1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI

27 885 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 163 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình vận động và phát triển, tiểuthuyết Việt Nam đương đại đã dung nạp vào bản thân nó những yếu tố hậu hiệnđại: giải - khu biệt hóa và phi tâm hóa; tính chất hỗn loạn và bất

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG 2

1.1.Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI và sự phân chia các khuynh hướng.2 Tiểu thuyết là thể loại phát triển năng động nhất, được bạn đọc quan tâm đón đọc và cũng là thể loại có nhiều cách tân Những nhà lý luận văn học nổi tiếng trên thế giới như M.M.Bakhtin hay Milan Kudera đều xem tiểu thuyết là nghệ thuật mang tinh thần thời đại, vượt qua ranh giới của một thể loại văn học thuần túy 2

1.2 Lý thuyết đối thoại và sự xuất hiện nguyên lí đối thoại trong văn học Việt Nam 8

1.2.1 Các quan niệm về lí thuyết đối thoại 8

1.2.2 Sự xuất hiện nguyên lí đối thoại trong văn học Việt Nam 11

CHƯƠNG 2 TƯ DUY ĐỐI THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI 13

2.1 Đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam về tư duy nghệ thuật 13

2.2 Tư duy đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam về ý thức nghệ thuật 15

2.2.1 Đối thoại từ việc xây dựng nhân vật 15

2.2.2 Đối thoại về mặt thể loại 17

2.3 Tư duy đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam về tổ chức trần thuật 19

2.3.1 Tổ chức người kể chuyện 19

2.3.2 Kiến tạo diễn ngôn đối thoại 21

2.3.3 Dân chủ hóa giọng điệu trần thuật 24

KẾT LUẬN 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 2

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG

1.1.Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI và sự phân chia các khuynh hướng

Tiểu thuyết là thể loại phát triển năng động nhất, được bạn đọc quan tâm đónđọc và cũng là thể loại có nhiều cách tân Những nhà lý luận văn học nổi tiếng trênthế giới như M.M.Bakhtin hay Milan Kudera đều xem tiểu thuyết là nghệ thuậtmang tinh thần thời đại, vượt qua ranh giới của một thể loại văn học thuần túy

Khác với những thể loại khác đã trở nên hoàn kết, tiểu thuyết là thể loạiđang vận động, chưa hoàn kết xong xuôi Tiểu thuyết hàm chứa trong nghệ thuậtkhả năng lai ghép và dung hợp mọi thể loại văn học còn lại Tinh thần của tiểuthuyết là tinh thần đa thanh, đối thoại Nằm trong xu thế thời đại, tiểu thuyết ViệtNam đầu thế kỷ XXI thực sự có nhiều thành tựu đáng chú ý

Trong những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, yếu tố hậu hiện đại đã đểlại dấu ấn trong tiểu thuyết Việt Nam Trong quá trình vận động và phát triển, tiểuthuyết Việt Nam đương đại đã dung nạp vào bản thân nó những yếu tố hậu hiệnđại: giải - khu biệt hóa và phi tâm hóa; tính chất hỗn loạn và bất ổn của trật tự đờisống; sự xáo trộn giữa hư và thực, giữa cái siêu nhiên huyền bí và đời thường;những kiểu cấu trúc mới, mảnh vỡ, liên văn bản, gián cách; trò chơi cấu trúc, tròchơi ngôn ngữ, bút pháp nhại, nghịch dị, huyền ảo… Các yếu tố cơ bản của hậuhiện đại đã được các nhà văn Việt Nam tiếp biến ở nhiều mức độ, ở từng phongcách Theo Lyotard (được xem là người khởi đầu chủ nghĩa hậu hiện đại Pháp),trong thế kỉ tương lai (thế kỉ XXI) không có gì được gọi là sách nữa mà chỉ có một

