Nói tới tiểu thuyết Mạc Ngôn, người ta đánh giá cao thành công của ông về lối biểu hiện của văn học dân gian Trung Quốc kết hợp với văn học hậu hiện đại phương Tây, trong đó nghệ thuật t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CHÂU CHẤU ĐỎ CỦA MẠC NGÔN
SV 19.2015
Họ tên sinh viên chịu trách nhiệm chính: NGUYỄN THỊ LINH Ngành học: Sư phạm Ngữ văn
Khóa học: 2012 – 2016 Khoa: Khoa học xã hội
Quảng Bình, năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CHÂU CHẤU ĐỎ CỦA MẠC NGÔN
SV 19.2015
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học cơ bản
Họ tên sinh viên thực hiện đề tài: NGUYỄN THỊ LINH
Ngành học: Sư phạm Ngữ văn
Khóa học: 2012 – 2016
Giảng viên hướng dẫn: Th.S NGUYỄN THỊ QUẾ THANH
Quảng Bình, năm 2016
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: NGUYỄN THỊ LINH
Sinh ngày: 12/ 06/ 1994
Nơi sinh: Hàm Ninh - Quảng Ninh - Quảng Bình
Ngành học: Sư phạm Ngữ văn Lớp: ĐHSP Ngữ văn Khóa: 54 Khoa: Khoa học xã hội
Địa chỉ liên hệ: Hàm Ninh - Quảng Ninh - Quảng Bình
Điện thoại: 01648871774 Email: linhbot94@gmail.com
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Th.s Nguyễn Thị Quế Thanh, người đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành đề tài này
Xin bày tỏ lòng biết ơn quý thầy cô giáo đã giảng dạy và đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình học tập Xin chân thành cảm ơn khoa Khoa học Xã hội, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu
Cảm ơn những người thân yêu trong gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu
Tác giả Nguyễn Thị Linh
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và và kết quả nghiên cứu nêu trong đề tài là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác
Tác giả
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của đề tài 6
6 Cấu trúc đề tài 7
NỘI DUNG: 8
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 8
1.1 Giới thuyết về giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật 8
1.1.1 Giọng điệu trần thuật 8
1.1.2 Ngôn ngữ trần thuật 9
1.2.Mạc Ngôn và hành trình sáng tạo nghệ thuật 10
1.3 Châu chấu đỏ - một thành công trong nghệ thuật trần thuật của Mạc Ngôn 19
Chương 2: GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT 24
2.1 Giọng bỡn cợt 24
2.2 Giọng khoa trương 32
2.3.Giọng lạnh lùng 37
2.4 Giọng tâm tình 43
Chương 3: NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT 50
3.1 Ngôn ngữ người kể chuyện 50
3.2 Ngôn ngữ đối thoại 56
3.3 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm 63
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7MẠC NGÔN
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Mạc Ngôn được xem là hiện tượng lạ của nền văn học đương đại Trung
Quốc và thế giới Đặc biệt tháng 10 – 2012 viện Hàn Lâm Thụy Điển trao cho ông giải Nobel văn học như là minh chứng để một lần nữa khẳng định vị thế của ông trên văn đàn Với tâm hồn không lúc nào bình lặng, luôn vật lộn gay gắt và chiến đấu cho những lý tưởng thiện lương trong con người, nên trong mỗi trang văn của Mạc Ngôn, người ta có thể tìm thấy những trạng phức tâm hồn đại chúng muốn phá bỏ mọi khuôn phép lề lối, quy chuẩn đạo đức xã hội để đạt trạng thái hoàn toàn tự do cả về thể xác
lẫn tâm hồn Tác phẩm của ông chứa đựng những điều mới mẻ, đặc biệt là “sự bùng
nổ cảm giác” [2, tr.7] giúp đọc giả như nghe thấy, nhìn thấy, sờ thấy, ngửi thấy mùi vị
cuộc sống qua mỗi trang viết của ông Ông đã góp thêm một tiếng nói mới, phong cách mới trong việc tái hiện hiện thực cuộc sống và con người trong xã hội hiện đại bằng những cách nhìn khác nhau, xen lẫn giữa tốt với xấu, thiện với ác, cao quý và thấp
hèn, đơn giản và phức tạp trong bản thân mỗi con người
1.2 Mạc Ngôn viết rất nhiều thể loại, từ truyện ngắn đến truyện vừa, truyện dài đến tiểu thuyết… Ở mỗi thể loại, tác phẩm của ông đều mang dấu ấn riêng, trong đó tiểu thuyết là thể loại thành công nhất Nói tới tiểu thuyết Mạc Ngôn, người ta đánh giá cao thành công của ông về lối biểu hiện của văn học dân gian Trung Quốc kết hợp với văn học hậu hiện đại phương Tây, trong đó nghệ thuật trần thuật là một trong những phương diện tạo nên sức hấp dẫn, nét riêng cho phong cách Mạc Ngôn Với lối trần thuật xen lẫn giữa thực và ảo, giữa hiện tại và quá khứ rồi đến tương lai, sự luôn phiên
và thay đổi người kể chuyện khó xác định khiến cho người đọc như đang lạc vào ma trận nhân vật mà nếu không tập trung chú ý, xâu chuỗi các sự kiện trong toàn bộ tác phẩm, thì khó mà hiểu được tác phẩm và con người Mạc Ngôn
Trong mười một tiểu thuyết Mạc Ngôn đã xuất bản, Châu chấu đỏ là tác phẩm để
lại ấn tượng sâu đậm với chúng tôi và cũng tiêu biểu cho nghệ thuật trần thuật của nhà văn Qua tác phẩm, ta thấy một Trung Quốc đang trong giai đoạn chuyển mình với nhiều thói xấu hoành hành cuộc sống nơi phồn hoa đô hội những hủ tục, cùng sự đói
nghèo làm xơ xác những miền quê xa xôi hẻo lánh Chúng tôi chọn đề tài “Giọng điệu
và ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Châu chấu đỏ của Mạc Ngôn” làm đề tài
nghiên cứu với mong muốn khám phá thêm tài năng, cá tính sáng tạo của nhà văn
Trang 92
Trên cơ sở đó khẳng định những đóng góp về nội dung, nghệ thuật trong sự nghiệp văn chương của Mạc Ngôn đối với nền văn học đương đại Trung Quốc
2 Lịch sử vấn đề
Theo đánh giá của các nhà phê bình văn học Trung Quốc, bộ ba tác phẩm đã làm
nên “hiện tượng Mạc Ngôn” hay còn gọi là “Mạc Ngôn tam hồng” trên văn đàn nước này bao gồm: “Cao lương đỏ, Châu chấu đỏ, Củ cải đỏ trong suốt” Trong bộ ba tác
phẩm này, người ta thấy một Mạc Ngôn với phong cách kể chuyện nặng nề, u ám, với những câu chuyện thật đến trần trụi về bản chất con người, những dục vọng đố kỵ nhiều khi nằm cả ngoài tầm kiểm soát của con người, của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ
Kể từ khi xuất hiện trên văn đàn Trung Quốc, tên tuổi, tác phẩm Mạc Ngôn đã thu hút được sự chú ý của công chúng và giới nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới, trong đó có Việt Nam Khi Mạc Ngôn được xướng tên với giải Nobel văn học danh giá, nhiều độc giả Việt Nam - những ai đã đọc Mạc Ngôn đều cảm thấy nức lòng, bởi vì ở Việt Nam - Mạc Ngôn đã từng làm nên cơn sốt sách với hàng loạt tác phẩm có
sức ám ảnh cho đông đảo bạn đọc như: Báu vật của đời; Đàn hương hình; Sống đọa
thác đày; Tứ thập nhất pháo; Thập tam bộ; Châu chấu đỏ và gần đây nhất là tiểu
thuyết Ếch Ở Mạc Ngôn, người đọc nhìn thấy dũng khí của một cây viết vừa mãnh
liệt vừa tưng tửng, vừa cay đắng vừa hài hước, vừa đả kích vừa xót xa Người đọc thấy những hiện tượng xã hội tan nát, bê bối, bi thảm của thời cuộc, của xã hội Trung Quốc phơi bày trong văn chương Mạc Ngôn Nhưng đằng sau mỗi con chữ miêu tả hiện thực chân thật ấy là cả một nỗi xót xa, cay đắng
Ông là nhà văn có bút lực mạnh nhất Trung Quốc hiện nay, nhà văn thẳng thừng
và dấn thân, là “nhân vật khai phá của thế kỷ XXI” ở châu Á với hơn 40 giải thưởng
và danh hiệu Đặc biệt là sự kiện giải Nobel văn học năm 2012 được trao cho Mạc Ngôn, càng làm cho tên tuổi của ông có sức hút mạnh mẽ đối với giới nghiên cứu và phê bình văn học Từ những góc nhìn khác nhau, các nhà nghiên cứu có những cách tiếp nhận riêng về nhà văn và tác phẩm của ông Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tổng hợp được một số vấn đề sau
Trên báo chí, đặc biệt là báo điện tử xuất hiện nhiều bài phỏng vấn và bài viết liên quan tới nội dung tác phẩm Mạc Ngôn cũng được giới thiệu với độc giả Việt Nam
thông qua cuốn Mạc Ngôn và những lời tự bạch của dịch giả Nguyễn Thị Thại Cuốn
Trang 103
sách là tập hợp các bài phỏng vấn của nhà văn, qua đó tác giả trình bày những quan niệm của mình về sáng tác văn học, bật mí những thủ pháp nghệ thuật thường dùng và dấu ấn tuổi thơ trong sáng tác Có thể nói cuốn sách đã cho người đọc nhìn nhận nhiều chiều về con người và sáng tác của Mạc Ngôn
Trên báo Văn nghệ, số 5 tháng 12 năm 2003 có đăng bài viết Tiểu thuyết Mạc
Ngôn với độc giả Việt Nam của Hồ Sỹ Hiệp Có rất nhiều bài báo, bài nghiên cứu phê
bình của các học giả nước ngoài cũng được dịch rộng rãi ở Việt Nam, trong đó phải kể
