Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tỷ lệ sống và các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây hoa hướng .... Việc mở rộng thị trường và phát triển sản xuất hoa hướng dương Sakata ở đây còn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
SAKATA TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành/ Ngành : CNSXRHQ
Thái Nguyên - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
SAKATA TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành/ Ngành : CNSXRHQ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi.Các số liệu, kết
quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa có ai công bố trong bất kì công
trình nào khác.Mọi trích dẫn trong khóa luận đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Trang 4Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2017
Sinh viên
Phạm Thị Hương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.1Mục đích và yêu cầu đề tài 2
1.2.1Mục đích 2
1.2.2Yêu cầu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học và trong công tác học tập 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1Cơ sở khoa học của thời vụ trồng 4
2.1.2 Nguồn gốc và phân loại hoa hướng dương 4
2.1.3 Đặc điểm thực vật học của cây hoa hướng dương 5
2.2 Tình hình sản xuất hoa trên thế giới và ở Việt Nam 6
2.2.1 Tình hình sản xuất hoa trên thế giới 6
2.2.2 Tình hình sản xuất hoa ở Việt Nam 7
2.3.Tình hình nghiên cứu về cây hoa hướng dương trên thế giới và ở Việt Nam 9
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về cây hoa hướng dương trên thế giới 9
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về cây hoa hướng dương ở Việt Nam 15
2.4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 16
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1.Đốitượngvàphạm vinghiêncứu 18
Trang 63.1.1.Đốitượngnghiêncứu: 18
3.1.2.Thời gian và địa điểm nghiêncứu: 18
3.2.Nộidungnghiêncứu 18
3.3 Phươngphápnghiêncứu 18
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 18
3.3.2.Cácchỉtiêuvàphươngpháptheodõi 19
3.4 Các biện pháp kỹ thuật áp dụng 21
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 21
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Điều kiện thời tiết vụ Xuân Hè 2017 tại thành phố Thái Nguyên 22
4.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tỷ lệ sống và các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây hoa hướng 24
4.3 Ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng sinh trưởng của cây hoa hướng dương thí nghiệm 26
4.3.1 Ảnh hưởng của thời vụ đến động thái ra lá của cây hoa hướng dương 26 4.3.2Ảnh hưởng của thời vụ đến động thái tăng trưởng chiều cao cây 30
4.4 Ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất, chất lượng hoa hướng dương thí nghiệm 34
4.5 Tình hình sâu bệnh hại 36
4.6 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến hiệu quả kinh tế cây hoa hướng dương 38
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1 Kết luận 39
5.2 Đề nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu hoa tươi 8 tháng đầu năm 2008 và 2009 8 Bảng 4.1 Tình hình thời tiết, khí hậu vụ xuân hè năm2017 tại
Thái Nguyên 46 Bảng 4.2: Tỷ lệ sống và các giai đoạn sinh trưởng phát triển của các
công thức thí nghiệm 25 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến động thái ra lá đối
với cây hoa hướng dương 27 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ ra lá của cây
hoa hướng dương 29 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến động thái tăng trưởng
chiều cao cây đối với cây hoa hướng dương 30 Bảng 4.6 Ảnh hưởng cuả thời vụ trồng đến tốc độ tăng trưởng
chiều cao của cây hoa hướng dương 32 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất hoa hướng dương
vụ Xuân Hè 2017 tại thành phố Thái Nguyên 34 Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu về chất lượng giống hoa hướng dương
thí nghiệm 35 Bảng 4.9: Tình hình sâu bệnh hại trên câyhoa hướng dương thí nghiệm 37 Bảng 4.10 : Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm 38
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 4.1 Biểu đồ nhiệt độ TB, ẩm độ TB, lượng mưa TB vụ
Xuân Hè 2017 23 Hình 4.2 Biểu đồ các thời kỳ sinh trưởng, phát triển (80%)
của hoa hướng dương 25 Hình 4.3: Biểu đồ động thái ra lá của cây hoa hướng dương vụ
Xuân-Hè 2017 27 Hình 4.4: Biểu đồ động thái tăng trưởng chiều cao cây hoa hướng dương vụ Xuân-Hè 2017 31
Trang 9Tỷ lệ bệnh
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thiên nhiên đã ban tặng cho con người chúng tacác loài hoa với đủ hương thơm màu sắc, tạo nên cuộc sống muôn màu và đầy hấp dẫn Nét đẹp của các loài hoa hẳn không ai trong chúng ta có thể phủ nhận, về màu sắc, kết cấu hoa, hương thơm, độ bền và hồn của hoa Cái đẹp của hoa hấp dẫn tâm hồn người chơi hoa và giá trị kinh tế của hoa đã thu hút những người trồng phải say mê nó Việc trồng hoa đã trở thành một lĩnh vực trong nông nghiệp cho hiệu quả kinh tế cao, bởi khi cuộc sống vật chất được thoả mãn thì nhu cầu về hoa lại càng cao hơn bao giờ hết