“mớ chữ” Điều này cũng thể hiện rõ quan niệm hậu hiện đại của ông, đó là khôngcòn tồn tại văn bản lớn (tức là những gì được viết có đầu đuôi, có hệ thống) nữa

mà chỉ có những vi văn bản, tức là những mảng ý nghĩ, mảng đối thoại, những câunói, những câu đang nghĩ Tác phẩm trở thành một văn bản cho phép người đọctoàn quyền đi từ điểm này đến điểm khác hết sức tự do Đầu thế kỉ XXI, thành tựu

về thể loại văn học ở nước ta đa dạng hơn, đặc biệt là tiểu thuyết luôn thích nghivới những chuyển động phong phú của đời sống Từ góc nhìn thể loại, ngày càng

Trang 3

xuất hiện nhiều khuynh hướng tiểu thuyết, thể hiện sự cách tân triệt để trong xu thếhội nhập với văn học toàn cầu.

“Thái Phan Vàng Anh chia tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI theo 4

khuynh hướng chính như sau (do đặc trưng thể loại, việc phân chia thành cáckhuynh hướng tiểu thuyết chỉ có tính chất tương đối, nhằm khái quát diện mạo tiểuthuyết, thể loại trụ cột của một nền văn học):

1.1.1 Tiểu thuyết tân lịch sử - sự phản tư lịch sử

Theo Lyotard, hoàn cảnh ra đời của hậu hiện đại là “sự hoài nghi đối với mọi đại tự sự” Các khái niệm vốn từng có một sức nặng vững chắc trong truyền

thống như lịch sử, nhà nước, con người, thượng đế, trí tuệ, ngôn ngữ… giờ đây gầnnhư trở nên vô nghĩa khi mọi ý đồ nhằm thiết lập các mô hình thế giới đều bị chối

bỏ Hậu hiện đại chú ý tiểu tự sự, tìm kiếm những gì chưa thành khuôn mẫu thay vìđặt niềm tin vào những nguyên lí đã được định hình Hậu hiện đại thể hiện ở thái

độ mỉa mai đối với lịch sử, coi thường tính xác thực của sự kiện, hoài nghi cáctượng đài của quá khứ Chủ nghĩa “tân lịch sử” trở thành biểu hiện đầu tiên củachủ nghĩa hậu hiện đại

Gắn với cảm quan lịch sử và tư duy “nhận thức lại”, một bộ phận tiểu thuyếtViệt Nam đầu thế kỉ XXI hướng sự quan tâm đến những câu chuyện của thì quákhứ Song khác với tiểu thuyết lịch sử truyền thống vốn coi tính chân xác, kháchquan như những tiêu chuẩn sống còn, tiểu thuyết tân lịch sử tiếp cận quá khứ bằngquan điểm, thái độ chủ quan của người sáng tác Nhìn lại lịch sử, luận giải lịch sử

từ những góc nhìn “khác” được chú ý hơn so với việc tìm kiếm sự thật, khôi phụcchân tướng lịch sử, như những quan niệm trước đây Ở Việt Nam, thuộc vàokhuynh hướng này có thể kể đến tiểu thuyết Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh),Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Hội thề (Nguyễn Quang Thân), Tây Sơn bi hùng truyện(Lê Đình Danh), Bí mật hoàng cung (Bùi Anh Tấn)… Không nhằm kể lại lịch sử

và giáo huấn, không tuân thủ mô hình của tiểu thuyết lịch sử truyền thống theo

Trang 4

kiểu chương hồi khách quan, khuynh hướng tiểu thuyết tân lịch sử hướng đến luậngiải quá khứ trên tinh thần đối thoại, giải thiêng cùng với những hoài nghi vềnhững “đại tự sự” của lịch sử (các tư tưởng, học thuyết, các tôn giáo, tín ngưỡng,các huyền thoại, cổ mẫu ).

