1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tăng Trưởng Kinh Tế Của Trung Quốc Và Ấn Độ - Tác Động Tới Cơ Cấu Thương Mại, Thị Phần Và Giá Cả Thế Giới

22 159 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 493 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN CHÂU Á VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI Tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững và mức sống ngày càng tăng tại các nước châu Á đikèm vớ

Trang 1

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC VÀ ẤN ĐỘ - TÁC ĐỘNG TỚI CƠ CẤU THƯƠNG MẠI, THỊ PHẦN VÀ GIÁ CẢ THẾ GIỚI

I TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN CHÂU Á VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

Tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững và mức sống ngày càng tăng tại các nước châu Á đikèm với việc tỷ trọng xuất khẩu và tiêu dùng các nguyên liệu thô của khu vực này so với thếgiới tăng đáng kể Sự nổi lên gần đây của các nước đang phát triển ở châu Á với tư cách làmột động lực cho sự phát triển của kinh tế toàn cầu rất được hoan nghênh, đặc biệt là khi côngcuộc giảm nghèo của Trung Quốc và Ấn Độ đạt được nhiều tiến bộ nhằm hướng tới Mục tiêuthiên niên kỷ là giảm 1/2 số người nghèo đói trên toàn cầu vào năm 2015 Thêm vào đó, cùngvới tốc độ tăng trưởng nhanh, việc các nước này hội nhập mạnh mẽ hơn vào hệ thống thươngmại thế giới đã tạo ra những cơ hội xuất khẩu mới cho nhiều nước phát triển và đang pháttriển

Tuy nhiên, những nhà hoạch định chính sách của các nước phát triển và đang phát triểncũng lo ngại về những tác động ngược chiều tiềm ẩn từ việc cầu nhập khẩu và cung xuất khẩungày càng tăng của những nước châu Á đang tăng trưởng này đối với nền kinh tế của họ Ví

dụ, việc xuất khẩu của các nước châu Á mạnh hơn các nước đang phát triển khác sẽ làm phátsinh e ngại rằng khu vực này có thể trở thành người chi phối về giá trong các hoạt động xuấtkhẩu liên quan tới những ngành sử dụng nhiều lao động trên thị trường thế giới và theo thờigian áp lực cạnh tranh mà các nước châu Á này mang lại, sẽ làm mất hết những cơ hội xuấtkhẩu của các nước đang phát triển khác Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại tại phầnlớn các nước phát triển, tình trạng này cũng làm nảy sinh các tranh cãi tại các nước phát triểnxoay quanh vấn đề việc làm và hậu quả của việc nhập khẩu từ các nước đang phát triển củachâu Á trong các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động tăng lên, cũng như việc phân bổ lại

và đưa các hoạt động kinh tế sang các nước này ngày càng nhiều thêm Thêm vào đó, trong 3năm qua, các nhà hoạch định chính sách ở một vài nước phát triển và đang phát triển đã quantâm tới những tác động ngược chiều tiềm ẩn có thể có lên khả năng tăng giá của hàng hoá, đặcbiệt là kim loại và nhiên liệu Việc tăng giá các mặt hàng này một phần là do cầu từ các nướcđang phát triển có tốc độ tăng trưởng nhanh ở châu Á tăng lên

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc sẽ ảnh hưởng như thế nào tới nền kinh

tế toàn cầu đang là tâm điểm chú ý trong thời gian gần đây Ví dụ, hiện có nhiều ý kiến lo sợrằng việc Trung Quốc gia nhập WTO vào năm 2001 và đặc biệt là việc Hiệp định dệt may(ATC) kết thúc vào đầu năm 2005 sẽ làm xuất khẩu của Trung Quốc trong lĩnh vực sử dụngnhiều lao động là dệt may tăng mạnh Một số ý kiến khác e ngại rằng khi đó giá mua bán quần

áo trên thế giới sẽ giảm đáng kể, khiến cơ hội xuất khẩu của các nước đang phát triển khácgiảm đi cũng như đe dọa khả năng tồn tại của các nhà sản xuất ở các nước phát triển phảinhập khẩu Thêm vào đó, các báo cáo đánh giá và dự báo về những thay đổi của nền kinh tếTrung Quốc trên phương tiện thông tin đại chúng có thể gây ảnh hưởng lớn tới sự biến độngcủa giá cả thế giới của các mặt hàng nguyên liệu thô như dầu mỏ, đồng, niken trong ngắn hạn

Sự phát triển của nền kinh tế Ấn Độ gây ra ít lo ngại hơn, mặc dù trong một vài năm gần đây,nền kinh tế nước này cũng tăng trưởng mạnh mẽ Hơn nữa, tiềm năng tăng trưởng của Ấn Độnhiều khi được đánh giá cao hơn cả của Trung Quốc Tuy nhiên, xuất khẩu trong các ngành sản