đến bài đăng trên báo Trung Hoa độc thư báo tháng 1 năm 2004 có tựa đề Chín nhà
văn ấn tượng nhất năm 2000 do Trần Sơn dịch Bài viết tổng kết những bước đường
sáng tạo của Mạc Ngôn từ những tiểu thuyết đầu tiên Tiếp đó, bài viết của Lê Huy
Tiêu “Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn” in trong cuốn “Cảm nhận
mới về văn hóa văn học Trung Quốc”, đã khái quát đặc điểm nghệ thuật trong tiểu
thuyết Mạc Ngôn ở các phương diện: hình ảnh, cảm giác, giọng điệu, nghệ thuật tự sự,
ngôn ngữ, bản sắc dân gian Bài viết của Nguyễn Thị Tịnh Thy trên tạp chí sông Hương số 285 với tựa đề Mạc Ngôn - người vinh danh làng quê Cao Mật bằng bút
pháp hậu hiện đại kiểu Trung Quốc đã nêu lên ba vấn đề chính: Cao Mật – Trung
Quốc – nhân loại: duy nhất và tất cả, kết hợp đặc trưng tự sự truyền thống của Trung Quốc với tự sự hiện đại và hậu hiện đại phương Tây, tái sinh những sách lược tự sự cổ
xưa nhất của Trung Hoa”
Đứng trên lập trường chính trị, xã hội, nhiều nhà nghiên cứu ở Trung Quốc đã phê
phán mạnh mẽ các tiểu thuyết Mạc Ngôn Khi tác phẩm Báu vật của đời xuất hiện, bàn
về tiểu thuyết này, trên báo Tiền phong, Nguyễn Khắc Phê trong bài viết “Tài phù
phép của Mạc Ngôn” đã nói đến thủ pháp lạ hóa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, mà Báu vật của đời được xem là thể hiện tập trung nhất Đây là tác phẩm có sức thu hút mạnh
mẽ sự quan tâm của độc giả và giới phê bình văn học ở Việt Nam Bàn về nghệ thuật
tiểu thuyết Mạc Ngôn trong Báu vật của đời, dịch giả Trần Đình Hiến đã cho rằng trong Báu vật của đời, Mạc Ngôn khai thác tối đa chất liệu dân gian truyền thống, chứ
không phải chịu ảnh hưởng của Marquez hay Faulkner Chia sẻ quan điểm ấy, Phạm
Xuân Nguyên trong bài “Sự sinh, sự sống, sự chết” đăng trên tanviet.net, ngày 04/08/2005 cho rằng, về nghệ thuật viết tiểu thuyết Báu vật của đời của Mạc Ngôn
không hẳn là xuất sắc Trong chừng mực nào đó, nó vẫn thuộc truyền thống của lối kể chuyện mang tính cổ truyền Trung Quốc Theo ông, cái độc đáo của cuốn tiểu thuyết
Trang 114
này là “Cái nhìn nghệ thuật – lịch sử, tỉnh táo và sắc sảo của nhà văn” Trong khi đó,
Nguyễn Thanh Sơn lại nói đến sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp tiểu thuyết truyền
thống và tiểu thuyết hiện đại Có cùng cách nhìn ấy, Võ Thị Hảo lại nói đến “Một bút
pháp hiện đại vượt khỏi những lối mòn”… Tiếp đó, nhiều tác phẩm của Mạc Ngôn đã
được dịch, giới thiệu như: Đàn hương hình, Sống đọa thác đày, Cao lương đỏ, Cây tỏi
nổi giận, Ếch…
Ngày 12 tháng 8 năm 2006, “Hội nghiên cứu Mạc Ngôn Cao Mật” được thành
lập tại tỉnh Sơn Đông Hội là diễn đàn nghiên cứu và trao đổi khoa học chuyên về các
sáng tác của Mạc Ngôn bởi “Mạc Ngôn là niềm kiêu hãnh của Cao Mật Địa vị của
ông trên văn đàn Trung Quốc ngày một nâng cao, ảnh hưởng trên văn đàn thế giới ngày càng lớn” (Mạc Ngôn nghiên cứu hội) Hội có tạp chí “Nghiên cứu Mạc Ngôn”,
website “Cao lương đỏ”, “Bảo tàng văn học Mạc Ngôn” Bảo tàng là nơi giới thiệu
cuộc đời và thành tựu nghệ thuật của Mạc Ngôn, trình bày một cách sinh động quá trình trưởng thành và phong cách đỉnh cao của một tác gia nổi tiếng bao gồm các bộ
phận chính là: “thành tựu văn học”, “con đường trưởng thành”, “vương quốc văn
học”, “gắn bó với quê hương”, “giao lưu văn học” Ngoài ra còn có nhà chiếu phim,
phòng sáng tác, phòng trưng bày thư pháp và bản thảo, phòng tư liệu tác phẩm Mạc Ngôn…
Trong cuốn sách Mạc Ngôn – nghiên cứu và tư liệu, tác giả Dương Dương đã
tổng hợp rất nhiều bài nghiên cứu về sáng tác của Mạc Ngôn được đăng tải trên các tờ báo, tạp chí uy tín trong và ngoài nước Đánh giá chung về nghệ thuật tự sự Mạc
Ngôn, Tôn Đông trong Quái tài Mạc Ngôn đã đưa ra mô thức tự sự như sau: “sinh
mệnh, cảm giác, hình ảnh là ba trụ cột lớn trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, chúng chống
đỡ mô thức tự sự của tiểu thuyết Mạc Ngôn” (Dương Dương, Mạc Ngôn nghiên cứu tư liệu)
Dưới ánh sáng của nghệ thuật tự sự, những vấn đề như: người kể chuyện, điểm nhìn, kết cấu, không gian - thời gian, ngôn ngữ với hàng loạt các thủ pháp của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo để lật đổ thủ pháp tự sự truyền thống đã bước đầu được nói
tới Trong luận văn Thạc sỹ của Hoàng Thị Bích Hồng về “Nghệ thuật trần thuật trong
phong cách tiểu thuyết Mạc Ngôn”, tác giả đã đề cập đến nghệ thuật miêu tả cảm giác
và những thủ pháp kì ảo với hiệu quả gián cách nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc
Ngôn Trong luận văn Thạc sỹ “Nghệ thuật tự sự trong 41 chuyện tầm phào của Mạc
Trang 125
Ngôn” (Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2006), Trần Thị Thanh Thủy cho rằng yếu tố
quan trọng nhất tạo nên sự thành công cho tiểu thuyết 41 chuyện tầm phào chính là ở
chỗ tự bên trong tác phẩm chứa biết bao điều mới lạ Tác giả đã phân tích những sáng tạo và đổi mới của Mạc Ngôn trong tiểu thuyết này ở các phương diện: kết cấu, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ tự sự
Dựa trên cơ sở nghiên cứu tiểu thuyết Mạc Ngôn nói chung, Nguyễn Thị Tịnh
Thy với cuốn sách Tự sự kiểu Mạc Ngôn đã khảo sát đề tài trên ba phương diện: Người
kể chuyện và điểm nhìn tự sự; nghệ thuật tổ chức thời gian và kết cấu tự sự; nghệ thuật kiến tạo ngôn ngữ và giọng điệu tự sự Từ đó, tác giả đã chỉ ra những thành tựu và hạn chế của nghệ thuật tiểu thuyết cũng như chỉ ra vị trí của Mạc Ngôn trong dòng chảy tiểu thuyết Trung Quốc đương đại Chúng tôi xem những nghiên cứu trên đây là tài liệu quý báu có tính định hướng cho việc thực hiện đề tài này
Có thể thấy, dù chưa nhiều nhưng nhìn chung các sáng tác của Mạc Ngôn, nhất là tiểu thuyết được nhiều nhà nghiên cứu thế giới và Việt Nam quan tâm Trong đó, các
tiểu thuyết nổi tiếng của Mạc Ngôn như: Cao lương đỏ, Báu vật của đời, Đàn hương
hình, Tứ thập nhất pháo, Thập tam bộ… đã được nhiều người đề cập trong những bài
viết của mình Song việc nghiên cứu về nhà văn cũng như tác phẩm của ông vẫn chưa
nhiều, đặc biệt là những nghiên cứu về tiểu thuyết Châu chấu đỏ Nghiên cứu về tiểu thuyết Châu chấu đỏ, các nhà nghiên cứu hầu như chỉ mới tiếp cận dưới gốc độ nội
dung về chính trị, xã hội, con người mà chưa có công trình nào chuyên đi sâu nghiên cứu về giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết này
Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả của các nhà nghiên cứu, chúng tôi
mạnh dạn đề cập một cách tiếp cận giá trị đích thức của tác phẩm Châu chấu đỏ ở
phương diện giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Châu chấu đỏ của
Mạc Ngôn, đề tài tập trung khảo sát trên các bình diện, về giọng điệu: giọng điệu bỡn cợt, giọng điệu khoa trương, giọng điệu lạnh lùng, giọng điệu tâm tình, về ngôn ngữ:
ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại nội tâm
Đề tài nghiên cứu tiểu thuyết Châu chấu đỏ của Mạc Ngôn dựa theo bản dịch của
Trần Trung Hỷ, nhà xuất bản văn học phát hành năm 2004 Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát một số tiểu thuyết khác của ông để so sánh và đánh giá
Trang 136
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Giúp người viết chỉ ra những biểu hiện cụ thể
về giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Châu chấu đỏ của Mạc Ngôn và
có cái nhìn khái quát về những thành công của nhà văn trong sự nghiệp sáng tác
- Phương pháp hệ thống: Tìm hiểu giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật trong tiểu
thuyết Châu chấu đỏ của Mạc Ngôn phải dựa trên hệ thống các phương diện thuộc về
giọng điệu và ngôn ngữ trong tác phẩm, đặt các phương diện đó trong một hệ thống, một chỉnh thể Phương pháp hệ thống giúp người viết hệ thống hóa các đặc điểm về giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật của tiểu thuyết Mạc Ngôn nói chung và tiểu thuyết
Châu chấu đỏ nói riêng
- Phương pháp loại hình: người viết sử dụng phương pháp này để phân loại, khu biệt các hiện tượng về giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật của tác phẩm
- Phương pháp so sánh: để làm nổi bật những đặc điểm về giọng điệu và ngôn
ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Châu chấu đỏ của Mạc Ngôn, đồng thời góp phần