Một trong những cái khó của các cây bút tiểu thuyết lịch sử là luôn phải chịu

áp lực trong quá trình đối thoại với quá khứ, nhằm tránh những cạm bẫy đượcgiăng lên từ mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và hư cấu Các nhà tiểu thuyết theokhuynh hướng tân lịch sử lại càng phải chịu nhiều áp lực hơn khi buộc phải luậngiải, đánh giá lại lịch sử chứ không phải “kể chuyện” lịch sử bằng văn học Cứ liệulịch sử lúc này chỉ còn là cái cớ để bày biện các ý đồ sáng tạo, các quan niệm nghệthuật của nhà văn Có thể thấy, trong sự gia giảm giữa hư cấu và sự thực lịch sử, đaphần các nhà viết tiểu thuyết theo xu hướng này đều có ý thức đi tìm bản ngã Ýthức đó khiến tiểu thuyết tân lịch sử thường có tính chất phản tư, lịch sử hiện raqua diễn ngôn tự thuật của một cái tôi tự vấn Cùng với những đặc điểm nảy sinh

từ cảm quan hậu hiện đại như phản nghịch, vứt độ sâu… tiểu thuyết tân lịch sử đãxem “lịch sử như là một nhân vật”, nơi nhà văn thỏa sức tưởng tượng, hư cấu đểnhận diện lại lịch sử hay thậm chí lật đổ, viết lại lịch sử

1.1.2 Tiểu thuyết hiện sinh - sự phân rã những mảnh hiện tồn

Tinh thần hiện sinh trong văn học, về cơ bản là sự kiếm tìm bản thể, hướngđến trả lời câu hỏi “Con người, anh là ai?” Tinh thần hiện sinh, quan niệm hiệnsinh chỉ thật sự bùng nổ trong văn học Việt Nam kể từ đầu thế kỉ XXI, cùng với sự

mở rộng của hiện thực, của kĩ nghệ, khiến con người bị “máy hóa” và ngày càngtrở nên “vô danh” trước đời sống Tiền đề “hiện sinh có trước bản chất” của chủnghĩa hiện sinh và các quan niệm về tính chủ thể, về tự do, sự phi lí, về sự dấnthân, nổi loạn… tỏ ra phù hợp để lí giải và nhận diện con người hậu hiện đại

Tiểu thuyết đầu thế kỉ XXI đặc biệt chú ý đến đời sống hiện sinh của conngười – “con người không là gì khác ngoài cái mà bản thân anh ta tự làm nên” (J.P

Trang 5

Sartre) Sự xuất hiện của nhiều cây bút trẻ (Nguyễn Danh Lam, Vũ Đình Giang, LêAnh Hoài, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Ngọc Tư…) với các tiểu thuyết tập trung vàocác trạng huống hiện hữu cá biệt của con người trong đời sống đã làm nên mộtkhuynh hướng tiểu thuyết hiện sinh ở Việt Nam Tinh thần hiện sinh trong tiểuthuyết đầu thế kỉ XXI được thể hiện đậm đặc ở cảm thức hư vô, ở những thân xáchiện tồn bị quăng quật ngẫu nhiên vào đời sống và chỉ tồn tại nhờ vào những ýmuốn tồn tại của chính nó Nổi loạn, dấn thân kiếm tìm tự do, chìm đắm trong nỗi

cô đơn bản thể với những cái chết tượng trưng, những chấn thương tinh thần - thểxác… trở thành những phản ứng của con người trước một thực tại đơn điệu, trốngrỗng, thiếu vắng những điểm tựa tinh thần Với tiểu thuyết hiện sinh, các nhà văngặp gỡ nhau ở ý thức mô tả một kiểu nhân vật lạc lõng, cô đơn giữa một thế giớiphẳng Con người khước từ, đánh mất sự hiện hữu để dấn thân vào hành trình truytìm bản thể

1.1.3 Tiểu thuyết tính dục - sự phì đại của dòng văn chương thân xác

Nếu văn học hiện đại quan tâm nhiều đến tình yêu thì văn học hậu hiện đạilại quan tâm nhiều đến tình dục Nhìn từ mĩ học hậu hiện đại, việc khai thác đề tàitính dục tự nó chưa đủ để làm nên một khuynh hướng sáng tác riêng biệt Nhiềutiểu thuyết của các nhà văn nữ dựa vào ý thức bình đẳng tính dục giới để khẳngđịnh tinh thần nữ quyền Nhiều tiểu thuyết thuộc khuynh hướng hiện sinh quan tâmđến con người bản năng, con người tính dục nhằm nhận diện một trạng huống hiệnsinh của con người trong đời sống Cùng với sự trở lại của học thuyết Freud, sự phìđại của dòng văn chương thân xác đầu thế kỉ XXI dẫn đến sự xuất hiện mộtkhuynh hướng tiểu thuyết lấy tính dục làm trung tâm cảm xúc, qua tính dục để lígiải, cắt nghĩa những vấn đề cuộc sống và con người

