Tuy nhiên, trong nhiều năm, với chế độ tập trung bao cấp, chúng ta đã rơi vào thế đơn độc; ngành giáo dục gặp nhiều khó khăn về đầu tư cho giáo dục, giảm sút động lực của người học, động
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-TIỂU LUẬN KINH TẾ VIỆT NAM
Chủ Đề:
XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM: THÀNH TỰU, HẠN CHẾ,
NGUYÊN NHÂN
Giảng viên hướng dẫn: Ths NGUYỄN THỊ VI
HÀ NỘI - 2010
Trang 2Lời nói đầu
Giáo dục của đất nước ta trải qua nhiều thế kỷ và sự nghiệp Giáo dục của nhân dân ta qua 65 năm dưới chính quyền cách mạng, luôn chứng tỏ đó là một sự nghiệp của toàn dân Toàn dân tham gia giáo dục,toàn xã hội quan tâm đến giáo dục vì đó là công việc “Trồng người” củamỗi gia đình, mỗi họ tộc, mỗi làng xã và của toàn xã hội Ngay từ đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, Người kêu gọi “Toàn dân tham gia diệt giặc dốt” và vạch rõ phương thức làm “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, “không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng” Như vậy, bản chất xã hội của nền giáo dục đã được xác định từ lâu Tuy nhiên, trong nhiều năm, với chế độ tập trung bao cấp, chúng ta đã rơi vào thế đơn độc; ngành giáo dục gặp nhiều khó khăn về đầu tư cho giáo dục, giảm sút động lực của người học, động lực của người dạy, thu nhập giáoviên thấp, cơ sở vật chất trường học xuống cấp, lạc hậu, chất lượng giáodục không đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội Sự phát triển của một đất nước được thúc đẩy bởi những công dân của chính đất nước đó Trình
độ phát triển của một đất nước cũng được quyết định chính bằng trình
độ phát triển của những công dân nước đó Chính vì vậy chúng ta cần cónhưng cái nhìn tống quát về xã hội hóa giáo dục
”
Trang 3
I MỘT SỐ THÀNH TỰU
Xã hội hóa giáo dục phải được hiểu trước hết ở xã hội hóa khônggian và quyền tham gia giáo dục của tất cả các thành phần trong xã hội,gồm: Nhà nước, Gia đình, Thị trường và Các tổ chức dân sự, Hội nghềnghiệp Không gian giáo dục sẽ không chỉ gói gọn ở trong Nhà trường,
mà cần mở rộng về đến Gia đình, Thị trường (các công ty), Tổ chức dân
sự (Hội nghề nghiệp) Vì thế, một cơ chế cho phép tất cả các thành phầnnày tham gia tích cực vào hoạt động giáo dục là cần thiết và cần đượckhuyến khích
Những điều đạt được: Đa dạng hoá các loại hình trường, lớp, như
mở ra các loại trường công, bán công, dân lập, tư thục Đa dạng hoá cácloại hình và phương thức học tập Mở các trung tâm đào tạo của nướcngoài ở Việt Nam Mở rộng các trung tâm dạy nghề, trung tâm hướngnghiệp…
Trang 4Việt Nam hoàn toàn có khả năng hoàn thành Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) về phổ cập giáo dục tiểu học trước năm 2015.
Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống giáo dục đầy đủ các cấp học ở mọi vùng, miền với nhiều loại hình trường lớp với số lượng học sinh đến trường ở các cấp ngày một tăng Năm học 2004 - 2005, đã có hơn 22 triệu học sinh, sinh viên theo học trong hơn 37.000 cơ sở giáo dục - đào tạo
Giáo dục đại học, cao đẳng cũng ngày càng được mở rộng về quy
mô đào tạo, cơ sở vật chất ngày càng được nâng cấp, chương trình đào tạo dần dần được đổi mới Nền giáo dục đại học Việt Nam một mặt đã đáp ứng xu hướng thế giới là tiến tới phổ cập giáo dục đại học, mặt khácvẫn giữ nền tảng giáo dục tinh hoa
Trong những năm qua, để thúc đẩy giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng dạy và học, Nhà nước đã thực hiện xã hội hóa để huy động tiềm năng của các thành phần kinh tế cho giáo dục và đào tạo Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục và đào tạo đã tăng từ 15% năm 2000lên 18% năm 2005 với cơ cấu tăng chi cho những nhiệm vụ trọng tâm của ngành như đổi mới chương trình, bồi dưỡng giáo viên, tăng cường giáo dục miền núi
Các dự án ODA trong giáo dục đào tạo cũng đã dành phần lớn cho giáo dục cơ bản và đang được triển khai với tổng vốn vay hàng trăm triệu USD Việt Nam cũng đang tiến hành một dự án đặc biệt "Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn" với khoản kinh phí
Trang 5khăn được đi học Dự án đã được triển khai tại 219 huyện khó khăn thuộc 40 tỉnh trong cả nước với gần 15.000 điểm trường.
Bên cạnh đó, Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách công bằng trong tiếp cận giáo dục, đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số, trẻ ở vùng khó khăn Trước hết là ưu tiên đầu tư theo mục tiêu cho các địa bàn có nhiều khó khăn, phát hành công trái giáo dục để hỗ trợ cho các tỉnh miền núi, vùng khó khăn xây dựng trường học kiên cố, đạt chuẩn chất lượng và thực hiện xoá đói giảm nghèo, thông qua đó tạo nhiều cơ hội cho trẻ tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ giáo dục Hệ thống các trường phổ thông nội trú và bán trú được củng cố và mở rộng với 13 trường trung ương, 50 trường tỉnh, 266 trường huyện và 519 trường bán trú xã, cụm xã
Năm 2000, Việt Nam đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập tiểu học Từ năm học 2002-2003, tỷ lệ biết chữ của người lớn trong
độ tuổi 15-24 đã đạt gần 95%, số năm đi học trung bình của người dân đạt mức 7,3 năm Việc dạy chữ dân tộc đã được đẩy mạnh ở các địa phương, nhờ đó tỷ lệ người dân tộc thiểu số mù chữ giảm mạnh
Ngành giáo dục và đào tạo đã đạt và vượt các chỉ tiêu cơ bản mà Chiến lược phát triển giáo dục đề ra cho năm 2005 trong năm học 2003-
2004 Phổ cập giáo dục tiểu học đã đạt được thành tích đáng kể ở tất cả các vùng miền trong cả nước Việt Nam được đánh giá là có tiến bộ nhanh hơn so với phần lớn các nước có thu nhập thấp khác trên thế giới trong việc khắc phục những sự chênh lệch về giới và về tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi
Trang 6Tỷ lệ học sinh tiểu học nhập học đúng độ tuổi đã tăng từ 90% trong thập niên 1990 lên gần 98% trong năm học 2004-2005 (mục tiêu quốc gia đề ra là đạt 97% vào năm 2005) Nếu như năm học 1997-1998, tỷ lệ học sinh hoàn thành bậc tiểu học đạt 68% thì đến năm học 2004-2005,
tỷ lệ này đã đạt từ 99%-100% ở các vùng miền và tăng nhanh ở khu vựcTây Nguyên