Trên thế giới thì thị trường tiêu thụ hoa hết sức rộng lớn nhưng tập trung chủ yếu ở những nước công nghiệp phát triển như: Anh, Pháp, Hà Lan, Đức, Thụy Điển, Ý, Nhật, Trung Quốc Ở Việt Nam với sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ mô hình trồng lúa sang trồng hoa đã đem lại hiệu quả kinh tế cao Trong những năm gần đây, ngành trồng hoa mới thực sự khởi sắc, dành được sự quan tâm đầu tư của nhiều công ty lớn trong cũng như ngoài nước Ngành sản xuất và kinh doanh hoa được đặc biệt quan tâm, hoa không chỉ dùng vào các dịp lễ, Tết mà còn thường xuyên có mặt trong đời sống hàng ngày của mỗi người dân đặc biệt là ở các thành phố lớn
Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều loại hoa được trồng, nhưng trong thời gian gần đây loại hoa được trồng phổ biến là hoa hướng dương Sakata, hoa được trồng thành những cánh đồng lớn như cánh đồng hoa hướng dương
ở Nghệ An, Hà Nội, Sài Gòn… Loài hoa này không chỉ thu hút con người bởi
vẻ đẹp, hình dáng mà còn bởi cả ý nghĩa và tính hướng dương của nó – hướng
về phía mặt trời
Trang 11Ngày nay, cùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp thì việc trồng cây nói chung và việc trồng hoa hướng dương Sakata nói riêng đã
áp dụng nhiều kỹ thuật mới vào trong sản xuất như: phân bón, chiếu sáng bổ sung… đã đem lại năng suất và chất lượng hoa tốt, hiệu quả kinh tế cao
Thái Nguyên là một trung tâm kinh tế - xã hội lớn của khu vực đông bắc hay cả vùng trung du và miền núi phía bắc, lại giáp với thủ đô Hà Nội nên đây là thị trường lớn về số lượng, chất lượng, chủng loại hoa Tuy nhiên sản xuất hoa nói chung và hoa hướng dương Sakata nói riêng ở đây còn nhiều hạn chế
về diện tích canh tác cũng như năng suất, chất lượng sản phẩm, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường Việc mở rộng thị trường và phát triển sản xuất hoa hướng dương Sakata ở đây còn gặp nhiều khó khăn do bố trí thời
vụ trồng chưa hợp lí nên chất lượng hoa chưa cao, chưa đáp ứng được hết nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng.Vì vậy, việc xác định khả năng sinh trưởng, phát triển, nhu cầu dinh dưỡng và thời vụ gieo trồng của hoa hướng dương Sakata
là cần thiết Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng
của thời vụ trồngđến sinh trưởng và phát triển của cây hoa hướng dương Sakatatại Thành phố Thái Nguyên”
1.2 Mục đích và yêu cầu đề tài
1.2.1Mục đích
Xác định được thời vụ gieo trồngthích hợp để nâng cao năng suất, chất lượng hoa và tăng hiệu quả kinh tế sản xuất hoa hướng dương tại Thành phố Thái Nguyên
1.2.2 Yêu cầu
phát triển của hoa hướng dương tại Thành phố Thái Nguyên
của hoa hướng dương
Trang 12Đánh giá khả năng chống chịu thành phần sâu bệnh trong các thời vụ trồng của cây hoa hướng dương
1.3Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học và trong công tác học tập
lí thuyết đã học
trị làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về cây hoa hướng dương trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động sản xuất
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở khoa học của thời vụ trồng
Đối với ngành nông nghiệp nói chung và ngành sản xuất cây hoa nói riêng thời vụ vô cùng quan trọng trong sản xuất Thời vụ quyết định đến năng xuất và chất lượng của cây trồng Do vậy để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất của cây trồng nông nghiệp, thì ta cần phải xác định thời vụ của giống cây trồng đó đảm bảo cho năng xuất và chất lượng sản phẩm tốt nhất Bởi trong từng thời vụ có điều kiện ngọai cảnh khác nhau, ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây Nghiên cứu thời vụ trồng hoa hướng dương ở nước ta chưa nhiều, việc nghiên cứu thời vụ không những giúp xác định được thời gian trồng hợp lý mà còn xác định được thời vụ có hiệu quả kinh tế cao
Kiểu gen tốt chỉ được biểu hiện trong một phạm vi nhất định của môi trường Trong chế độ canh tác, làm đúng ở thời vụ tối ưu, nhất là lúc gieo trồng thì nâng cao được năng suất 10 - 15% trong điều kiện tác động đồng thời của các yếu tố thâm canh khác Vì vậy, nghiên cứu và thực hiện chế độ thời vụ đối với mỗi loại cây trồng, loại giống, mỗi công thức luân canh trong từng vùng khí hậu đất đai là vấn đề phải được coi trọng (Vũ Thị Vui,2014) [8]
2.1.2 Nguồn gốc và phân loại hoa hướng dương
Trang 142.1.2.2 Nguồn gốc và phân bố
Hướng dương (Helianthus annuus L.) Có nguồn gốc từ Bắc Mĩ
( Putnam và cs.,1990) Loài cây trồng này có lẽ đã đi từ Mexico sang Tây Ban Nha, và từ đó đến các nơi của Châu Âu Người Nga phát triển hai giống hướng dương Mammoth Rusian Giant để cung cấp hạt, năm 1893 đưa trở lại USA (Stevens, 2006) Tuy nhiên, phải đến khi phát hiện ra hệ thống gen bất thụ đực và gen phục hồi thì các dòng lai mới trở nên khả thi và làm tăng mối quan tâm về mặt thương mại lên hướng dương (Putnam và cs., 1990)