Điểm nổi bật của các tác phẩm thuộc khuynh hướng tiểu thuyết tính dục là

sự khai thác triệt để ngôn ngữ thân xác nhằm tô đậm những khía cạnh hiện sinh,những phương diện bản thể của con người Tính dục đồng tính cũng được quan

Trang 6

Một số tác giả còn chú ý quá nhiều đến việc phô diễn những “thao tác giườngchiếu”, song nhìn chung, thể hiện những trạng thái cảm xúc tính dục, qua đó, chạmđến những miền sâu kín của con người, mới là đích đến của tiểu thuyết thuộckhuynh hướng này Đằng sau những trang viết đầy nhục cảm là những bất hạnh thểxác (Song song), những chấn thương tinh thần (Bờ xám), những ám ảnh vô thứchay những nỗi đau thân phận (Một thế giới không có đàn ông - Bùi Anh Tấn, Phiênbản - Nguyễn Đình Tú) Đằng sau những ngôn từ gợi hình, mê đắm có khi lànhững hoang hoải kiếp người (Bóng giai nhân - Đặng Thiều Quang, Vắng mặt - ĐỗPhấn, Chuyện lan man đầu thế kỷ - Vũ Phương Nghi) Không thể phủ nhận rằng,

ở một số tác phẩm (thuộc mọi khuynh hướng), sex có khi như một thứ gia vị đượcnêm quá tay để chiều thị trường Song cũng không thể không thừa nhận, khi xemsex như một đề tài chủ yếu để dò tìm những phần khuất lấp của tâm hồn con người,các tác phẩm “nương nhờ thân xác” thuộc khuynh hướng tiểu thuyết tính dục đãgóp thêm một cách tiếp cận con người đa bản thể

1.1.4 Tiểu thuyết nữ quyền - phụ nữ không phải là “cái khác vắng mặt”

Ở Việt Nam, tinh thần nữ quyền lên ngôi và dần trở thành một khuynhhướng văn học nổi bật từ đầu thế kỉ XXI Đây cũng là một xu thế tất yếu của thờiđại khi phụ nữ trở thành “chủ thể ngôn từ, chủ thể trải nghiệm, chủ thể tư duy, chủthể thẩm mỹ” (Lưu Tư Khiêm) và tư tưởng nam quyền cùng nền văn hoá duydương vật (phallocentric culture) trở thành những “đại tự sự” cần được xét lại vớinhững phán quyết mới Với nhu cầu “nhận thức lại”, hướng đến giải phóng phụ nữtrên nhiều phương diện, nhiều cây bút nữ Việt Nam đã phần nào khẳng định quyềncủa phụ nữ thông qua văn chương

Đầu thế kỉ XXI, cùng với sự trỗi dậy của các cây bút nữ, văn học nữ và bộphận văn học mang tinh thần nữ quyền (ở cả thơ và văn xuôi) mới thật sự trở thànhmột dòng văn học có chỗ đứng riêng Ở thể loại tiểu thuyết, khuynh hướng văn học

nữ quyền gắn với tác phẩm của Y Ban (Xuân Từ Chiều, Trò chơi hủy diệt cảmxúc), Dạ Ngân (Gia đình bé mọn), Đoàn Lê (Tiền định), Lý Lan (Tiểu thuyết đàn

Trang 7

bà), Thuận (Phố Tàu, Paris 11 tháng 8), Đoàn Minh Phượng (Mưa ở kiếp sau), VõThị Xuân Hà (Trong nước giá lạnh) và đậm nhạt ở tác phẩm của một số tác giảkhác như Thùy Dương, Phong Điệp, Đỗ Bích Thúy, Linda Lê…

