1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, THỰC TRẠNG sử DỤNG bột đa VI CHẤT TRÊN TRẺ EM từ 6 59 THÁNG TUỔI và các yếu tố LIÊN QUAN tại 3 TỈNH THÁI NGUYÊN, QUẢNG NAM và cà MAU năm 2014

101 162 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 3,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ nhiều thập kỷ nay, tỷ lệ thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đã được chứng minh rõ là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng YNSKCĐ ở nhiều nước đang phát triển trong đó c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN HỮU CHÍNH

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BỘT ĐA VI CHẤT TRÊN TRẺ EM TỪ 6-59 THÁNG TUỔI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI 3 TỈNH THÁI NGUYÊN, QUẢNG NAM VÀ CÀ MAU

NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Hà Nội – Năm 2015

.

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN HỮU CHÍNH

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BỘT ĐA VI CHẤT TRÊN TRẺ EM TỪ 6-59 THÁNG TUỔI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI 3 TỈNH THÁI NGUYÊN, QUẢNG NAM VÀ CÀ MAU

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Hữu Chính

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban Giám đốc Viện đào tạo Y học dự phòng

và Y tế công cộng, các Thầy Cô giáo và các Bộ môn - Khoa -Phòng liên quan của Viện đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Tiến sĩ Trần Thúy Nga

và Tiến sĩ Trịnh Bảo Ngọc, những người Thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, dành nhiều thời gian trao đổi và định hướng cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Viện Dinh dưỡng, Dự án GAIN đã

hỗ trợ kinh phí giúp tôi hoàn thành các hoạt động nghiên cứu tại thực địa

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ Viện Dinh dưỡng đã giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp tại Khoa Dinh dưỡng học đường – Viện Dinh dưỡng đã nhiệt tình giúp đỡ và chia sẻ kinh nghiệm giúp tôi hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng tới Gia đình của tôi là nguồn động viên và truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành luận văn

Nguyễn Hữu Chính

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ x

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Thực trạng suy dinh dưỡng (SDD) của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ hiện nay 4 1.2 Thực trạng thiếu vi chất dinh dưỡng, thiếu máu ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ 6

1.3 Hậu quả của SDD đối với trẻ em 8

1.4 Các giải pháp phòng chống SDD hiện nay 10

1.5 Can thiệp bổ sung bột đa vi chất (MNP) trong phòng chống SDD 12

1.6 Hiệu quả bao phủ MNP, các yếu tố liên quan tới độ bao phủ 24

1.7 Giới thiệu dự án “Cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ” 26

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu 28

2.2 Phương pháp nghiên cứu 28

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 39

3.2 Độ bao phủ của sản phẩm MNP 49

3.3 Các yếu tố liên quan tới độ bao phủ của sản phẩm MNP 54

Trang 6

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 63

4.1 Bối cảnh nghiên cứu và thông tin chung 63

4.2 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ……… 64

4.3 Các mức độ bao phủ của sản phẩm 66

4.4 Các yếu tố liên quan tới độ bao phủ của sản phẩm 70

4.5 Những hạn chế của nghiên cứu 76

KẾT LUẬN 77

KHUYẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 83

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DALYs : Disability Adjusted Life Years (Giảm khả năng sống và tàn tật)

DE : Design Effect (Hệ số thiết kế mẫu)

GAIN : Global Alliance for Improved Nutrition (Liên minh toàn cầu

tăng cường dinh dưỡng) HAZ : Height for age Z-score (Z-score chiều cao theo tuổi)

MNP : Micronutrient Powder (Bột đa vi chất)

RR : Relative Risk (Nguy cơ tương đối)

SD : Standard Deviation (Độ lệch chuẩn)

SDD : Suy dinh dưỡng

THCS : Trung học cơ sở

THPT : Trung học phổ thông

UNICEF : United Nation Children Fund (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc) USAID : United States Agency for International Development (Cơ

quan phát triển quốc tế Hoa Kì)

WB : World Bank (Ngân hàng thế giới)

WFP : World Food Program (Chương trình lương thực thế giới) WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

YNSKCĐ : Ý nghĩa sức khỏe cộng đồng

WAZ : Weight for age Z-score (Z-score cân nặng theo tuổi)

WHZ : Weight for height Z-score (Z-score cân nặng theo chiều cao)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 1.1 Thiếu kết hợp nhiều vi chất dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam

trước tuổi đi học

7

Bảng 1.2 Thành phần vi chất dinh dưỡng của MNP 16 Bảng 3.1 Thông tin chung về mẹ/ người chăm sóc trẻ chính 39

Bảng 3.3 Phân bố mức kinh tế hộ gia đình theo địa bàn nghiên cứu 43 Bảng 3.4 Giá trị trung bình các chỉ số Z-score của trẻ tham gia

nghiên cứu

43

Bảng 3.5 Phân bố mức độ SDD thể nhẹ cân theo địa bàn nghiên cứu 44 Bảng 3.6 Phân bố mức độ SDD thể thấp còi theo địa bàn nghiên cứu 45 Bảng 3.7 Phân bố mức độ SDD thể gầy còm theo địa bàn nghiên cứu 46 Bảng 3.8 Phân bố mức độ SDD thể nhẹ cân theo nhóm tuổi 46 Bảng 3.9 Phân bố mức độ SDD thể thấp còi theo nhóm tuổi 47 Bảng 3.10 Phân bố mức độ SDD thể gầy còm theo nhóm tuổi 48 Bảng 3.11 Độ bao phủ Thông tin của sản phẩm MNP theo địa bàn

nghiên cứu

49

Bảng 3.12 Các nguồn cung cấp thông tin về sản phẩm MNP cho bà

mẹ theo địa bàn nghiên cứu

Trang 9

Bảng 3.16 Các món ăn bà mẹ/ người chăm sóc trẻ hay sử dụng để

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang Biểu đồ 1.1 Diễn biến SDD thể thấp còi và nhẹ cân ở trẻ em dưới 5

tuổi ở Việt Nam 2000 – 2013

5

Biểu đồ 3.1 Trình độ học vấn của bà mẹ theo địa bàn nghiên cứu 40 Biểu đồ 3.2 Nghề nghiệp của bà mẹ theo địa bàn nghiên cứu 41 Biểu đồ 4.1 Độ bao phủ MNP theo địa bàn nghiên cứu 66 Biểu đồ 4.2 So sánh các độ bao phủ sản phẩm MNP trong nghiên

cứu của Việt Nam (2014) và Kenya (2008)

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ các dữ liệu thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy tình hình suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ em các khu vực đã có sự thay đổi rõ rệt SDD thể nhẹ cân đã giảm thấp song thể thấp còi vẫn còn cao và thường kèm theo thiếu vi chất Năm 2012 tỷ lệ SDD thấp còi trên thế giới là 25%, và 56%

số trẻ thấp còi trên toàn thế giới là trẻ em Châu Á [1] Theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng tỷ lệ SDD thể thấp còi của trẻ em Việt Nam năm 2013 vẫn còn cao chiếm 25,9% ở trẻ dưới 5 tuổi [2]

Hiện nay, SDD thể vừa và nhẹ rất phổ biến và có ý nghĩa sức khoẻ quan trọng và ngay cả SDD thể nhẹ cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ bệnh tật

và tử vong so với trẻ em không bị SDD Thiếu dinh dưỡng và thường xuyên mắc bệnh nhiễm khuẩn không chỉ ảnh hưởng đến phát triển chiều cao mà còn gây tổn thương đến chức năng và cấu trúc của não bộ, do đó làm chậm quá trình phát triển nhận thức và trí tuệ của trẻ [3] Hậu quả của SDD gây ra các tác động tiêu cực lâu dài đến sức khỏe không chỉ ở hiện tại mà còn tác động đến cả thế hệ sau