Tên Helianthus có xuất xứ từ tiếng Hy Lạp “helios anthos”, nghĩa là “hoa mặt trời”.Tên loài annuus nghĩa là “hàng năm” (Stevens, 2006)
Hướng dương được trồng nhiều ở những vùng bán khô hạn của thế giới, từ Argentina tới Canada và từ Trung Phi đến Liên Xô cũ (Punam và cs., 1990)
2.1.3 Đặc điểm thực vật học của cây hoa hướng dương
Cây hoa hướng dương hay hoa mặt trời, là một loại hoa quỳ được
trồng nhiều nơi trên thế giới, có tên khoa học: Helianthus annus, thuộc họ Cúc Cây hướng dương có nguồn gốc từ vùng Bắc Mỹ
- Rễ: Hệ thống rễ hướng dương từ phôi của rễ chính và di chuyển theo
chiều dọc để độ sâu 3 m trở lên, Hệ thống rễ của cây hướng dương mạnh mẽ, với một số lượng lớn các rễ phụ và rễ con Một phần của rễ phụ đầu tiên là gần như song song với bề mặt đất và ở khoảng cách 20-40 cm.Cấu trúc của hệ thống rễ như vậy cho phép nó chịu được hạn hán.Một phần khác của rễ phân
bố ở đất sâu 10-45 cm, phân nhánh, tạo thành một mạng lưới dày đặc của rễ nhỏ
- Thân: Là cây thân thảo một năm, thân cây cao khoảng 1 – 3m, thẳng
và thô, có lông cứng màu trắng, thường có đốm
- Lá:Lá to, thường mọc so le, có cuống dài, phiến lá hình trứng đầu
nhọn, phía dưới hình tim, mép có răng cưa, hai mặt đều có lông trắng
Trang 15- Hoa, quả, hạt:
+ Hoa: Cụm hoa đầu lớn,mọc đơn lẻ trên đỉnh, đường kính 7-20 cm,
bao chung hình trứng Cánh hoa hình lưỡi màu vàng, các hoa lưỡng tính ở giữa màu tím hồng Cây ra hoa vào mùa đông, mùa xuân
Hoa thường nở vào tháng 7 -10 Ra quả vào tháng 9 – 11 Hoa hướng dương
có loại hoa cánh đơn và loại hoa cánh kép
+ Hạt: Hình quả lê dẹt, phía cuống phình to Bên ngoài là lớp vỏ gỗ
màu đen có sọc trắng Bên trong màu xám, có thể ăn, trong hạt chứa hàm lượng dầu cao[12]
2.2Tình hình sản xuất hoa trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất hoa trên thế giới
Sản xuất hoa đã mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế các nước trồng hoa trên thế giới Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày càng mở rộng và không ngừng tăng lên Trong những năm gần đây, ngành sản xuất hoa cắt và cây cảnh không ngừng phát triển và mở rộng ở nhiều nước trên thế giới, như: Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hà Lan, Mỹ, Pháp, Đức, Anh, Úc, Niu- Di- lân, Kê- ni-a, Ê-cu-a-do, Cô-lôm-bi-a, Ixraen Hiện nay, Trung Quốc là nước có diện tích trồng hoa, cây cảnh lớn nhất thế giới với diện tích là 122.600 ha, nước có diện tích trồng hoa, cây cảnh lớn thứ hai
là Ấn Độ: 65.000 ha Mỹ là nước đứng thứ 3, với khoảng 23.300 ha (AIPH, 2004)[9] Theo báo cáo năm 2005 của FAO, giá trị sản lượng hoa, cây cảnh của toàn thế giới năm 1995 đạt 45 tỷ USD, đến năm 2004 tăng lên 56 tỷ USD (tốc độ tăng bình quân năm là 20%) Trên thế giới có 3 thị trường tiêu thụ hoa chính là Mỹ, các nước châu Âu và Nhật Bản (Buschman, 2005)[10] Hàng năm, giá trị xuất khẩu hoa cắt trên thế giới khoảng 25 tỷ USD, đứng đầu trong
4 nước xuất khẩu hoa trên thế giới là Hà Lan 1.590 triệu USD, Cô-lôm-bi-a
Trang 16430 triệu USD, Kê-ny-a 70 triệu USD và Ixraen 135 triệu USD (Nguyễn Văn Tấp, 2008)[6]
Rất nhiều nơi trên thế giới cũng ưa chuộng loài hoa hướng dương như ở tại thành phố Zama của Nhật Bản Nơi này nổi tiếng với các khu vực trồng hướng dương rộng lớn Hàng năm vào mùa hè là thời điểm những bông hướng dương đua nhau khoe sắc ở các địa điểm xung quanh thành phố
Hơn nửa triệu câyhoa hướng dương được trồng ở đây thu hút rất đông
du khách tham quan, đặc biệt trong dịp lễ hội được tổ chức vào cuối tháng 7
đến giữa tháng 8
Hoa hướng dương thường được trang trí bởi vẻ đẹp rực rỡ của nó.Ngoài ra, hướng dương còn là một trong ba cây lấy dầu quan trọng nhất,
bên cạnh đậu nành (Glycinemax L.) và cải dầu (brassica napus L.) Hàm
lượng dầu trung bình trong hạt chiếm 40 – 50% ( tính cả vỏ hạt) và 50 – 60% (không tính vỏ), trong đó hơn 90% là acid oleic và acid linoleic Hàm lượng protein trung bình trong hạt là 20 -30% Tinh dầu hướng dương được dùng trong nhiều lĩnh vực như thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm Theo USDA (2006) các thành phần của hướng dương có thể dùng để chữa các bệnh về phổi, thận, da liễu, thấp khớp, hạ sốt, trị các vết thương ngoài da, vết rắn cắn hay kích thích ngon miệng Bên cạnh đó, hướng dương còn được dùng làm chất nhuộm hay tham gia vào công nghiệp sợi, công nghiệp giấy và xua đuổi côn trùng (Stevens, 2006)
2.2.2 Tình hình sản xuất hoa ở Việt Nam
Trước những năm 1986, sản xuất hoa của Việt Nam chỉ tập trung ở các vùng trồng hoa truyền thống của các thành phố, khu công nghiệp, khu du lịch, nghỉ mát như: Ngọc Hà, Quảng An, Nhật Tân, Tây Tựu (Hà Nội), Đằng Lâm, Đằng Hải (Hải Phòng), Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh), quận Gò Vấp, Hóc Môn (Hồ Chí Minh), phường 3,4,5,6,7,8,11,12 (Đà Lạt) (Nguyễn Xuân