Ý thức về giá trị nữ giới trong tiểu thuyết đầu thế kỉ XXI thể hiện trước hết ởviệc phủ nhận những giá trị chính diện của chế độ phụ quyền, gắn với khái niệm

“dương vật trung tâm” (J Lacan); hướng đến nhận diện và giải mã những phươngdiện mang đặc trưng nữ giới hiển lộ hay bị che giấu trong tác phẩm “Nhân danhtính đàn bà” các nhà văn nữ không chỉ chất vấn, lên tiếng về nỗi đau thân phận màcòn công phá vào những “vùng cấm kị” để khẳng định tiếng nói, khẳng định quyềncủa phụ nữ, trong đó có những quyền năng từ giới tính Văn học nữ quyền trởthành những diễn ngôn mới về tính dục nữ Và sự chủ động của nữ giới trong tìnhdục trở thành phương diện thể hiện rõ nhất sự tự do bản ngã (tiểu thuyết của YBan, Thuận, Dạ Ngân, Lý Lan…) Lúc này giới tính là tiền đề và cũng là kết quảcủa những câu chuyện về phụ nữ Những tiền đề - kết quả, những câu chuyện vềthân phận đàn bà có thể giống hoặc khác nhau, song tiếng nói nữ quyền trong tiểuthuyết đầu thế kỉ XXI đã buộc người ta phải lắng nghe và nhìn phụ nữ không phải

là “cái khác vắng mặt” (Lacan)

Có nhiều tiêu chí, nhiều cách phân chia tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXIthành các khuynh hướng (dù luôn tồn tại tính chất tương đối và cả sự chồng chéotrong các cách phân chia): theo đề tài; theo cảm hứng sáng tác của nhà văn; từphương diện hình thức; dựa vào tư duy thể loại và những bút pháp tương ứng Sựphân chia thành các khuynh hướng như trên cũng chưa đủ để nhận diện toàn bộtiểu thuyết đầu thế kỉ XXI, song từ sự tương đồng trong các khuynh hướng tưtưởng mĩ học hậu hiện đại với các khuynh hướng tiểu thuyết ấy, có thể cảm nhận

rõ rệt hơn về cảm quan hậu hiện đại ở một bộ phận văn học Việt Nam.”(1)

Trang 8

1.2 Lý thuyết đối thoại và sự xuất hiện nguyên lí đối thoại trong văn học Việt Nam

1.2.1 Các quan niệm về lí thuyết đối thoại

Quan niệm của Bakhtin

Những năm 20 thế kỷ XX, M Bakhtin đề xuất luận đề mới của khoa họcvăn học Cụ thể: bản chất đối thoại của ý thức và ngôn ngữ; tiểu thuyết đa thanhnhư là một chỉnh thể đối thoại; vấn đề văn hóa cười; vấn đề chủ thể, văn bản Tất

cả luận đề này liên quan chặt chẽ với nhau và nắm giữ mấu chốt quan niệm về líthuyết đối thoại của ông

Quan điểm M Bakhtin có sự khác biệt so với quan điểm của nhà ngôn ngữhọc F Saussure Mô hình giao tiếp của Saussure cũng bao gồm người nói và ngườinghe, nhưng người nghe chưa phải là người đối thoại mà là người tiếp nhận mộtcách thụ động Nếu Saussure xem bản chất của ngôn ngữ nằm ở sự khác biệt thìvới Bakhtin, bản chất ngôn ngữ là tính đối thoại Không những thế, ông còn trừutượng hàm nghĩa đối thoại thành một khái niệm triết học Đối thoại được xem làbản chất tư tưởng nhân loại Vì thế, ý nghĩa của mọi phát ngôn đều tuỳ thuộc vàonhững gì được nói trước đó và cách thức người nghe tiếp nhận phát ngôn ấy nhưthế nào Nói ngắn gọn hơn, mọi phát ngôn đều mang tính đối thoại Hiểu một phátngôn cũng mang tính đối thoại, trả lời, phản ứng ở các mức độ khác nhau Đốithoại khẳng định sự sống của con người trong xã hội Mỗi con người là một ý thức.Đối thoại tất yếu sẽ nảy sinh từ những cá thể mang ý thức này Ý thức sẽ khôngchấp nhận lối tư duy độc thoại độc đoán, phiến diện, một chiều Thức nhận về thếgiới phải luôn luôn chấp nhận những tiếng nói khác, thậm chí đối lập, mâu thuẫn