Từ nhiều thập kỷ nay, tỷ lệ thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đã được chứng minh rõ là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng (YNSKCĐ) ở nhiều nước đang phát triển trong đó có Việt Nam [4], và những hậu quả nặng nề của nó đối với tỷ lệ tử vong, bệnh tật, cũng như nguy cơ giảm khả năng phát triển ở những giai đoạn sau này và ảnh hưởng xấu tới chất lượng cuộc sống của trẻ Trên thực tế các đối tượng có nguy cơ cao thường bị thiếu đa vi chất dinh dưỡng chứ không phải chỉ thiếu đơn độc một vi chất dinh dưỡng [5]

Trong 3 nhóm giải pháp để tăng cường vi chất dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thì giải pháp cung cấp các sản phẩm chứa nhiều loại vi chất

Trang 13

(dạng viên nang, sirô, dạng bột…) là cách nhanh nhất để có thể cải thiện tình trạng vi chất dinh dưỡng của trẻ [6]

Do vậy giải pháp bố sung đa vi chất dinh dưỡng theo những phương pháp khác nhau hiện nay đang được WHO và Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) quan tâm và khuyến nghị như một trong những giải pháp ưu tiên

để phòng chống một cách hiệu quả vấn đề thiếu vi chất dinh dưỡng [7]

Gói đa vi chất Micronutrient Powder (MNP) đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới và cho thấy hiệu quả tích cực trong công cuộc phòng chống SDD trên trẻ em dưới 5 tuổi tại nhiều quốc gia khác nhau [8] Trên thế giới đã có nhiều quốc gia thành công trong việc xã hội hóa sản phẩm MNP, qua đó cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em dưới 5 tuổi [8],[9]

Tại Việt Nam hiện nay, Viện Dinh dưỡng (VDD) đã phối hợp với Liên minh tăng cường dinh dưỡng toàn cầu (GAIN) cùng với WHO và UNICEF sản xuất sản phẩm gói bổ sung đa vi chất dành cho trẻ em dưới 5 tuổi theo khuyến nghị về bổ sung vi chất của WHO năm 2006 [6] GAIN đã triển khai thí điểm chương trình tiếp thị MNP tại Việt Nam trong khuôn khổ Dự án “Cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ” Hiện tại tình trạng dinh dưỡng của trẻ và thực trạng sử dụng MNP của trẻ em sau khi dự án được triển khai ra sao? Những yếu tố nào ảnh hưởng tới mức sử dụng MNP của trẻ? Chính vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình trạng dinh dưỡng, thực trạng sử dụng bột đa vi chất trên trẻ em từ 6-59 tháng tuổi và các yếu tố liên quan tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Quảng Nam và Cà Mau năm 2014” được thực hiện với các mục tiêu sau:

1 Mô tả tình trạng dinh dưỡng của trẻ em 6-59 tháng tuổi tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Quảng Nam và Cà Mau năm 2014

2 Mô tả thực trạng sử dụng bột đa vi chất trên trẻ em từ 6-59 tháng tuổi tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Quảng Nam và Cà Mau năm 2014

Trang 14

3 Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng sử dụng bột đa vi chất trên trẻ em từ 6-59 tháng tuổi tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Quảng Nam và Cà Mau năm 2014

Trang 15

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Thực trạng suy dinh dưỡng (SDD) của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ hiện nay 1.1.1 Tình hình SDD trên thế giới

1.1.1.1 Tình hình SDD thấp còi: Theo báo cáo gần đây nhất (9-2013) của UNICEF – WHO – WB [1] thì trong năm 2012 trên toàn thế giới còn 162 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi, chiếm 25% tổng số trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới, trong đó 56% trẻ thấp còi sống tại Châu Á Báo cáo này cũng chỉ ra rằng, tỷ lệ SDD thấp còi đã giảm từ 33% năm 2000 xuống còn 25% năm 2012 và gánh nặng từ 197 triệu trẻ xuống còn 162 triệu trẻ em 1.1.1.2 Tình hình SDD nhẹ cân: Cũng theo báo cáo trên của UNICEF – WHO – WB [1] năm 2012 còn 99 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới bị SDD nhẹ cân, chiếm 15% tổng số trẻ em trên toàn thế giới, 67% số trẻ em nhẹ cân sống tại Châu Á Tuy nhiên mức giảm SDD nhẹ cân đã chậm lại chỉ đạt 10% trong vòng hơn 20 năm (1990 – 2012) và về cơ bản không thể đạt mục tiêu thiên niên kỷ vào năm 2015

1.1.1.3 Tình hình SDD gày còm: Cũng theo báo cáo trên của UNICEF – WHO – WB [1] năm 2012 còn 51 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới bị SDD gày còm, chiếm 8% tổng số trẻ em dưới 5 tuổi Trong đó có 17 triệu trẻ

em bị SDD gày còm nặng, chiếm 3% tổng số trẻ Cũng tương tự như SDD thấp còi và nhẹ cân, đa số trẻ em gày còm (71%) sống tại Châu Á

1.1.2 Diễn biến tỷ lệ SDD ở trẻ em Việt Nam từ năm 2000 cho tới nay 1.1.2.1 Diễn biến tỷ lệ SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam: Tại Việt Nam, hệ thống Giám sát dinh dưỡng quốc gia đã được triển khai từ năm

1985 cho tới này [2], nhờ vậy chúng ta có thể có cái nhìn tổng quát hơn về tình trạng SDD của trẻ em Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn từ năm 2000

Trang 16

cho tới nay Dưới đây là biểu đồ biến thiên tình trạng SDD thấp còi và nhẹ cân của trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam từ năm 2000 cho tới năm 2013

Biểu đồ 1.1 Diễn biến SDD thể thấp còi và nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi ở

Việt Nam 2000 – 2013 [2]

Tỷ lệ SDD thể thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi năm 2000 là 36,5%, đến năm 2005 tỷ lệ SDD thể thấp còi đã giảm xuống 29,6% (theo quần thể tham chiếu NCHS) Tuy nhiên kết quả trong hình 1.1 cho thấy tỷ lệ SDD thể thấp còi tăng lên 33,9% năm 2007 và 32,6% năm 2008 nguyên nhân là do từ 2006 chúng ta sử dụng chuẩn tăng trưởng của WHO 2006 thay cho quần thể tham chiếu của NCHS Cho tới nay (2013) tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi là 25,9%, vẫn còn ở mức trung bình theo phân loại của WHO [10]

1.1.2.2 Diễn biến tỷ lệ SDD nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam: Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân của trẻ em dưới 5 tuổi năm 2000 là 33,8% và đã giảm nhanh xuống 17,5% vào năm 2010 với mức giảm hơn 1% mỗi năm Tuy nhiên, từ

36.5

34.8 33.0 32.0

30.7 29.6 31.3

33.9 32.6 31.9

29.3 27.5 26.7 25.9

33.8

31.9 30.1 28.4 26.6 25.2 23.4 21.2 19.9 18.9

Trang 17

năm 2010 cho tới nay, mức giảm này đã dần chậm lại và chỉ đạt mức 15,3% vào năm 2013 – gần với mức 15% của toàn thế giới vào năm 2012