khẳng định cống hiến của tác giả về phương diện này Đối tượng so sánh là tiểu thuyết
Châu chấu đỏ với những tác phẩm có cùng nội dung khác
- Phương pháp xã hội học: để nghiên cứu sự tác động của xã hội đến tác phẩm
Đề tài góp phần vào việc tiếp nhận, tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết Châu chấu
đỏ và phong cách tiểu thuyết Mạc Ngôn
Đề tài được xem là nguồn tư liệu hữu ích cho việc tìm hiểu và nghiên cứu về Mạc Ngôn, về nền văn học đương đại Trung Quốc
Trong xu thế hội nhập, việc nghiên cứu, học tập các giá trị văn hóa của nhân loại, trong đó có văn học như là một nhu cầu tất yếu để các quốc gia cùng thấu hiểu và xích lại gần nhau
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Đóng góp của đề tài
Phần nội dung:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung
1.1 Giới thuyết về giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật
1.2 Mạc Ngôn và hành trình sáng tạo nghệ thuật
1.3 Châu chấu đỏ - một thành công trong nghệ thuật trần thuật của Mạc Ngôn Chương 2: Giọng điệu trần thuật
2.1 Giọng bỡn cợt
2.2 Giọng khoa trương
2.3 Giọng lạnh lùng
2.4 Giọng tâm tình
Chương 3: Ngôn ngữ trần thuật
3.1 Ngôn ngữ người kể chuyện
3.2 Ngôn ngữ đối thoại
3.3 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm
Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 158
NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Giới thuyết về giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật
1.1.1 Giọng điệu trần thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trường,
tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện thực được miêu tả, thể hiện trong lời văn, quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân
sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm” [6, tr.134]
Có thể nói giọng điệu chính là một phạm trù thẩm mỹ, là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên nét đặc trưng riêng cho phong cách của nhà văn Giọng điệu của tác phẩm, ở một mức độ nào đó phụ thuộc vào đặc điểm của đối tượng được miêu
tả cũng như cách cảm nhận về chúng của nhà văn Song về cơ bản, giọng điệu bộc lộ tình cảm chủ quan của nhà văn, thái độ và cách đánh giá của nhà văn đối với con người và những biểu tượng được miêu tả Giọng điệu còn phản ánh quan niệm nghệ thuật, thị hiếu thẩm mỹ, làm nên cá tính sáng tạo của nhà văn Tìm được một giọng điệu phù hợp sẽ giúp cho nhà văn kể chuyện hay hơn, thể hiện được sâu sắc hơn lý tưởng thẩm mỹ của mình
Trong cuộc đời cầm bút của mình, Mạc Ngôn luôn mong muốn thể nghiệm được
ở sáng tác của mình những “sắc thái giọng điệu đa dạng” với hi vọng qua đó có thể
diễn tả được mọi cung bậc cảm xúc trước đời sống và cũng đồng thời mong muốn có được những đóng góp, những cách tân về giọng điệu và ngôn ngữ trong nghệ thuật trần thuật của mình Chiếu theo lý thuyết về giọng điệu đa thanh của M.Bakhtin, lời
văn trong tiểu thuyết Mạc Ngôn đều là lời “đa thanh”, “hướng về người khác” Từ
việc khảo sát giọng điệu trong mối tương quan với thể thống nhất của lời tự phát ngôn độc thoại, lời đối thoại của các nhân vật và lời của người kể chuyện, chúng tôi nhận thấy giọng điệu tiểu thuyết Mạc Ngôn là sự phối thanh của các bè bỡn cợt, lạnh lùng, khoa trương, giễu nhại, bi cảm, tâm tình Các “bè” này tương tác lẫn nhau một cách
bình đẳng, ăn ý, nhuần nhuyễn tạo nên sự phức điệu Nổi bật trong tiểu thuyết Châu
chấu đỏ là giọng bỡn cợt, khoa trương, tâm tình và giọng lạnh lùng, qua đó giúp tác
giả phản ánh được hiện thực xã hội Trung Quốc trong thời kì chuyển mình và bày tỏ thái độ của ông trước những hiện tượng bất bình thường trong những cái bình thường
Trang 169
1.1.2 Ngôn ngữ trần thuật
M.Gorrky từng nói rằng :“Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học”
Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học Hơn bất cứ thứ chất liệu và phương tiện nghệ thuật nào, ngôn ngữ cho phép người nghệ sỹ thể hiện sự sống động, lung linh muôn màu muôn vẻ của thế giới tự nhiên, đời sống xã hội và tâm hồn con người
Theo từ điển thuật ngữ văn học, ngôn ngữ trần thuật là phần lời văn thể hiện quan điểm tác giả hay quan điểm người kể chuyện đối với cuộc sống được miêu tả Có những nguyên tắc thống nhất trong việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện tạo hình
và biểu hiện ngôn ngữ Ngôn ngữ trần thuật không những có vai trò then chốt trong phương thức trần thuật mà còn là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả
Ngôn ngữ trần thuật của nhân vật có thể là đối thoại hay độc thoại Đối thoại gắn liền với việc những người nói hướng vào nhau và tác động vào nhau; độc thoại không nhằm hướng đến người khác và tác động qua lại giữa người và người Ngôn ngữ trần thuật của nhân vật có nhiều chức năng khác nhau như: chức năng phản ánh hiện thực, chức năng tự bộc lộ của nhân vật, chức năng là đối tượng miêu tả của tác giả hoặc chức năng thể hiện nội tâm… Tổng hợp những chức năng đó, thông qua trần thuật, nhân vật kể lại cuộc đời của mình, bộc lộ tâm tư, suy nghĩ, chiêm nghiệm về cuộc đời,
lẽ sống, giúp người đọc lĩnh hội được tư tưởng, quan niệm của nhà văn Cùng với trần thuật tác giả, trần thuật của nhân vật góp phần hoàn thiện bức tranh đời sống trong tác phẩm Mỗi nhân vật đều có ngôn ngữ trần thuật của mình, làm phân hoá ngôn ngữ tiểu thuyết, đưa vào tiểu thuyết nhiều tiếng nói khác nhau, đa thanh, đa giọng điệu
Chúng ta không thể tuyệt đối hoá việc phân chia trần thuật của tác giả với trần thuật của nhân vật vì với việc chuyển điểm nhìn từ phía người trần thuật sang điểm nhìn của nhân vật, từ điểm nhìn bên ngoài khách quan đến điểm nhìn bên trong chủ quan, rất khó phân biệt đâu là chủ thể của trần thuật Và cũng nhờ di chuyển điểm nhìn
mà văn chương khám phá, chiêm nghiệm về cuộc sống và con người một cách đa diện
và có chiều sâu hơn
Ngôn ngữ trần thuật giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong hệ thống phương thức tự sự, nó là sự thể hiện trên nền hiện thực toàn bộ tư tưởng, tình cảm của nhà văn, giọng điệu, cấu trúc tác phẩm và cho thấy điểm nhìn trần thuật của nhà văn Do đó,
Trang 1710
qua ngôn ngữ trần thuật, người đọc nhận ra phong cách, cá tính của tác giả Khảo sát ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Châu chấu đỏ của Mạc Ngôn, chúng tôi mong muốn có cái nhìn toàn diện về quá trình sáng tạo của nhà văn
Người kể chuyện trong tiểu thuyết Châu chấu đỏ của Mạc Ngôn là một cái tôi tự
thuật Họ mang chức năng kép: vừa là người kể chuyện, vừa là nhân vật Vì thế, ngôn ngữ người kể chuyện trong Châu chấu đỏ thực chất cũng là ngôn ngữ của nhân vật
1.2.Mạc Ngôn và hành trình sáng tạo nghệ thuật
Mạc Ngôn là một trong những nhà văn nổi tiếng, có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến các nhà văn Trung Quốc và trên Thế giới trong đó có cả Việt Nam Ông cũng được so sánh với những văn hào như Franz Kafka hay Joseph Heller Năm 2012 ông nhận giải Nobel văn học, một lần nữa khẳng định vị trí quan trọng và tài năng của Mạc Ngôn trong nền văn học thế kỉ XX trên văn đàn Trung Quốc nói riêng và quốc tế nói chung
Để có được thành quả ấy, không chỉ có tài năng, mà ông đã trải nghiệm bằng chính con người mình trong cuộc sống gia đình, quê hương, bằng sự nỗ lực không biết mệt mỏi trên con đường sáng tạo nghệ thuật
Mạc Ngôn tên thật là Quản Mạc Nghiệp, sinh ngày 17 tháng 2 năm 1955 Bút
danh của ông trong tiếng Trung Quốc có nghĩa là luôn nhắc nhở bản thân mình “kiệm
lời” được ông lấy khi viết cuốn tiểu thuyết đầu tay
Ông sinh ra tại huyện Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Quê hương Cao Mật vốn là một vùng quê nghèo nàn, lạc hậu, nơi mà Mạc Ngôn đã từng ăn vỏ cây và rau dại để sống sót qua tuổi thơ cơ cực, cùng với những hiện thực ngổn ngang trần trụi của cuộc sống, con người, của thiên tai tàn phá khốc liệt đến tận cùng Nhưng chính
nơi đây đã hun đúc cho tâm hồn và nguồn cảm hứng như một “cái bao tải khổng lồ”
trong tất cả các sáng tác của ông Mạc Ngôn đã từng nói rằng, mọi thứ ông có được:
“đều xuất phát từ chiếc bao gai Đông Bắc Cao Mật rách tả tơi”, “chiếc bao gai rách nát” là một cách nói rất hình tượng về một vùng đất “vừa anh hùng vừa thổ phỉ” – đó