và va chạm giữa những tiếng nói đó chính là đối thoại mang tính đa nguyên Đốithoại để khẳng định sự hiện hữu bản thân trong xã hội, nhìn nhận đánh giá cuộcsống, con người và bản thân hay nói cách khác “cải tạo mối quan hệ giữa ngườivới người”

Trước hết, lý thuyết đối thoại của Bakhtin nêu lên bản chất đối thoại của ýthức và ngôn ngữ, đặt nền móng cho việc phân tích ngôn ngữ theo bình diện mới

Trang 9

Việc tìm ra và chứng minh cho tính đúng đắn của luận đề bản chất đối thoại của ýthức và ngôn ngữ với nguyên lí lời nói con người luôn mang tính đối thoại đượcBakhtin triển khai trong thể loại tiểu thuyết Ông xem, tính tiểu thuyết là tính đốithoại Nhà nghiên cứu nhận ra mẫu mực của đối thoại với tính đa thanh, phức điệu.

Đa thanh thể hiện nhiều giọng nói hay diễn ngôn hai giọng và các tiếng nói bìnhđẳng với nhau Vì vậy, nhà lí luận khởi xướng ngành khoa học mới - siêu ngôn ngữhọc Siêu ngôn ngữ học nghiên cứu ngôn ngữ trong dạng thức cụ thể là lời nói Đặcđiểm khu biệt đối tượng siêu ngôn ngữ học là quan hệ đối thoại, kể cả quan hệ đốithoại giữa người nói với lời nói của chính mình.Bên cạnh quan niệm đối thoạitrong nội tại lời nói, những vấn đề trọng tâm khác như: tính độc lập tương đối giữanhân vật với tác giả, đặc điểm về thể loại, kết cấu, cốt truyện Đây là diện mạoquan niệm lí thuyết đối thoại

Tóm lại, trong quan niệm về đối thoại, ngôn ngữ luôn được đặt trong tínhchỉnh thể, sống động, cụ thể, có tư tưởng, đời sống xã hội riêng Bản chất ngôn ngữBakhtin mang tính đối thoại bởi nó là nơi hội tụ, tranh biện của những quan niệm,

tư tưởng khác nhau về thế giới, con người

Các quan niệm khác

Sau M.Bakhtin, người giới thiệu, diễn giải thành công nhất tính đối thoạichính là Julia Kristeva (1941 - ) với tính liên văn bản Bên cạnh việc giới thiệu,Kristeva đi vào phân tích tư tưởng Bakhtin và đề xuất tính liên văn bản thay thếcho khái niệm tính đối thoại/tính liên chủ thể Phát hiện đối thoại là bản chất xã hộicủa ngôn ngữ và ý thức con người, M Bakhtin đề xuất hướng nhìn nhận phổ quát

về thực hành ngôn ngữ, cụ thể trong văn học nói chung, thể loại tiểu thuyết nóiriêng Kristeva ghi nhận điều này, gọi tên kết quả của hành động tư duy ngôn ngữtrong văn bản là liên văn bản Bà đề xuất chiều kích có tính đối thoại: chủ thể viết,chủ thể nhận và ngữ cảnh Với Bakhtin, ngữ cảnh là hoàn cảnh xã hội Ở Kristeva,ngữ cảnh là văn bản xung quanh nó Tức là chỉ những mối quan hệ khác nhau cóthể có của một văn bản cho trước với những văn bản khác như trích dẫn, ám chỉ,

Trang 10

bình giải, nhại, bắt chước, vay mượn Như vậy, Kristeva đã từ bỏ tính liên chủ thểcủa Bakhtin khi xây dựng thuật ngữ tính liên văn bản