Trang 17Linh, 1998)[2] và chỉ là ngành kinh doanh nhỏ của các nhà vườn nhỏ cung cấp cho thị trường nội địa là chính Diện tích trồng hoa của Việt Nam theo số liệu thống kê năm 1993 chỉ chiếm 0,02% tổng diện tích đất nông nghiệp (1.585 ha) Hiện nay trồng hoa là một nghề sản xuất và kinh doanh được đặc biệt quan tâm Chính vì vậy mà diện tích trồng hoa và cây cảnh ngày càng phát triển Năm 2001, nước ta có 4.500 ha trồng hoa-cây cảnh, năm 2002 là 8.512 ha, năm 2003 là 9.430 ha, năm 2004 là 11.340 ha và đến năm 2009 đạt 15.200 ha trồng hoa-cây cảnh So với năm 1994, diện tích hoa, cây cảnh năm
2009 đã tăng 4,3 lần, giá trị sản lượng tăng 8,2 lần và mức tăng giá trị thu nhập/ha là 182% Tốc độ tăng trưởng này là rất cao so với các ngành nông nghiệp khác (Đặng Văn Đông, 2010)[1]
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu hoa tươi 8 tháng đầu năm 2008 và 2009 Chủng loại Năm 2008
(USD)
Năm 2009 (USD)
Trang 18Theo số liệu thống kê của www.rauhoaquavietnam thì chủng loại hoa
xuất khẩu của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2009 khá đa dạng Trong đó
phải kể đến một số mặt hàng hoa xuất khẩu như hoa cúc, cẩm chướng, hồng,
lan… Điều đó cho thấy nhu cầu hoa tươi của người tiêu dùng ngày một tăng
qua các năm
Việt Nam có cánh đồng hoa hướng dương lớn nhất ở nông trường xã
Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An rộng gần 60 ha và bắt đầu trồng từ
năm 2010 Hình thức sử dụng loài hoa này tại Việt Nam mới chỉ là để làm
thức ăn cho gia súc, việc trồng loài hoa này phục vụ nhu cầu giải trí, thưởng
thức thì còn giải rác với quy mô nhỏ chưa tập chung và phổ biến, trong những
năm gần đây nhu cầu thị hiếu của người dân tăng người dân càng ưa chuộng
trồng loài hoa này nhiều hơn
2.3 Tình hình nghiên cứu về cây hoa hướng dương trên thế giới và ở
Việt Nam
2.3.1Tình hình nghiên cứu về cây hoa hướng dương trên thế giới
Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về lí do hoa hướng dương có tính hướng
về phía mặt trời như nghiên cứu do các nhà khoa học thuộc Đại học
California và Đại học Virginia phối hợp thực hiện và công bố trên tạp chí
Science (Khoa học) ngày 4/8 đã chứng minh ở loài hoa đặc biệt này có một sự
kết nối giữa gene đồng hồ sinh học nội tại và sự tăng trưởng của thân cây và
các yếu tố môi trường, ánh sáng và đồng hồ sinh học của từng loại cây tác
động đến tăng trưởng và sức hấp dẫn côn trùng thụ phấn của của loài cây đó
Trang 192.3.1.1 Đặc điểm sinh trưởng phát dục
a) Giai đoạn nảy mầm:
Hạt nảy mầm thành cây con với lá đầu tiên trên hai lá mầm dài không quá 4 cm
b) Giai đoạn sinh dưỡng (Vegetative):
Giai đoạn này được xác định bằng đếm số lá thật, bắt đầu là V1 rồi đến V2, V3, V4 Nếu các lá bên dưới vàng úa và rụng thì đếm vết lá để lại trên cây (ngoại trừ vết lá mầm) để xác định giai đoạn thích hợp
c) Giai đoạn sinh sản (Reproduction)
R1 – Chồi đỉnh hình thành một đầu hoa nhỏ không phải một nhóm lá như bình thường Khi nhìn từ trên xuống, các lá bắc còn non tạo thành dạng sao với rất nhiều đầu nhọn
R2 – Các chồi hoa non kéo dài, khoảng cách từ chồi hoa đến lá gần nhất cònđính với thân là 0,5 – 2 cm, không kể những lá đính trực tiếp bên dưới chồi R3 – Khoảng cách từ cụm hoa đến lá gần nhất lớn hơn 2cm
R4 – Hoa bắt đầu nở Khi nhìn từ trên cao có thể thấy các hoa bìa chưa trưởng thành
R5 – Giai đoạn này là sự khởi đầu nở hoa, có thể chia thành các giai đoạn nhỏ tùy thuộc vào tỉ lệ hoa (hoa đĩa) đã nở hoàn toàn hay đang nở
R6 – Hoa nở hoàn toàn và hoa bìa bắt đầu héo
R7 – Đế hoa bắt đầu chuyển sang màu vàng nhạt
R8 – Đế hoa màu vàng nhưng lá bắc vẫn còn xanh
R9 – Lá bắc chuyển sang màu vàng nâu Giai đoạn này xem như đã trưởng thành về mặt sinh lí (dẫn theo Lê Thị Trang Nhã, 2013) [5]
2.3.1.2 Yêu cầu về ngoại cảnh
Hướng dương chịu được cả nhiệt độ thấp và cao nhưng chịu đựng tốt
Trang 20hơn ở nhiệt độ thấp.Hạt có thể nảy mầm ở 40C, nhưng nhiệt độ tối thiểu từ 8 đến 100
C cần thiết cho sự nảy mầm hoàn chỉnh.Hạt không bị ảnh hưởng bởi
sự thọ hàn trong các giai đoạn sớm của quá trình nảy mầm Cây con trong giai
C Nhiệt độ băng giá vào
C có thể làm chết cây hướng dương trưởng thành
trồng.Nhiệt độ cao làm giảm lượng tinh dầu, chất lượng và sự nảy mầm của hạt (Putnam và cs., 1990)
b Ánh sáng
Hướng dương rất ưa nắng, không nhạy cảm với ngày dài, và quang kì dường như không quan trọng trong việc lựa chọn ngày gieo trồng hay khu vực sản xuất (Putnam và cs.,1990)
c Nước
Hướng dương là cây dùng nước không hiệu quả.Lượng nước thoát ra
DM), so với 349 ở ngô và 304 ở cây lúa mì