chính là vùng đất Đông Bắc Cao Mật, nơi đã tạo nên một thiên tài Mạc Ngôn - nơi mà nhà văn khai thác không biết mệt mỏi trong hành trình sáng tạo của mình
Mạc Ngôn sinh ra trong một gia đình nghèo khổ không mấy khá giả nhưng rất yêu văn chương, ham mê đọc sách Trong làng nhà nào có nhiều sách Mạc Ngôn đều mượn để đọc và những người lớn trong nhà là cả kho truyện kể Cứ đêm đêm Mạc Ngôn và các anh chị thi nhau kể chuyện Cho tới bây giờ nhà văn vẫn nhắc tới được
Trang 18của Mạc Ngôn là tuổi thơ của những khốn khó Ông đã kể về tuổi thơ của mình: “hồi
nhỏ tôi đi chăn trâu, lúc nào bụng cũng đói, bị mệt bèn nằm dài ra đất ngẩn ngơ nhìn mây trắng trên trời, bởi vì tôi cảm thấy đám mây trắng kia dường như sẽ lập tức biến thành cái bánh bao rơi vào mồm tôi Giờ nhìn thấy đường chân trời, tôi lại nhớ tới thời niên thiếu nghèo khó của mình Tôi đứng bên cửa sổ, nhìn dòng nước lớn lững lờ trôi mà cảm thấy vừa rợn ngợp vừa tráng lệ Một ấn tượng sâu đậm nữa chính là tiếng kêu của hàng trăm ngàn con ếch, inh tai nhức óc, có khi ngay trong đêm khuya, nghe như tiếng ma quỷ Nước lũ và tiếng ếch kêu là hai nỗi ám ảnh lớn nhất quanh tuổi thơ tôi” [30] Từ rất sớm Mạc Ngôn đã thể hiện rõ là một đứa trẻ thông minh, lém lỉnh,
ham học và có khiếu văn chương Đi học lúc sáu tuổi và biết đọc, chín tuổi đã đọc
nhiều quyển sách có được trong thôn: Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử, Ông lão đánh
cá và con cá vàng, Cô bé bán diêm của Andecxen, Quán nhà Lâm của Mao Thuẫn, Tường lạc đà của Lão Xá, Khuất Nguyên của Quách Mạc Nhược Ông say mê sách
như những vụn sắt bị nam châm hút Chính những cuốn sách ấy đã ảnh hưởng ít nhiều đến các sáng tác của ông sau này, bởi nội dung giàu giá trị nhân văn, giá trị hiện thực
xã hội Đồng thời những cuốn sách đó vô cùng hấp dẫn đã để lại ấn tượng khó quên trong lòng tác giả ngay từ thời thơ ấu
Trong cuốn tự truyện “Biến” đầu tiên của Mạc Ngôn là một kí ức nghèo khổ của
nhà văn Ở trong cuốn tự truyện này, câu chuyện về cuộc đời của nhà văn được kể trực tiếp và giản dị Kỉ niệm đầu tiên trong chính cuộc đời ông được nhắc đến một cách đầy
xúc động đó là việc “bị xóa tên trong học tịch, đá đít khỏi trường” khiến ta thấy thấp
thoáng ẩn ức về sự nghèo đói, bị đối xử bất công vì nghèo Đó là lí do mà Mạc Ngôn đang học giở tiểu học (lớp 5) đành phải nghỉ học, đi làm nhiều việc khác nhau ở nông thôn để mưu sinh
Cách mạng diễn ra, ông cố gắng đi bộ đội để thoát nghèo Nhưng miếng ăn nhọc nhằn đã in quá sâu trong kí ức của nhà văn Chiếc xe Gaz 51 Liên xô cũ màu xanh lá
mạ, những ước mơ của tuổi thơ ông cứ hiện lên trong từng giai đoạn cuộc đời như sự
ám ảnh chưa bao giờ dứt trong tâm trí Mạc Ngôn Để rồi những kí ức ấy lại hiện về
Trang 1912
trong những sáng tác của ông Năm 1976 Mạc Ngôn gia nhập quân đội Luôn ấp ủ trong mình giấc mơ học Đại học để trở thành nhà văn, Mạc Ngôn đã giành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu sách về lí luận và chính trị rồi tập tành sáng tác Năm 1984, Mạc Ngôn đã trúng tuyển vào khoa Văn thuộc Học viện nghệ thuật quân giải phóng,
và năm 1986 ông tốt nghiệp Năm 1988, Mạc Ngôn trúng tuyển lớp nghiên cứu sinh khoa lí luận sáng tác thuộc học viện văn học Lỗ Tấn, trường Đại học sư phạm Bắc Kinh, lấy bằng thạc sĩ năm 1991 Hiện nay ông đang là sáng tác viên của cục chính trị
- Bộ tổng tham mưu quân giải phóng Nhân Dân Trung Quốc Những kiến thức, những trải nghiệm mà ông học được ở trường học đã góp phần không nhỏ đến sự nghiệp sáng tác văn học của ông để rồi ông đã thăng hoa trên chính những trang viết của mình Mạc Ngôn là nhà văn có bản lĩnh và thông minh từ thưở thiếu thời Ông hiểu sâu sắc cuộc sống lam lũ, cùng khổ của người nông dân và nông thôn - nhất là vùng Cao Mật quê hương ông
Mặc dù được sinh ra ở vùng quê nghèo khó, trong một gia đình nông dân không mấy khá giả, một tuổi thơ đầy cực nhọc cùng với những thăng trầm trong cuộc sống nhưng tất cả sự nghèo túng ấy, sự khốn khó ấy là mạch nguồn, mạch cảm xúc, là thực tại cuộc sống đầy sắc màu để làm nên một nhân cách, một thiên tài Mạc Ngôn đầy nhiệt huyết, đầy xúc cảm, đầy tình yêu thương con người và yêu quý mảnh đất nơi mình được sinh ra lớn lên
Mạc Ngôn đã từng nói rằng: “sáng tác là nguồn sống của tôi, mặc dù phần lớn
chúng luôn khiến tôi mệt mỏi vì suy nghĩ và kiệt sức” Khởi nghiệp từ những năm đầu
thập kỉ tám mươi của thế kỉ trước, nhưng Mạc Ngôn thật sự được chú ý sau khi viết
“Những dòng chảy mùa thu”, “Sông Cạn”… và đến “Cao lương đỏ” thì tên tuổi Mạc
Ngôn vụt sáng trên văn đàn Trung Quốc Có thể nói, Mạc Ngôn là người đã lao động cật lực trong suốt cuộc đời cầm bút của mình để tạo ra số lượng lớn tác phẩm phục vụ độc giả trong nước và thế giới Đọc những tác phẩm của ông, ta có thể hình dung khá
rõ quá trình vận động về tư tưởng, tình cảm cũng như những trăn trở, tìm tòi, đổi mới cách tiếp cận, nhìn nhận đời sống và sự điêu luyện trong bút pháp trần thuật
Ông Peter Englund, thư kí thường trực của Viện Hàn Lâm Thụy Điển nói trên
Guardian rằng: “Sự nghiệp văn chương của Mạc Ngôn có được là do gốc gác nông
dân” Ông viết về nông dân, về cuộc sống nông thôn, về những đấu tranh để tồn tại,
đấu tranh cho phẩm giá và nhân cách của chính bản thân họ… Nếu như Mạc Ngôn không phải là nông dân trải nghiệm bao nỗi vui buồn ở nông thôn thì cũng không có
Trang 2013
Mạc Ngôn – nhà văn Và Mạc Ngôn cũng tự nhận mình là một người nông dân “chui
ra từ ruộng cao lương của quê hương” Phần lớn những tác phẩm của ông phản ánh
đời sống của nông dân trong các giai đoạn lịch sử Hiện thực nông thôn mà ông phản ánh là lịch sử chân thực nhưng được lạ hóa, mang đậm dấu ấn của chủ thể nhà văn Những cảnh bom rơi đạn nổ, máu chảy đầu rơi, thù hận và yêu thương, thú tính và nhân tính hòa quyện vào nhau lại rất ly kì, hấp dẫn Tác giả đã dẫn dắt người đọc vào giữa lòng lịch sử khiến chúng ta như nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy, ngửi thấy mùi vị tanh tưởi, cảnh tượng thần bí của cánh đồng cao lương vùng Đông Bắc Trung Quốc
Là người từng trải nghiệm bao nỗi vui buồn, gắn bó sâu sắc với mảnh đất Cao Mật, vì thế mảnh đất đó đi xuyên suốt trong các sáng tác của Mạc Ngôn, thể hiện linh hồn của lịch sử đồng thời cũng thể hiện linh hồn của nông dân Trung Quốc
Nhắc đến Mạc Ngôn không thể không nhắc đến thể loại tiểu thuyết Ông thành công ở nhiều thể loại nhưng thể loại ghi danh tên tuổi của ông với độc giả thế giới đó
là tiểu thuyết Tiểu thuyết là một thể loại quá quen thuộc với mỗi chúng ta, song khi đọc tiểu thuyết của Mạc Ngôn người đọc vẫn luôn bị cuốn hút bởi các yếu tố thực ảo, hiện tại, quá khứ, thật giả lẫn lộn Tất cả cứ hòa quyện vào nhau, tạo nên sự hấp dẫn
đến “mê hoặc” Để có được thành công ấy, ngoài sự đam mê, tìm tòi, đó còn chính là
sự trải nghiệm cuộc sống
Mạc Ngôn đã từng đưa ra nhiều định nghĩa về tiểu thuyết: “tiểu thuyết là sự ghi
chép những tưởng tượng ngông cuồng của nhà văn hay là sự kết hợp giữa cõi mộng với sự thật, cũng có lúc nó là cái thùng chứa đựng những tình cảm của nhân loại Tiểu thuyết là lát cắt có tính sinh lý đời sống tinh thần của nhà văn…” Trong “Bài ca cây tỏi thiên đường”, nhà văn đã từng viết: “khi viết cuốn tiểu thuyết sát sao với hiện thực
xã hội, vấn đề lớn nhất mà tôi đối mặt thực ra không phải là chuyện tôi dám hay không dám phê bình các hiện tượng đen tối trong xã hội mà là chuyện những cảm xúc
và lòng căm giận bừng bừng ấy có thể làm cho chính trị áp đảo văn học, khiến cho bộ tiểu thuyết đó trở thành một phóng sự tường thuật sự kiện xã hội Có thể là do tôi từng trải qua cuộc sống gian khó lâu dài, điều đó khiến tôi có sự hiểu biết khá sâu sắc
về tính người Tôi biết thế nào là dũng cảm thật sự, cũng hiểu được buồn thương là gì Tôi hiểu trong cõi lòng mỗi người đều có một vùng mờ ảo; cái vùng ấy khó có thể diễn
tả thỏa đáng bằng một từ ngữ đơn giản nó là phải hay trái, thiện hay ác… Chỉ cần là một tác phẩm mô tả chuẩn xác, sinh động cái vùng mờ ảo đầy những mâu thuẫn ấy, thì
Trang 2114
cũng tất nhiên sẽ vượt qua chính trị và có được những phẩm chất văn học ưu tú.”