Trang 2

xuất sử dụng nhiều lao động của Ấn Độ không có vị trí nổi trội trong luồng thương mại thế giớinhư Trung Quốc, đồng thời tốc độ tăng trưởng tiêu dùng các nguyên liệu thô của Ấn Độ cũngkhông bằng của Trung Quốc Mối lo ngại của các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ về tốc độ tăngtrưởng của Ấn Độ chủ yếu tập trung vào hoạt động hướng ra bên ngoài của lĩnh vực dịch vụ Một

số nhà hoạch định chính sách của các nước đang phát triển thì lo ngại về việc xuất khẩu hàng maymặc của Ấn Độ tăng lên sẽ có ảnh hưởng thế nào tới nền kinh tế nước họ sau khi ATC kết thúc vàsau khi Ấn Độ thực hiện đầy đủ tất cả các quy định của WTO trong lĩnh vực này Điều này sẽcàng làm tăng thêm những tác động ngược chiều khi các mặt hàng xuất khẩu này của Trung Quốctăng lên

Trung Quốc và Ấn Độ sẽ tác động tới cơ cấu thương mại thế giới nhiều hơn Hàn Quốc và Nhật Bản trong quá trình phát triển kinh tế của họ trước đây

Tốc độ tăng nhanh thu nhập và những thay đổi trong cơ cấu thương mại của Trung Quốcthời gian gần đây có điểm tương đồng với trường hợp của Nhật Bản và Hàn Quốc vài thập kỷtrước đây Ví dụ, giữa năm 1965 và 1985, xuất khẩu hàng chế tác của Hàn Quốc tăng với tốc

độ trung bình hàng năm là gần 35%, gấp 2 lần tốc độ tăng của thế giới Tương tự, từ năm

1987 đến năm 2003, xuất khẩu hàng chế tác của Trung Quốc tăng với tốc độ trung bình hàngnăm là gần 18%, cũng gấp 2 lần so với tốc độ tăng của thế giới

Tuy nhiên, có sự khác biệt cơ bản giữa tốc độ tăng trưởng gần đây của Ấn Độ và TrungQuốc với giai đoạn đầu của quá trình phát triển, công nghiệp hoá và tăng trưởng mạnh mẽ củaNhật Bản và Hàn Quốc Cả hai nhóm nước này đều có những đặc điểm riêng của mình Đầutiên, cả Trung Quốc và Ấn Độ đều là những nền kinh tế lớn, với dân số lớn hơn khoảng 10 lần

so với Nhật Bản và khoảng 25 lần so với Hàn Quốc Dân số Trung Quốc chiếm khoảng 21%tổng dân số thế giới kể từ khi nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu thực hiện chiến lược bắt kịp cácnền kinh tế phát triển và ngày càng hội nhập vào thương mại thế giới từ cuối những năm 70

Và con số của Ấn Độ là khoảng17% kể từ khi nước này tập trung vào việc hội nhập vào nềnthương mại thế giới cuối những năm 80 Ngược lại, tỷ lệ tương ứng của Nhật Bản và HànQuốc chỉ là 3% và 1% trong thời kỳ những nước này thực hiện chính sách đuổi kịp các nướcphát triển và mở rộng xuất khẩu Thêm vào đó, Trung Quốc còn chiếm khoảng 13% và Ấn Độkhoảng 6% tổng thu nhập toàn cầu, tính theo ngang giá sức mua (PPP)

Thứ hai, việc hội nhập thương mại sâu rộng hơn và thu nhập tăng nhanh của Trung Quốc

và Ấn Độ xuất phát từ những mức thu nhập bình quân đầu người thấp Ví dụ, từ cuối nhữngnăm 80 (khi hai nước đều đẩy nhanh việc hội nhập thương mại), thu nhập bình quân đầungười của hai nước xấp xỉ bằng với mức của Hàn Quốc trong giai đoạn xuất khẩu của nướcnày bắt đầu tăng lên vào đầu những năm 60, nhưng chỉ bằng khoảng một nửa của Nhật Bảnvào giữa những năm 50 khi mà xuất khẩu của nước này bắt đầu giai đoạn cất cánh sau chiếntranh Điều này có nghĩa cầu của Trung Quốc và Ấn Độ ít nhất có thể thay đổi như Hàn Quốc

và nhiều hơn Nhật Bản trong thời kỳ các nước thực hiện chính sách bắt kịp các nước pháttriển và hội nhập nhanh chóng vào nền kinh tế thế giới sau đại chiến thế giới thứ II

Do qui mô lớn và những đặc điểm đặc trưng về cầu của nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ,những thay đổi trong cơ cấu của cung và cầu của hai nước có xu hướng gây ra những tác độnglớn hơn nhiều so với tác động của Nhật Bản và Hàn Quốc lên thương mại thế giới trong giaiđoạn cất cánh kinh tế của các nước này Tăng trưởng của Trung Quốc đã có một số tác độnglên luồng thương mại của toàn thế giới Nếu như vai trò của công nghiệp hoá đối với nền kinh

tế Ấn Độ giống như ở những nước châu Á phát triển khác thì cơ cấu thương mại hàng hoá của

Trang 3

Ấn Độ có vẻ như sẽ giống như của Trung Quốc nhưng chậm hơn một hoặc hai thập kỷ.

