thủy sản và các hậu quả môi trường khác, màmột trong số đó đã trở thành mối quan tâm rất cấp bách Cuối cùng, các chính phủ củacác quốc gia trên thế giới đang có cam kết theo hướng sử dụng bền vững RNM [33].Hoạt động quản lý và gây trồng RNM đã có lịch sử lâu đời tại vùng Đông Nam Á.
Có lẽ, lịch sử lâu nhất về quản lý RNM để lấy gỗ đã được ghi nhận là ở Sundarbans.Khoảng 6.000km2 RNM bao phủ khu vực Sundarbans ở Ấn Độ và Bangladesh đã đượcquản lý từ năm 1769 và kế hoạch hành động chi tiết cho việc quản lý khu vực này đã đượcchuẩn bị từ năm 1893 - 1894 (Chowdhury and Ahmed, 1994) Một ví dụ khác minhchứng cho lịch sử quản lý và gây trồng RNM là 40.000 ha RNM ở Matang (Malaysia) đãđược quản lý vì mục tiêu lấy gỗ nhiên liệu đã được thực hiện từ năm 1902 (Watson,1928) Tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, sử dụng các sản phẩm gỗ củaRNM cho mục đích gỗ nguyên liệu và than là một đóng góp quan trọng của RNM đối vớivùng bờ biển phía Tây Peninsular thuộc Malaysia [34]
Gần đây, RNM đã được quản lý vì mục tiêu nuôi cá tổng hợp (Primavera, 1995)
và du lịch sinh thái [35] Trồng RNM vì mục tiêu chống xói mòn cũng được thực hiệntại Florida (Teas, 1977), và để phân tích thí nghiệm sinh học ở Panama và Kenya(Rabinowitz, 1978, Kairo, 1995) [36], [37], [38] Bắt đầu từ sự nhận ra vai trò sinh tháicủa RNM [39], sự thông qua các luật bảo vệ RNM khỏi bị phá hủy và trồng RNM vớiquy mô nhỏ để giảm nhẹ những thiệt hại môi trường đã được thực hiện tại Hawaii,Burma và Fiji [26] RNM cũng được trồng để khôi phục lại những khu rừng bị chết do
sự cố tràn dầu (Duke, 1996)
Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của rừng và đất RNM, các nước trongkhu vực Đông Nam Á có RNM như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippin đã thànhlập cơ quan chuyên trách về RNM như Ủy ban ngập mặn quốc gia (NATMANCOM).Tuy nhiên, cơ quan này chủ yếu tập trung nghiên cứu về các chính sách quản lý rừng
và đất RNM, chưa đi sâu nghiên cứu về các giải pháp kỹ thuật gây trồng hoặc phục hồiRNM [44] Để các phương án này có tính khả thi cao, từ những năm 1987, các quốcgia này đã đưa ra các yêu cầu nghiêm ngặt khi xây dựng phương án quy hoạch, sửdụng và phát triển RNM bao gồm các vấn đề: (i) Mục tiêu phát triển bền vững; (ii)Quy hoạch phân vùng các loại rừng theo chức năng; (iii) Đánh giá đất đai, xác định sựthích nghi của đất đối với các mục đích trồng rừng; (iv) Xây dựng các phương án sửdụng đất, phát triển rừng và lựa chọn các phương án tối ưu để thực thi nhằm mang lạihiệu quả cao; (v) Các giải pháp và biện pháp thực hiện; và (vi) Phân tích các ảnhhưởng, các tác động đến môi trường, kinh tế - xã hội
Việc trồng RNM có thể được thực hiện vì mục tiêu sản xuất (gỗ và lâm sản ngoàigỗ), bảo vệ môi trường hoặc giáo dục (ví dụ ở đảo Ishigaki và Iromote tại Nhật Bản)
Trang 6Việc trồng thử nghiệm RNM cũng được thực hiện thành công ở những vùng cực kỳ khôhạn như Bahrain, Kuwait và United Arab Emirates Nhiều quốc gia ở châu Á ngày càngđược khuyến khích trồng các vàng đai xanh RNM để chống lại những hiểm họa tựnhiên, đặc biệt là ở những quốc gia bị tàn phá hàng năm bởi bão lụt (như Philippines và
Việt Nam) Tại Trung Quốc, những dải RNM, chủ yếu là loài Trang (Kandelia candel),
được ghi nhận rất có hiệu quả trong việc giảm xói mòn đê điều trong lốc xoáy Nhữnghoạt động gây trồng RNM khác vì mục tiêu bảo vệ đã và đang được thực hiện tạiBangladesh, Brunei, India, Indonesia và Việt Nam [20]
2.2 Tổng quan về rừng ngập mặn việt Nam
2.2.1 Hiện trạng rừng ngập mặn Việt Nam
Với bờ biển dài 3200kmViệt Nam có nhiều cửa sông giàu phù sa, nên rừng ngậpmặn sinh trưởng tốt, đặc biệt là ở bán đảo Cà Mau Trong thời gian qua, cùng với sựphát triển vùng ven bờ, diện tích rừng ngập mặn trong cả nước đa phần bị giảm sútnghiêm trọng, trong đó hoạt động chuyển đổi rừng ngập mặn sang sản xuất nôngnghiệp và nuôi tôm ở hầu hết các tỉnh ven biển đã làm rừng ngập mặn ở nước ta bị ảnhhưởng nhiều nhất