Hai năm sau tiểu luận của Kristeva, R Barthes trong bài viết Cái chết củatác giả khai triển khái niệm liên văn bản một cách đầy đặn hơn Ông quan niệm,mọi văn bản đều là liên văn bản đối với một văn bản khác Nó được hiểu như làthuộc tính bản thể của mọi văn bản Văn bản theo R Barthes không phải là một tổhợp ngôn ngữ tự trị mà là một không gian đa nguyên với vô số văn bản, chứa đựngnhiều hiểu biết, niềm tin, văn hóa khác nhau Không có văn bản nào là độc tôn vàkhởi nguyên cho văn bản khác Bên cạnh đó, nếu ở Dostoievski, M Bakhtin khẳngđịnh tác giả tham gia một cách bình đẳng, độc lập với ý thức nhân vật, thì điều đặcbiệt, R Barthes không quan tâm đến địa vị của tác giả

R Barthes cung cấp cho khái niệm tính liên văn bản một định thức mangtính quy phạm hóa: “Mỗi văn bản là một liên văn bản; những văn bản khác có mặttrong nó ở các cấp độ khác nhau dưới những hình thái ít nhiều nhận thấy được:những văn bản của văn hóa trước đó và những văn bản của văn hóa thực tại xungquanh Mỗi văn bản đều như là tấm vải mới được dệt bằng những trích dẫn cũ”.Ông nhấn mạnh thuật ngữ văn bản có nghĩa là mạng lưới, tấm dệt, tấm vải Tínhliên văn bản dần dần trượt xa khỏi phạm vi thể loại tiểu thuyết - cơ sở khảo sát banđầu của Bakhtin về tính đối thoại

Tiếp theo đó, khái niệm liên văn bản được sử dụng phổ biến, biện giải trong

tư duy của các nhà hậu cấu trúc của Pháp như J Derrida, J Lacan, M Foucault,F.Lyotard, G Deleuze… và hậu cấu trúc của Mỹ Paul de Man, H Bloom, H.Miller dẫn giải với ý nghĩa gần như nghĩa gốc

Nửa sau những năm 80 thế kỷ XX, M Foucault quan tâm những quy tắc chiphối việc diễn ngôn ra đời và vận hành trong đời sống Nhà nghiên cứu gặp gỡBakhtin khi chú trọng đến bản chất ngữ cảnh phát ngôn nghĩa là hoàn cảnh xã hội.Tuy nhiên, M Foucault trượt ra khỏi diễn ngôn về mặt ngữ học, tiệm cận triết học

Trang 11

và tư tưởng hệ Sự tiếp nhận, tiếp biến, liên quan lí thuyết Bakhtin qua các nhà cấutrúc, hậu cấu trúc khá rõ nét

1.2.2 Sự xuất hiện nguyên lí đối thoại trong văn học Việt Nam

Cơ sở xuất hiện

Lịch sử, văn hóa sang thời kì mới giúp cho đời sống kinh tế, xã hội có nhữngbước tiến quan trọng Đó là sự chuyển dịch từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thịtrường với xu hướng toàn cầu hóa Các phương tiện thông tin đại chúng, công nghệthông tin, văn hóa mạng, văn học dịch ảnh hưởng lớn đến đời sống văn học nghệthuật Cơ chế thị trường biến tất cả thành hàng hóa, trong đó có cả sản phẩm vănhóa, văn học Sự giao lưu, hợp tác đa chiều với thế giới làm cho văn học nước nhàtrở nên sôi động hơn.Sự sàng lọc của người đọc càng phải trở nên khắt khe hơn Sựthay đổi trong đời sống lịch sử, văn hóa, xã hội là tiền đề xuất hiện nguyên lí đốithoại trong đời sống văn học Việt Nam nói chung, tiểu thuyết nói riêng trên tinhthần nhận thức lại