Có một số điểm cần lưu ý về môi trường quốc tế khi Trung Quốc và Ấn Độ tiến hành chiến

lược bắt kịp về kinh tế và hội nhập sâu rộng về thương mại Một là tốc độ tăng trưởng kinh tế

và công nghiệp hoá của các nước phát triển đang chậm lại Điều này sẽ làm giảm cơ hội xuấtkhẩu liên quan đến thu nhập của những nước đang phát triển xuất khẩu trong những mặt hàngchế tác cần nhiều lao động, và khiến cho những dự báo về tiêu dùng hàng hoá sơ cấp toàn cầuthêm bi quan Kết quả là đầu tư vào sản xuất hàng hoá và thiết bị chế biến sẽ giảm, đặc biệt làtrong ngành khai mỏ và sản xuất năng lượng Một điểm nữa cần lưu ý là việc hội nhập thươngmại sâu rộng hơn của Trung Quốc và Ấn Độ diễn ra cùng thời điểm các nước đang phát triểnkhác cũng đang có những nỗ lực tương tự Nhiều nước cũng đang đồng thời tăng cường cáchoạt động hướng tới xuất khẩu đối với cùng một số mặt hàng Điều này sẽ làm tăng sự cạnhtranh giữa các nước đang phát triển trên thị trường xuất khẩu

II BÙNG NỔ VỀ CẦU VÀ CÁC MÔ HÌNH THƯƠNG MẠI Ở CHÂU Á

1 Thay đổi trong các mô hình tiêu dùng thực phẩm

Thu nhập bình quân đầu người tăng lên từ những mức thấp đã kéo theo sự tăng lên củamức tiêu dùng thực phẩm bình quân đầu người và sự chuyển hướng trong cơ cấu chi tiêu của

hộ gia đình từ các sản phẩm sơ cấp, đặc biệt là thực phẩm chuyển sang các sản phẩm chế tác(ví dụ như hàng dệt may và quần áo) các sản phẩm từ gỗ và giấy, máy móc (ví dụ như cácthiết bị điện gia dụng) và hoá chất (ví dụ như dược phẩm) Cầu của hộ gia đình về các dịch vụcũng gia tăng, đặc biệt là các dịch vụ vận tải (đặc biệt là vận tải cá nhân), điện và nhà ở (baogồm đồ gỗ và các thiết bị gia dụng) Giá trị thực phẩm trong chi tiêu của hộ gia đình tuy tăng

về số tuyệt đối nhưng lại giảm tương đối so với các sản phẩm khác Hơn nữa, do thu nhậpbình quân đầu người tiếp tục tăng, mức tăng lên của lượng calo bình quân đầu người giảmdần, và các hộ gia đình cũng thay đổi cơ cấu tiêu dùng thực phẩm của mình: Tỷ lệ các loạingũ cốc chính giảm trong khi ở hầu hết các nước tỷ lệ thịt, cá, các sản phẩm từ sữa, rau và hoaquả lại có xu hướng tăng lên

Những thay đổi về thu nhập không chỉ là nguyên nhân duy nhất khiến mô hình tiêu dùngthực phẩm thay đổi Các nguyên nhân khác là những thay đổi trong lối sống và sở thích, đặcbiệt những thay đổi đi cùng với quá trình đô thị hoá và sự tăng lên của số gia đình hạt nhân.Những thay đổi này có xu hướng sẽ dẫn đến sự chú trọng hơn nữa tới tính tiện nghi, bao gồmmột tỷ lệ lớn hơn các thực phẩm không tiêu dùng tại gia đình, tình trạng tiêu thụ nhiều hơncác thực phẩm chế biến sẵn và những nỗ lực để giảm thời gian chuẩn bị cho những bữa ăntruyền thống (Popkin 1993) Quá trình đô thị hoá sẽ có tác động vô cùng lớn tới mức độ và cơcấu tiêu dùng thực phẩm của một đất nước nếu như thu nhập của người tiêu dùng thành thịcao hơn nhiều so với người tiêu dùng ở nông thôn Trong trường hợp này, người tiêu dùng ởnông thôn có thể sẽ phải tiếp tục phấn đấu tăng mức calo tiêu thụ bình quân đầu người trên cơ

sở các bữa ăn truyền thống, trong khi đó người tiêu dùng thành thị đã đạt được mức dinhdưỡng giống như người tiêu dùng ở các nước phát triển và sẽ ngày càng xa rời các bữa ăntruyền thống

Sự phát triển về mức độ và cơ cấu tiêu dùng thực phẩm giữa Trung Quốc và Ấn Độ khônggiống nhau Tính đến cuối những năm 90, mức calo tiêu thụ bình quân dầu người trung bìnhcủa Trung Quốc đã chỉ kém 10% so với mức của các nước phát triển Do Ấn Độ có thu nhậpbình quân đầu người ở mức tương đối thấp và tăng tương đối chậm, trong hai thập kỷ qua,