Nếu như năm 1943, rừng ngập mặn của Việt Nam còn che phủ đến 400.000 ha,năm 1982 còn khoảng 252.000 ha thì năm 2002 chỉ còn lại trên155.000 ha Bên cạnhnguyên nhân lớn do bị Mỹ rải chất độc hóa học, việc khai hoang để sản xuất nôngnghiệp và phá rừng chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản đã đóng góp không nhỏ vào xuhướng suy thoái này Hiện nay, diện tích rừng ngập mặn Việt Nam được ước lượng làkhoảng trên 250.000 ha, trong đó châu thổ sông Mêkong chiếm tới 191.800 ha.Tronghơn năm thập kỷ qua, Việt Nam đã mất đi ít nhất 200.000 ha rừng đước Hơn 80%rừng che phủ đã bị ảnh hưởng Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạngphá hủy này là mở rộng các đầm nuôi tôm Mặc dù việc mở rộng sản xuất nôngnghiệp, làm muối, sử dụng hóa chất trong chiến tranh trước đây là mối đe dọa lớn nhấtcho các rừng đước, nhưng trong những thập kỷ qua mối đe dọa lớn nhất chính là nuôitôm Trong vòng 38 năm (1954 - 1992), vùng ven bờ biển Hải Phòng, Quảng Ninh đãdùng 6.039 ha bãi triều ven biển, chủ yếu là các rừng ngập mặn để trồng lúa [12].Tỉnh Minh Hải trước đây (nay là Cà Mau và Bạc Liêu), là nơi có diện tích rừngngập mặn lớn nhất, cũng là một trong những nơi rừng bị tàn phá để nuôi tôm nhiềunhất tại Việt Nam Trong 2 năm 1980, 1981 diện tích nuôi tôm tại đây chỉ có 4.000 ha,đến năm 1992 đã tăng 20 lần là 80.000 ha Chỉ trong vòng 8 năm, từ 1983 - 1995 MinhHải đã mất đi 66.253 ha rừng do làm đầm tôm, bình quân mỗi năm mất đi 8.280 ha.Tại Cà Mau, diện tích nuôi tôm của tỉnh tăng gấp 3 lần trong năm 2003 và nay đã đạt250.000 ha Ước tính diện tích rừng Đước ở đây đã giảm từ hơn 200.000 ha trước năm
1975 xuống chỉ còn 60.000 - 70.000 ha, và hầu hết diện tích mất đi là lấy chỗ để nuôitôm [12]
Trang 7Tại các tỉnh vùng cửa sông Cửu Long như Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăngngười ta đã phá hầu hết diện tích rừng ngập mặn ven biển để làm đầm tôm nên diệntích rừng ngập mặn và tỷ lệ che phủ còn lại là rất thấp Rất nhiều rừng ngập mặn ở bánđảo Cam Ranh, các huyện Ninh Hòa, Vạn Ninh (Khánh Hòa) đến nay hầu như khôngcòn do làm ao ương nuôi tôm Ở Đầm Nại (Ninh Thuận) hơn 200 ha rừng ngập mặntạo vành đai rộng hàng trăm mét bảo vệ cho đầm khỏi bị xói lở, nay đã bị thay thếbằng đầm tôm bán thâm canh, chỉ còn lại 2 ha rừng Cồn Chim nằm giữa đầm Thị Nại(Quy Nhơn, Bình Định) trước đây có gần 200 ha rừng ngập mặn là nơi cư ngụ củanhiều loài hải sản và của nhiều loài chim thì nay đã bị triệt phá để nuôi tôm [12].Theo Hội Bảo vệ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam (2004), vào thời giantrước Cách mạng tháng Tám năm 1945, cả nước có 408.500 ha rừng ngập mặn, trong
đó có 329.000 ha ở Nam Bộ Bến Tre có 48.000 ha với độ che phủ là 29,29% nay chỉcòn 2,60%; Sóc Trăng có 41.000 ha, độ che phủ 12,72% nay chỉ còn 2,81%; Cà Mau
có 140.000 ha, độ che phủ 27% nay chỉ còn 11,21%
Theo kế hoạch hành động cho hợp phần rừng ngập mặn trong dự án biển Đông,mục tiêu đặt ra đến 2010 là đạt diện tích rừng ngập mặn bằng 85% diện tích của năm
1982, đồng thời thay đổi cơ bản nhận thức của các nhà quản lý và dân cư về giá trị của
hệ sinh thái rừng ngập mặn và sử dụng bền vững loại tài nguyên này Để đạt mục tiêu
đó, các chuyên gia đã đề xuất thành lập mới các khu bảo tồn và vườn quốc gia, như ởcửa sông Tiên Yên (Quảng Ninh), cửa sông Văn Úc (Hải Phòng), Thái Thụy (TháiBình), Nghĩa Hưng (Nam Định)
Hiện nay, theo Ngô Đình Quế và ctv (2008), diện tích rừng ngập mặn Việt Namcòn khoảng 155.290 ha Hệ sinh thái rừng ngập mặn phân bố dọc bờ biển Việt Namthuộc 28 tỉnh và thành phố Phan Nguyên Hồng (1999) đã chia vùng phân bố RNMViệt Nam thành 4 khu vực với 12 tiểu khu và xác định điều kiện sinh thái cho từngtiểu khu
- Khu vực 1: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn;
Bờ biển Đông Bắc có các đặc điểm địa mạo, thuỷ văn, khí hậu phức tạp; cónhững mặt thuận lợi cho sự phân bố của RNM, nhưng cũng có những yếu tố hạn chế
sự sinh trưởng và mức độ phong phú của các loài cây, trong đó nhiệt độ đóng vai tròquan trọng Địa hình chia cắt phức tạp, có nhiều đảo chắn ở ngoài, tạo nên các vịnhven bờ và các cửa sông hình phễu, phù sa được giữ lại thuận lợi cho cây ngập mặnsinh sống
Khu vực 1 có hệ thực vật ngập mặn tương đối phong phú, gồm những loài chịumặn cao, không có các loài ưa nước lợ điển hình, trừ các bãi lầy nằm sâu trong nội địanhư Yên Lập và một phần phía Nam sông Bạch Đằng do chịu ảnh hưởng mạnh củadòng chảy Đáng chú ý là những loài cây ngập mặn phổ biến ở đây như Đâng, Vẹt dù,
Trang 8Trang lại rất ít gặp ở RNM Nam Bộ Có những loài chỉ phân bố ở khu vực nàynhư Chọ, Hếp Hải Nam Ngược lại, nhiều loài phát triển mạnh ở Nam Bộ lại không cómặt ở khu vực 1 Khu vực này được chia làm 3 tiểu khu như sau:
Tiểu khu 1: từ Móng Cái đến Cửa Ông;
Tiểu khu 2: từ Cửa Ông đến Cửa Lục (dài khoảng 40km);
Tiểu khu 3: từ Cửa Lục đến mũi Đồ Sơn (dài khoảng 55 km).