Hướng dương không phải là loại chịu hạn cao nhưng rễ cái phân nhánh rộng xâm nhập đến 2m trong lòng đất, giúp cho cây vượt qua hạn.Thời kì tới hạn (khủng hoảng) đối với nước là 20 ngày trước và sau khi hoa nở.Nếu gây hạn nước trong thời kì này, khi tưới lại sẽ làm tăng sản lượng, hàm lượng tinh dầu và trọng lượng, nhưng làm giảm hàm lượng protein
Hệ thống tưới tiêu đầy đủ cho đất rất cần thiết trong việc trồng hướng dương,nhưng loài cây trồng nàycũng không có khả năng chịu ngập (Putnam
và cs., 1990)
Trang 21d Đất
Hướng dương có thể sinh trưởng trên cả đất cát và đất sét Cây không nhạy cảm cao với pH, thích hợp với đất có pH từ 5,7 đến 8,0 Khả năng chịu mặn thấp nhưng tốt hơn đậu tương
Nhu cầu khoáng đa lượng của hướng dương không cao bằng ngô, lúa
mì hay khoai tây Cũng như những cây trồng ngũ cốc khác (ngoài đậu), nitrogen là yếu tố đầu tiên giới hạn sản lượng Tàn dư từ hướng dương chứa phần lớn các yếu tố này, điều này có nghĩa hướng dương sử dụng đạm không hiệu quả.Tuy nhiên, phần lớn khoảng này được trả lại đất thông qua tàn dư
Bón phân đạm có xu hướng làm giảm lượng dầu trong hạt, thay đổi cân bằng amino acid và làm tăng diện tích lá Ở vùng khô hạn, người ta bón phân đạm bằng cách ước tính hàm lượng nitrate nitrogen trong đất Ở vùng ẩm ướt, điều này được thực hiện dựa trên chất hữu cơ trong đất và cây trồng mùa vụ trước Nếu mùa trước là vùngđất bỏ hoang hay trồng cây họ đậu thì cần khoảng 18 Ib N/acre, đậu nành hay ngũ cốc thì cần 60 Ib N/acre và nếu mùa trước trồng ngô hay củ cải đường thì mùa này cần 80 – 100 Ib N/acre Trên đất có hàm lượng hữu cơ cao nên giảm lượng nitrogen Bổ sung lân và kali vào các luống trồng có thể giúp hướng dương tối đa hóa hiệu quả sử dụng phân bón như các loài khác (Putnam và cs., 1990)
Trang 223) Hoa cụm đầu có cả cụm hoa đĩa và hoa bìa, với hoa đĩa nhóm sát nhau tạo thành “mắt hoa” ở vùng trung tâm, trong khi hoa bìa lớn hơn với chức năng như cánh hoa hướng ra ngoài Ví dụ: hướng dương, cúc tây, cúc mắc áo, thược dược, cúc zinnia
Trên một cụm hoa đầu, thông thường mỗi chiếc hoa hướng về chiếc kế
thành bởi hai bán kính của một vòng tròn ( ví dụ vòng tròn C), chia vòng tròn
ra làm hai phần A và B sao cho tỉ lệ A/B bằng B/C (tỉ lệ vàng) Các bông hoa nhỏ này tạo thành các vùng xoắn ốc lồng vào nhau, trong đó số các vòng xoắn trái và số các vòng xoắn phải là các số kế tiếp trong dãy Fibonacci Dãy Fibonacci là một dãy các số phía sau là tổng của hai số trước Chẳng hạn trên một bông hoa hướng dương người ta thấy có 21 vòng xoắn phải và 34 vòng xoắn trái
Cụm hoa đầu thuộc họ Cúc mang các lá bắc giống như vảy, thường xanh và trồng lên nhau.Lá bắc là các lá đã biến đổi.Trong họ cúc, lá bắc rất quan trọng Các lá bắc tập chung lại thành một tổng bao
Ngoài các lá bắc xung quanh cụm hoa đầu, một số loại hoa cúc còn có
lá bắc nhỏ dạng vảy, màu nhạt và không dễ thấy, liên kết với các hoa đơn ngay trên đế hoa
Hoa đĩa hay hoa bìa đều có từ 4 đến 5 nhị hoa và chúng dính với bao phấn tạo thành hình trụ xung quanh vòi nhụy
Mỗi hoa có một vòi nhụy giống như sợi chỉ đi từ vòng bao phấn đến hai thùy dài của nuốm nhụy vươn ra khi hoa nở.Bầu nhụy nằm dưới vị trí liên kết của đài hoa và cánh hoa, gọi là bầu noãn hạ
Nhụy hoa phát triển thành quả.Bầu noãn hạ trở thành quả bế.Hạt hướng dương thực chất là một quả bế với chỉ một hạt
Ở đỉnh quả bế ở cây họ Cúc, đài hoa được tiết giảm trở thành bộ phận
Trang 23tòa tia gọi là mào lông Các mào lông trên quả bế trưởng thành sẽ đóng vai trò như chiếc dù, giúp quả bay theo gió đến vùng đất mới
Mào lông là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của cây hoa
thuộc họ Cúc.Có rất nhiều dạng mào lông khác nhau.Ở Bidens bipinnata, mào
lông được tăng độ cứng ở các ngạnh (gai) để có thể dính vào lông thú hay quần áo của người đi đường.Mào lông của hướng dương bao gồm hai vảy sắc
sẽ rơi xuống khi quả trưởng thành.Các loại kế thông thường có tơ mềm tụ lại thành vòng ở đế.Nhiều loài hoa khác không có mào lông (Conrad, 2007)
2.3.1.4 Tính hướng dương
Hoa hướng dương trong giai đoạn nụ, chưa trưởng thành, biểu lộ tập tính hướng dương (hướng theo mặt trời) Khi mặt trời mọc vào buổi sáng, phần lớn hoa hướng về phía đông; và theo hành trình của một ngày, vào những ngày nhiều nắng,các nụ hoa theo hành trình của mặt trời di chuyển từ đông sang tây
Cơ chế của hiện tượng này ở hoa chưa được làm rõ Tuy nhiên, cử động hướng về mặt trời của lá được biết đến đầu tiên bởi Charles Darwin trong quyển “ The Power of Movement in Plants” của ông vào năm 1880.theo đó, hiện tượng này có thể xảy ra nhanh chóng và đảo nghịch Ở cây sen cạn, một
cơ quan đặc biệt ở gốc lá – thể gối – liên tục hướng mặt lá thẳng góc với các tia mặt trời, tối đa hóa sự nhận ánh sáng dùng cho quang hợp Các thể gối có hai dạng gấp và duỗi, phình ra hay co lại với các thay đổi của áp suất trương ( xác định bằng lượng nước trong tế bào) Khi tế bào duỗi phình ra và gấp co lại, phiến lá được quay hướng theo đường đi của mặt trời