[Trích trong Diễn từ Nobel, bản dịch của Nguyễn Hải Hoành ngày 13 tháng12 năm
2012]
Theo Mạc Ngôn, đã là tiểu thuyết thì ít nhất về ngôn ngữ tác phẩm sau phải khai thác những yếu tố của tác phẩm trước, cốt truyện phải đa dạng và không thể là sự lặp lại Mỗi tiểu thuyết của ông là một con đường tìm tòi, sáng tạo độc đáo, tạo ra những phong cách tiểu thuyết riêng Tuổi thơ sống trong nghèo đói, trong những lo lắng và tủi nhục về miếng cơm manh áo càng khiến cho Mạc Ngôn có cái nhìn về cuộc đời
chân thực hơn: “Tôi là người xuất thân từ tầng lớp thấp kém, nên tác phẩm của tôi
chứa đầy quan điểm thế tục Nếu ai đó định tìm thấy những điều tao nhã sang trọng trong tác phẩm của tôi, chắc chắn họ sẽ thất vọng Đó là điều không thể Người thế nào nói lời thế ấy, cây nào thì quả ấy, chim nào thì tiếng hót ấy Tôi lớn lên từ cái đói rét cơ hàn, đã từng chứng kiến nhiều cảnh khổ đau và bất công trên đời, trong lòng tôi tràn đầy cảm thông đối với nhân loại và phẫn nộ với sự bất công Do đó tôi chỉ có thể viết ra những tác phẩm như vậy” [16, tr.150]
Trong quan niệm của Mạc Ngôn, tiểu thuyết không chỉ có mùi vị mà còn có cảm giác của sự sống Nhìn chung, tiểu thuyết Mạc Ngôn bị ảnh hưởng bởi trường phái
cảm giác mới “Khi viết, nhà văn phải huy động mọi giác quan của mình: Vị giác,
thính giác, khứu giác hoặc là một cảm giác kỳ diệu vượt qua tất cả mọi cảm giác kể trên” [20, tr.19] Nhiều người xem tiểu thuyết Mạc Ngôn là tiểu thuyết mới Nó không
đơn thuần miêu tả hiện thực bề ngoài mà nhấn mạnh cảm thụ trực giác, đưa cảm giác chủ quan vào trong khách thể nhằm tạo ra một hiện thực mới mẻ Ngoài ra, tác giả còn thể hiện nhiều chi tiết, sự kiện khác thường, độc đáo và khả năng kích thích hứng thú cho người đọc Khi miêu tả về cái chết, người ta tránh nói nhiều thì người kể chuyện ở đây lại kể với cảm giác và truyền cảm giác ghê rợn cho người đọc chứ không phải là nỗi đau trước cái chết thông thường Trong quá trình sáng tác tiểu thuyết, Mạc Ngôn luôn tìm cho mình một lối đi riêng Ông đã từng mong muốn viết ra những thứ thuộc
về mình Nó khác với những người khác, và cũng khác với các nhà văn phương Tây Chính niềm khát khao ấy là động lực giúp nhà văn không ngừng đổi mới trong quan niệm và sáng tạo trong văn chương Sự sáng tạo ấy theo ông không phải sự chen nhau chạy theo mốt mà là cách viết những gì quen thuộc, với ngòi bút tả thực cùng sự tưởng
tượng của nhà văn để tạo ra những “mùi vị” không tồn tại và những sự thực không có
Trang 2215
thực, làm cho tiểu thuyết có cảm giác của sự sống
Ngòi bút của Mạc Ngôn là ngòi bút của văn chương “lạ hóa” và “phá cách”
Trong tác phẩm của ông, chỗ nào cũng thể hiện tư tưởng vừa kế thừa vừa phát huy truyền thống Trung Quốc là đất nước mang nặng tư tưởng Nho giáo, có truyền thống
“kính lão trọng già” nhưng những nhân vật lớn tuổi trong các tác phẩm của Mạc Ngôn
lại rất phong tình, ân ái với nhau ngay ở trong ruộng cao lương (Cao lương đỏ) Các
nhân vật của Mạc Ngôn không bị ràng buộc bởi những quan niệm về sự sống và cái chết, giữa linh hồn và thể xác, giữa bản năng và đạo đức Mỹ học truyền thống phương
Đông rất coi trọng sự “tao nhã”, “trung hòa”, rất kiêng kị đưa những cảnh máu me
tanh hôi, hành động thú tính tàn bạo vào trong văn chương Nhưng Mạc Ngôn lại
không e dè, mở toang cửa để “cái ác” tràn vào Nào cảnh giết người theo kiểu Đàn
hương hình, hay theo kiểu Châu chấu đỏ, cảnh hãm hiếp phụ nữ, cảnh đại tiện ô uế,
cảnh giết người, cảnh xẻ thịt và ngũ tạng người chết… Tất cả cứ trần trụi phơi bày ra như những gì nó vốn có
Vương Trọng Tường - nhà văn tỉnh Hồ Bắc đã viết một số bài về mạc Ngôn,
trong đó có đoạn ông viết: “đọc sách của Mạc Ngôn với tôi đúng là một việc rất thú
vị” Với thành công của tác phẩm điện ảnh “Cao lương đỏ”, tên tuổi của Mạc Ngôn
vượt ra khỏi biên giới Trung Quốc và vụt sáng trên văn đàn Thế giới Tác phẩm đã góp
phần làm nên tên tuổi Mạc Ngôn Đây là mốc son trên chặng đường văn học của ông
Cao lương đỏ đưa độc giả trở về thập niên 1920 - 1930, trên mảnh đất quê hương của
chính tác giả - mảnh đất Cao Mật của tỉnh Sơn Đông Những nhân vật trong truyện hiện ra đầy cá tính, khí phách, sống ngang tàng, lạc quan như những ngọn cao lương thẳng tắp vút lên trên bầu trời Cao Mật Đây là nét tính cách điển hình của người dân Cao Mật mà chúng ta sẽ gặp lại trong rất nhiều các tác phẩm sau này của Mạc Ngôn
Cao lương đỏ ca ngợi tình yêu và sự tự do Tác phẩm vừa khốc liệt, vừa bay bổng, vừa
rất thực mà lại hòa trộn cả những yếu tố kỳ ảo, phi thường
Phong nhũ phì đồn (Báu vật của đời, 1995) là một bích họa lịch sử miêu tả Trung
Quốc thế kỷ XX qua lăng kính cuộc sống của một gia đình Báu vật của đời là một tác
phẩm nổi tiếng khác trong vốn liếng văn chương của Mạc Ngôn Nó từng là hiện tượng của nền văn học Trung Quốc Tác phẩm được Hội Nhà văn Trung Quốc trao giải nhất ở thể loại tiểu thuyết năm 1995
Báu vật của đời đem lại cái nhìn khái quát về giai đoạn lịch sử hiện đại của
Trang 2316
Trung Quốc Vẫn lấy bối cảnh chính là huyện Cao Mật, Mạc Ngôn đã đưa tới cho người đọc những mảng sáng – tối, khuất – tỏ của lịch sử Trung Quốc trong vòng 100 năm Tác phẩm là đại diện tiêu biểu cho phong cách sáng tác dựa trên đề tài lịch sử của ông
Châu chấu đỏ (2004) tập hợp những câu chuyện lặt vặt mà nhân vật chính hồi
tưởng lại những gì mà mình từng trải qua hoặc từng chứng kiến, là những câu chuyện phản ánh một xã hội Trung Quốc đang trong giai đoạn chuyển mình với nhiều thói hư tật xấu hoành hành trong cuộc sống phồn hoa đô hội Cùng lúc đó thì thiên tai ập đến, những hủ tục, cùng sự đói nghèo đang làm xơ xác tiêu điều những miền quê xa xôi hẻo lánh Miền quê xa xôi ấy chính là mảnh đất Cao Mật gắn bó thân thiết với Mạc Ngôn không biết bao nhiêu là kí ức
Đàn hương hình (2004) là câu chuyện về sự tàn bạo thuở đế chế phong kiến đang
sụp đổ Sử dụng chất liệu văn học dân gian làm phông nền, tác giả đã thành công trong việc khắc họa một giai đoạn lịch sử đẫm máu ở Trung Quốc từ năm 1895 – 1915, khi
đó Trung Quốc trở thành chiếc bánh ga-tô ngon lành để các đế quốc chia nhau xâu xé Triều đình Mãn Thanh thối nát, bất lực, quan lại đương thời hoặc tiếp tay cho giặc
hoặc ươn hèn, thối chí, đời sống nhân dân vô cùng rối loạn "Lãnh tụ" của cuộc khởi
nghĩa chống quân Đức ở huyện Cao Mật khi đó chỉ là một ông bầu gánh hát Tác phẩm này đã đem về cho Mạc Ngôn giải Mao Thuẫn – giải thưởng văn học danh giá nhất tại
Trung Quốc thời bấy giờ Chất liệu văn hóa dân gian được sử dụng trong Đàn hương
hình là hý kịch Miêu Xoang, một loại nhạc dân gian phổ biến ở vùng đông bắc Cao
Mật Tiểu thuyết một lần nữa khắc họa tính cách ngang tàng, khí khái, lạc quan của
người dân Cao Mật trên cái nền là những sự kiện Cách mạng nóng hổi Đàn hương
hình ngoài việc giới thiệu về lịch sử của hý kịch Miêu Xoang còn cho người đọc biết
về lịch sử các ngón đòn tra tấn, tử hình ở Trung Quốc
Sống đọa thác đày (2006) là cuốn tiểu thuyết kinh điển của nhà văn Mạc Ngôn,
miêu tả một cách chân thực về xã hội Trung Quốc suốt 50 năm từ 1950 – 2000, đặc biệt xoay quanh đề tài đất đai với đủ dạng quan hệ giữa nông dân với đất đai, về kiếp luân hồi sinh tử, về cuộc sống của nông dân Trung Quốc và tinh thần lạc quan, kiên cường, mạnh mẽ của họ từ khi nhà nước Trung Quốc mới được thành lập tới nay Truyện viết về nhân vật chính Tây Môn Náo bị giết chết trong cuộc đấu tố địa chủ Một mực khẳng định mình chết oan nên Tây Môn Náo nhất quyết không chịu an phận
Trang 2417
dưới địa ngục, kêu oan đòi đầu thai để trả thù hết những oán hận Diêm Vương đã cho Tây Môn Náo đầu thai thành lừa, trâu, lợn, chó, khỉ… để nhìn thấy hết chuyện đời, chuyện người và xã hội Trung Quốc suốt 50 năm ở vùng nông thôn Cao Mật, những nhận thức, hóa giải những hận thù, chiêm nghiệm ra nhiều bài học có ý nghĩa sâu sắc
Thập tam bộ (2007) là một cuốn tiểu thuyết để lại ấn tượng sâu đậm với người