- Khu vực 2: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường.Khu vực này nằm trong phạm vi bồi tụ chính của sông Hồng, sông Thái Bình vàcác phụ lưu Hình dạng và xu thế phát triển của khu vực 2 không đồng nhất do xuấthiện cả quá trình bồi tụ và xói lở Thời gian có nước lợ ở cửa sông kéo dài, độ mặnthấp
Tác động lớn nhất là chế độ gió Do nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếpcủa bão, không có các đảo che chắn ngoài, cho nên bão và gió mùa Đông Bắc đã gây
ra sóng lớn, làm cho nước biển dâng Trừ phần biển phía bắc được mũi Đồ Sơn chechắn một phần nên cây ngập mặn có thể tái sinh, còn phía nam trong điều kiện tựnhiên không có RNM
Quần xã cây ngập mặn gồm những loài ưa nước lợ, trong đó loài ưu thế nhất
là Bần chua phân bố ở vùng cửa sông (Kiến Thụy, Tiên Lãng), cây cao 5 ÷ 10m Dướitán của Bần là Sú và Ô rô, tạo thành tầng cây bụi; ở một số nơi Sú và Ô rô phát triểnthành từng đám
Để bảo vệ đê, nhân dân ven biển Đồ Sơn (Hải Phòng), Thái Thụy, Tiền Hải (TháiBình), Giao Thủy (Nam Định) đã trồng được những dải rừng Trang, Bần chua gần nhưthuần loại ở phía ngoài đê Những rừng Trang với cây cao 4 ÷ 5m, đường kính 5 ÷10cm đã hình thành dọc theo đê biển Việc trồng Trang cũng đã tạo điều kiện cho một
số loài tái sinh tự nhiên như Sú, Bần phát triển và là môi trường sống cho nhiều loạihải sản và chim di cư Khu vực này được chia làm 2 tiểu khu Tiểu khu 1: từ mũi ĐồSơn đến cửa sông Văn Úc; Tiểu khu 2: từ cửa sông Văn Úc đến cửa Lạch Trường,nằm trong khu vực bồi tụ của hệ sông Hồng
- Khu vực 3: Ven biển Trung Bộ, từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu;
Trừ một phần phía bắc từ Diễn Châu (Nghệ An) trở ra, còn nói chung bờ biển khuvực này chạy song song với dãy Trường Sơn và là một dải đất hẹp Do địa hình phứctạp, có chỗ núi ăn ra sát biển (Quảng Bình, Quảng Trị), có chỗ tác động của biển khá nổibật, tạo nên các cồn cát di động cao to hoặc các vụng, phá
Do địa hình trống trải sóng lớn, bờ dốc, nên nói chung không có RNM dọc bờbiển, trừ các bờ biển hẹp phía Tây các bán đảo nhỏ ở Nam Trung Bộ như bán đảo Cam
Trang 9Ranh, bán đảo Quy Nhơn Chỉ ở phía trong các cửa sông, cây ngập mặn mọc tự nhiên,thường phân bố không đều, do ảnh hưởng của địa hình và tác động của cát bay.