1.1.2.3 Diễn biến tỷ lệ SDD gầy còm ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam: Tỷ lệ SDD thể gày còm của trẻ em dưới 5 tuổi năm 2000 là 8,6%, tuy vậy tỷ lệ này năm 2013 vẫn là 7,9% với 6,6% trẻ SDD gày còm vừa và 1,3% trẻ SDD gày còm nặng Chúng ta hầu như vẫn chưa đạt được tiến triển nào trong việc giảm

tỷ lệ SDD gày còm, có thể do tỷ lệ SDD thấp còi giảm nhanh nhưng tỷ lệ SDD nhẹ cân đang giảm chậm hơn

1.2 Thực trạng thiếu vi chất dinh dưỡng, thiếu máu ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ 1.2.1 Thực trạng thiếu vi chất hiện nay trên toàn thế giới

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bệnh thiếu máu thiếu sắt là bệnh thiếu vi chất dinh dưỡng hay gặp nhất trên toàn thế giới, ước tính có tới một nửa số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và 40% trẻ em từ 6 đến 59 tháng tuổi trên toàn thế giới bị thiếu máu thiếu sắt [11] Cũng theo tổ chức này có tới 250 triệu trẻ em trên toàn cầu bị thiếu vitamin A và có 500.000 trẻ bị mù lòa vì thiếu vitamin A mỗi năm, một nửa trong số đó tử vong sau 12 tháng [12] 1.2.2 Thực trạng thiếu máu – thiếu sắt của trẻ em Việt Nam

Ở Việt Nam, theo kết quả tổng điều tra vi chất dinh dưỡng 2009 – 2010 [13], cho thấy ở nhóm tuổi càng nhỏ trẻ càng có nguy cơ thiếu máu cao, và trẻ lớn có ít nguy cơ thiếu máu hơn: nhóm trẻ 0 - 12 tháng và 12 - 24 tháng có tỷ

lệ thiếu máu cao nhất là 45,3% và 44,4%; trong khi đó ở nhóm 24-35 tháng tỷ

lệ này chỉ còn 27,5% Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng tỷ lệ thiếu máu ở nước

ta vẫn ở mức vừa và nặng về YNSKCĐ tại hầu hết các vùng sinh thái Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc là 29,2%, tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở miền núi phía Bắc là 43% là vùng duy nhất trong cả nước có mức thiếu máu nặng về YNSKCĐ

Trang 18

Nghiên cứu điều tra tình hình thiếu vi chất ở 6 tỉnh miền núi phía Bắc của tác giả Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự năm 2011 đã phát hiện thấy tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em là 29,1%, thuộc mức trung bình về YNSKCĐ Tỷ lệ dự trữ sắt thấp (Ferritin < 30 μg/dL) là 49,1% Tương tự, tỷ lệ thiếu máu do thiếu sắt (cả Hb và Ferritin thấp) là 52,9% [14] Mặc dù có những nỗ lực của Chương trình phòng chống thiếu máu thiếu sắt những năm qua đã góp phần đưa được

tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt chung ở trẻ em dưới 5 tuổi xuống còn 34,1%, giảm một nửa so với những năm 90 khi bắt đầu chương trình [15] Nhưng cho đến nay ở Việt Nam, tỷ lệ trẻ trong năm đầu tiên của cuộc đời bị thiếu máu do thiếu sắt vẫn còn ở mức rất cao tới 60-80% đặc biệt những trẻ đẻ thiếu cân tỷ

lệ này còn cao hơn

1.2.3 Thực trạng thiếu vi chất dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam

Bảng 1.1 Thiếu kết hợp nhiều vi chất dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam trước tuổi đi học

Loại vi chất Trai (n=137) Gái (n=106) Chung (n=243) Thiếu Selen 83 (61,9%) 66 (62,9%) 149 (62,3%)

Trang 19

trẻ Các tác giả cũng tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thiếu máu và thiếu selenium, thiếu retinol huyết thanh

Theo nghiên cứu của Bảo Khanh và cộng sự năm 2012 tại cả 3 miền trên toàn quốc thì tỷ lệ thiếu máu của trẻ em tiểu học tại thành thị là 13,7%, tỷ

lệ thiếu sắt là 7,7%, tỷ lệ thiếu vitamin A là 5,8% và tỷ lệ thiếu vitamin D là 52,7% Những tỷ lệ này tại nông thôn lần lượt là 11,3%, 4,5%, 9,7%, 48,1% [17] Các kết quả trên đã cho thấy rằng vấn đề thiếu đa vi chất không chỉ phổ biến ở trẻ nhỏ (dưới 5 tuổi) mà còn tồn tại ở cả trẻ tiểu học

1.3 Hậu quả của SDD đối với trẻ em

SDD ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, hành vi khả năng học tập của trẻ, khả năng lao động khi đến tuổi trưởng thành SDD trẻ em thường để lại những hậu quả nặng nề Gần đây, nhiều bằng chứng cho thấy SDD ở giai đoạn sớm, nhất là trong thời kỳ bào thai có mối liên hệ với mọi thời kỳ của đời người Hậu quả của thiếu dinh dưỡng có thể kéo dài qua nhiều thế hệ Phụ nữ

đã từng bị SDD trong thời kỳ còn là trẻ em nhỏ hoặc trong độ tuổi vị thành niên đến khi lớn lên trở thành bà mẹ bị SDD Bà mẹ bị SDD thường dễ sinh con nhỏ yếu, cân nặng sơ sinh (CNSS) thấp Hầu hết những trẻ có CNSS thấp

bị SDD (nhẹ cân hoặc thấp còi) ngay trong năm đầu sau sinh Những trẻ này có nguy cơ tử vong cao hơn so với trẻ bình thường và khó có khả năng phát triển bình thường

Tác giả Baker nêu ra một thuyết mới về nguồn gốc bào thai của một số bệnh mạn tính Theo ông, các bệnh tim mạch, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa ở người trưởng thành có thể có nguồn gốc từ SDD bào thai Chính vì thế, phòng chống SDD bào thai hoặc trong những năm đầu tiên sau khi ra đời có một ý nghĩa rất quan trọng trong dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời [18]

Trang 20

1.3.1 Ảnh hưởng đến vóc dáng/ chiều cao khi trưởng thành

Chiều cao có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố gene và môi trường thông qua các giai đoạn tăng trưởng Một số nghiên cứu triển khai ở các nước có thu nhập thấp và trung bình cho thấy chiều cao của người trưởng thành có mối quan hệ thuận chiều với cân nặng và chiều cao sơ sinh Mỗi cm chiều cao sơ sinh có liên quan với sự tăng 0,7-1cm chiều cao khi trưởng thành [19] Ở tất

cả các nước triển khai nghiên cứu, sự khác biệt chiều cao là rất lớn khi trưởng thành ở những người khi còn dưới 5 tuổi SDD thấp còi và không thấp còi Những trẻ em bị SDD thấp còi đến khi trưởng thành sẽ trở thành người có chiều cao thấp [19]

1.3.2 Ảnh hưởng đến nhận thức, phát triển trí tuệ và khả năng lao động khi trưởng thành

Mặc dù còn ít các nghiên cứu dọc theo dõi từ trẻ thơ đến khi trưởng thành, tuy nhiên bằng chứng cho thấy có sự kết hợp giữa SDD thấp còi với khả năng nhận thức hiện tại và trong tương lai hoặc khả năng học tập ở trẻ em thuộc những nước có thu nhập thấp hoặc trung bình Nhiều nghiên cứu triển khai ở các nước khác cho thấy có mối liên quan giữa SDD thấp còi, chậm đi học, thi lại nhiều hơn và tỷ lệ bỏ học cao, giảm tỷ lệ tốt nghiệp giữa cấp 1 và cấp 2, và chậm chạp trong học tập, nhận thức, học kém hơn lúc ấu thơ [20],[21]