Trang 4

mức tăng của cầu đối với ngũ cốc bình quân đầu người của nước này thấp hơn nhiều so vớiTrung Quốc, và mức tiêu dùng gạo và lúa mỳ bình quân đầu người của Ấn Độ cũng thấp hơnTrung Quốc Trên thực tế, mức calo tiêu thụ bình quân đầu người mỗi ngày của Ấn Độ vẫnthấp hơn 20% so với Trung Quốc Do đó triển vọng cho thấy mức tiêu thụ thực phẩm bìnhquân đầu người của Trung Quốc trong tương lai sẽ tăng chậm hơn so với trước đây, trong khi

ở Ấn Độ mức tiêu thụ thực phẩm bình quân đầu người sẽ tăng mạnh hơn so với trước đây(FAP, 2002: 11-12)

Thay đổi trong cơ cấu tiêu dùng thực phẩm của Trung Quốc sẽ làm tăng cầu đối với các sản phẩm từ vật nuôi, cây có dầu, dầu thực vật, hoa quả và rau

Sự chuyển hướng này chủ yếu diễn ra ở các thành phố, nơi người tiêu dùng có thu nhập caohơn và được tiếp cận với nhiều sản phẩm thực phẩm hơn Lượng thịt tiêu dùng đã tăng hơn 50%trong vòng một thập kỷ vừa qua Lượng thịt tiêu dùng bình quân đầu người đã tăng lên đáng kể,chủ yếu do cầu đối với thịt lợn và thịt gia cầm đã tăng đáng kể, tăng thêm khoảng 1/3 trong vòngmột thập kỷ qua Cầu đối với các sản phẩm thịt có vẻ vẫn sẽ tiếp tục tăng lên: Các dự báo chothấy chỉ riêng Trung Quốc sẽ chiếm tới hơn 40% mức tăng thêm về cầu đối với thịt của thế giớitrong giai đoạn 1997-2020 (Rosegrant et al., 2001:65) Mức tăng chung của tiêu dùng thịt cũngđóng góp vào việc tăng lên của cầu về đỗ tương, do thực phẩm này được dùng làm thức ăn chovật nuôi Mức tiêu thụ dầu thực vật bình quân đầu người, nhất là dầu đậu nành và dầu cọ cũngtăng mạnh do thu nhập của người dân thành thị tăng đã khiến họ sử dụng nhiều hơn các loại dầunày để thay thế cho các loại dầu thực vật chất lượng kém hơn

Tiêu thụ các sản phẩm từ vật nuôi và thức ăn chăn nuôi của Ấn Độ có thể sẽ tăng mạnh

Những thay đổi trong mô hình bữa ăn của Ấn Độ trong một thập kỷ qua rất khác so vớiTrung Quốc (bảng 1) Người Ấn Độ vốn có truyền thống ăn chay nên cầu của nước này vềthịt và thức ăn cho vật nuôi trước đây khá hạn chế; do đó mô hình bữa ăn có xu hướng chuyển

từ dùng nhiều ngũ cốc sang dùng nhiều thịt (Rosegrant et al., 2001: 5-30) Nhưng tỷ lệ củangũ cốc trong tổng thực phẩm tiêu thụ của Ấn Độ chỉ giảm nhẹ, còn tỷ lệ của rau, các sảnphẩm từ sữa và hoa quả cũng không tăng nhiều như ở Trung Quốc Điều này cho thấy môhình bữa ăn của Ấn Độ đã không thay đổi với cùng tốc độ của Trung Quốc trong thập kỷ vừaqua, cũng như không giống như Nhật Bản và Hàn Quốc trong thập kỷ 70 và thập kỷ 80.Tuy nhiên, dân số tăng nhanh và thu nhập bình quân đầu người tăng đã dẫn đến sự tăng lênmạnh mẽ của mức tiêu thụ thực phẩm của Ấn Độ về tuyệt đối Ví dụ, trong vòng một thập kỷqua, mức tiêu dùng ngũ cốc tăng khoảng 15%, tiêu dùng rau tăng 50% trong khi tiêu dùng đỗtương tăng gấp đôi, còn tiêu dùng gia cầm tăng gấp ba lần Ấn Độ có vẻ vẫn đang ở giai đoạnđầu tiên của quá trình chuyển đổi dinh dưỡng, do đó có khả năng khá lớn là lượng calo tiêuthụ bình quân đầu người sẽ tăng nhanh, đặc biệt là trong tiêu dùng các sản phẩm từ vật nuôi

và các sản phẩm là thức ăn cho vật nuôi Sự chuyển hướng mô hình bữa ăn Ấn Độ cũng sẽkhiến tiêu dùng hoa quả, rau, cá và thủy sản tăng mạnh giống như ở các nước châu Á khác

Trang 5

2 Mức tiêu thụ kim loại và năng lượng

Trong vòng vài thập kỷ qua, lượng kim loại sử dụng ở Trung Quốc, và một phần nào đó là

Ấn Độ đã tăng mạnh Xu hướng này bắt đầu trở nên rõ rệt ở Trung Quốc kể từ giữa thập kỷ