Thảm thực vật nước lợ thường phân bố ở phía trong cách cửa sông 100 ÷ 300m
Ví dụ như rừng Bần chua phân bố dọc theo sông ở xã Hưng Hòa (thành phố Vinh),nhiều cây có đường kính 1 ÷ 1,3m Từ Xuân Hội đến Xuân Tiến (Hà Tĩnh), rừng Bầnchua có kích thước cây khá lớn: cao trung bình 6 ÷ 8m, đường kính 20 ÷ 30cm
Dựa vào đặc điểm địa mạo, thủy văn, có thể chia bờ biển Trung Bộ làm 3 tiểukhu: Tiểu khu 1: từ Lạch Trường đến mũi Ròn; Tiểu khu 2: từ mũi Ròn đến mũi đèoHải Vân; Tiểu khu 3: từ mũi đèo Hải Vân đến mũi Vũng Tàu
- Khu vực 4: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải - Hà Tiên
Vùng ven biển Nam Bộ có địa hình thấp và bằng phẳng Hai hệ thống sông lớn làsông Đồng Nai và sông Cửu Long có nhiều phụ lưu và kênh rạch chằng chịt, hàng năm
đã chuyển ra biển hàng triệu tấn phù sa cùng với lượng nước ngọt rất lớn
Nói chung, các điều kiện sinh thái ở khu vực 4 thuận lợi cho các thảm thực vậtngập mặn sinh trưởng và phân bố rộng Thêm vào đó khu vực này gần các quần đảoMalaysia và Inđônêsia là nơi xuất phát của cây ngập mặn Do đó mà thành phần củachúng phong phú nhất và kích thước cây lớn hơn các khu vực khác ở nước ta
Trong các kênh rạch ở khu vực này, nồng độ muối vào mùa khô cao hơn ở cửasông chính, do đó thành phần cây ưa mặn chiếm ưu thế, chủ yếu là Đước, Vẹt, Su, Dà.Dọc các triền sông phía trong, quần thể Mấm lưỡi đòng phát triển cùng với loài Dâyleo và Cốc kèn Đi sâu vào nội địa thì Bần chua thay thế dần, có chỗ Dừa nước mọc tựnhiên hoặc được trồng thành bãi lẫn với mái dầm, một loài cây chỉ thị cho nước lợ
Có thể chia khu vực ven biển Nam Bộ thành 4 tiểu khu: Tiểu khu 1: từ mũi VũngTàu đến cửa sông Soài Rạp (ven biển Đông Nam Bộ); Tiểu khu 2: từ cửa sông SoàiRạp đến cửa sông Mỹ Thanh (ven biển đồng bằng sông Cửu Long); Tiểu khu 3: từ cửasông Mỹ Thanh đến cửa sông Bảy Háp (Tây Nam bán đảo Cà Mau); Tiểu khu 4: từcửa sông Bảy Háp (mũi Bà Quan) đến mũi Nải - Hà Tiên (bờ biển phía Tây bán đảo
Cà Mau)
2.2.2 Những nghiên cứu về rừng ngập mặn ở Việt Nam
- Vũ Đoàn Thái và Mai Sĩ Tuấn (2004) đã nghiên cứu khả năng làm giảm độ caocủa sóng tác động vào bờ biển của một số kiểu rừng ngập mặn trồng ở ven biển HảiPhòng đã đưa ra được một số kết luận quan trọng về vai trò của rừng Bần chua vàTrang như sau:
+ Độ cao của sóng cỡ ≤65cm đã giảm đáng kể khi qua rừng Tại thời điểm đó,đối với dải rừng Bần chua tại xã Vinh Quang - Tiên Lãng rộng 920m và dải rừng
Trang 10Trang tại xã Bàng La - Đồ Sơn rộng 650m, độ cao của sóng sau rừng nhỏ, hầu nhưkhông có tác dụng phương hại tới bờ và đê biển.
+ Hệ số suy giảm độ cao của sóng cỡ ≤65cm trước rừng tăng dần từ ngoài biểnvào trong bờ khi qua rừng; đối với rừng Trang, hệ số suy giảm cao hơn so với rừngBần Sau 650m đối với rừng Trang, hệ số suy giảm độ cao của sóng trung bình là 93%,trong khi sau 720m đối với rừng Bần, hệ số suy giảm độ cao sóng trung bình là 85%.Trong trường hợp không có rừng, hệ số suy giảm độ cao của sóng trung bình là 37%.+ Mật độ, kích cỡ, cấu trúc, chiều rộng của dải rừng, tuổi rừng, sự phân bố theochiều cao của mật độ rễ thở (đối với loài có rễ thở) của thân và cành lá, có tác dụnglàm giảm độ cao của sóng khi đi vào bờ; đây chính là nhân tố quan trọng để bảo vệ bờ
và đê biển Tại khu vực nghiên cứu, rừng Trang có độ cản sóng tốt hơn so với rừngBần [15]
- Nghiên cứu của Phan Nguyên Hồng và ctv (2007) cũng đưa ra các tác dụng củarừng ngập mặn trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng như sau:+ Nhờ có hệ thống rễ dày đặc trên mặt đất như hệ rễ chống của các loài Đước, rễhình đầu gối của các loài Vẹt, rễ thở hình chống của các loài Mắm và Bần cản sóng vàtích lũy phù sa cùng mùn bã thực vật nên chúng có tác dụng làm chậm dòng chảy vàthích nghi với mực nước biển dâng
+ Nhờ các trụ mầm (cây còn) và quả, hạt có khả năng sống dài ngày trong nướcnên cây ngập mặn có thể phát tán rộng vào đất liền khi nước biển dâng làm ngập cácvùng đất đó
+ Khi rừng ngập mặn tự nhiên được bảo vệ hoặc các rừng trồng đủ rộng sẽ tạothành những bức tường xanh vững chắc, bảo vệ bờ biển và chân đê khỏi bị xói lở dobão lụt và nước biển dâng
+ Những loài cây ngập mặn với tầng tán dày có tác dụng to lớn trong việc làmgiảm mạnh cường độ của sóng bão Hệ thống rễ chằng chịt trên mặt đất có khả nănglàm giảm tác hại của sóng thần [16]
- Vương Văn Quỳnh và Thái Thành Lượm (2006) đã nghiên cứu về diễn thế tựnhiên và giải pháp phục hồi rừng Tràm sau cháy ở U Minh và đưa ra được các giảipháp phục hồi rừng Tràm sau cháy theo điều kiện lập địa ở U Minh như sau [17]