Dinh dưỡng và vóc dáng lúc nhỏ có tác động đến thu nhập khi trưởng thành do cơ thể thấp bé, giảm khả năng lao động trong những công việc đòi hỏi thể lực Nghiên cứu thử nghiệm ở Guatemala chỉ ra rằng, có mối liên quan giữa Z-score chiều cao theo tuổi và thu nhập [22] Nếu tính cả đến giảm sút về tri thức do thiếu dinh dưỡng trong thời kỳ thơ ấu hoặc do chi phí cho chăm sóc nuôi nấng, thì riêng SDD thấp còi đã làm giảm 5% GDP hàng năm [23] Những

Trang 21

thiệt hại về kinh tế do SDD chủ yếu là vì năng suất lao động kém ở người

trưởng thành do đã bị SDD

1.3.3 Tăng gánh nặng bệnh tật và tử vong

SDD thể vừa và nhẹ hay gặp và có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng quan

trọng nhất vì ngay cả SDD nhẹ cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ bệnh tật và tử

vong so với trẻ em không bị SDD [24] Ước lượng gánh nặng bệnh tật cho

thấy gia tăng gánh nặng bệnh đối với nhóm trẻ em từ 6 đến 59 tháng tuổi vừa

bị SDD thấp còi, vừa bị gày còm Nguy cơ tử vong tăng trong nhóm có Z-score thấp hơn Tất cả các nguy cơ tăng có ý nghĩa trong nhóm trẻ có Z-score <-3SD [25]

SDD làm tăng tỷ lệ tử vong và làm tăng gánh nặng cho xã hội, ước tính

mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 2,1 triệu cái chết và 21% DALYs (91

triệu DALYs) ở trẻ em từ 6 đến 59 tháng tuổi vì lý do SDD; đồng thời SDD

cũng gây ra 35% gánh nặng bệnh tật ở trẻ em từ 6 đến 59 tháng tuổi [26],[27]

Trong những năm qua, có nhiều nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu của

Barker, Hale và cộng sự đã chỉ ra mối liên quan giữa kích thước nhân trắc học

lúc mới sinh và lúc 1 tuổi (đặc biệt nhấn mạnh vai trò của dinh dưỡng trong

thời kỳ sớm) với bệnh tim mạch và đó như là một yếu tố nguy cơ Cân nặng

thấp, chu vi vòng đầu lúc sinh và cân nặng thấp lúc 1 tuổi có mối liên quan

với việc tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch khi trưởng thành [18]

1.4 Các giải pháp phòng chống SDD hiện nay

1.4.1 Các giải pháp phòng chống SDD hiện nay trên thế giới

Kinh nghiệm và thực tiễn đã chỉ ra rằng, SDD hoàn toàn có thể phòng

tránh được hoặc kiểm soát được Hiện nay, các biện pháp phòng chống SDD

toàn cầu tập trung vào 4 nhóm biện pháp [28]: tăng lượng dinh dưỡng ăn vào,

bổ sung vi chất, giảm gánh nặng bệnh tật và các vấn đề liên quan đến cải thiện

cơ sở hạ tầng Văn hóa – Xã hội

Trang 22

Nhóm giải pháp thứ 1:

Tăng lượng dinh dưỡng trong khẩu phần (cả chất lượng và số lượng),

bao gồm các hoạt động: bổ sung năng lượng và protein cho phụ nữ mang thai,

các chiến lược giáo dục và nâng cao nuôi con bằng sữa mẹ, cải thiện số lượng

và chất lượng bữa ăn bổ sung của trẻ [28]

Nhóm giải pháp thứ 2:

Bổ sung vitamin và các khoáng chất, bao gồm: bổ sung đơn chất như sắt,

acid folic, vitamin A, iốt, kẽm và bổ sung đa vi chất cho trẻ Các hình thức

can thiệp thường bao gồm: bổ sung vi chất bằng đường uống, tăng cường vi

chất vào thực phẩm hoặc dưới dạng trộn vào thức ăn bổ sung (MNP) Nhóm

biện pháp này được nhiều nước nhìn nhận như là giải pháp lâu dài để phòng

chống thiếu vi chất dinh dưỡng và SDD thấp còi

Hiện nay WHO, WFP & UNICEF đã đưa ra công thức cho sản phẩm bổ

sung vi chất cho phụ nữ có thai, cho con bú và trẻ em 6-23 tháng tuổi và tổ

chức triển khai thử nghiệm cũng như can thiệp tại nhiều quốc gia trên thế

giới Các kết quả đều tương đối khả quan khi độ bao phủ, độ chấp nhận cao

cũng như có hiệu quả tốt trong cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ [8],[29]

Nhóm giải pháp thứ 3:

Giảm gánh nặng bệnh tật, bao gồm các hoạt động tuyên truyền vệ sinh

phòng bệnh truyền nhiễm như nâng cao thói quen rửa tay đúng cách, vệ sinh

nơi ở và các chiến lược nhằm làm giảm gánh nặng bệnh tật (đặc biệt là bệnh

nhiễm trùng, sốt rét đối với phụ nữ có thai) [28],[30]

Nhóm giải pháp thứ 4:

Nhóm giải pháp này liên quan đến cải thiện cơ sở hạ tầng và văn hoá –

xã hội, nâng cao trình độ dân trí, giảm sự mất công bằng trong phân bổ

nguồn lực [27]

Trang 23

1.4.2 Các giải pháp và hoạt động phòng chống SDD ở Việt Nam

Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng tại Việt Nam giai đoạn 2001-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 22 tháng 01 năm 2001 với một mục tiêu tổng quát và 5 mục tiêu cụ thể Giảm tỷ lệ SDD thấp còi là một chỉ tiêu quan trọng trong mục tiêu “giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và bà mẹ” Chỉ tiêu đặt ra trong giai đoạn 2001- 2010 là giảm mỗi năm 1,5% tỷ lệ SDD chiều cao theo tuổi ở trẻ em dưới 5 tuổi tính chung trong cả nước [31] Hiện nay, công tác phòng chống SDD trẻ em đã trở thành một hoạt động dinh dưỡng quan trọng ở nước ta trong đó mục tiêu hạ thấp tỷ lệ SDD được đưa vào chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các cấp chính quyền, các địa phương Nhìn chung các giải pháp can thiệp giai đoạn 2001-2010 mới đang tập trung vào phòng chống SDD thể nhẹ cân, chưa có giải pháp đặc hiệu cho SDD thấp còi

Các hoạt động phòng chống SDD tại cộng đồng hiện nay bao gồm: Thực hiện chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe cho các bà mẹ mang thai, nuôi con bú, nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung hợp lý, đảm bảo bổ sung đầy đủ vitamin

A cho trẻ em 6-36 tháng tuổi và bà mẹ sau sinh, thực hiện nuôi dưỡng tốt khi trẻ bị bệnh, chăm sóc vệ sinh, phòng chống nhiễm giun và tổ chức giáo dục,

tư vấn dinh dưỡng tại cộng đồng và tại các gia đình

1.5 Can thiệp bổ sung bột đa vi chất (MNP) trong phòng chống SDD 1.5.1 Tiếp thị xã hội và áp dụng trong can thiệp sức khoẻ