Tính hướng dương còn liên quan đến auxin – hormone thúc đẩy tăng trưởng ở thực vật Auxin di chuyển tránh xa nguồn sáng và tích tụ về phía tối của thân Tại đây,auxin khiến các tế bào dài ra nhanh hơn phía sáng,dẫn đến
sự cong cuống hoa (Galen, 1999)
Trang 242.3.1.5 Sự nghỉ của chồi hoa
Sự ngủ của chồi bị phá vỡ khi xử lý lạnh Dưới điều kiện tự nhiên, băng
ôn hòa và không kéo dài, nụ hoa sẽ nở và tạo thành quả Nghiên cứu trên thủy tiên, tuylip và lan dạ hương Rees (1972) cho thấy sự khởi đầu hình thành và biệt hóa hoa xảy ra khi nhiệt độ ấm, nhưng sự trưởng thành và nở hoa chỉ diễn
ra nhanh chóng khi cây được xử lý lạnh trong suốt hay sau khi hoa đã biệt hóa Đối với thủy tiên, mầm hoa có thể ngủ một năm trước khi nở, vì vậy vào khoảng thời gian gieo trồng, các củ đã mang sẵn chồi hoa hình thành bên trong (Dẫn theo Lê Thị Trang Nhã,2013) [5]
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về cây hoa hướng dương ở Việt Nam
Cây hoa hướng dương cắt cành là giống hoa mới nhập nội và được phát triển trong những năm gần đây Hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều kết quả nghiên cứu về cây hoa hướng dương như thời vụ, kĩ thuật trồng và chăm sóc
Có rất ít kết quả nghiên cứu như kết quả sử dụng phân bón lá đối với cây hoa hướng dương: sử dụng phân bón lá đầu trâu 009 có thời gian sinh trưởng lâu nhất so với sử dụng phân bón lá Seaweed, HVP, Growmore
- Chiều cao cây và số lá khi sử dụng phân bón lá Seaweed 95% luôn đạt giá trị cao, kế đến là phân bón lá đầu trâu 009, HVP, Growmore và thấp nhất là khi phun nước lã
- Sử dụng phân bón lá đầu trâu 009 cho đường kính hoa lớn, độ bền hoa lâu, cho số cây thương phẩm cao (Trương Thành Vũ, 2012) [7]
Về kĩ thuật trồng và chăm sóc:
Ươm hạt
Ngâm hạt hướng dương vào nước ấm (tỷ lệ 3 sôi 2 lạnh), thời gian ngâm khoảng 8 tiếng Cách làm này giúp hạt dễ tách vỏ và nảy mầm
Trang 25Sau đó đổ đất trồng vào bầu ươm, cách miệng bầu chừng 2cm Hạt giống hoa hướng dương có thể gieo trực tiếp trong vườn hoặc chậu nhưng ươm cây con thì khả năng thành công cao hơn và cây cũng khỏe mạnh hơn
Mỗi bầu ươm chỉ nên ươm 1 hạt để sau này dễ tách ra trồng riêng Dùng tay ấn nhẹ hạt xuống đất khoảng 1-1,5cm, phần đầu hạt nhọn hướng lên trên, phủ lên bề mặt một lớp đất mỏng
Di chuyển bầu ươm vào vị trí mát, ánh sáng mặt trời nhẹ
Nên duy trì độ ẩm vừa phải cho cây, dùng biện pháp che chắn nếu nắng quá gắt đến khi cây hồi xanh.(Lê Thị Trang Nhã,2013) [5]
2.4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ TỔNG QUAN TÀI LIỆU
- Cây hoa hướng dương được trồng nhiều nơi trên thế giới với mục đích trồng lấy hoa hoặc lấy hạt Diện tích trồng được mở rộng do nhu cầu ngày càng lớn của thị trường trong nước và thế giới
Trang 26- Điều kiện thời tiết khí hậu nước ta nói chung và của tỉnh Thái Nguyên nói riêng phù hợp cho quá trình sinh trưởng và phát triển của hoa hướng dương Tuy nhiên, trong mỗi mùa vụ khác nhau, mỗi giống hoa khác nhau vẫn có những yêu cầu khác nhau, do đó cần lựa chọn thời vụ thích hợp để trồng hoa cho năng suất và chất lượng tốt nhất
- Các kết quả nghiên cứu về đặc điểm thực vật học, yêu cầu ngoại cảnh, kĩ thuật trồng và chăm sóc đã được các nhà khoa học trên thế giới công bố Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu về cây hoa hướng dương còn rất ít: như giống, phân bón cho cây, các kết quả nghiên cứu về thời vụ trồng chưa có Vì vậy, hướng nghiên cứu của đề tài về thời vụ trồng hoa hướng dương nhằm giải quyết vấn đề còn hạn chế đó
Trang 27Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1.Đốitượngvàphạm vinghiêncứu
3.1.1.Đốitượngnghiêncứu:
- Đối tượng: Giống hoa hướng dương cắt cành Sakata nhập nội từ Nhật Bản Cây giống được gieo 6 ngày, đem trồng khi cây có hai lá thật
3.1.2.Thời gian và địa điểm nghiêncứu:
- Địa điểm: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Thời gian: vụ xuân hè từ tháng 2/2017 đến tháng 5/2017
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tỉ lệ sâu bệnh hại của cây hoa hướng dương vụ Xuân Hè, 2017 tại thành phố Thái Nguyên
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến hiệu quả kinh tế của cây hoa hướng dương vụ Xuân Hè, 2017 tại thành phố Thái Nguyên
Trang 28Mỗi công thức đƣợc theo dõi 5 cây/ 1 lần nhắc lại
* Chỉ tiêu về sinh trưởng
Trang 29* Chỉ tiêu về năng suất
- Số cây nở hoa (cây) = số cây theo dõi nở hoa trên ô thí nghiệm
Số cây nở hoa
Tổng số cây theo dõi
Số cây theo dõi nở hoa/ô TN
- Năng suất hoa lí thuyết (cây/ha) =x 60.000
Tổng số cây theo dõi
* Chỉ tiêu về chất lượng
- Đường kính hoa (cm): Đặt thước vuông góc giữa tâm bông hoa đến đỉnh 2 cánh hoa
- Đường kính gốc(cm) được đo bằng thước palme ở nơi to nhất ở gốc
- Độbềnhoatựnhiên (ngày):bắt đầu theo dõi khihoađầutiênhénở đến khi hoa tàn,xácđịnhsốngày hoatồntại(nở, héo,tàn)
