Học sinh Tiểu học được dạy từ những điều nhỏ nhấtnhư cách cầm bút, tư thế ngồi viết, cách thưa gửi, đi đứng, ăn mặc cho đến các kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp, các kĩ năng học tập
Trang 1DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Với từng nhịp đập của thời gian.Con người, vạn vật không ngừng thay đổi vàphát triển để tồn tại Đặc biệt là con người, muốn vươn lên làm bá chủ vạn vậtthì bản thân phải không ngừng học hỏi, tìm kiếm, tích lũy để phát triển Cộinguồn của mọi sự phát triển đó chính là sự phát triển của Giáo dục(GD)
Giáo dục chính là nền tảng phát triển của con người, thậm chí là tương lai củamột đất nước Để có một nền tảng giáo dục tốt cần phải có những người thầygiỏi, tận tâm, tận lực với nghề để đưa những chuyến đò tri thức cập bến
Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn vinhcủa đất nước Giáo dục (GD) cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức củanhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần thiết
về khoa học và cuộc sống Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và bồidưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh (HS), đặc biệt là Giáo dục Tiểu học, đây
là bậc học mang tính chất nền móng nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sởban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản để phát triển mọi mặt sau này
Nền tảng nhân cách, kĩ năng sống, kĩ năng học tập cơ bản( nghe, nói, đọc, viết,
và tính toán) của học sinh được hình thành ở Tiểu học và được sử dụng trongsuốt cuộc đời con người Học sinh Tiểu học được dạy từ những điều nhỏ nhấtnhư cách cầm bút, tư thế ngồi viết, cách thưa gửi, đi đứng, ăn mặc cho đến các
kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp, các kĩ năng học tập và khả năng sáng tạo.Như vậy Giáo dục Tiểu học là nền tảng cho sự hình thành và phát triển toàn diệncủa con người.Thành quả của giáo dục tiểu học có giá trị lâu dài, có tính quyếtđịnh Vì thế làm tốt GDTH là đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước Xác định được tầm quan trọng của GD như vậy thì GD nước nhà không thểdậm chân tại chổ theo lối dạy học truyền thụ một chiều,không phải dạy cho trẻhiểu nhiều, biết rộng mà chỉ cho trẻ cách hành động, tự tìm tòi chiếm lĩnh trithức, đây mới là phương châm của nền GD mới.Vậy để GD có hiệu quả và đạtchất lượng cao, trong quá trình giảng dạy chúng ta cần biết sử dụng và kết hợp
Trang 3một cách có hiệu quả các phương pháp dạy học, biết lựa chọn các hình thức tổchức phù hợp với mục tiêu và nội dung của bài học và đặc điểm tâm sinh lý củahọc sinh Song để đi đến thành công GD đòi hỏi mọi người phải không ngừng
nổ lực phấn đấu, sáng tạo, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư thíchđáng vào công việc của mình Đây là một công việc vừa mang tính GD vừa
mang tính nghệ thuật A.KO Men Xi đã viết “GD có mục đích đánh thức năng
lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách hãy tìm ra phương pháp cho gíáo viên dạy ít hơn, học sinh hiểu nhiều hơn” Đó là lý do tôi chọn đề
tài “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh
lớp 1 trường Tiểu học Quảng Kim” để làm bài báo cáo thu hoạch của mình.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Để đất nước vươn mình, sánh vai với các cường quốc năm châu đòi hỏi đi đầutrong công cuộc đổi mới đó chính là GD giáo dục phải đổi mới phương phápdạy học để tạo ra những thế hệ con người nhận thức sâu sắc, biết tự giác chủđộng sáng tạo trong công việc Nhìn lại việc học tập của các em ở trường, chúngtôi thấy nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, ý thức tự học, tự rèn luyện rất
ít Chính vì vậy báo cáo này bước đầu đưa ra những biện pháp nhằm phát huytính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1
III.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
1.Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của quá trình phát huy tính tíchcực, tự giác học tập của học sinh lớp1
2.Tìm hiểu thực trạng học tập của học sinh lớp 1
3.Đề xuất biện pháp và xây dựng kế hoạch nhằm phát huy tính tích cực , tự giáccủa học sinh tại trường
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp để phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh lớp 1tại trường chúng tôi
2 Khách thể nghiên cứu:
Trang 4Vì thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ tiến hành nghiên cứu 21 em họcsinh lớp 1 tại trường chúng tôi.