Định nghĩa: Tiếp thị xã hội được bắt nguồn từ tiếp thị nói chung (marketing), được coi là một môn khoa học nghiên cứu và giải quyết các quan hệ trao đổi giữa một tổ chức hay cá nhân với môi trường bên ngoài, giúp cho tổ chức/cá nhân đó đạt được những mục tiêu đã dự định với kết quả và hiệu quả cao nhất [32]

Trang 24

Các đặc điểm chính của tiếp thị xã hội bao gồm:

- Là một ngành riêng biệt trong lĩnh vực tiếp thị

- Nhằm mang lại lợi ích cho cả xã hội lẫn đối tượng đích

- Phụ thuộc vào những nguyên tắc và kỹ thuật được tiếp thị thương mại xây dựng và phát triển, đặc biệt là chiến lược hỗn hợp tiếp thị còn gọi

là 4P - sản phẩm (Product), giá cả (Price), địa điểm (Place) và quảng bá (Promotion)

Các thành phần của tiếp thị xã hội

Nguyên tắc chính của tiếp thị xã hội là tìm hiểu, hỗ trợ, kích thích, tạo điều kiện để đối tượng có thể thực hiện được Do vậy, lý thuyết về hỗn hợp tiếp thị 4P trong tiếp thị thương mại cũng được áp dụng vào tiếp thị xã hội [32]

Sản phẩm (Product) được định nghĩa là “những gì có thể cung cấp cho thị trường nhằm thỏa mãn một nhu cầu hay mong muốn Nó bao gồm hàng hóa, dịch vụ, địa điểm, tổ chức, hành vi và cả những ý tưởng Để tạo ra một sản phẩm, trước tiên chúng ta cần xác định vấn đề mà cộng đồng đang gặp phải mà sản phẩm tiếp thị là một giải pháp tốt cho vấn đề đó

Giá sản phẩm (Price) là chi phí mà người sử dụng cần phải trả để sở hữu sản phẩm tiếp thị xã hội Chi phí này được xây dựng dựa trên khả năng của đại đa số đối tượng có khả năng chi trả cho những sản phẩm đó, nó có thể tính bằng tiền (ví dụ như giá bán 1 vỉ viên sắt và axit folic cho phụ nữ có thai) hoặc những nỗ lực đòi hỏi các đối tượng đích cần điều chỉnh có liên quan đến giá trị tinh thần như thời gian, nỗ lực (ví dụ như thời gian và quãng đường từ nhà đến trạm y tế hàng tháng để nhận được dịch vụ hoặc mua viên sắt)… Giá của sản phẩm cần có sự điều chỉnh theo khả năng chi trả của đối tượng Mức

độ trợ giá càng thấp thì tính bền vững của chương trình càng cao

Trang 25

Địa điểm phân phối (Place) là cách thức mà sản phẩm tiếp thị xã hội tiếp cận đến đối tượng đích Đối với một sản phẩm hữu hình, đó là hệ thống phân phối tiện lợi và rộng khắp sản phẩm đến “tận tay” người sử dụng sản phẩm Với những sản phẩm vô hình thì địa điểm có thể hiểu đó là kênh truyền để các đối tượng thông qua đó có đầy đủ thông tin cần thiết

Quảng bá/xúc tiến sản phẩm (Promotion) hoạt động này bao gồm quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, quan hệ công chúng, chiến dịch truyền thông, phương tiện giải trí…Mục tiêu của hoạt động này nhằm quảng bá hình ảnh của sản phẩm và tạo ra nhu cầu bền vững của đối tượng đối với sản phẩm Mục đích cuối cùng của hoạt động này nhằm thúc đẩy đối tượng mong muốn thay đổi hành vi cũ chưa tích cực sang một hành vi tích cực hơn

Phương pháp này đã được áp dụng và nghiên cứu tại nhiều nơi trên thế giới và cả tại Việt Nam

Một số nghiên cứu truyền thông tích cực thay đổi hành vi làm giàu thức

ăn bổ sung cho trẻ em bằng các sản phẩm sẳn có ở địa phương ở Haiti, kết quả cho thấy có sự thay đổi ý nghĩa giữa 2 nhóm bà mẹ về kiến thức cũng như thực hành trước và sau khi can thiệp

Nhiều nghiên cứu của Smitasiri S tại Thái Lan vào năm 1988 – 1991 phía bắc Thái Lan tại huyện Kanthararom thuộc tỉnh Srisaket Phương pháp truyền thông có sự tham gia của cộng đồng trong nghiên cứu này là tăng cường sự tiếp cận các sản phẩm giàu Vitamin A sẵn có tại địa phương, kết quả cho thấy sự thay đổi có ý nghĩa về kiến thức và thực hành của bà mẹ

Tại Việt Nam, Nghiên cứu của Từ Giấy, Hà Huy Khôi, Lê Bạch Mai và

CS về cải thiện tình trạng dinh dưỡng bà mẹ, trẻ em tiến tới thanh toán đói nghèo với mục tiêu đến năm 2000 các cơ sở có thể duy trì các hoạt động nhờ

sự tham gia tích cực của cộng đồng tại huyện Ninh Thanh, Hải Hưng

Trang 26

Kết quả nghiên cứu của Hà Thị Anh Đào năm 2001 tại Hà Nội cho thấy việc giáo dục kiến thức kết hợp với hướng dẫn thực hành về vệ sinh thực phẩm trực tiếp cho người làm dịch vụ thức ăn đường phố: Biên soạn tài liệu sát với thực tế, phương tiện tập huấn đơn giản, thảo luận nhóm kết hợp với kiểm tra thường xuyên đã cải thiện có ý nghĩa tình trạng vệ sinh thức ăn đường phố

Theo nghiên cứu của Phạm Hoàng Hưng năm 2010 tại Huế cũng cho thấy rằng hiệu quả của truyền thông tích cực đến đa dạng hóa bữa ăn và tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ, trẻ em tại 2 xã thuộc huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế Nhìn chung các phương pháp truyền thông phối hợp đã được thực hiện với sự tham gia tích cực của cộng đồng đã đem lại kết quả khả quan trong cải thiện kiến thức, thực hành đa dạng hóa bữa ăn của phụ nữ và

bà mẹ có con nhỏ, đồng thời cũng đã cải thiện tình trạng thiếu máu ở bà mẹ

và trẻ em một cách rõ rệt [33]

Cũng theo nghiên cứu mới đây của Huỳnh Nam Phương về truyền thông tiếp thị xã hội với việc bổ sung sắt cho phụ nữ có thai dân tộc mường ở Hòa Bình cho thấy hiệu quả của chương trình tiếp thị xã hội đến chăm sóc dinh dưỡng và bổ sung sắt cho phụ nữ có thai của dân tộc Mường đã được cải thiện được cả kiến thức và thực hành về tình trạng thiếu máu và viên sắt của phụ nữ được can thiệp [32]

1.5.2 Giới thiệu về MNP

MNP là chữ viết tắt của cụm từ Micronutrient Powder, ở Việt Nam hiện nay sản phẩm thương mại của MNP được VDD sản xuất với sự hướng dẫn và tài trợ của WHO, UNICEF và GAIN là BIBOMIX MNP được đóng gói với khối lượng 1 gam/gói, trong đó có chứa 15 vitamin và khoáng chất thiết yếu, đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị trong ngày về vi chất dinh dưỡng cho trẻ em dưới 5 tuổi MNP được dùng bổ sung trực tiếp vào các