- Độ bền hoa cắt (ngày):bắt đầu theo dõi khihoađầutiênhénở đến khi hoa tàn,xácđịnhsốngày hoatồntại(nở, héo,tàn)
* Phương pháp theo dõi sâu bệnh hại: áp dụng theo “Phương pháp
chẩn đoán bệnh bằng mắt thường” của Hà Minh Trung, Vũ Khắc Nhượng (1983) và “Quy định về phương pháp điều tra phát hiện sinh vật hại cây
trồng” (QĐ số 82/2003/QĐ-BNN&PTNT về việc ban hành 10TCN 224)
- Theo dõi tỷ lệ nhiễm bệnh hại ở các cây trong ô thí nghiệm
A x 100 A: số lượng cây bị bệnh
+ Tỷ lệ bệnh (%) =
B B: tổng số cây điều tra
+ Mật độ sâu: con/cây
Trang 30- Đánh giá mức độ bệnh hại nặng, trung bình, nhẹ:
(+ ) Mức độ bệnh hại nhẹ: Tỉ lệ bệnh (TLB )< 20%
(++) Mức độ bệnh hại TB: TLB 20 - 40%
(+++) Mức độ bệnh hại nặng: TLB > 40%
- Đánh giá mức độ sâu hại:
Hiệu quả kinh tế:
+ Tổng thu trên 1 ha (đồng)
+ Tổng chi trên 1 ha (đồng)
+ Lãi thuần = Tổng thu – Tổng chi (đồng)
Tổng thu + Hiệu quả đầu tư(lần) =
Tổng chi
3.4 Các biện pháp kỹ thuật áp dụng
Các yếu tố phi thí nghiệm như đất đai, phân bón, chăm sóc, phòng trừ
sâu bệnh được tiến hành đồng đều ở các công thức
3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lí theo phần mềm Excel và IRRISTAT 5.0
Trang 31Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện thời tiết vụ Xuân Hè 2017 tại thành phố Thái Nguyên
Khí hậu thời tiết là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tất cả các quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng Cơ thể thực vật và các điều kiện ngoại cảnh hay còn gọi là nhân tố sinh thái như: ánh sáng, nhiệt độ, nước dinh dưỡng… là một khối thống nhất Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất ngoài phụ thuộc vào giống (kiểu gen) còn phụ thuộc lớn vào điều kiện ngoại cảnh Khi điều kiện ngoại cảnh thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các quá trình sinh lý, sinh hóa của cây và cuối cung là ảnh hưởng đến năng suất sau này Do đó có thẻ nói, năng suất cây trồng là kết quả tương tác giữa kiểu gen
và môi trường, nó phản ánh sự thích ghi của giống với điều kiện ngoại cảnh Ngoài ra điều kiện ngoại cảnh còn ảnh hưởng đến sự phất sinh, phát triển của sâu bệnh, tác động xấu đến năng suất sau này
Thái Nguyên là một tỉnh nằm ở khu vực trung du miền núi phía Bắc, đặc điểm khí hậu Thái Nguyên mang những nét đặc trưng riêng như: mùa mưa thường kéo dài, mùa đông đến sớm cùng với nhiệt độ thấp.Vụ xuân hè khí hậu mát mẻ, diễn biến thời tiết, khí hậu tại Thái Nguyên trong vụ xuân hè
2017 được thể hiện ở biểu đồ sau:
Trang 32Hình 4.1 Biểu đồ nhiệt độ TB, ẩm độ TB, lượng mưa TB vụ Xuân Hè 2017
Qua bảng số liệu và biểu đồ cho thấy:
-Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng đối với cây trồng, nhiệt độ ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của cây hoa hướng dương, nó còn ảnh hưởng đến chiều cao cây và màu sắc của hoa
Nhiệt độ từ tháng 1 đến tháng 4 dao động từ 19 đến24,20C , nhiệt độ tăng dần từ tháng 2 đến tháng 4 do chuyển từ mùa xuân sang mùa hè Nhiệt
độ tháng 3 (210
C) và tháng 4 (24,20C) thích hợp nhất cho cây hoa hướng dương sinh trưởng và phát triển Nói chung điều kiện thời tiết khí hậu của thành phố Thái Nguyên thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa hướng dương do loài hoa này có khả năng thích ứng với khoảng nhiệt độ rộng từ 18 đến 330C
Trang 33cây cũng chịu hạn kém Cây hướng dương ưa ẩm nên độ ẩm cao giúp cho cây sinh trưởng và phát triển mạnh nhưng cũng là điều kiện phát sinh sâu bệnh
Ẩm độ trung bình trong các tháng biến động từ 73 – 86 % với độ ẩm như vậy khá thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa hướng dương
- Lượng mưa
Lượng mưa trong vụ Xuân Hè năm 2017 ở các tháng không ổn định, có
sự dao động lớn giữa các tháng từ 32,1 – 170,4 mm Trong đó, lượng mưa thấp nhất là tháng 2 (30,1 mm) và cao nhất là tháng 1 (170,4 mm)
Qua đó ta thấy, điều kiện thời tiết khí hậu vụ Xuân-Hè 2017 tại thành phố Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa hướng dương Để cây hoa hướng dương có năng suất, chất lượng tốt, đòi hỏi phải có những biện pháp kĩ thuật chăm sóc kịp thời cho cây hoa như tưới nước, điều chỉnh nhiệt độ, dinh dưỡng cho phù hợp
4.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tỷ lệ sống và các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây hoa hướng
Quá trình sinh trưởng, phát triển của cây hoa hướng dương lần lượt trải qua các giai đoạn khác nhau như: từ trồng đến hồi xanh, ra nụ, ra hoa Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Ở mỗi giai đoạn sinh trưởng phát triển cây chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố như đặc tính của giống, kỹ thuật canh tác, điều kiện ngoại cảnh Vì vậy, nghiên cứu các giai đoạn sinh trưởng và đặc điểm của từng giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng giúp chúng ta chủ động trong việc điều khiển các biện pháp kỹ thuật để cây sinh trưởng, phát triển theo hướng lợi nhất làm tăng năng suất, chất lượng hoa, đồng thời xác định được thời vụ hợp lý