90 Trong giai đoạn giữa năm 1994 và 2003, mức tăng trưởng GDP trung bình hàng năm củaTrung Quốc đạt 8,2%, trong khi đó mức tiêu dùng kim loại còn tăng với tốc độ cao hơn:Nhôm tăng 13,6%/năm, đồng tăng 14,9%, niken tăng 13,0%, thép tăng 9,2% Tăng trưởngGDP trung bình của Ấn Độ trong cùng giai đoạn là 5,8%, trong khi đó tốc độ tăng tiêu dùngđối với đồng là 12,4%, nhôm là 3,2%, niken là 3,7% và thép là 4,4% Mặc dù mức tăng về sửdụng kim loại tính theo giá trị tuyệt đối đã tăng nhanh ở cả Trung Quốc và Ấn Độ nhưng nếutính theo giá trị bình quân đầu người thì là vẫn ở mức tương đối thấp, đặc biệt nếu so sánh vớiHàn Quốc hoặc các nước phát triển như Nhật Bản và Mỹ (bảng 2)

Bảng 2 Mức sử dụng kim loại bình quân đầu người

Trang 6

sự ra đời của các chất liệu thay thế nhân tạo và do đó lượng kim loại sử dụng trong mỗi đơn vịđầu ra sẽ giảm xuống Ngoài ra, quá trình công nghiệp hoá dựa vào ngành công nghiệp nặng

sẽ đòi hòi nhiều kim loại hơn quá trình công nghiệp hoá dựa vào ngành công nghiệp nhẹ; hơnnữa, một chiến lược công nghiệp hoá hướng ra bên ngoài nhiều hơn sẽ đòi hỏi phải xây dựngcác cầu cảng có sử dụng nhiều kim loại hơn

Mức sử dụng kim loại ở Trung Quốc có thể sẽ chậm lại khi đầu tư vào cơ sở hạ tầng giảm

so với những mức rất cao hiện nay

Trong thời gian gần đây, mức độ sử dụng nhôm, đồng và niken của Trung Quốc đã tăng trởlại, và có xu hướng tăng đều đặn trong vòng hai đến ba năm qua; điều này rõ ràng là do quátrình công nghiệp hoá đang diễn ra nhanh chóng Một phần do tốc độ đầu tư tăng rất nhanh,đặc biệt là đầu tư vào cơ sở hạ tầng Ví dụ, theo Morgan Stanley (2004), tỷ trọng của đầu tư

cơ sở hạ tầng trong GDP của Trung Quốc tăng từ mức đã khá cao là khoảng 15% trong năm

1997 lên mức hơn 20% trong năm 2002 Điều này cho thấy với cùng một tốc độ tăng trưởngkinh tế, mức tiêu dùng kim loại có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào mức độ và cơ cấu đầu tư Do

đó mức tăng nhanh của tiêu dùng kim loại của Trung Quốc có thể sẽ chậm lại một khi đầu tưvào cơ sở hạ tầng giảm xuống so với mức cao hiện nay

Ấn Độ chậm hơn từ 5 đến 20 năm so với Trung Quốc về mức độ tiêu dùng bình quân đầu người các hàng hoá như nhôm, đồng và thép

Ngược với những diễn biến ở Trung Quốc, mức độ tiêu thụ nhôm, đồng, niken của Ấn

Độ vẫn tương đối ổn định trong vòng bốn thập kỷ qua Sự khác biệt này phản ánh sự khácnhau giữa hai nước về tốc độ công nghiệp hoá và tỷ trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng trongGDP của Ấn Độ tương đối nhỏ Giả sử sự tăng trưởng hiện nay và các xu hướng côngnghiệp hoá hiện nay vẫn được duy trì, Morgan Stanley (2004:15) đã ước tính rằng Ấn Độchậm hơn từ 5 đến 20 năm so với Trung Quốc về mức độ tiêu dùng bình quân đầu người cáchàng hoá như nhôm, đồng và thép

Tương tự như mức tiêu thụ kim loại, Hannesson (2002) đã cho thấy mức tiêu thụ nănglượng lúc đầu tăng lên sau đó giảm xuống khi một nước đã đạt đến một mức phát triển nhấtđịnh Điều này có nghĩa là việc sử dụng năng lượng có xu hướng sẽ tăng chậm hơn so với thunhập ở các nước đã công nghiệp hoá, trong khi xu hướng ngược lại sẽ diễn ra ở những nước

có tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản lượng tiếp tục tăng Cùng với xu hướng chung này,mức độ tiêu thụ năng lượng của Ấn Độ có thay đổi tương đối nhỏ trong vòng bốn thập kỷ qua.Điều này có thể chủ yếu là do tốc độ công nghiệp hoá của nước này tương đối chậm, đồngthời mức đầu tư cho cơ sở hạ tầng của nước này cũng tương đối thấp, làm hạn chế tăng trưởngcủa cầu đối với nhiên liệu vận tải Ngược lại, sự bùng nổ tiêu thụ năng lượng của Trung Quốckhông đi theo mô hình chung: Mức độ tiêu thụ của Trung Quốc không ổn định, nhưng vẫn ởmức rất cao cho đến tận cuối thập kỷ 70 khi mức tiêu thụ này bắt đầu giảm, và xu hướng nàychỉ đảo ngược bắt đầu từ năm 2000