Trang 27

thức ăn chế biến tại nhà của trẻ ở dạng mềm hoặc dạng nghiền nhuyễn, cho phép gia đình bổ sung vào bữa ăn của trẻ một liều lượng vi chất phù hợp và

an toàn tại hộ gia đình

MNP là một bước đột phá trong các giải pháp về bổ sung vi chất dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ tại hộ gia đình Với khả năng cung cấp 15 loại vi chất cần thiết cho trẻ em trong một ngày theo nhu cầu khuyến nghị mà chỉ có khối lượng 1g, rất ít làm thay đổi màu sắc, mùi vị của món ăn cho nên đây là một giải pháp rất hiệu quả để cung cấp vi chất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ [34]

1.5.3 Thành phần vi chất của MNP

MNP được sản xuất dựa theo công thức khuyến nghị của WHO – WFP dành cho trẻ từ 6-59 tháng tuổi [6] MNP bao gồm 15 loại vitamin và khoáng chất cần thiết và hay bị thiếu hụt ở trẻ em

Bảng 1.2 Thành phần vi chất dinh dưỡng của MNP

Số thứ tự Vi chất Dinh dưỡng Hàm lượng (trong gói 1g)

Trang 28

12 Kẽm 4,1 mg

1.5.4 Vai trò của các vi chất trong sản phẩm MNP

Năm 2006 WHO và WFP đã đưa ra khuyến nghị về các vi chất cần thiết hay bị thiếu hụt và nên bổ sung cho trẻ em tại hộ gia đình [6] Tài liệu này chính là cơ sở xây dựng nên thành phần của sản phẩm MNP sau này Trong tài liệu này chức năng và hậu quả khi thiếu hụt của lần lượt từng vi chất đã được nêu lên

1.5.4.1 Sắt:

- Chức năng với trẻ nhỏ: sắt trong cơ thể người chủ yếu tồn tại ở hồng cầu trong hợp chất Haemoglobin có chức năng vận chuyển oxy Ngoài ra sắt còn là thành phần quan trọng của nhiều hệ enzyme, như là các cytochromes có chức năng quan trọng trong quá trình oxy hóa

- Dự trữ: sắt chủ yếu được dự trữ ở gan dưới dạng Ferritin hoặc Haemosiderin

- Hậu quả: hậu quả chính của thiếu sắt là thiếu máu Thiếu máu được định nghĩa là tình trạng nồng độ Haemoglobin huyết thanh thấp, ngưỡng đánh giá thiếu máu dựa trên nồng độ Haemoglobin huyết thanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố sinh lý khác như tuổi, giới, dân tộc Thiếu máu thiếu sắt ảnh hưởng đến khả năng phát triển cả thể lực, trí lực và sức bền của trẻ Thiếu máu thiếu sắt còn làm giảm khả năng hấp thu và chuyển hóa vitamin A và Iốt, không chỉ vậy thiếu sắt còn làm tăng nguy cơ tử vong ở trẻ em

Trang 29

1.5.4.2 Vitamin A:

- Chức năng với trẻ nhỏ: Vitamin A là một vi chất thiết yếu để hệ thống tiếp nhận hình ảnh của cơ thể có thể hoạt động tốt, không chỉ vậy Vitamin A còn có chức năng quan trọng trong việc phát triển của tế bào cũng như đảm bảo sự toàn vẹn của tế bào biểu

mô Một chức năng nổi bật khác của Vitamin A là đảm bảo cho

hệ thống miễn dịch và sinh sản của tế bào hoạt động tốt

- Dự trữ: Vitamin A là một vitamin tan trong dầu và được dự trữ chính tại Gan

- Hậu quả: thiếu Vitamin A là nguyên nhân chính của các bệnh mắt ở trẻ nhỏ như quáng gà, khô loét giác mạc thậm chí là mù lòa Thiếu Vitamin A cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng làm tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong ở trẻ em

1.5.4.3 Iốt:

- Chức năng với trẻ nhỏ: Iốt có chức năng chính là cấu tạo nên các enzyme tăng trưởng và chuyển hóa của tuyến giáp trạng (thyroid)

- Dự trữ: Iốt hầu như không được dự trữ trong cơ thể

- Hậu quả: thiếu Iốt để lại rất nhiều hậu quả cho trẻ nhỏ như tăng

tỷ lệ tử vong, giảm khả năng phát triển trí lực, khiếm khuyết về phát triển tâm lý Thiếu Iốt còn gây ra nhiều hậu quả cả cho trẻ lớn và người trưởng thành

1.5.4.4 Kẽm:

- Chức năng với trẻ nhỏ: kẽm là thành phần không thể thiếu của rất nhiều loại enzyme trong cơ thể (gần 600 loại), các enzyme này có nhiều chức năng khác nhau nhưng những chức năng nổi bật nhất là tham gia vào quá trình phân bào và tổng hợp protein

để đảm bảo cho quá trình tăng trưởng của cơ thể

Trang 30

- Hậu quả: thiếu kẽm khó xác định trên lâm sàng và để lại ít hậu quả khi thiếu ở mức độ ít, hậu quả chính khi thiếu ở mức vừa là thấp còi Nhưng những hậu quả khi thiếu kẽm ở mức độ nặng là rất nặng nề như là chậm tăng trưởng, tiêu chảy nhiều, rối loạn tâm thần và các bệnh nhiễm trùng tái phát nhiều lần

1.5.4.5 Acid Folic (Vitamin B9):

- Chức năng với trẻ nhỏ: chức năng chính của acid folic là tham gia vào quá trình tổng hợp Nucleotid đảm bảo cho quá trình phân bào có đủ nguyên liệu Chức năng này tương tự như của vitamin B12

- Hậu quả: hậu quả chính của thiếu acid folic ở trẻ em là thiếu máu hồng cầu khổng lồ Ngoài ra, thiếu acid folic trong quá trình mang thai có thể là nguyên nhân của dị tật ống thần kinh ở trẻ 1.5.4.6 Vitamin B12 (Cobalamin):

- Chức năng với trẻ nhỏ: chức năng chính của Vitamin B12 là tham gia vào quá trình tổng hợp Methionin, một acid amin thiết yếu trong cơ thể Một chất hóa học trung gian trong quá trình này (5-methyltetrahydrofolate) có ảnh hưởng tích cực lên quá trình

sử dụng acid folic (vitamin B12)

- Hậu quả: vì có mối liên quan chặt chẽ như vậy nên hậu quả của thiếu Vitamin B12 là tương tự như thiếu acid folic

1.5.4.7 Vitamin B1(Thiamin):

- Chức năng với trẻ nhỏ: Vitamin B1 là chất đồng hành (cofactor) không thể thiếu của một số enzyme chính trong quá trình chuyển hóa carbohydrate và tham gia trực tiếp đến chức năng thần kinh

- Hậu quả: hậu quả chính của thiếu Vitamin B1 là bệnh phù Beriberi với cả 2 thể khô và ướt

Trang 31

1.5.4.8 Vitamin B2 (Riboflavin):

- Chức năng với trẻ nhỏ: Vitamin B2 là một thành phần cấu tạo nên các Nucleotids là đơn phân của chuỗi DNA – DeoxyRiboNucleotide Acid cấu tạo nên các vật chất di truyền, Vitamin B2 còn là thành phần cấu tạo của Flavin Mononucleotide (FMN) và Flavin Adenin Dinucleotide (FAD) là

2 coenzym quan trọng trong các con đường chuyển hóa năng lượng

- Hậu quả: hậu quả do thiếu Vitamin B2 là mệt mỏi, loét miệng, giảm hấp thụ và chuyển hóa sắt