V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Phương pháp quan sát:
Đây là phương pháp giúp ta quan sát thái độ, hành vi của học sinh, pháthiện ra những hành vi, cử chỉ của học sinh trong học tập, sinh hoạt Để pháthuy tính tích cực, tự giác của học sinh
2 Phương pháp thực nghiệm:
Khi tiến hành nghiên cứu tạo ra một số tình huống, những hoàn cảnh, những điều kiện rất gần gũi của cuộc sống để đưa đối tượng vào vấn đề, từ đó nghiên cứu thu lại được những tư liệu cần thiết Đây là một phương pháp hết sứcquan trọng và rất cần thiết trong nghiên cứu khoa học
3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:
Qua phương pháp này làm cho người giáo viên thấy được những thiếu sót vànhững chỗ hổng của học sinh để có phương pháp làm cho hoạt động của mìnhđạt chất lượng cao
4 Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm:
Nhờ phương pháp này mà người nghiên cứu có thể tổng hợp, đúc rút kinhnghiệm của giáo viên chỉ đạo về việc phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập củahọc sinh qua các mặt hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt tập thể và hoạt độngngoại khoá, từ đó rút ra bài học và nêu được những biện pháp khắc phục và đềxuất
5 Phương pháp đàm thoại:
Với học sinh tiểu học, phương pháp đàm thoại trò chuyện là một hình thứctốt nhất để giáo viên có thể gần gũi các em, đồng thời thăm hỏi trò chuyện vớimột số phụ huynh học sinh Qua đó chúng ta có thể biết tâm sự, tình cảm,nguyện vọng của các em về việc học ở lớp cũng như việc học ở nhà của các emnhư thế nào? Để từ đó, giáo viên có phương pháp và hình thức tổ chức dạy họcthích hợp nhằm làm cho người dạy đạt kết quả tốt nhất
6 Phương pháp thống kê, tính toán:
Trang 5Phương pháp thống kê tính toán, qua những thông tin tài liệu thu thập được,tôi đã vận dụng phương pháp này để thống kê lại tình hình và tính toán các sốliệu cần thiết để biết được chất lượng học tập của học sinh thời gian sau so vớithời gian trước như thế nào?
7 Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Ngoài các phương pháp trên tôi còn sử dụng một số phương pháp khác nữatrong quá trình nghiên cứu
Trang 6B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Thế nào là tích cực, tự giác?
Trong quá trình giáo dục học sinh với tư cách là đối tượng của hoạt động giáodục, vừa là chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện nhân cách của mình.Như vậy, vai trò chủ đạo của giáo viên, toàn bộ các tác động giáo dục của nhàtrường sẻ không có hiệu quả, thực chất nếu không tạo ra được sự kết hợp hài hoàgiữa hoạt động của thầy và hoạt động tích cực sáng tạo của trò Từ trước đếnnay, nhiều công trình nghiên cứu giáo dục cho thấy kết quả giáo dục phụ thuộcrất nhiều vào sự hoạt động hưởng ứng tích cực, chủ động sáng tạo của từng họcsinh cũng như hoạt động tích cực, độc lập của tập thể học sinh với tư cách vừa làđối tượng vừa là chủ thể của việc giáo dục
Như vậy, tích cực, tự giác, độc lập có nghĩa là trong quá trình học tập,người học sinh tự đặt ra mục đích học tập, tích cực tìm ra các biện pháp tối ưu
để vận dụng vào kết quả học tập, không chỉ thế, người học sinh phải luôn hứng thú, say mê học tập, xem việc học là một nhiệm vụ của mình phải hoàn thành.