Có gần 120.000 trẻ khuyết tật học hòa nhập trong các trường phổ thông và mầm non Trong năm học 2003-2004, hầu hết các địa phương trong cả nước đã
huy động được gần 90% trẻ khuyết tật độ tuổi lớp 1 đi học hòa nhập theo chương trình và sách giáo khoa mới
Tất cả những con số nói trên cho thấy Việt Nam đã tạo được sự công bằng trong tiếp cận học tập cho tất cả trẻ em gái, trai của các dân tộc, ở các vùng, miền và đặc biệt quan tâm tới những trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Không chỉ quan tâm tới việc phổ cập tiểu học mà Nhà nước còn có
sự quan tâm đặc biệt tới giáo dục mầm non, bậc học tiền đề cho giáo dục tiểu học Bậc học này hiện đã được khôi phục sau một thời gian dài gặp khó khăn ở nhiều địa phương Hiện nay, cả nước chỉ còn 4 xã mới tách chưa có lớp học mầm non Những thay đổi trong chính sách đãi ngộ đối với giáo viên đã tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của bậc học này trong mấy năm gần đây
Trang 7Các trường lớp của Việt Nam đã và đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn về hạ tầng cơ sở đảm bảo cho việc dạy và học có chất lượng tương đương với các nước khác trong khu vực Hiện tại, cả nước
đã có gần 500 trường mầm non, gần 3.200 trường tiểu học, trên 400 trường trung học cơ sở và phổ thông trung học đạt trường chuẩn quốc gia
Việc đầu tư cho đội ngũ giáo viên nói chung được chú trọng đặc biệt Mạng lưới trường sư phạm rộng khắp cả nước với 10 trường đại học sư phạm, 11 trường đại học đa ngành được nâng cấp từ cao đẳng sư phạm (trong đó chủ yếu là đào tạo sư phạm), trên 80 trường cao đẳng tham gia đào tạo giáo viên
Trong vòng 5 năm qua, mạng lưới đào tạo này đã cung cấp thêm gần250.000 giáo viên từ mầm non tới phổ thông trung học Hiện có gần 1 triệu giáo viên, giảng viên, trong đó có 700 giáo viên tiểu học có trình
độ cao đẳng sư phạm trong lĩnh vực dạy trẻ khuyết tật và gần 9.000 giáoviên mầm non, tiểu học được tập huấn đào tạo về giáo dục hòa nhập
Các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã chỉ rõ: Xã hội hoá giáo dục có
vị trí quan trọng, ngày nay Xã hội hóa giáo dục trở thành một trong những quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗingười dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân và tổ chứcnước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội Đây là một tư
Trang 8tưởng chiến lược, một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp giáo dục
1/giáo dục mầm non
Xã hội hóa giáo duc mầm non đã có nhiều thành tựu: cả nước có
93000 lớp mẫu giáo với 112800 giáo viên và gân 2,3triệu cháu Tỷ lệ trẻ em 3-5 tuổi đi học mẫu giáo gần 50%
Từ các điểm sáng về huy động lực lượng xã hội làm giáo dục của
xã Đồng Tâm (Lạc Thủy); Đa Phúc (Yên Thuỷ); Phường Phương Lâm(TPHB), đến nay, toàn tỉnh đã dành được những kết quả đáng khích lệtrên 99,8% trẻ em trong độ tuổi được đến trường Hòa Bình đã đạtchuẩn PCGDTH - CMC năm 1995; năm 2003, đạt chuẩn PCGDTHCS;năm 2005 đạt chuẩn PCGDTH đúng độ tuổi, hiện nay đang từng bướcthực hiện PCGD bậc Trung học ở những nơi có điều kiện Hòa Bình đãchặn đứng tình trạng học sinh thất học, bỏ học của học sinh; toàn tỉnh đã
có trên 100 trường mầm non, Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia Cơ sở vậtchất trường học đã thay đổi hẳn so với trước đây, bộ mặt các nhà trườngkhang trang, sạch đẹp hơn
2/giáo dục phổ thông
Tiểu học: Quy mô học sinh tiểu học giảm và đang đi vào ổn định