1.5.4.9 Vitamin B3 (Niacin):

- Chức năng với trẻ nhỏ: Vitamin B3 là thành phần cấu tạo nên Nicotinamide Adenine Dinucleotide (NAD) và Nicotinamide Adenine Dinucleotide Phosphate (NADP) là 2 coenzym quan trọng trong quá trình chuyển hóa năng lượng

- Hậu quả: hậu quả của thiếu Vitamin B3 là bệnh nứt da (Pellagra) 1.5.4.10 Vitamin B6:

- Chức năng với trẻ nhỏ: Vitamin B6 là tên gọi chung của một nhóm gồm 3 hợp chất tự nhiên là Pyridoxine, Pyridoxal và Pyridoxamine Vitamin B6 được Phosphoryl hóa tạo thành Pyridoxal 5’-Phosphate có vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa các amino acid

- Hậu quả: hậu quả của thiếu Vitamin B6 thường nằm trong hậu quả của thiếu các vitamin nhóm B (B-complex) nói chung

1.5.4.11 Vitamin C:

- Chức năng với trẻ nhỏ: Vitamin C có chức năng chính là tham gia quá trình tổng hợp Collagen và chống Oxy hóa

Trang 32

- Hậu quả: hậu quả khi thiếu Vitamin C nặng là bệnh Scurvy với các triệu chứng như chảy máu cam, chảy máu chân răng, sưng khớp Khi tiến triển nặng thậm chí có thể gây tử vong cho trẻ 1.5.4.12 Vitamin D:

- Chức năng với trẻ nhỏ: chức năng chính của Vitamin D là tăng cường hấp thu và sử dụng Canxi, Phốt pho Ngoài ra Vitamin D cũng tham gia vào chuyển hóa một số hooc môn của tuyến cận giáp và Insulin

- Hậu quả: hậu quả dễ thấy nhất của thiếu Vitamin D ở trẻ nhỏ là bệnh còi xương Trong một số trường hợp hiếm (không có thụ thể nhận Vitamin D) trẻ có thể mắc bệnh xương thủy tinh

1.5.4.14 Đồng:

- Chức năng với trẻ nhỏ: Đồng là coenzyme của nhiều enzyme tham gia quá trình chuyển hóa sắt trong cơ thể, ngoài ra đồng còn tham gia vào các protein làm bền vững thành mạch

- Hậu quả: thiếu đồng thường không có các triệu chứng đặc hiệu

Trang 33

1.5.4.15 Vitamin E:

- Chức năng với trẻ nhỏ: Vitamin E tham gia vào các cơ chế chống lại quá trình Oxy hóa từ các gốc tự do sản sinh từ các quá trình chuyển hóa trong cơ thể

- Hậu quả: thiếu Vitamin E thường không có các triệu chứng đặc hiệu 1.5.5 Khả năng chấp nhận và sử dụng sản phẩm MNP của trẻ em

Khả năng chấp nhận cao là một trong các yếu tố quyết định ảnh hưởng tới khả năng áp dụng thành công sản phẩm tới cộng đồng Đồng thời với đó là việc sản phẩm cần phải ở dạng dễ bảo quản, vận chuyển và tiện lợi khi sử dụng MNP đã giải quyết rất tốt các vấn đề này

Năm 2008, tác giả Adu-Afarwuah và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đánh giá sự chấp nhận của trẻ nhỏ từ 6 đến 12 tháng tuổi với sản phẩm MNP, kết quả cho thấy hầu hết tất cả trẻ (87%) chấp nhận tốt sản phẩm này trong điều kiện dùng hàng ngày [35]

1.5.6 Hiệu quả sử dụng MNP trong phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng và SDD ở trẻ em

Đã có rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu về hiệu quả MNP lên cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ em được triển khai trên thế giới, và hầu hết các nghiên cứu này đều đưa ra kết luận rằng MNP có hiệu quả cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ em

Năm 2013, tác giả Salam và cộng sự đã công bố kết quả nghiên cứu về tác dụng của bột đa vi chất trong phòng chống thiếu vi chất trẻ em, đây là một nghiên cứu tổng hợp (systematic review) kết quả của 17 nghiên cứu trước đó tại nhiều nước trên thế giới [36] Theo kết quả của nghiên cứu này bột đa vi chất có tác dụng làm giảm 34% tỷ lệ thiếu máu (RR: 0,66; 95%CI: 0,57-0,77), làm giảm 57% tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt (RR: 0,43; 95%CI: 0,35-0,52), làm giảm tỷ lệ thiếu vitamin A huyết thanh 21% (RR: 0,79; 95%CI: 0,64- 0,98)

Trang 34

Theo báo cáo của Sightandlife năm 2013, một nghiên cứu tại Nepal đã chỉ ra rằng bột đa vi chất có tác dụng làm giảm 40% tỷ lệ thấp còi và giảm 30% tỷ lệ tử vong liên quan tới tiêu chảy [8]

Trong năm 2009, Suchdev và các cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng tại tây Kenya và đưa ra kết luận rằng chỉ cần sử dụng một lượng nhỏ, không thường xuyên bột đa vi chất cũng có thể cải thiện tình trạng thiếu máu thiếu sắt và thiếu vitamin A trên trẻ em ở các vùng nghèo đói [9]

1.5.7 Liều dùng và thời gian sử dụng

MNP phù hợp để sử dụng hàng ngày và không dùng quá 1 gói sản phẩm/ngày Điểm quan trọng là cần sử dụng một cách thường xuyên để sản phẩm phát huy hiệu quả, vì vậy số lượng sản phẩm khuyến cáo sử dụng là ít nhất 60 gói sản phẩm trong vòng 6 tháng

- Điểm quan trọng cần lưu ý:

+ Chỉ sử dụng 1 gói MNP trong ngày

+ Không sử dụng quá 180 gói MNP trong vòng 6 tháng

1.5.8 Tác dụng ngoài ý

Tiêu chảy và nôn là 2 tác dụng ngoài ý hay gặp nhất ở trẻ nhỏ sử dụng sản phẩm bổ sung sắt, tuy vậy sản phẩm MNP đã phần nào khắc phục được tình trạng này Năm 2007 tác giả Hirve và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu sản phẩm MNP trên trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ và đưa ra kết quả chứng minh rằng

Trang 35

sản phẩm MNP gây tiêu chảy và nôn ít hơn so với viên uống hay dung dịch đường uống có chứa sắt fumarate (RR 0,52; 95%CI 0,38 - 0,72) Nghiên cứu này cũng đồng thời khẳng định rằng, trẻ em có bổ sung MNP không bị tiêu chảy hay nôn nhiều hơn so với nhóm đối chứng [37],[38]

1.6 Hiệu quả bao phủ MNP, các yếu tố liên quan tới độ bao phủ

1.6.1 Độ bao phủ của sản phẩm MNP

Hình 1.1 Các mức độ bao phủ của sản phẩm

Trang 36

Độ bao phủ của sản phẩm MNP được chia thành 4 mức độ như trong hình 1.1 Độ bao phủ thông tin (Message Coverage) là tỷ lệ bà mẹ/người chăm sóc trẻ đã từng biết về sản phẩm, Độ bao phủ Tiếp cận là tỷ lệ bà mẹ/người chăm sóc trẻ đã từng cho trẻ sử dụng sản phẩm, Độ bao phủ Một phần là tỷ lệ bà mẹ/người chăm sóc trẻ có cho trẻ sử dụng sản phẩm trong tuần qua, Độ bao phủ Hiệu quả là tỷ lệ bà mẹ/người chăm sóc trẻ có cho trẻ

sử dụng sản phẩm đúng liều trong tuần qua

1.6.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới độ bao phủ của sản phẩm MNP