Kết quả theo dõi một số giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các công thức thí nghiệm được trình bày ở bảng 4.2
Trang 34Bảng 4.2: Tỷ lệ sống và các giai đoạn sinh trưởng phát triển của các công
Thời gian từ trồng đến ngày …
Hồi xanh
Ra nụ Ra hoa 20% 80% 20% 80%
Hình 4.2 Biểu đồ các thời kỳ sinh trưởng, phát triển (80%)
của hoa hướng dương
- Tỷ lệ cây sống các công thức đạt từ 96,7% đến 100% Trong đó thời
Trang 35là do ảnh hưởng của thời tiết sau trồng, gặp nhiệt độ cao hoặc thời tiết nắng kéo dài nên cây con gặp bất lợi cho sinh trưởng
- Thời kì trồng đến hồi xanh là thời kì đánh giá khả năng thích ứng của cây hoa hướng dương với điều kiện môi trường thay đổi (từ vườn ươm ra ruộng sản xuất) Ta thấy khả năng hồi xanh các thời vụ không chênh lệch nhiều, dao động từ 3 đến 4 ngày TV2 (5/3) là nhanh nhất sau 3 ngày tương đươngTV 1 (23/2) (đc) , còn TV 3 (15/3) và TV 4 (25/3) hồi xanh sau 4 ngày chậm hơn so với TV 1 (23/2) (đc)
- Thời kì từ trồng đển ra nụ (20 %) của các thời vụ chênh lệch không nhiều, dao động từ 33 đến 34 ngày sau trồng Trong đó TV 3(15/3) và TV 4 (25/3) tương đương nhau (34 ngày) kéo dài hơn TV 1 (23/2) (đc) 1 ngày.TV 2 (5/3) tương đương với TV 1 (23/2) (đc) là 33 ngày
- Thời kỳ từ trồng đến ra nụ (80%) dao động từ 35 đến 37 ngày Sớm nhất là TV 2 (5/3) (35 ngày, bằng công thức đối chứng), TV 3(15/3) và TV 4 (25/3) có thời gian ra nụ 80 % muộn hơn công thức đối chứng 2 ngày (37 ngày)
- Thời kỳ từ trồng đến ra hoa (80%) dao động từ 46 đến 48 ngày.TV 2 (5/3) là sớm nhất (46 ngày) sớm hơn công thức đối chứng là 2 ngày, TV 3 (15/3) và TV 4 (25/3) có số ngày ra hoa muộn hơn TV 2 (5/3) nhưng vẫn sớm hơn công thức đối chứng 1 ngày ( 47 ngày, công thức đối chứng là 48 ngày)
-Thời gian từ trồng đến các thời kì ra nụ (80%) và ra hoa (80%) ở TV3 (15/3) và TV4(25/3) tương đương nhau
Như vậy là thời vụ ảnh hưởng không nhiều đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây hoa hướng dương Sakata, chênh lệch giữa các thời
vụ chỉ từ 1 đến 2 ngày
4.3 Ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng sinh trưởng của cây hoa hướng dương thí nghiệm
4.3.1 Ảnh hưởng của thời vụ đến động thái ra lá của cây hoa hướng dương
Số lá trên cây hoa hướng dương có quan hệ mật thiết với năng suất, chất lượng của cây
Trang 36Lá cây có vai trò quan trọng trong đời sống sinh lý của cây Lá có chức năng quang hợp tạo chất hữu cơ nuôi dưỡng cây đồng thời tích trữ năng lượng, hô hấp cho cây.Lá cây là cơ quan chủ yếu biến năng lượng mặt trời thành năng lượng hóa học (với đa số loài thực vật bậc cao) Kết quả theo dõi khả năng ra lá của cây hoa hướng dương được trình bày ở bảng 4.3
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến động thái ra lá đối với cây
Thời gian trồng sau … ngày
Hình 4.3: Biểu đồ động thái ra lá của cây hoa hướng dương vụXuân-Hè 2017
Trang 37Qua bảng số liệu 4.3 và hình 4.3 cho thấy:
- Thời gian 10 ngày sau trồng động thái ra lá của cây hoa hướng dương
có sự chênh lệch từ 5,7 đến 9,1 lá Trong đó, số lá ở TV 2 (5/3) nhiều nhất là 9,1 lá, tiếp theo là TV 3 (15/3) là 7,5 lá/cây,TV 4 (25/3) là 6,4 lá/cây.Cả 3 TVcó số lá cao hơn chắc chắn TV 1 (23/2) (đc) ở mức độ tin cậy 95 %
-Sau 20 ngày trồng thì động thái ra lá nhanh nhất vẫn là TV 2 (23/2) là 13,7 lá/cây, ở TV 3(15/3) là 10 lá/cây và TV 4(25/3) là 11,3 lá/cây có số lá cao hơn chắc chắn TV 1 (23/2) (đc) ở mức độ tin cậy 95 %
-Sau 30 ngày trồng: tốc độ ra lá giữa các thời vụ dao động từ 13,8 – 18,9 lá/cây Nhanh nhất vẫn là TV 2(5/3) là 18,9 lá/cây cao hơn chắc chắn TV
1 (23/2) (đc) ở mức độ tin cậy 95 % Ở TV 3 (15/3) số lá là 13,8 lá/cây thấp hơn TV 1 (23/2) (đc) ở mức độ tin cậy 95 % TV 4 (25/3) có số lá tương đương với TV 1 (23/2) (đc) đạt 16,3 lá
-Từ trồng đến 40 ngày sau trồng tốc độ ra lá của TV 2 (5/3) là nhanh nhất (16,5 lá/cây) và cao hơn TV 1 (23/2) (đc) ở mức độ tin cậy 95 %, TV 3 (15/3) và TV 4 (25/3) có số lá là 17,3 lá/cây và 16,5 lá/cây đều thấp hơn TV 1 (23/2) (đc) ở mức độ tin cậy 95 %
-Sau 50 ngày trồng: TV 2(5/3) là 21,7 lá/cây cao hơn TV 1 (23/2) (đc) với độ tin cậy 95 %, Chậm nhất là TV4 (25/3) là 16,5 lá/cây, TV 3 (15/3) 1,4 lá/cây thấp hơn chắc chắn TV 1 (23/2) (đc) ở mức độ tin cậy 95 %
-Khoảng thời gian 60 ngày sau trồng số lá đạt tối đa, dao động từ 18,7- 21,1 lá/cây Qua xử lý thống kê cho thấy tốc độ ra lá của TV 2 (5/3) có số lá cao nhất (22,9 lá/cây) TV 3 (1/3) là 19,1 lá/cây và TV 4 (25/3) là 18,7 lá/cây thấp hơn chắc chắn TV 1 (23/2) (đc) ở mức độ tin cậy 95 %
Qua bảng số liệu trên cho thấy thời vụ trồng có ảnh hưởng đến động thái ra lá của cây giống hướng dương thí nghiệm TV 3 (15/3) và TV 4 (25/3) trồng muộn hơn có số lá ít hơn so với TV 1 (23/2) (đc) và TV 2 (5/3)