Bảng 2.1 Giải pháp phục hồi rừng Tràm sau cháy
theo điều kiện lập địa ở U Minh
1 Đất than bùn không chai cứng, không
Trang 112 Đất còn than bùn nhưng mỏng, chai,
3 Còn than bùn nhưng mỏng, chai, ngập
toàn diện
Tái sinh tự nhiên kết hợp trồng cây con trong bầu bổ sung ở nơi sau 5 tháng vẫn không có tái sinh
4 Đất đã cháy hết than bùn, còn mô than
bùn chai cứng ngập nước toàn diện
Tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung bằng cây con rễ trần ở nơi không còn than bùn
5 Đất sét ngập hoàn toàn Trồng bằng cây con rễ trần
- Để bảo vệ và phục hồi các khu rừng đã bị, đang bị và đang có nguy cơ bị tànphá bởi bàn tay con người, Nguyễn Hữu Hà (2003) đã đưa ra một số biện pháp sau: (i) Cần có các số liệu điều tra cụ thể về các diện tích, thực trạng của các diện tíchnày, từ đó có phân vùng phù hợp: Vùng nhạy cảm cần được bảo vệ đặc biệt, vùng bảotồn, vùng đệm chuyển đổi, vùng nuôi trồng thuỷ sản,…
(ii) Cần có kế hoạch và có biện pháp quản lý chặt chẽ trong việc khai thác lâmsản trong các khu rừng ngập mặn, có kế hoạch và biện pháp hợp lý, khoa học trongviệc bổ sung và trồng mới các khu rừng ngập mặn
(iii) Quản lý chặt chẽ việc khai thác các loại lâm sản trong các khu rừng ngậpmặn: mật ong, dừa lá, thuỷ sản,…
(iv) Có kế hoạch chặt chẽ trong việc quan trắc môi trường ven biển, có biện phápchống xói mòn, bão, các khu rừng ngập mặn và hệ sinh thái lân cận các khu rừng ngậpmặn
(v) Cần có biện pháp hợp lý trong việc kết hợp với biện pháp giáo dục tuyêntruyền Bên cạnh đó cần có các chế tài xử phạt nghiêm minh đối với những đối tượng
vi phạm quy định làm tổn hại đến hệ sinh thái này [1]
- Ngô Đình Quế và ctv (2008) đã nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách nhằmkhôi phục và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Việt Nam vớikết quả như sau:
+ Chính sách quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn có tác động trực tiếp đến đời sốngkinh tế - xã hội và môi trường vùng rừng ngập mặn nên phải đáp ứng được yêu cầu vànguyện vọng của người dân, nâng cao thu nhập, góp phần cải thiện đời sống nhân dânsống trên vùng rừng ngập mặn
+ Động lực kinh tế thu hút người dân tham gia quản lý rừng không phải chỉ là sựhưởng lợi sản phẩm rừng mà trước hết là quyền được sử dụng đất để phát triển sản
Trang 12xuất Lâm - Ngư - Nông nghiệp, đặc biệt là khai thác nguồn lợi thủy sản trên diện tíchđược giao hoặc nhận khoán.
+ Hệ sinh thái rừng ngập mặn có đặc thù riêng, cho nên cần có chính sách quản
lý bảo vệ rừng riêng đối với vùng sinh thái này [7]
2.2.3 Thực trạng công tác quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Việt Nam
Công tác quản lý và sử dụng RNM ở nước ta còn gặp nhiều hạn chế Đặc biệt lànhận thức xã hội còn thấp, ngay cả việc nghiên cứu khoa học cũng chưa tương xứng,quản lý chưa thống nhất Vì vậy, nếu không gắn kết giữa hệ sinh thái RNM với việcphát triển bền vững, sẽ khó có thể tiếp tục giữ diện tích rừng hiện có nhằm giảm bớtthiệt hại do thiên tai gây ra
Các cơ quan thủy sản ở địa phương ven biển chưa được trang bị đầy đủ kiến thứctrong việc quản lý, sử dụng đất RNM Sự liên kết giữa các ngành liên quan ở vùng venbiển còn lỏng lẻo (thủy sản, lâm nghiệp, giao thông đường thủy )
Trong những năm gần đây, tình hình bỏ hoang các đầm tôm đang tăng ở vùngven biển do dịch bệnh và ô nhiễm môi trường nhưng không thể tiến hành trồng lạiRNM ở các diện tích đó vì phần lớn các chủ đầm vẫn còn hợp đồng thuê đất dài hạn.Hậu quả là không thể triển khai tốt vành đai rừng chắn sóng ven biển trong lúc thiêntai ngày càng nhiều và càng mạnh do biến đổi khí hậu Đây là một trở ngại và là mối
đe dọa lớn đối với cộng đồng ven biển
Tuy nhiên, công tác quản lý bảo vệ RNM trong nước đã có những dấu hiệu pháttriển tích cực, mang lại hiệu quả cao, điển hình là ở xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu,tỉnh Sóc Trăng, RNM ven biển ngày càng phát triển bền vững nhờ mô hình đồng quản
lý rừng Việc đồng quản lý mang lại nhiều kết quả khả quan trong việc trồng, bảo vệRNM ven biển, đồng thời bảo đảm cuộc sống người dân ven rừng thuộc dự án "Quản
lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ven biển tỉnh Sóc Trăng" do tổ chức Hợp tác Kỹ thuậtcủa Cộng hòa Liên Bang Đức (GTZ) tài trợ
Theo mô hình "đồng quản lý" của GTZ, rừng ở ấp Âu Thọ B hiện được phânthành 4 khu để quản lý Trong đó, khu PH là rừng đước có 12 ha, được xác lập nhằm