Tỷ lệ huy động học sinh đi học đúng tuổi hàng năm xấp xỉ 98% vượt chỉtiêu đề ra trong chiến lược giáo dục đề ra 2001 – 2010
Trung học cơ sở : Số học sinh tăng ổn định Tỷ lệ học sinh tốtnghiệp tiểu học được tuyển vào lớp 6 đạt trên 96% Tỷ lệ huy đọng
Trang 9trong độ tuổi đạt trên 80%, vượt chỉ tiêu đề ra trong chiến lược giáo dục
2001 – 2010
Trung học phổ thông: Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp lớp 9 vào lớp 10của cả nước đạt trên 70%, tỷ lệ đi học đúng độ tuổi đạt 40 – 45% Cảnước có khoảng 27000 trường phổ thông với 771000 giáo viên và 17.1triệu học sinh Cơ sỏ vật chất kỹ thuật của trường lớp được nâng cấp, cảithiện rõ rệt
Giáo dục thường xuyên: Số lượng học viên xóa mù chữ và bổ túcvăn hóa các cấp lên tới gần 1triệu ngườiv mỗi năm Cả nước có trên 500trung tâm giáo dục thường xuyên các cấp, 80 trường bổ túc văn hóa Lao Động Hướng Nghiệp: Số học sinh trung học cơ sởv và trunbghọc phổ thông được học nghề vào khoảng 1.5 đến 2 triệu người Trên70% số trường trung học cơ sở và trung học phổ thông đã tổ chưc hoạtđộng hướng ngiệp cho hocdj sinh Cả nước cos gần 250 trung tâm kỹthuật ttổng hợp – hướng nghiệp, gần 300 trung tâm ghép giáo dụcthường xuyên – hướng nghiệp
Học sinh dân tộc: Ở các địa phương miền núi, hệ thống các trườngphổ thông dân tộc nội trú và bán trú được củng cố, mở rộng Cả nước cótrên 800 trường trung học phổ thông trung học nội trú và bán trú cáccấp Số học sinh dân tộc thiểu số đei học ngày càng tăng
3/ Giáo Dục Trung Học Chuyên Nghiệp
Quy mô đào tạo trung học chuyên nghiệp tăng do số học sinh tốtnghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông có xu hướng tăng nhanh
Trang 10Số học sinh tuyển mới hàng năm vào khoảng 200- 300 nghìn người,trong đó khối kỹ thuật và khối kinh tế chiếm tới 60 – 70% Số giáo viêntrung học chuyên nghiệp đạt trên 1 vạn người.Số học sinh bình quântrên 1 giáo viên trung học đạt 21,6 người.
Cả nước có trên 300 trường trung học chuyên nghiệp chua kể cácngành quân đội và công an, tính trung bình mỗi tỉnh có 3 đến 5 trườngtrung học chuyên nghiệp Số các trường trung học phổ thông, dạynghề, trung học chuyên nghiệp và đại học ngoài công lập tăng nhanhchóng Tínhv đến thời điểm hiện tại, cả nước có tới 40 trường trung họcchuyên nghiệp ngoài công lập ( chiếm 9,4%), 27 trường cao đẳng và đạihọc ngoaì công lập ( chiếm tỉ lệ 12,1%), tỉ lệ nhập học ở các trường caođẳng và đại học tư thục chiếm 13% tổng số nhập học cao đẳng và đạihọc Huy động các nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước chiếmkhoảng 25% nguồn tài chính của giáo dục, trong đó học phí và đónggóp xây dựng trường là 22%
4/ Giáo Dục Cao Đẳng Đại Học Và Sau Đại Học
Đại học, cao đẳng: hàng năm, số sinh viên hệ chính quy được tuyểnmới là 200 nghìn người, hệ không chính quy vào khoảng trên 100 nghìnngười Trong đó khối sư phạm chiêm 20%, khối kỹ thuật chiếm 30%,khối kinh tế chiếm 20% Số sinh viên các trường dân lập chiếm gần15% Quy mô sinh viên cao đẳng, đại học ước khoảng 1,1 triệu người,đạt 130 đến 135sinh viên trên 1 vạn dân
Sau đại học: Tổng chỉ tiêu tuyển sinh sau đại học mỗi năm từ 15 đến
Trang 11Đào tạo tại nước ngoài: Số lưu học sinh đang lưu học nước ngoàitính đến tháng 5 năm 2004 như sau: Diện hiệp định với các nướckhoảng 3000 người, diện ngân sách nhà nước cấp là trên 1000 người,diện học bổng ngắn hạn khoảngv 5000 người Hàng năm, số tuyển sinhmới đào tạo tại nước ngoài vào khoảng 500nghìn người.