Do đó, khi áp dụng vào thực tế giáo dục đòi hỏi ở người giáo viên phải có trình
độ sư phạm vững, hiểu sâu sắc đối tượng để chọn nội dung, phương pháp và
hình thức tổ chức dạy học phù hợp nhằm phát huy có hiệu quả mọi tiềm năng,vốn kinh nghiệm của học sinh Từ những yêu cầu chung, khơi gợi sự chú ý, sựquan tâm tìm cách cụ thể hoá, tự xác định các yêu cầu các biện pháp phù hợp
với từng đối tượng học sinh.
Về thái độ, người giáo viên nên có thái độ khoan dung, biết lắng nghe và tôn trọng, biết cách hổ trợ, giúp đỡ các em đúng lúc, đúng chổ nhưng không làm thay Trong những tình huống nhất định, đối với đối tượng cá biệt cần có sự đối
xữ thích hợp, có thể linh hoạt trong cách ứng xữ nhưng luôn có thái độ chân thành Ngoài ra người giáo viên biết tạo ra dư luận đúng đắn, kịp thời hổ trợ, đề
cao, khuyến khích cái hay, cái mới, cái tốt trong mọi hoạt động của học sinh,
gây dựng lòng tin ở học sinh và bản thân Trong môi trường giáo dục, cần có sự
thông hiểu, lòng vị tha, sự quan tâm giữa các thành viên, trên cơ sở tình cảm đạo
Trang 7đức trong sáng, mang tính nhân đạo cao thượng Đây là yếu tố tiềm ẩn nhưng cótác dụng cảm hoá, thuyết phục cao trong công tác giáo dục.
1.2 Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
Quá trình dạy học gồm hai hoạt động hữu cơ: Hoạt động dạy của giáo viên
và hoạt động học của học sinh Cả hai hoạt động này đều được tiến hành nhằm thực hiện mục đích giáodục Hoạt động học tập của học sinh chính là hoạt động nhận thức Hoạt độngnày chỉ có hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác vớimột động cơ nhận thúc đúng đắn.Kết quả học tập của học sinh là thước đo kết quả hoạt động của giáo viênvà học sinh Trong quá trình dạy học, điểm tập trung là bản thân người học, chứkhông phải là người day, tức là hoạt động dạy học cần dựa trên nhu cầu, hứngthú, thói quen và năng lực của người học ở các lứa tuổi khác nhau Như vậy mụcđích của dạy học ở đây là trẻ em phát triển trên nhiều mặt, chứ không chỉ nhằmlĩnh hội kiến thức
Do đó cần thật sự coi trọng việc hình thành, phát triển nhữngkỷ năng tự học và
có khả năng đáp ứng yêu cầu của dòng tri thức không ngừng gia tăng
Chương trình và kế hoạch dạy học phải căn cứ vào nhu cầu, hứng thú,năng
thức, kỷ năng, kỷ xão, phát huy đầy đủ nhất năng lực của mình Vì vậytrong khidạy học cần tạo điều kiện cho học sinh chủ động tiếp thụ các kiến thức,kỷ
là biết điều cần học thành cái “ vốn ”, cái “ tài sản ” của bản thân Học tậpnhư vậy khiến sự hiểu biết của các em được vững chắc hơn, hứng thú của các emđược tăng cường hơn Khi dạy học hoạt động tư duy của các em được khơi dậy,phát triển và coi trọng Đó chính là dạy học phát huy tính tích cực
1.3 Tác dụng của dạy học tích cực
Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh có tác dụng rất lớn Dạy họcpháthuy tính tích cực tạo điều kiện tối đa để phát huy vai trò chủ thể của ngườihọc Trong dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, học sinh giữ vai trò chủđộng
yếu tiếp nhận thông tin từ giáo viên mà chủ động lĩnh hội thông tin,suy nghĩ,
Trang 8tìm tòi, khám phá các khía cạnh khác nhau của thông tin, sắp xếp lạithông tin Người học hợp tác với các bạn cùng học để lĩnh hội thông tin, để giúpđỡ nhau trong học tập Dạy học phát huy tính tích cực không chỉ giúp người họclĩnh hội nội dung kiến thức mà còn hình thành và phát triển những kỷ năng họctập của mình, hình thành và phát triển cách học Dạy học phát huy tính tích cựccủa học sinh nâng cao hiệu quả