đọc Trong tác phẩm, một phần đời sống đầy bi kịch của tầng lớp trí thức nói chung và nhà giáo nói riêng được đề cập tới qua nhân vật không xác định, cốt truyện không xác định, ngôn ngữ không xác định, không gian - thời gian không xác định, bởi tất cả là hư
vô, là những ẩn ức bị xáo trộn như chính sự phức hợp của đời sống phản ánh vào tư duy Tác phẩm là sự mơ hồ, đầy những hoài nghi bởi sau cùng ta không thể nhận ra ai
là nhân vật ngồi trong chuồng sắt kể về câu chuyện đời chua chát của những thầy giáo dạy Vật lý
Ếch (2009) tác phẩm mới nhất của Mạc Ngôn kể về truyền thống trọng nam
khinh nữ ở Trung Quốc, dẫn tới việc phá thai và bỏ mặc những bé gái kéo dài tới ngày nay ở nhiều vùng nông thôn Tác phẩm kể về câu chuyện một cô vợ lẽ ở nông thôn Trung Quốc bị buộc phải phá thai và triệt sản, đồng thời phác họa những hệ lụy của chính sách một con độc đoán của Trung Quốc
Sự nghiệp văn học của Mạc Ngôn khá đồ sộ với 11 bộ tiểu thuyết dài, 30 truyện vừa, 100 truyện ngắn, 5 tập tản văn, 9 kịch bản phim, 2 kịch bản kịch nói, ngoài ra còn
có những bài ký, phóng sự, tùy bút tổng cộng trên 200 tác phẩm Tác phẩm của ông
đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Nga, Việt Nam có sức ảnh hưởng lớn, và đạt nhiều giải trong và ngoài nước Qua sự pha trộn vừa hư ảo vừa thực tế, vừa mang tính lịch sử vừa mang tính xã hội đương đại, Mạc Ngôn đã tạo
ra một thế giới khiến người ta nhớ đến những sự phức tạp của cuộc sống nhưng vẫn giữ phong cách văn chương Trung Hoa cổ và văn hóa dân gian truyền thống Ngoài tiểu thuyết, Mạc Ngôn còn xuất bản nhiều truyện ngắn và tản văn về những đề tài khác nhau Mặc dù ông giương mũi nhọn chỉ trích đối với xã hội đương thời nhưng ông được xem là một trong những tác giả đương đại xuất sắc nhất khi viết về mảnh đất quê hương của mình Dù họ có nghèo nàn lạc hậu đi chăng nữa nhưng khi vào trong các trang viết của ông đều trở nên sinh động, đẹp đẽ và thân thương
Có thể nói Cao Mật là vương quốc văn học của Mạc Ngôn Con đường đến với
nghệ thuật của Mạc Ngôn không phải là con đường “thuận buồm xuôi gió” mà đó là
Trang 2518
một con đường quanh co, đầy trắc trở, khó khăn và gian lao Song nhờ có ý chí, nghị lực, kiên trì và có ước mơ, ông đã làm nên tên tuổi và sự nghiệp của mình trên văn đàn
văn học Trung Quốc và Thế giới Ông còn khẳng định “với tư cách là một thành viên
của xã hội, mỗi nhà văn có quan điểm và cách nhìn riêng của mình, nhưng khi viết thì
họ phải lấy quan điểm nhân văn làm chủ yếu và chịu sự dẫn dắt của nó” Với suy nghĩ
ấy cùng với cách viết về quá khứ, chọn phong cách hiện thực huyền ảo, phương thức trần thuật độc đáo và khéo léo, Mạc Ngôn đã tạo cho mình một phong cách riêng khác với các nhà văn đương thời
Dù có không ít lời khen chê, nhưng không ai có thể phủ nhận được tài năng của Mạc Ngôn, đặc biệt là những thành công mà Mạc Ngôn đã đạt được qua những tác phẩm của ông
Các giải thưởng văn học mà ông đã giành được :
Giải nhất hội nhà văn Trung Quốc cho tiểu thuyết Báu vật của đời tháng 12
năm 1995
Giải Mao Thuẫn cho tiểu thuyết Đàn Hương hình
Giải tiểu thuyết toàn quốc lần thứ tư 1987 cho Cao Lương Đỏ, Trương Nghệ
Mưu dựng thành phim và được giải Con gấu vàng ở Liên hoan phim Berlin 1998
Giải văn học liên hiệp (Đài Loan)
Giải văn học nước ngoài Laure Batlin của Pháp
Giải văn học quốc tế Nonino của Ý
Giải thưởng lớn cho văn hóa Châu Á (Nhật )
Giải Hồng lâu mộng cho tiểu thuyết Hoa ngữ thế giới ( Hồng Kông)
Giải Văn học Hoa ngữ New York (Mỹ)
Huân chương kỵ sĩ nghệ thuật văn hóa Pháp tháng 3 năm 2004
Năm 2005, trong cuộc bầu chọn “sáu mươi nhà văn của thế kỉ XX” của Trung
Quốc, Mạc Ngôn được xếp thứ mười ba
Tiến sĩ văn học danh dự do trường Đại học công khai Hồng Kông trao tặng tháng 12 năm 2005
Tiểu thuyết Ếch mới nhất đạt giải văn học Mao Thuẫn 2010
Tiểu thuyết Cao Lương Đỏ đạt giải Nobel văn học tháng 10 năm 2012
Trang 2619
1.3 Châu chấu đỏ - một thành công trong nghệ thuật trần thuật của Mạc Ngôn
Mạc Ngôn đã từng viết: “trong vũ trụ bao la, ví trị của con người là vô cùng bé
nhỏ” và “lịch sử của quá khứ và thế giới hiện đại liên quan mật thiết với nhau, máu của lịch sử lại chảy trong máu của người đương đại” Các tác phẩm của Mạc Ngôn
luôn chuyển tải những vấn đề bức bối nhất của lịch sử và thời đại Sở dĩ như thế là vì ông sống trong bối cảnh thời đại đầy những biến động, đầy những bi kịch của cuộc
đời Đó là sự trói buộc chính trị, là cuộc “đại cách mạng văn hóa vô sản” và còn là
vấn đề nhận thức lại cuộc sống Trong số các nhà văn ở Trung Quốc, có thể nói yêu quê hương và viết về chính quê hương của mình thành công nhất phải kể đến Mạc Ngôn Độc giả Việt Nam và độc giả trên thế giới đã biết đến Mạc Ngôn với hàng loạt
tác phẩm nổi tiếng mang giá trị lớn lao như Cao lương đỏ, Đàn hương hình, Báu vật
của đời, Cây tỏi nổi giận, Rừng xanh lá đỏ, Thập tam bộ, Ếch Đặc biệt độc giả lại
biết đến Châu chấu đỏ với những sự thật trần trụi ẩn chứa trong đó Đây là cuốn tiểu
thuyết để lại ấn tượng lớn của nhà văn trong việc hướng ngòi bút của mình đến với những câu chuyện kì lạ và táo bạo có tính thời sự của quê hương Cao Mật nói riêng và
của xã hội Trung Quốc thu nhỏ nói chung Trong Châu chấu đỏ, con người phải chiến
đấu với những trận đại dịch châu chấu Trận đại chiến ấy khiến cảnh vật xơ xác điêu tàn Con người phải đấu tranh với chiến dịch đẫm máu ấy nhưng để được sống, để được thoát qua cái kiếp nạn này thì con người cũng phải giãy giụa, phải đối mặt, phải đấu tranh bền bỉ, phải nghỉ ra những kế sách chiến đấu như một cuộc cách mạng vĩ đại
để châu chấu không còn trên mảnh đất quê hương Cao Mật nữa
Trong tiểu thuyết Châu chấu đỏ, “một cảnh tượng kì dị nhất thế gian được miêu
tả đầy màu sắc cùng với những ham muốn điên cuồng…, giãi bày tận tường những gì phức tạp nhất của thế giới loài người” Châu chấu đỏ là tập hợp những chuyện lặt vặt
mà nhân vật chính hồi tưởng lại những gì mà anh ta đã trải qua, đã từng chứng kiến trong cuộc sống thường nhật của mình Đó có thể là câu chuyện về một vị giáo sư đại
học mà hình tượng trên bục giảng khác xa so với sự thật trần trụi ở ngoài đời “…tôi đã
kịp nhận ra một vị giáo sư quen thuộc đang ôm chiếc eo thon thả của một cô sinh viên khá quen biết đi thong thả dưới vòm lá xanh um tùm trên đường Đầu tóc của giáo sư bạc phơ, còn cô sinh viên chẳng khác nào một đóa hoa hồng đang chúm chím hé nở Không ai chú ý tới họ…” [15, tr.9, 10] Đó là câu chuyện ở thành phố khi nhân vật tôi
hồi tưởng lại Còn câu chuyện ở vùng quê hương Cao Mật thì thế nào? Năm mươi năm trước, nạn châu chấu đã tràn qua một lần và giờ đây những người dân nghèo khó lại
Trang 2720
phải đối mặt với thảm họa đó một lần nữa “Đột nhiên, trước mặt ông Tứ, một lớp
váng trắng từ từ được nâng lên Ông Tứ nheo mắt nhìn, lớp váng tiếp tục dâng cao lên, không phải một mà là nhiều, rất nhiều Và chung quanh ông, những đụn có hình bãi phân bò màu đỏ sậm từ từ nhô lên cao, những mảng váng màu trắng lúc này như những chiếc mũ úp lên bãi phân bò ấy… Ông đưa mắt nhìn bốn phía, tất cả những đụn như phân bò ấy đều là châu chấu, tất cả đều lấp lóa, đều ngọ ngoạy dưới ánh nắng…”
[15, tr.54, 55] Trận dịch châu chấu kinh hoàng trong lịch sử màu đỏ quạch của những ụ châu chấu nảy nở khiến những người nông dân của làng quê vùng Đông Bắc Cao Mật vừa cảm thấy sợ hãi, vừa kính sợ chúng như thần thánh linh thiêng… Nhưng trong hoàn cảnh khốn khó vì xa xôi, hẻo lánh, kém phát triển bởi thiên tai ấy, con người vẫn chưa sống tốt, chưa thật sự sống thật lòng với nhau Họ sống không trung
thực và dối trá với nhau Nguyên nhân chính ở đây không xuất phát từ sự “sướng quá
hóa hỏng” như người thành phố mà cái chính ở đây là do các quan niệm và hủ tục lạc
hậu, bảo thủ Những người vợ người chồng dù không còn chút tình cảm, dù không yêu thương nhau nữa, thậm chí là căm ghét nhau nhưng cũng phải cắn răng chịu đựng để cùng sống chung dưới một mái nhà, để rồi người chồng thì luôn trong tình trạng say xỉn và người vợ thì trong những điều kiện thuận lợi sẵn sàng đổ lên đầu chồng những
gì bức bối chất chứa và thậm chí là ngoại tình…