Tính đến nay, cả nước có gần 240 trường cao đẳng đại học, tổng số
cơ sở có bậc đào tạo sau đại học lên tới hơn 143 cơ sở, bao gồm 77trường dại học và học viện, 66 viên nghiên cứu khoa học
Số giảng viên bậc đại học cao đẳng gần 50 nghìn người, trong đó có45%đạt trình độ thạc sĩ trở lên, với trên 1,7 nghìn giáo sư và phó giáo
sư, trên 5000 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học Số sinh viên bình quân trên 1giảng viên là 25 đến 26 người
II MỘT SỐ HẠN CHẾ
Xã hội và giáo dục vẫn còn chậm do chưa ban hành đầy đủ vàđồng bộ các văn bản pháp quy về cơ chế chính sách và các văn bản thựchiện ( như chế độ học phí, vấn đề sở hữu trong cơ sở ngoài công lập,vấn đề nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong trường học, ưu đãi cấp đấtxây dựng trường học, phân phối thu nhập, chế đọ chính sách đối vớigiáo viên, học sinh, người tham giaq góp vốn đâquf tư vào giáo dục )
và những yếu kém trong quản lý cũng như sự phối hợp giữa các cơ quantrung ương và địa phương để quản lý các cơ sở ngoài công lập còn thiếuchặt chẽ Chất lượng giáo dục đà tạo ngoài công lập chưa đáp ứng đượcyêu cầu, học phí của các cơ sở ngoài công lập còn cao Điều khiến
Trang 12xã hội trăn trở hơn cả là trong quá trình thực hiện XHH GD-ĐT, nhiềutrường vẫn còn “dạy những gì
mà nhà trường có, chứ chưa dạy những gì mà xã hội cần” Nhiềungành học chưa gắn được đào tạo với nghiên cứu khoa học, với sảnxuất, với các doanh nghiệp… Kết quả: Người học sau khi học xonghoặc không làm việc, hoặc không tìm được việc làm, hoặc phải họcthêm nhiều những gì mà thị trường lao động thực tế đang đòi hỏi.Ngược lại, nhiều cơ sở còn chạy theo mặt trái của thị trường, dạy hờihợt, không đảm bảo chất lượng, phát sinh nhiều tiêu cực trong học tập,xuất hiện hiện tượng mua bằng, bán cấp, học giả, học thật
Đến nay, trong tổng quy mô đào tạo trung học chuyên nghiệp, sốhọc sinh các trường công lập chiếm gần 90% Số học sinh các trườngbán công, dân lập chỉ đạt trên 10%, còn rất thấp so với mục tiêu đề ratrong chiến lược giáo dục đến năm 2010 (30%)
Nói cách khác, xã hội hóa giáo dục là tất yếu Nhưng xã hội hóa thếnào, ở nội dung và mức độ nào, thì là vấn đề cần thảo luận Nếu không,một chủ trương đúng trở thành một sự lạm dụng vì lợi ích cục bộ cónguy cơ trở thành hiện thực
Chiến tranh qua đi , đất nước hòa bình thống nhất , thấm thoát 10năm , 20 năm , 34 năm nhìn lại Việt Nam vẫn là nước nghèo , tụt hậuvới cả những nước trước đây kém phát triển hơn mình Đổ cho nguyênnhân do chiến tranh thì chiến tranh đã qua từ lâu và thực tế cũng thờigian đó sau chiến tranh nhiều nước trên thế giới đã có những bước phát