để bảo vệ tốt cho các loài thủy sản có nơi trú ngụ, sinh sản tự nhiên, duy trì tính đadạng của hệ sinh thái rừng ngập mặn Khu phục hồi bên trong là 1 phần của đai rừng,nơi có mật độ thưa, đang được trồng thêm rừng để ngăn cản sóng và làm nơi trú ẩncủa sinh vật biển, có diện tích 22ha Khu phục hồi bên ngoài rừng có diện tích trên26ha, là khu rừng mới trồng, có bề rộng 90m tính từ đai rừng lớn trở ra biển, đượcxác lập nhằm tăng cường bề rộng đai rừng, để ngăn cản sóng biển và che chở cho cácloài sinh vật biển Khu sử dụng bền vững có diện tích 34ha, là phần đai rừng bêntrong, nơi có nhiều cây rừng đã phát triển rậm rạp, có thể cung cấp tài nguyên chocon người, nếu được sử dụng bền vững
Trang 13Mô hình "Đồng quản lý" tại ấp Âu Thọ B giúp người dân chuyển biến rất tốt vềhành vi cùng phối hợp bảo vệ môi trường, ý thức tự giác cao trong việc đồng quản lý,
sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên mà Dự án đã triển khai Riêng tại huyện VĩnhChâu hiện có trên 3.500ha rừng và đất RNM ven biển, việc triển khai mô hình đồngquản lý sẽ bảo vệ và phát triển được vốn rừng góp phần mang lại hiệu quả rất lớn cả vềkinh tế, xã hội, môi trường cho người dân địa phương và trong khu vực Tuy nhiên, môhình này chưa được nhân rộng tại nhiều địa phương
2.2.4 Những nghiên cứu về rừng ngập mặn ở Thừa Thiên Huế
Ở Thừa Thiên Huế, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển không đa dạng và rộnglớn như ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long nhưng nó cũngđóng vai trò quan trọng trong bảo vệ đê, chống lại sự xói lở ở vùng ven biển và duy trìnăng suất sinh học của thủy vực [3]
Theo Phan Nguyên Hồng (1999), rừng ngập mặn Thừa Thiên Huế thuộc phânvùng 3, từ Lạch Trường đến Vũng Tàu, với đặc trưng cây có kích thước không lớn, sốloài đa dạng hơn ở miền Bắc nhưng kém đa dạng hơn so với miền Nam [2]
Các nghiên cứu về rừng ngập mặn ở Thừa Thiên Huế trong những năm qua chủyếu tập trung vào nghiên cứu thành phần loài cây ngập mặn
Năm 1993, Mai Văn Phô và Đoàn Ngọc Đính đã công bố danh mục các loài câyngập mặn đầm Lăng Cô, Thừa Thiên Huế gồm 28 loài, 26 chi, 22 họ thuộc hai ngànhDương Xỉ và Thực vật có hoa [18] Dựa theo đặc điểm sinh học của các loài cây, cáctác giả đã chia thành 2 nhóm chính: Nhóm các loài thực vật ngập mặn gồm 7 loài vànhóm thực vật tham gia ngập mặn là 21 loài
Cũng tại đầm Lập An, Nguyễn Khoa Lân (1995, 1999) đã nghiên cứu tính đadạng của thực vật rừng ngập mặn ở đây kết quả đã nêu lên có hơn 30 loài thực vậtrừng ngập mặn thuộc trên 20 họ, mang những nét tiêu biểu của một vùng đầm lầy ngậpmặn miền Trung [4], [5]
Năm 2003, Phạm Minh Thư đã kết luận độ đa dạng thành phần loài của cây ngậpmặn tại Rú Chá là không cao, chỉ có 6 loài cây ngập mặn thường gặp của rừng ngập
mặn Việt Nam và Giá (Excorecaria agallocha) là loài ưu thế Để giữ gìn và đa dạng
hóa cây ngập mặn ở Rú Chá, tác giả đã tiến hành trồng thử nghiệm bốn loài cây ngập
mặn là Đước vòi (Rhyzophora stylosa), Vẹt khang (Bruguiera sexangula), Sú (Aegyceras corniculatum) và Xu ổi (Xylocarpus granatum) và kết quả cho thấy sự sinh
trưởng khá tốt Tác giả cũng triển khai áp dụng hình thức quản lý cây ngập mặn RúChá dựa vào cộng đồng [11]
Năm 2005, Nguyễn Khoa Lân và ctv đã nghiên cứu hiện trạng rừng ngập mặn ởThừa Thiên Huế đã bước đầu đạt được hiệu quả công tác bảo tồn rừng ngập mặn ởThừa Thiên Huế cụ thể là:
Trang 14+ Xác định được nhu cầu bảo tồn và phát triển rừng ngập mặn cộng đồng.
+ Tổ chức và phát triển được năng lực của cộng đồng
+ Huy động được sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ, ươm, trồng câyngập mặn
+ Phát huy tốt việc sử dụng kiến thức bản địa trong bảo vệ và phát triển rừngngập mặn
+ Xây dựng và ban hành hương ước bảo tồn rừng ngập mặn [6]
Năm 2008, Hoàng Công Tín đã nghiên cứu và có kết luận thành phần cây ngậpmặn ở xã Hương Phong, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế có 16 loài thực vậtngập mặn thuộc 14 họ, 2 ngành [8]
Năm 2009, Phạm Thành đã nghiên cứu về thảm thực vật ven biển tại xã LộcVĩnh, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, đã công bố có 18 loài thực vật thuộc 14
họ trong đó có 15 loài thực vật ngập mặn chính thức và 3 loài thực vật ngập mặn thamgia Thảm thực vật phân bố với 3,2 ha và có sự phân bố thực vật ngập mặn khác nhautùy theo vùng có chế độ thủy triều khác nhau và độ mặn khác nhau: Vùng đất ngập
triều trung bình thì loài Đước vòi (Rhizophora stylosa) chiếm ưu thế; đối với vùng đất ngập triều cao xa cửa sông thì loài Giá (Excorecaria agallocha), Cóc vàng (Lumnitzera racemora), chiếm ưu thế; đối với vùng đất chỉ ngập triều cường thì loài
Xu ổi (Xylocarpus granatum) chiếm ưu thế [10].