Trong Châu chấu đỏ, Mạc Ngôn đã miêu tả một cảnh tượng kì dị nhất trên thế
gian bằng vô vàn màu sắc cùng những ham muốn xác thịt điên cuồng và tội lỗi… giãi bày tường tận nhất những phức tạp của thế giới con người Tất cả những câu chuyện được kể ra phản ánh một cách sắc sảo về một xã hội Trung Quốc đang trong giai đoạn chuyển mình Nhiều thói xấu mới đã và đang tiếp tục phát sinh tại những khu đô thị trong khi không ít hủ tục, những quan niệm cũ kỹ và cả sự đói nghèo vẫn đang tồn tại
ở những miền quê xa xôi Những câu chuyện u ám đó được tác giả kể lại bằng một giọng văn rất nặng nề và đầy ám ảnh Chính những điều đó Mạc Ngôn đã khiến cho người đọc có cảm giác đặc biệt bức bối và một khi đã có cảm giác bức bối thì người ta
bị thức tỉnh bởi những mong muốn rũ bỏ, muốn có một hành động thật mạnh mẽ để thoát khỏi những ám ảnh, những bất bình trước những sự thật khó chịu ấy Đó là ý
nghĩa nhân văn của Châu chấu đỏ và cũng là thành công của Mạc Ngôn khi đem đến
cho tác giả những ấn tượng thực sự sâu đậm
Mở đầu tác phẩm là khung cảnh của một buổi sớm “buổi sáng ngày thứ hai, mặt
trời vừa mọc lên ở phía đông độ mười hoặc mười lăm phút, tôi rảo bước trên cánh
Trang 2821
đồng hoang vu của quê hương mình” [15, tr.7] Đó là một buổi sớm mai trong lành và
yên tĩnh, với hình ảnh mặt trời vẫn đang còn lưng chừng và lúc này không gian của
miền quê đó là những “làn cỏ dại mọc um tùm trên đồng, màu xanh lục, rậm rịt và khô
gầy Làn sương mỏng buổi sáng nhanh chóng bị xua tan, không khí khô quánh mặc dù trong đêm sương rất dày Khi đôi chân tôi được bọc trong đôi giày da giẫm lên những lớp cỏ dại có sức sống vô cùng bền bỉ ấy, tâm hồn tôi bị ám ảnh bởi hình bóng một người đàn bà đã giáng cho tôi hai bạt tai” [15, tr.7] Nhân vật đang sống giữa cái
khung cảnh buổi sớm bình minh đó vào thời điểm “cuối xuân đầu hạ” nhưng cái thời
gian mà nhân vật Can Ba hồi tưởng lại những ký ức đã trở nên mông lung mơ hồ - đó
là thời gian “cuối đông đầu xuân”
Ta thấy rằng ngay từ đoạn mở đầu đã xuất hiện những hình ảnh đầy nghịch lý như thế Phải chăng đó là ý đồ của Mạc Ngôn đặt ra khi ông viết tiểu thuyết này nhằm đưa người đọc đến ngay với cái ý đồ mà ông viết nên từ khúc dạo đầu Khi đứng trước một không gian đẹp đẽ, trong trẻo đến như vậy mà nhân vật lại nghĩ đến một quá khứ không mấy phần tốt đẹp: đó là cái phi lý, cái vô nghĩa, suy đồi trong xã hội, trong cuộc sống của con người lại được che đậy đằng sau những cái tốt đẹp của không gian, thời gian mà tạo hóa đã ban tặng cho nhân loại, đó là sự pha trộn giữa vẻ xấu xa và vẻ đẹp thơ mộng, cái thuộc về bản ngã và những giá trị sống đích thực, giữa cái tưởng chừng như vô hạn mà lại hữu hạn của cuộc đời Đằng sau đó là những câu hỏi không có lời
giải đáp, khi nhân vật tự đặt ra câu hỏi cho chính bản thân mình “tôi nghĩ mãi mà
không hiểu tại sao mình bị đánh” và cái bí ẩn đó sẽ được dần dần hé mở trong dòng
chảy của tác phẩm Có thể nói, chi tiết cái bạt tai của người phụ nữ mặc váy đen giành cho Can Ba là một kết cục chưa rõ nguyên nhân, để từ đó kết cục này lại trở thành nguyên nhân dẫn người đọc đi tìm những khơi trào của sự việc Thậm chí chi tiết này còn dẫn đến sự khơi nguồn cho dòng hồi tưởng về những sự việc khác nhau trong suốt chiều dài của tác phẩm
Châu chấu đỏ là tiểu thuyết thành công và ấn tượng của Mạc Ngôn trong việc thể
hiện giọng điệu trần thuật điêu luyện của nhà văn Đó là quá trình đánh mất và kiếm tìm, sự hồi tưởng của người kể chuyện, đó là quá trình đi tìm kiếm những sự thật trần trụi của xã hội Trung Hoa thế khỉ hai mươi, là sự hồi tưởng về những câu chuyện tưởng chừng như lặt vặt trong cuộc sống nhưng nó lại mang một cảm xúc chân thực, một giá trị nhân văn cao đẹp mà nhà văn muốn hướng đến
Trang 2922
Mạc Ngôn được xem là một hiện tượng lạ và là người có “sức hút” mạnh với
độc giả yêu văn học bởi hiện thực mà ông phản ánh là lịch sử chân thực, nhưng được
lạ hóa, dị dạng, mang đậm dấu ấn của chủ thể nhà văn Cùng với sự thành công khi thể hiện mảng đề tài viết về hiện thực, nghệ thuật tự sự góp phần lớn trong việc hình thành phong cách Mạc Ngôn, đặc biệt là những phương thức trần thuật mà tác giả sử dụng trong mỗi tác phẩm lại mang nét riêng và thành công riêng
Ngòi bút Mạc Ngôn thực sự độc đáo ở việc lựa chọn hình thức kể chuyện từ ngôi thứ nhất của nhân vật tôi một cách rành mạch khi hồi tưởng về quá khứ ở hiện tại và
cả tương lai nữa Cách hồi tưởng của nhân vật tôi làm cho người đọc như lạc vào một
ma trận tự sự Thông qua nhân vật người kể chuyện, Mạc Ngôn đã thuật lại những bi kịch đời thường bằng một giọng văn lạnh lùng lẫn chua chát, châm biếm nhưng đầy nhân ái
Cũng thông qua việc sử dụng các phương thức trần thuật, tác giả đã thể hiện đầy
đủ bức tranh sinh động của xã hội Trung Quốc thế kỉ XX - một giai đoạn mà con người sống hời hợt với nhau, sử dụng những mánh khóe, mưu mẹo và chèn ép cuộc sống của người khác nhằm phục vụ cho lợi ích của cá nhân mình; một giai đoạn mà tất
cả các giá trị, các chuẩn mực bị lật nhào, bị thay thế Sống trong thời đại “mở cửa”,
con người dường như lạnh lùng, vô cảm và mất đi cái gọi là tình thương với đồng loại,
hay nói cách khác là “sống chết mặc bay” Chính vì sự thờ ơ, lạnh lùng đó đã đưa đẩy
số phận của quê hương Cao Mật, của những con người đang sống ở trên mảnh đất ấy phải đối mặt với những thảm họa của thiên tai, của những hủ tục lạc hậu bảo thủ Thời gian của truyện chủ yếu là thời gian hồi tưởng với kết cấu truyện trong truyện, đan xen giữa thực và ảo, giữa hiện tại và quá khứ, khai thác triệt để những cảm giác lẫn khứu giác, vị giác của nhân vật khi cảm thụ cuộc sống Bên cạnh đó tác giả cũng sử dụng giọng điệu vừa bỡn cợt vừa khoa trương, vừa lạnh lùng vừa tâm tình để tái hiện chân thực cuộc sống bạc bẽo giữa người với người cùng sống trong một gia tộc, giữa cảnh vật thiên nhiên và cuộc sống con người Cuộc sống ấy đã vùi dập cuộc đời của họ dẫn đến những kết cục bi thảm
Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, Mạc Ngôn đã sớm khẳng định cho mình
một phong cách riêng, một lối đi riêng Với tác phẩm Châu chấu đỏ, một lần nữa tác
phẩm khẳng định tài năng, cá tính sáng tạo của Mạc Ngôn trong việc hướng ngòi bút
tả thực cùng với trí tưởng tượng của mình để tạo ra những “mùi vị” không tồn tại và
Trang 3023
những sự thực không có thật nhưng lại vô cùng gần gũi và thân thiết, gắn với những suy tư, trăn trở của con người
Trang 3124
Chương 2 GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT
2.1 Giọng bỡn cợt
Có thể hiểu một cách đơn giản nhất “bỡn cợt là đùa chơi cho vui, xem như
chuyện đùa, không nghiêm chỉnh, không coi trọng” [17, tr.119] Giọng bỡn cợt là một
trong những hình thức biểu hiện của bút pháp trào lộng Nó trở thành một bút pháp
quen tay của Mạc Ngôn trong tiểu thuyết, đặc biệt là ở tiểu thuyết Châu chấu đỏ Và
với tiểu thuyết này, tác giả đã dùng giọng bỡn cợt kết hợp với những giọng điệu khác
để chế nhạo, chỉ trích, phản kháng những cái tiêu cực, thói hư tật xấu, những hủ tục lạc hậu, xấu xa, độc ác trong xã hội
Trong tiểu thuyết, giọng điệu bỡn cợt được thiết lập nên bởi sự cường điệu so sánh khi miêu tả con người với sự việc Trong tất cả mọi tình huống, mọi hoàn cảnh dù vui hay buồn, thong thả hay gấp gáp, bình yên hay hiểm nguy cũng khiến giọng điệu của người kể chuyện mang sắc thái bỡn cợt, tếu táo Khi miêu tả một đêm tối trời của
mấy năm trước ở thành phố, nhân vật tôi kể rằng: “khi tiếng vó ngựa xa dần và chuẩn
bị tắt hẳn, tất cả những căn hộ của mười lăm tầng lầu trên đầu tôi đều vang lên tiếng gầm của các loài thú dữ trong rừng sâu Cô gái có đôi chân tật nguyền đã thu âm toàn
bộ tiếng kêu của các loài thú dữ trong công viên trong một chiếc băng cát-xét, và đây
là lúc mà cô ta tăng âm hết cỡ Đôi mắt cô ta chẳng khác nào mắt loài hà mã, phát ra một thứ ánh sáng thần bí hướng về những dòng sông và đầm lầy nhiệt đới Tốc độ đô thị hóa quá nhanh, những tiếng vó ngựa đã bị đẩy ra cuộc sống đô thị càng ngày càng