Tuy sản phẩm MNP đã được WHO phát triển và khuyến nghị sử dụng

từ năm 2006 [6] và đã có rất nhiều các nghiên cứu đánh giá hiệu quả của sản phẩm MNP được triển khai, trong đó có cả các nghiên cứu tổng hợp (systematic review) kết quả của rất nhiều nghiên cứu trước chứng minh hiệu quả lâm sàng của sản phẩm MNP, nhưng các nghiên cứu đánh giá hiệu quả thực tế của chương trình phân phối MNP tại cộng đồng thì còn rất ít [9]

Trong năm 2013 Suchdev và cộng sự đã công bố một nghiên cứu đánh giá hiệu quả cũng như khả năng bao phủ của MNP tại Kenya [39] Theo nghiên cứu này, các yếu tố liên quan tới độ bao phủ của MNP bao gồm nhóm tuổi của trẻ, tình trạng kinh tế hộ gia đình, trình độ học vấn của bà mẹ và mức

độ tiếp cận của bà mẹ/ người chăm sóc trẻ với các hoạt động tiếp thị nhằm nâng cao tỷ lệ sử dụng MNP Trong đó, có thể thấy rõ hiệu quả của việc bà mẹ/ người chăm sóc trẻ được tham dự các buổi ra mắt – nói chuyện về sản phẩm MNP (OR hiệu chỉnh: 2,8; 95%CI: 1,9 – 4,2) cao hơn tất cả các yếu tố còn lại Tuy vậy, nghiên cứu này có thiết kế là nghiên cứu cắt ngang mô tả lặp lại (Repeated cross-sectional surveys) và đã có quá trình theo dõi dài từ năm

2007 cho tới năm 2010, chính vì vậy tỷ lệ bao phủ của sản phẩm MNP đã cao hơn rất nhiều

Trang 37

Trong báo cáo của Sight and life [8], các nhà nghiên cứu cũng khẳng định rằng tiếp thị xã hội chính là chìa khóa để có thể nâng cao độ bao phủ của MNP đối với bà mẹ/ người chăm sóc trẻ

1.7 Giới thiệu dự án “Cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ sơ sinh

và trẻ nhỏ”

Dự án “Cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ” do tổ chức GAIN hỗ trợ đã được Bộ Y tế phê duyệt tháng 4 năm 2014 Mục tiêu của dự án là cải thiện tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi thông qua bổ sung vi chất dinh dưỡng tại hộ gia đình – Bibomix kết hợp tư vấn dinh dưỡng thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ và nước sạch và

vệ sinh môi trường

Nhằm mở rộng viêc tiếp cận sản phẩm Bibomix đến các bậc phụ huynh, dự án thí điểm phân phối sản phẩm thông qua hệ thống y tế, phân phối đến cấp xã thông qua sự tham gia của các nhân viên y tế tại địa phương

Mục tiêu của dự án thí điểm là nhằm hướng đến 24.000 trẻ em dưới 5 tuổi, với mức sử dụng trung bình đạt 60 gói/trẻ trong thời gian 6 tháng Với

độ bao phủ Hiệu quả kỳ vọng là 8%

Hoạt động của dự án bao gồm:

1 Phát triển sản phẩm gói bột bổ sung vitamin và khoáng chất (do Trung tâm Thực phẩm, Viện Dinh dưỡng và công ty Thiết kế truyền thông thực hiện)

2 Nâng cao hệ thống sản xuất sản phẩm thực phẩm Viện Dinh dưỡng - thực hiện bởi Viện Dinh dưỡng

3 Phân phối Bibomix thông qua hệ thống y tế và Chương trình Phòng chống suy dinh dưỡng thực hiện bởi Viện Dinh dưỡng

4 Can thiệp thay đổi hành vi

Trang 38

– Cán bộ y tế tại cấp tỉnh/huyện/xã được đào tạo thông qua mô hình TOT thực hiện bởi Viện Dinh dưỡng, GAIN cùng với các Tỉnh, và sự hỗ trợ của

tổ chức Alive & Thrive (A&T)

– Hoạt động tại cộng đồng: tài liệu và vật liệu truyền thông (quạt hướng dẫn

sử dụng, bát, yếm, giá trưng bày sản phẩm, tài liệu truyền thông, thẻ tranh

tư vấn dinh dưỡng, poster quảng cáo…) - thực hiện bởi công ty truyền thông, kết hợp với các tỉnh

5 Nghiên cứu và Đánh giá: Đánh giá hiệu quả bao phủ sản phẩm gói bổ sung

đa vi chất dinh dưỡng Bibomix thông qua điều tra khảo sát, và nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên về hiệu quả sản phẩm Hebi-mam (RUSF) cho phụ nữ có thai - thực hiện bởi viện nghiên cứu phát triển Pháp (IRD), Viện Dinh dưỡng, với sự giám sát của GAIN, và hỗ trợ bởi nhóm nghiên cứu

Mô hình tư vấn, truyền thông giáo dục dinh dưỡng cho sản phẩm bột đa vi chất dinh dưỡng Bibomix dựa vào hệ thống y tế cơ sở được triển khai tại các tỉnh từ tháng 7 năm 2014 và kết thúc vào tháng 12 năm 2014

Trang 39

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Thời gian: Từ tháng 10/2014 – tháng 4/2015

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Quảng Nam và Cà Mau là 3 tỉnh đầu tiên triển khai dự án “Cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ”

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu

Trẻ em từ 6-59 tháng tuổi và bà mẹ/ người chăm sóc chính của trẻ, đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn đối tượng:

 Trẻ và người chăm sóc sống tại địa phương nghiên cứu

 Đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp cắt ngang mô tả

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu

- Cỡ mẫu nghiên cứu:

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu cắt ngang, phương pháp chọn

Trang 40

mẫu nhiều giai đoạn [40]:

 d: sai số tuyệt đối, chọn d = 0,05

 DE: hệ số thiết kế mẫu, chọn DE = 2 vì nghiên cứu được chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu cụm phân tầng

Thay các giá trị trên vào công thức tính cỡ mẫu ta được cỡ mẫu nghiên cứu cho mỗi tỉnh là 227 trẻ Tăng thêm số trẻ dự phòng bỏ cuộc là 10% và làm tròn thì cỡ mẫu cho mỗi tỉnh là 250 trẻ Vậy cỡ mẫu cho toàn bộ nghiên cứu là 750 trẻ

Cách chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu cụm phân tầng

 Bước 1: Chọn có chủ đích 3 tỉnh Thái Nguyên, Quảng Nam và Cà Mau,

3 tỉnh này đều là những tỉnh nghèo, thu nhập bình quân tại nông thôn thấp và đại diện cho 3 miền và là 3 tỉnh đầu tiên triển khai dự án “Cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ” tại Việt Nam Tại mỗi tỉnh chọn ngẫu nhiên 2 huyện bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn Tại Thái Nguyên 2 huyện được chọn là Định Hóa và Tp Thái Nguyên Tại Quảng Nam 2 huyện được chọn là Đại Lộc và Thăng Bình Tại Cà Mau 2 huyện được chọn là Cái Nước và Thới Bình

 Bước 2: Tại các huyện đã được chọn, lên danh sách tất cả các xã và số

Ngày đăng: 10/04/2018, 05:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w