Năm 2012, Hoàng Công Tín và Mai Văn Phô đã công bố hiện trạng thành phầnloài thực vật ngập mặn ở Thừa Thiên Huế có 50 loài thuộc 42 chi, 31 họ và 2 ngànhDương xỉ (Polypodiophyta) và Ngọc lan (Magnoliophyta) Trong đó đã bổ sung 3 loàithực vật ngập mặn cho khu vực Rú Chá và khu vực cửa sông Bù Lu Danh mục thànhphần loài thực vật ngập mặn ở khu vực Tân Mỹ lần đầu tiên được cân bố [9]
Trang 15Chương 3 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về hiện trạng, tổ thành RNM Rú Chá tại thôn ThuậnHòa, xã Hương Phong và rừng trồng phòng hộ tại xã Hương Vân, thị xã Hương Trà,tỉnh Thừa Thiên Huế
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
3.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiện trạng và thực trạng công tác quản lý bảo vệ và tài nguyên rừng,đánh giá khả năng phòng hộ của 1 số rừng trồng từ đó đề xuất giải pháp quản lý vàphát triển rừng trồng phòng hộ ven biển và đồi núi ở khu vực nghiên cứu
3.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hiện trạng phân bố, diện tích RNM Rú Chá
- Đánh giá vai trò và khả năng của cộng đồng trong công tác bảo vệ RNM RúChá
- Đánh giá vai trò của RNM Rú Chá trong đời sống kinh tế - xã hội cũng nhưtrong bảo vệ môi trường sinh thái của thôn
- Đề xuất các giải pháp bảo vệ RNM Rú Chá dựa vào cộng đồng
3.3 Nội dung nghiên cứu
1 Đánh giá hiện trạng rừng ngập mặn Rú chá Hương Phong
2 Nhân giống bảo tồn ex situ một số loài chủ yếu (Quao) bằng hom và bằng hạt
3 Đánh giá khả năng phòng hộ của một số rừng
4 Đề xuất giải pháp bảo tồn phát tiển hệ sinh thái và một số loài cây ưu thế
5 Đề xuất hướng kinh doanh và các nội dung kinh doanh rừng trồng
Trang 163.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp kế thừa
Với phương pháp này, đề tài đã kế thừa một số nghiên cứu trước đây về RNM ở
xã Hương Phong, lấy đó làm cơ sở nghiên cứu và đánh giá đối tượng nghiên cứu cụthể trong khu vực nghiên cứu
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập các số liệu về tình hình cơ bản của khu vực nghiên cứu như điều kiện
tự nhiên, kinh tế xã hội và đặc điểm tài nguyên rừng ngập mặn của khu vực nghiêncứu từ các báo cáo, tài liệu thống kê của UBND xã Hương Phong, xã Hương Vân vàcác ban ngành liên quan
- Thu thập các thông tin liên quan khác từ giáo trình, bài giảng, sách chuyênkhảo, tạp chí và các phương tiện truyền thông khác
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
3.4.3.1 Phương pháp xác định tuyến điều tra và lập ô tiêu chuẩn
* Xác định tuyến điều tra: Tuyến điều tra phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
- Phải đi qua được hầu hết các dạng lập địa liên quan đến đất ngập mặn ở khuvực nghiên cứu nghĩa là phải đi qua được các dạng thực vật điển hình, các đặc điểmđịa hình
- Phải dễ đi và tiết kiệm được đường đi nhất
- Các tuyến điều tra được thiết lập ở những trạng thái rừng có cấu trúc khác nhau.+ Mỗi mô hình tiến hành lập 1 ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời trên dạng lập địacủa mô hình đó Diện tích ô tiêu chuẩn 500m2 và luôn đảm bảo số cây bản địa hiện còntrong ô tiêu chuẩn lớn hơn 30 cây
+ Thu thập số liệu trong ô tiêu chuẩn và tính toán chỉ số diện tích tán của cây bảnđịa (Cai%): Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) bằng sào đo cao hoặc thước Blumleiss; đođường kính 1m3 (D13) bằng thước kẹp kính hoặc đo chu vi bằng thước dây sau đó quiđổi ra đường kính; đo đường kính tán (Dt) bằng cách đo hình chiếu tán cây theo 2chiều Đông - Tây; Nam - Bắc và lấy giá trị trung bình
+ Lập ô dạng bản và đo đếm đánh giá chỉ tiêu độ che phủ của cây bụi, thảm tươi(CP%): Tiến hành chia ô mẫu sơ cấp thành hai phần bằng nhau nhờ việc thiết lập mộtđường vuông góc với cạnh chiều dài của ô mẫu Sử dụng ô dạng bản có diện tích 4 m2/
ô Bố trí 4 ô ở bốn góc của ô mẫu sơ cấp và 2 ô ở giao điểm hai đường chéo của hai ôthứ cấp Tổng số ô dạng bản cần điều tra là 6 ô/1 ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời
Trang 17+ Lập ô dạng bản và đo đếm đánh giá chỉ tiêu độ che phủ của vật rơi rụng (VRR
%): Tiến hành lập 6 ô tiêu chuẩn diện tích 1 m2/ô trong 6 ô dạng bản ở vị trí giao nhau
2 đường chéo của ô tiêu chuẩn dạng bản 4 m2 Đo diện tích mà vật rơi rụng che phủtrong 1 m2 đó
Xử lý số liệu
+ Chỉ số diện tích tán (C ai , %): Cai (%) = Σ(DTtán)/DTOTCx 100
+ Độ che phủ của cây bụi, thảm tươi (CP, %): CP(%) = ΣDTCB,TT/ ΣDTODB x 100.