Mức độ sử dụng năng lượng của Trung Quốc trong tương lại sẽ phụ thuộc vào sự cân bằng giữa những xu hướng trái ngược nhau, nhưng có thể sẽ tăng chậm hơn so với thu nhập

Biến động trong sử dụng năng lượng tại Trung Quốc trong tương lai phụ thuộc vào sự cânbằng giữa những xu hướng trái ngược nhau Một mặt, khi quá trình công nghiệp hoá vẫn tiếptục diễn ra nhanh chóng, mức sống cao hơn của người dân và cơ sở hạ tầng giao thông được

Trang 7

cải thiện, nhu cầu sử dụng năng lượng của Trung Quốc sẽ tăng lên Mặt khác, bất chấp độ cogiãn về thu nhập bình quân đối với sử dụng năng lượng thấp trong 30 năm qua, tỷ lệ nănglượng sử dụng tính trên một đơn vị đầu ra của Trung Quốc vẫn tương đối cao nếu xét tới mức

độ phát triển kinh tế hiện nay Tình trạng này cho thấy trong tương lai Trung Quốc có khảnăng sẽ phải sử dụng nhiều công nghệ tiết kiệm năng lượng hơn nữa (ví dụ như các phươngtiện đi lại tiết kiệm năng lượng) Việc áp thuế nhiên liệu dành cho phương tiện đi lại hoặc tiếnhành tự do hoá giá năng lượng hơn nữa cũng có thể giúp làm giảm khả năng cầu về nănglượng tăng lên Tuy nhiên, những biện pháp đó cần cân nhắc một cách thận trọng những tácđộng tiêu cực của chúng tới thu nhập thực tế của những người sử dụng năng lượng, ví dụ nhưnông dân, những người phải sử dụng dầu đi-en-zen để vận hành máy móc và phương tiện vậntải; và chi phí về năng lượng để sản xuất đầu vào là phân bón - một yếu tố quan trọng đối với

họ Xét tới những yếu tố đối lập đó, rất có khả năng độ co giãn về thu nhập đối với sử dụngnăng lượng của Trung Quốc sẽ tương đối thấp trong vài năm tới Crompton và Wu (2005) ướctính trong giai đoạn từ 2004 đến 2010, độ co giãn này sẽ đạt tốc độ tăng hàng năm là 3,8%;trong khi Cơ quan năng lượng quốc tế (2004) lại dự báo tốc độ tăng trưởng trung bình hàngnăm là 2,6% trong giai đoạn từ 2002-2030

III NHỮNG THAY ĐỔI TRONG CƠ CẤU THƯƠNG MẠI

Nghiên cứu về những thay đổi trong lợi thế so sánh đối với phát triển kinh tế cho thấy tốc

độ tăng thu nhập nhanh chóng tại các nước tương đối nghèo tài nguyên thiên nhiên như TrungQuốc và Ấn Độ (cũng như Nhật Bản và Hàn Quốc) diễn ra cùng lúc với thay đổi trong cơ cấuxuất khẩu của những nước này, từ hàng nông sản sang hàng chế tác Nó cũng cho thấy rằng,dựa trên nguồn lao động có tay nghề, cơ cấu xuất khẩu hàng chế tác sẽ ngày càng chuyển từnhững mặt hàng vẫn chiếm ưu thế từ trước – những mặt hàng đòi hỏi nhiều lao động sangnhững mặt hàng đòi hỏi nhiều kỹ năng và tay nghề hơn

1 Cơ cấu nhập khẩu

Kinh tế tăng trưởng nhanh, ổn định và quá trình công nghiệp hoá nhìn chung làm tăng kimngạch nhập khẩu (cả giá trị tuyệt đối lẫn tỷ trọng trong tổng nhập khẩu) của các hàng hoá sơcấp và cả tư liệu sản xuất và sản phẩm đầu vào trung gian trong các giai đoạn đầu của quátrình công nghiệp hoá Khác với Hàn Quốc trước đây khi nước này đang trong giai đoạn pháttriển kinh tế nhanh chóng để đuổi kịp các nước phát triển, trong những năm gần đây, tỷ lệmáy móc trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc và Ấn Độ đã giảm Một nguyênnhân là do một lượng lớn nhu cầu đối với các công nghệ tiên tiến bị nén lại, mà trong trườnghợp của Trung Quốc có thể dẫn tới tình trạng nhập khẩu công nghệ cao ồ ạt một khi có đủ cácđiều kiện phù hợp cả ở trong nước và quốc tế Một nguyên nhân quan trọng khác là do nhữngnhân tố cụ thể của từng quốc gia

Ở Ấn Độ, tỷ trọng máy móc trong tổng kim ngạch nhập khẩu giảm là do tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế còn thấp Trong khi đó, ở Trung Quốc, điều này phản ánh sự tham gia ngày càng lớn vào các mạng lưới sản xuất quốc tế