và chất lượng dạy học, đảm bảo tính toàn diện,cụ thể làm cho học sinh:
- Nắm vững, hiểu sâu và hiểu sâu kiến thức
- Luôn luôn củng cố và phát triển cách học của mình
- Phát triển những phẩm chất đạo đức cá nhân như tính kiên trì, lòng nhẫn nại, tinh thần trách nhiệm và ý thức tập thể
- Phát triển được tinh thần hợp tác và tương trợ lẫn nhau
Trang 9CHƯƠNG II CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.1 Đặc điểm chung của lớp 1B
Lớp 1B có 21 học sinh, trong đó có 10 em HS nữ, 11 em HS nam đều nằm trong độ tuổi sinh năm 2010
Sau 1 học kì, các cán bộ lớp luôn được thay đổi nhằm phát huy mọi năng lực chinh bản thân mỗi em Bên cạnh đó sơ đồ vị trí lớp học luôn được thay đổi sau mỗi mỗi kì nhằm hạn chế các tật về mắt
Các em học tập chăm chỉ, đạo đức tốt, sức khoẻ bình thường, ít em nghỉ học
* Thuận lợi: Đa số các em đều chăm ngoan, biết vâng lờ thầy cô, cha mẹ Có ý
thức học tập và lao động tốt, Biết giữ gìn vệ sinh cá nhâ, vệ sinh trường lớp sạch
sẽ Học sinh cùng độ tuổi sinh năm 2010 nên giáo viên thuận lợi trong việc quản
lí và giáo dục học sinh Đa số phụ huynh học sinh rất quan tâm đến việc học củacon em mình,các em được chuẩn bị sách vở, đồ dùng học tập đầy đủ khi đếnlớp Trường lớp sạch sẽ, thoáng mát, các phòng học đều có điện quạt, phục vụcho việc dạy và học, trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ
* Khó khăn: Nhiều học sinh ở khá xa điểm trường, đường sá đi lại khó khăn,
nhiều sông suối, rừng núi nên ảnh hưởng nhiều đến việc đến trường, đặc biệt làvào mùa mưa lũ, nhiều học sinh phải nghỉ học Một số em gia đình có hoàn cảnhkhó khăn,con thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo, con đông, ăn uống còn thiếuthốn nên không đảm bảo sức khỏe cho việc học tập ngày 2 buổi.Các em học sinh
ở lứa tuối nhỏ, còn hiếu động, ham chơi hơn ham học, chưa có ý thức đầy đủ vềhọc tập nên giáo viên rất vất vả, thường xuyên nhắc nhở, uốn nắn để sinh hoạthọc tập đúng theo nội qui nhà trường, còn một số ít cha mẹ học sinh chưa thật sựquan tâm đến việc học của con em mình nên việc truyền thụ kiến thức cho các
em còn gặp khó khăn, trình độ học sinh không đồng đều
Trang 10học.Tuy nhiên việc phát huy tính tích cực của học sinh còn nhiều vấn đề cầnthảo luận, bàn cãi Hiện nay, học sinh lớp 1 chưa tích cực, tự giác tham gia vàoquá trình dạy học Học sinh rụt rè không chủ động tìm tòi, tiếp nhận trithức Học sinh chưa chủ động tham gia vào hoạt động học tập Nguyên nhân củatình trạng này do một số nguyên nhân sau:
- Do vốn ngôn ngữ Tiếng Việt của học sinh quá nghèo nàn Học sinh không hiểu được yêu cầu của giáo viên trong giờ học
- Do đồ dùng dạy học, sách giáo khoa còn thiếu nên ảnh hưởng tới sự tích cực của học sinh
- Giáo viên chưa tạo điều kiện để học sinh tìm tòi tiếp nhận tri thức chưa
để HS chú trọng trong học tập
- GV chưa coi trọng việc tổ chức các hoạt động của HS
- GV chưa sử dụng phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đặc điểm học sinh
Trang 11CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ
GIÁC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH 3.1 Biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp1:
Để kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập của học sinh và tạo hứng thú họctập cho học sinh thì đòi hỏi ở người giáo viên rất nhiều điều Trước hết đòi hỏingười giáo viên phải có tay nghề vững vàng, phải biết yêu nghề, mến trẻ tức làphải có năng lực sư phạm
Vậy thế nào được gọi là năng lực sư phạm? Năng lực sư phạm là những đặcđiểm tâm lí mà nó giúp cho giáo viên hoạt động có hiệu quả, năng lực sư phạmgồm:
- Năng lực khoa học
- Năng lực hiểu học sinh
- Năng lực ngôn ngữ
- Năng lực tổ chức
- Năng lực phân phối chú ý
- Năng lực trình bày bài giảng
- Óc tưởng tượng sư phạm
Ngoài ra giáo viên muốn phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinhthì cần phải biết lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức thích hợp Hiệnnay, để tiến kịp với thời đại thì cần thay đổi một số phương pháp để phát huytính tích cực của học sinh để phù hợp với từng nội dung môn học, từng đốitượng và trong quá trình dạy học tôi đã sử dụng linh hoạt các phương pháp sau
để phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh trong học tập, cụ thể là:
1 Phương pháp thuyết minh 9 Phương pháp trò chơi học tập
2 Phương pháp đàm thoại 10 Phương pháp quan sát
3 Phương pháp thảo luận 11 Phương pháp thí nghiệm
4 Phương pháp hỏi đáp 12 Phương pháp nêu vấn đề
5 Phương pháp tìm tòi 13 Phương pháp giải quyết vấn đề
6 Phương pháp kể chuyện 14 Phương pháp khảo sát điều tra
Trang 127 Phương pháp động não 15 Phương pháp thực hành luyện tập.
8 Phương pháp đóng vai 16 Phương pháp lập luận đề án
Việc đổi mới phương pháp dạy học ( PPDH) tất yếu phải đổi mới hình thức tổchức dạy học để tạo một sự tương ứng cần thiết Sự đa dạng của phương phápdạy học trong sự phối hợp của chúng, đòi hỏi phải có một số hình thức tổ chứcdạy học thích hợp Mỗi hình thức tổ chức dạy học đều có tác dụng tích cực pháttriển học sinh một khía cạnh nào đó Vì vậy, chúng ta cần phải biết kết hợpnhiều hình thức tổ chức để phát huy thế mạnh của mỗi hình thức tổ chức dạyhọc Mỗi phương pháp dạy học đều có những ưu điểm và nhược điểm nhấtđịnh.Không có phương pháp dạy học nào là vạn năng Các phương pháp dạy họcđều thâm nhập vào nhau, bổ sung cho nhau Vì vậy, phương pháp dạy học mới,đòi hỏi phải có hình thức tổ chức dạy học tạo cơ hội cho học sinh suy nghĩ làmviệc, trao đổi thảo luận với nhau nhiều hơn, cụ thể là sử dụng các hình thức dạyhọc sau:
Dạy học cá nhân: Là chú ý phát triển năng lực riêng của từng học sinh Đồng
thời rèn cho các em có thói quen tự học, tự làm việc, hình thức dạy học cá nhânrất đa dạng, có thể làm việc với phiếu học tập, ngoài ra còn có một số hình thứckhác như: Làm bài tập trong sách, làm các trò chơi, tiến hành các thí nghiệm, sựthể hiện tài năng, các hoạt động độc lập như: Sưu tầm tranh ảnh, thu tập tài liệu,khảo sát thực tế nơi mình ở
Dạy học theo nhóm: Tác dụng của việc dạy học theo nhóm là đề cao vai trò
tự hợp tác trách nhiệm cá nhân với tập thể Đồng thời dạy học theo nhóm rènluyện cho học sinh những kĩ năng: Biết lắng nghe lựa chọn, tiếp nhận ý kiến củangười khác để bổ sung vào sự hiểu biết của mình, đồng thời học sinh biết trìnhbày ý kiến của mình cho bạn nghe và học được công tác tổ chức, điều khiển Dạy học theo nhóm có nhiều hình thức khác nhau:
Trang 13- Thực hiện một bài tập hay một nhiệm vụ học tập.