+ Độ che phủ của vật rơi rụng (VRR, %): VRR(%) = ΣDTVRR/ ΣDTÔ 1m2x 100.
+ Chỉ tiêu cấu trúc tổng hợp của thảm thực vật rừng (Z, %): Z (%) = Cai(%)+CP(%) + VRR (%)
3.4.3.2 Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc
Phương pháp này được áp dụng cho những đối tượng cộng đồng dân cư trongphạm vi nghiên cứu Thông tin thu thập được thông qua phiếu câu hỏi và từ các câuhỏi ngẫu nhiên phát sinh trong quá trình phỏng vấn
3.4.4 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
Phương pháp thống kê toán học trên các số liệu nghiên cứu được xử lý bằng phầnmềm Microsoft Office Excel và IBM SPSS Statistics 22
Trang 18Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Hiện trạng RNM Rú Chá
4.1.1 Sơ lược về Rú Chá
Hình 4.1 Bản đồ phân bố RNM ở Thừa Thiên Huế
Xã Hương Phong là một xã vùng bãi ngang ven biển, thấp trũng nằm phía TâyBắc thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế Diện tích Rú Chá thuộc địa phận quản lýhành chính của thôn Thuận Hòa, xã Hương Phong, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa ThiênHuế có lịch sử từ lâu đời và được cộng đồng xây dựng hương ước để bảo vệ Rú Chá
là một trong những hệ sinh thái RNM còn lại ở khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Haibên cạnh thảm thực vật ngập mặn ở của sông Bù Lu - Cảnh Dương ở thôn Tân Mỹ, xãPhú Tân, huyện Phú Vang và đầm Lập An, huyện Phú Lộc
Rừng ngập mặn Rú Chá tồn tại cách đây hàng trăm năm trước khi người dân thônThuận Hòa đến sinh sống Rú Chá được đặt theo tên địa phương của cây Giá
(Excoecaria agallocha) Đây là nơi che chở, ẩn nấp, tiếp tế của các bộ đội hoạt động
cách mạng trong thời kỳ chống Pháp
Trang 19Năm 1965, thôn Thuận Hòa vượt qua nạn đói nhờ vào việc sử dụng nguồn lợitôm, cá trong khu vực Rú Chá
Sau năm 1975, do đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, nhu cầu sử dụngcủi của người dân cũng tăng mạnh nên đã phá RNM Rú Chá để lấy củi Cơn lũ 1985
và 1999 đã tàn phá làm cho làng Thuận Hòa tan nát Sau khi trải qua hai cơn lũ lịch sử
đó, thôn Thuận Hòa nhận thức được phần nào giá trị bảo vệ làng của rừng ngập mặn
Diện tích Rú Chá hiện còn khoảng 4,59 ha, đây là vùng đất cao triều nằm bêntrong đê bao quanh phá Tam Giang chỉ ngập nước vào mùa mưa nên thảm thực vật ởđây đặc trưng của vùng đất cao triều Quần xã thực vật ngập mặn có loài ưu thế nhất là
Giá (Excoecaria agallocha) Dưới tán cây Giá là các loài Sú (Aegiceras corniculatum),
Ô rô (Acanthus ilicifolius), Ngọc nữ biển (Clerodendrum inerme) và Ráng biển (Arcostichum aureum) Thảm thực vật ở đây phân thành 2 tầng rõ rệt với chiều cao cây
tầng trên từ 4 - 7m
Hiện nay Rú Chá là hệ sinh thái ngập mặn lớn nhất khu vực đầm phá Tam Giang
- Cầu Hai của tỉnh Thừa Thiên Huế Chính quyền địa phương cũng đã ban hành nhiềuchủ trương để phát triển du lịch vùng đầm phá Nhờ vậy mà Rú Chá đang được quantâm để trở thành địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn của tỉnh Thừa Thiên Huế
4.1.2 Cấu trúc rừng ngập mặn Rú Chá
Rừng ngập mặn Rú Chá có tổng diện tích 4,59 ha, bao gồm 4 loài ngập mặn chủ
yếu là Giá (Excoecaria agallocha), Quao nước (Dolichandrone grathacea), Ô rô (Acanthus ilicifolius) và Ráng (Acrostichum aureum) Trong đó Giá, Quao nước là hai
loài cây gỗ và Ô rô là cây bụi, Ráng là cây thân cỏ Ngoài ra, còn có 3 loài ngập mặn
khác là Đước vòi (Hizophora stylosa), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), Sú (Aegiceras corniculatum) được trồng từ năm 2002, tuy nhiên chỉ còn lại một số cá thể.
Ngoài ra, còn có một số loài khác tham gia rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn Rú Chá phân thành 3 tầng rõ rệt với tầng trên cùng là tầng cây
gỗ cao từ 4 - 7m, tầng thứ hai là tầng cây bụi cao từ 1 - 2m, và tầng cuối cùng là tầng