Trong trường hợp của Ấn Độ, sự giảm sút về tỷ trọng máy móc trong tổng kim ngạch nhậpkhẩu liên quan chặt chẽ tới tỷ trọng tương đối hạn chế của ngành công nghiệp trong cơ cấunền kinh tế Đối với Trung Quốc, là có sự tăng mạnh về tỷ trọng linh kiện điện tử Điều nàythể hiện tác động lớn hơn của việc tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu tới các chiếnlược phát triển và công nghiệp hoá của Trung Quốc, tương tự như với các nước đang phát

Trang 8

triển khác Cụ thể là, trở thành một bộ phận của mạng lưới sản xuất toàn cầu có thể tạo rađộng lực mạnh mẽ cho các chiến lược phát triển và công nghiệp hoá của các nước đang pháttriển, chủ yếu là do việc tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu sẽ mở rộng phạm vi cáclĩnh vực mà các nước đang phát triển có thể dựa vào để hiện đại hoá nền kinh tế Do từng sảnphẩm có các đặc điểm riêng biệt, cho phép phân chia quá trình sản xuất của một số lĩnh vựccông nghiệp thành nhiều công đoạn khác nhau, nên các quốc gia đang công nhiệp hoá có thểtập trung phát triển chỉ một công đoạn sản xuất chuyên biệt chứ không phải phát triển cảchuỗi sản xuất hoàn thiện như trong các chiến lược công nghiệp hoá ở châu Á giai đoạn trướcđây.

Bảng 3 Cơ cấu nhập khẩu hàng hoá của một số nước Châu Á, giai đoạn 1965-2003

(% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá)

& kim loại phế

Trang 9

& kim loại phế

Trang 10

Nhóm sản phẩm Trung Quốc a Ấn Độ a

1987 1995 2003 1975 1985 1995 2003

Quần áo 0,0 0,8 0,3 0,0 0,0 0,0 0,1 Bần, gỗ và các

sản phẩm giấy

3,1 2,5 1,4 1,7 1,2 1,5 1,0 Chế tác khoáng

sản phi kim

0,8 0,8 0,9 2,0 6,1 6,8 10,5

Các ngành chế tác đòi hỏi công nghệ cao và tay nghề thấp

13,8 7,5 6,7 9,8 8,9 5,6 5,2

Sắt thép 11,1 5,0 5,3 8,4 7,1 4,2 2,0 Tàu thuyền 0,5 0,8 0,2 0,1 0,3 0,3 1,9

Các ngành sản xuất đòi hỏi công nghệ cao và tay nghề trung bình

27,7 26,2 20,1 15,8 17,0 16,6 10,4

Máy móc không dùng điện

19,2 20,8 12,6 11,6 14,0 12,9 7,4 Điện máy,

không bao gồm hàng điện tử

1,8 2,8 3,9 2,9 1,1 1,6 1,6

Các ngành chế tác đòi hỏi tay nghề và công nghệ cao

17,1 17,2 18,8 23.0 17,0 20,4 14,2

Hàng điện tử 8,3 12,7 26,2 1,9 3,2 4,3 9,4

Thiết bị viễn thông & thiết bị gia dụng

2,1 0,8 0,4 0,1 0,1 0,1 0,3

Máy văn phòng

& máy tính

1,3 0,9 2,8 0,2 0,5 0,7 1,6 Các phụ tùng &

linh kiện b

4,9 11,0 23,0 1,5 2,6 3,5 7,4

Ghi chú: a Không có dữ liệu của các năm trướcl; b Bao gồm SITC 759, 764, 772 & 776

Thực tế là, sự yếu kém của các liên kết cung cấp nội địa (tức là sự khan hiếm nguồn cungtrong nước đối với các đầu vào sản xuất trung gian) đã làm giảm các tác động tích cực tớiphát triển kinh tế của các hoạt động lắp ráp xuất khẩu ở một số nước đang phát triển trongnhững năm gần đây Hơn nữa, hạn chế này có xu hướng làm giảm lợi thế tương đối về chi phítrong các hoạt động lắp ráp xuất khẩu có chi phí lao động thấp Đối với Trung Quốc, mặc dùchi phí lương của các công ty điện tử của Nhật Bản tại Trung Quốc thấp hơn nhiều so với ởNhật Bản, nhưng do những nhà cung cấp địa phương thường không thể cung cấp được hoặc

đủ các đầu vào sản xuất trung gian đáp ứng đúng chất lượng, nên đã làm giảm lợi thế về tàichính của việc sản xuất ở Trung Quốc so với ở Nhật Bản Tuy nhiên, việc Trung Quốc đầu tưmạnh vào năng lực chế tác trong nước gần đây có thể giúp ngành công nghiệp điện tử giảmđáng kể sự phụ thuộc vào các bộ phận và linh kiện nhập khẩu, và giúp tăng cường các liên kếtnội địa trong công nghiệp do các linh kiện thay thế đã được sản xuất trong nước

Các giai đoạn tăng giảm khác nhau của tỷ trọng hàng dệt may trong cơ cấu nhập khẩu của bốnnước phản ánh tầm quan trọng của những mặt hàng xuất khẩu cần nhiều lao động trong quá trình