- Tiến hành một thí nghiệm hay một trò chơi học tập
- Xây dựng một phương án hay một kế hoạch
Dạy học theo lớp: Là một hình thức dạy học cơ bản, khá phổ biến trong dạy
học lấy GV làm trung tâm Trong dạy học lấy HS làm trung tâm, để xuất hiệnnhiều hình thức dạy học phù hợp với các PPDH đề cao vai trò hoạt động nhậnthức của học sinh Dạy học theo lớp tuy có nhiều tác dụng tích cực, nhưngkhông diễn ra suốt buổi học mà chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, vào nhữnglúc thích hợp của tiết học như vào đầu, giữa và cuối tiết học
Dạy học ngoài trời: Có nhiều nội dung gần gũi, gắn với môi trường tự nhiên
và xã hội xung quanh Những bài học đó nếu có điều kiện nên tổ chức cho họcsinh học ngoài trời những địa điểm thích hợp như vườn trường, sân trường hoặcnhững địa diểm gần trường Vì việc học ngoài trời giúp học sinh có biểu tượng
rõ nét, cụ thể về sự vật, hiện tượng nên nắm bài tốt hơn vì mắt thấy, tainghe Đồng thời rèn luyện kĩ năng quan sát, phát triển tư duy cụ thể Mặt khác,bồi dưỡng tình cảm đối với thiên nhiên, thói quen hợp tác, học hỏi lẫn nhau
Tham quan: Tham quan là một hình thức để học sinh được học ngoài hiện
trường, thực tế như tham quan các xí nghiệp, đồng ruộng, khu chăn nuôi, nhàbảo tàng, khu di tích lịch sử, văn hoá hoặc rừng, sông, hồ, thác nước
Tham quan có tác dụng nhiều mặt đối với sự phát triển của học sinh Học sinh
có điều kiện trực tiếp trong thực tế với các nội dung đã được học trong lớp nênlĩnh hội kiến thức dễ hơn, chắc hơn, nhớ kĩ hơn Liên hệ thực tế với bài học HSphát triển kĩ năng quan sát, so sánh, óc tò mò, trí tưởng tượng, bồi dưỡng hứngthú học tập, tăng cường sự hiểu biết
Trò chơi học tập: Đây là một loại hoạt động không thể thiếu được trong mọi
lứa tuổi Đặc biệt là những em ở lứa tuôi tiểu học nói riêng và học sinh lớp 1 nóichung Trò chơi giúp các em phát triển Bên cạnh đó sẽ thúc đẩy quá trình nhậnthức của các em có hiệu quả Vì vậy tổ chức trò chơi chú ý những đặc tính: Vui -Khoẻ - An toàn - Có ích; trong đó bao gồm cả giải trí, thư giản được xem làmột yếu tố cơ bản của trò chơi