Biểu hiện

Ngoài quy luật khách quan, bản thân sự vận động tự thân của văn học luôn

có ý thức vượt qua các quy phạm, vượt qua tính đơn thanh để hướng tới đa thanh

Vì vậy, nguyên lí đối thoại gắn liền với cảm thức nhận thức lại trong văn học ViệtNam Trong các thể loại văn học thế kỉ XXI, nguyên lí đối thoại thể hiện rõ rệt vàmạnh mẽ nhất ở tiểu thuyết Tuy nhiên, mỗi giai đoạn, đối thoại xuất hiện vớimức độ đậm nhạt khác nhau Từ Tố Tâm, văn xuôi Tự lực văn đoàn, đến sáng táccủa Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, tinh thần đối thoại đã xuất hiện và ngày càng đậmnét trong văn học Việt Nam Biểu hiện của nguyên lí đối thoại trong tiểu thuyếtViệt Nam đương đại hết sức phong phú Tác phẩm Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài,Nguyễn Xuân Khánh, Hồ Anh Thái, Cao Duy Sơn, Thuận, Nguyễn Bình Phương,

Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà đã đặt ra và đối thoại với rất nhiều quan điểm, họcthuyết - các văn bản vĩ mô của truyền thống Thông qua đối thoại dân chủ, tiểu

Trang 12

thuyết Việt Nam đang dần tiến sát và hoà nhập với tính chất hiện đại của tiểuthuyết thế giới.

Trang 13

CHƯƠNG 2 TƯ DUY ĐỐI THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM

ĐẦU THẾ KỈ XXI

2.1 Đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam về tư duy nghệ thuật

K.Marx xem nghệ thuật là trò chơi cao đẹp nhất mà con người đã tạo ra chochính mình Trong đó, mỗi dân tộc, mỗi triết gia lớn có những quan điểm về nghệthuật đáng lưu ý Thơ, nhạc đều thống nhất nghệ thuật phản ánh đời sống và bộc lộtình cảm, tác động đến đời sống tinh thần con người, góp phần nhận thức hiệnthực Nghệ thuật có vai trò lớn lao trong giao lưu tình cảm giữa người với người,cứu chuộc con người (tiếng hát Trương Chi, tiếng đàn Thạch Sanh…) Trong suốtngàn năm phong kiến, sứ mệnh của nghệ thuật được đề cao Quan điểm “nghệthuật mang tính trò chơi” là một quan điểm đề cao hoạt động tự do của nghệ thuật,coi nghệ thuật là hoạt động tự do của tâm hồn, của tưởng tượng và cảm giác Việctách nghệ thuật ra khỏi yêu cầu của thực tiễn là hành động trái với lịch sử nhưngvẫn là một quan điểm, đóng góp đáng lưu tâm

Mỗi quan điểm loại hình nghệ thuật khác nhau đều mang tiếng nói đặc thùnhưng cùng chung mục đích hướng tới cái đẹp, phục vụ con người Ngược lại, conngười cũng chính là nhân tố quyết định để sáng tạo nên nghệ thuật Đối thoại trongnghệ thuật nói chung mang hàm nghĩa khá rộng Trong tiến trình lịch sử phát triểnkhách quan của nghệ thuật, do tính đa dạng của quá trình và các hiện tượng thựctại, do sự khác biệt của những phương thức, phương tiện cũng như nhiệm vụ phảnánh thẩm mĩ và cải tạo hiện thực, do nhu cầu nhiều mặt của con người, đã hìnhthành các loại hình nghệ thuật khác nhau Mỗi loại hình nghệ thuật đều có sự kếthợp và đan xen giữa các đặc điểm Vì vậy, không thể nói loại hình nào là thuầnnhất Đặc trưng văn học có mối tương quan với các loại hình nghệ thuật khác Nó

sử dụng chất liệu là ngôn từ; cách thức mô tả; xây dựng hình tượng; không gian thời gian; phản ánh trực tiếp dòng ý thức, trạng thái tình cảm, tư duy con người…

-Vô hình, văn học là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, có khả năng vô hạn trongviệc nhận thức và phản ánh đời sống con người từ trạng thái vĩ mô đến vi mô Đối

Ngày đăng: 09/04/2018, 23:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w