Trang 11

công nghiệp hoá Đối với Nhật Bản, trong khi tỷ trọng nhập khẩu hàng dệt ổn định trong suốt 4thập kỷ, thì tỷ trọng nhập khẩu hàng may mặc đã tăng mạnh, đặc biệt trong 10 năm trở lại đây Tỷtrọng nhập khẩu hàng dệt của Hàn Quốc cũng giảm liên tiếp, nhưng tỷ trọng nhập khẩu hàng maymặc của nước này lại tăng đều đặn, giống như Nhật Bản trước đây Đối với Trung Quốc, sự giảmsút trong tỷ trọng nhập khẩu hàng dệt hiện nay gần giống như trường hợp của Hàn Quốc từ nhữngnăm 70 Trong khi tỷ trọng hàng dệt của Ấn Độ có tăng lên trong cơ cấu nhập khẩu, nhưng cũng

là tăng lên từ những mức rất thấp Nhìn chung, tỷ trọng hàng dệt may trong cơ cấu nhập khẩu của

Ấn Độ không có thay đổi đáng kể trong vài năm trở lại đây

Việc tỷ trọng hàng hoá sơ cấp trong cơ cấu nhập khẩu của Nhật Bản và Hàn Quốc giảmmạnh trong giai đoạn 1985-1995 có vẻ ngược với những dự báo về một sự thay đổi trong lợithế so sánh của các quốc gia đang phát triển mạnh mẽ với nguồn tài nguyên không mấy dồidào Tuy nhiên, riêng đối với Nhật Bản, điều này một phần phản ánh sự thay đổi cơ cấu liêntục trong giai đoạn 1985-1995, với tỷ trọng ngành công nghiệp trong tổng sản lượng giảm từ40% xuống 34% và tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 59% lên 68% Một lý do nữa là do giá dầugiảm trong nửa cuối thập kỷ 80 Trong giai đoạn 1965-1985, tỷ trọng hàng hoá sơ cấp trong

cơ cấu nhập khẩu của Nhật Bản và Hàn Quốc giảm phần nhiều là trong lĩnh vực nông nghiệp.Điều này phần nào phản ánh sự tăng trưởng sản lượng trong nước do kết quả của cuộc Cáchmạng Xanh, và một phần do xu hướng bảo hộ nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoácủa các nước này

Trong quá trình công nghiệp hoá và tăng trưởng kinh tế, nhập khẩu nhiên liệu và một sốnguyên liệu (bông, cao su, gỗ, quặng sắt và kim loại màu) chiếm tỷ trọng lớn Ví dụ, nhiênliệu tiếp tục chiếm khoảng 1/5 tổng kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản và Hàn Quốc và tỷtrọng nhiên liệu trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc đã tăng 5 lần trong vòng 15năm Tỷ trọng các loại khoáng sản, quặng sắt và kim loại trong tổng kim ngạch nhập khẩu củaNhật Bản đã giảm mạnh, trong khi tỷ trọng này của Hàn Quốc có vẻ đã đạt đến ngưỡng caonhất, và vẫn tiếp tục tăng đối với Trung Quốc Lý do chủ yếu là chu kỳ sử dụng nhiều kimloại trong quá trình công nghiệp hoá ở Trung Quốc Tỷ trọng bông trong tổng kim ngạch nhậpkhẩu của Nhật Bản và Hàn Quốc giảm do có sự dịch chuyển tỷ trọng hàng dệt may trong kimngạch xuất khẩu của hai nước này

Nhập khẩu năng lượng và nguyên liệu thô của Trung Quốc vẫn tăng trưởng mạnh trong một vài năm tới

Bảng 4 mô tả những thay đổi về nhập khẩu một số sản phẩm của Trung Quốc và Ấn Độtrong hai thập kỷ tới Bảng này cho thấy nhập khẩu hàng hoá và nguyên liệu thô của NhậtBản và Hàn Quốc tăng rất mạnh trong những giai đoạn đuổi bắt và phát triển kinh tế đầu tiên,sau đó sẽ chậm lại Mức tăng nhập khẩu các hàng hoá sơ cấp của Trung Quốc trong giai đoạn1990-2000 cũng tương ứng với Nhật Bản trong hai mươi năm đầu của giai đoạn đuổi bắt và hộinhập kinh tế sau chiến tranh Điều này có hàm ý rằng mức tăng nhập khẩu của Trung Quốc tronghai thập kỷ tới sẽ chậm hơn trong giai đoạn 1990-2000? Dự báo cho nhập khẩu từng sản phẩm cụthể của Trung Quốc cho thấy mức tăng nhập khẩu trung bình trong thời gian tới có thể sẽ thấphơn so với trung bình giai đoạn 1990-2000 Tuy nhiên, khi Trung Quốc bắt đầu hội nhập với thếgiới, thu nhập bình quân đầu người của nước này thấp hơn rất nhiều so với Nhật Bản và HànQuốc trong thời kỳ tương ứng Do đó, Trung Quốc có thể vẫn giữ được mức tăng trưởng nhậpkhẩu khá mạnh đối với năng lượng và nguyên liệu thô trong vài năm tới để duy trì đà phát triển

Ngày đăng: 09/04/2018, 23:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w