xa, người trong thành phố đông như châu chấu và bất cứ gốc phố nào cũng có đầy đủ các loại xe hơi, con đường xi măng phía sau nhà hàng Thái Bình Dương đêm nào cũng đầy những con quái vật đủ mọi hình thù nằm xếp hàng bên nhau Nhìn con đường, tôi có một dự cảm rằng, rồi sẽ có một ngày nào đó mình sẽ bị ép chặt xuống phía dưới lớp xi măng tăm tối ấy” [15, tr.8, 9) Qua lời giới thiệu của nhân vật, người
đọc thấy rằng cuộc sống của con người có những thay đổi hay có thể gọi là có những biến đổi kì lạ Tác giả cho người đọc tưởng chừng như mình đang lạc vào một thế giới phồn hoa đô hội đó Nhưng nhân vật tôi đã hồi tưởng lại một xã hội thay đổi tật nguyền trong sự mịt mù tăm tối, khi mà tốc độ đô thị hóa quá nhanh, nhanh đến nỗi
mà những con người trong thành phố ấy đông như là một trận đại dịch châu chấu của quê hương Cao Mật năm mươi năm trước Đây là sự thay đổi không phù hợp, không
Trang 3225
đúng thời điểm để rồi chính con người phải cố gắng đi tìm kiếm những gì còn sót lại
của quá khứ, đó là tiếng của các loài thú, tiếng vó ngựa xa xa Bằng giọng bỡn cợt điêu
ngoa, người đọc thấy được thay sự đổi làm cho con người, cảnh vật sống trong không gian đó cũng thay đổi theo chiều hướng tiêu cực Con người có vẻ dữ dằn hơn, cảnh vật thay đổi khiến cho con người ta tưởng chừng như là những con quái vật nằm cạnh nhau Tác giả muốn nói rằng để làm thay đổi một sự vật hiện tượng trước hết con người ta cần phải xem xét kĩ lưỡng, phải làm một cách phù hợp để tránh những gì không mong muốn xảy ra Điều này cũng dễ hiểu bởi cả xã hội đang thi đua, đang chạy đua theo thành tích một cách rầm rộ mà việc thay đổi đó sẽ là một thành tích tốt đẹp, một thành công vô cùng to lớn, có thể ngẩng mặt làm oai và không bị lép vế trước những thành phố khác, cho dù sự tồn tại của nó đang kìm hãm sự phát triển của con người và kìm hãm sự phát triển của chính xã hội đó
Trong lúc nhân vật tôi có ý định đi ngắm hoa nghênh xuân nở, một không gian tuyệt đẹp hiện lên trên con đường hướng về phía nhà hàng Thái Bình Dương, đó là thời gian vào một buổi chiều khi nhân vật Can Ba đã cảm nhận một cách tinh tế những sắc thái tuyệt đẹp của thiên nhiên, đã đem đến cho anh một thứ tình cảm kì lạ và thoải
mái: “trên những cành non mơn mởn là những đóa hoa vàng đung đưa , không gian
thoang thoảng một mùi thơm dịu nhẹ Bên ngoài bức tường, trên vỉa hè, cuộc sống đầy màu sắc đang phô trương những nét quyến rũ của nó” [15, tr.9] Nhưng trước một
khung cảnh tuyệt đẹp tràn đầy cảm xúc như vậy, thì cái thực tại có phần phũ phàng đã xuất hiện, khiến nhân vật tôi nhận ra cảm xúc của mình nó bị tuột đi tự lúc nào không
hay: “tôi đã kịp nhận ra một vị giáo sư quen biết đang ôm chiếc eo thon thả một cô
sinh viên cũng khá quen biết đi thon thả dưới vòm lá xanh um bên đường Đầu tóc của giáo sư bạc phơ, còn cô sinh viên chẳng khác nào một đoá hoa hồng đang chúm chím
hé nở Không ai chú ý đến họ, bởi giáo sư có thể được hiểu là bố, cô sinh viên có thể
là con” [15, tr.10] Bằng lối kể chuyện châm biếm bỡn cợt, Mạc Ngôn đã tái hiện lên
câu chuyện của vị giáo sư sống ở chốn phồn hoa đô thị đáng phải suy ngẫm Nhưng tưởng rằng họ là những con người mực thước, cao quý và đường hoàng, nhưng ẩn hiện sau đó là thói hư tật xấu, sự băng hoại nhân cách đạo đức Con người sống trong sự giả
dối lọc lừa nhau, sống một cách giả tạo Hiện lên trong câu chuyện này là vị giáo sư
khả kính dạy luân lý học chủ nghĩa Mác – Lênin Vị giáo sư đã từng nói rằng: “thầy rất yêu người vợ đã từng vào sinh ra tử, sẻ chia hoạn nạn với thầy, thầy còn bảo, thầy
Trang 3326
nhìn những cô gái trẻ đẹp chẳng khác nào những bộ xương bọc thịt biết đi Ngày ấy chúng tôi còn trẻ lắm, chúng tôi rất ngưỡng mộ vị giáo sư đạo mạo chung tình ấy” [15, tr.10] Bằng cách nói bỡn cợt của mình Mạc Ngôn vẻ nên một bức tranh trong
nhân vật tôi đầy tiếng cười hài hước khi anh hồi tưởng về vị giáo sư đáng kính của mình Những điều mà ông ta giảng dạy về luân lí đạo đức cho học sinh trái ngược
hoàn toàn với cái bản chất, tính cách mà bây giờ ông ta đang sống.“Trên chiếc ghế đá,
mái tóc bạc của giáo sư đang phát ra những tia sáng lấp lánh như đôi cánh của một loài côn trùng nào đó đang chấp chới bay” [15, tr.16] Không gian giữa ánh sáng và
bóng tối quý giá vô cùng, nóng bỏng vô cùng: “tôi nghe đó đây vang lên những tiếng
hôn môi tạo thành một tạp âm cực giống một đàn vịt đang chúi đầu vào trong nước đục để tìm giun, những tiếng thở cố nén” [15, tr.18], “tiếng chóp chép tàn khốc từ những nụ hôn phát ra như bủa vây lấy tôi, ánh đèn đường tối tăm dâm đãng” [15,
tr.25] Đây là lúc vị giáo sư cùng cô sinh viên trẻ đang hạnh phúc trong yên lặng Họ không hề gây trở ngại hay uy hiếp đến bất kì ai, bất kì cái gì Lối kể chuyện của tác giả mang sắc thái hài hước nhưng cũng đầy châm biếm sâu cay, giàu ý nghĩa dung tục,
phồn thực Vậy là “sắc”, “nhục” và “vật chất”, ba phạm trù này bủa vây lấy thầy trò
họ (vị giáo sư và cô sinh viên trẻ) và là căn nguyên tạo nên sự tha hóa nhân tính lẫn nhân cách con người Phải chăng xã hội thay đổi làm cho con người ta cũng thay đổi theo Những chuẩn mực đạo đức của một người, từng được nhiều người rất tôn kính đã
bị hiện thực xã hội làm biến chất Hiện thực ở thành phố đó phải chăng là hiện thực của đêm tối, ban ngày và chiều muộn… với những mảng không gian đầy tính dục của
câu chuyện ngoại tình giữa vị giáo sư và những người đàn bà “ngúng nguẩy đôi mông
đồ sộ bó chặt trong chiếc quần bò cũ mèm sải bước thật nhanh đi về hướng tây Cả người bà nóng hừng hực, bà đang trong chờ chiếc đầu lưỡi tham lam của vị giáo sư đại học đang trú trong khu cao ốc kia mơn man trên hai đầu vú của mình bà và ông
ta vai kề vai ngắm nhìn bức tranh: một người đàn bà lỏa lồ với bầu vú đồ sộ đang ôm chiếc đầu lâu ” [15, tr.163] Có lẽ đối với Mạc Ngôn, sự suy thoái, những bon chen
và vô ngã của cuộc sống con người thành thị đều xuất phát từ cái mà con người ta gọi
là “nhàn cư vi bất thiện”, đó là sướng quá hóa hỏng, là những việc làm đi ngược với
chuẩn mực, với đạo đức mà ngay cả bản thân họ dù biết nhưng chẳng thèm quan tâm đến
Và để rồi trong cái xã hội đầy rẫy những phi lý ấy làm cho con người ta cảm thấy
Trang 3427
mình sống chẳng còn một ý nghĩa gì Nhân vật tôi cảm thấy mình chẳng là cái thá gì
“tôi nhận thức một cách rõ ràng rằng, tôi chẳng qua chỉ là một thỏi phân trong trực tràng xã hội này Cho dù tôi sinh một ngày cùng với Lưu Mãnh- chuyên gia diệt châu chấu được phong là tướng quân oai phong danh chấn thiên hạ, nhưng chuyện ấy cũng chẳng làm thay đổi cái bản chất của một thỏi phân vốn có của mình” [15, tr.10] Khi
một người sống cần được tôn trọng, cần được biết đến, sống có chuẩn mực có đạo đức
thì xã hội ấy lại thờ ơ, và được xem là “một thỏi phân trong trực tràng của xã hội
này” Lối diễn tả hài hước đã nói lên sự bọt bèo của thân phận con người Khi một xã
hội đối xử với con người như thế thì chính cái xã hội đó tự hủy diệt mình mà thôi Ở đây tác giả muốn ám chỉ rằng cái xã hội đang chuyển mình ấy thật là nực cười, rập khuôn và đối xử với nhau một cách sáo rỗng
Đứng dưới bóng cây cổ thụ, khi Can Ba nghe đó đây vang lên những tiếng kêu của đàn vịt, lúc đó nhân vật tôi nhặt một hòn đá bên đường vung tay lên ném vù tới,
trúng đầu một con vịt “Con vịt đã chết và lập lờ nổi trên mặt nước, những con còn
sống men theo con mương tiếp tục kiếm ăn” [15, tr.18] Dường như cái chết của con
vịt là ngụ ý của tác giả khi nói đến thế giới con người chăng Và trong cái thế giới ấy
con người ta sống với nhau thờ ơ lạnh nhạt theo lối “sống chết mặc bay”, sống với
nhau chỉ là những toan tính lọc lừa Bà Cửu chỉ quan tâm đến con vịt đã chết với tiếng kêu vang ai oán và thảm thiết mà không hề quan tâm đến tính mạng và bản thân mình khi đã bị lún xuống bùn sâu.Với giọng điệu bỡn cợt ta thấy rằng dù con người sống ở thành thị hay nông thôn thì họ dường như chỉ quan tâm đến vật chất mà ít ai quan tâm đến sự sống và tính mạng của bản thân mình, chứ đừng nói đến sự quan tâm với những con người xung quanh Tình nghĩa vợ chồng cũng thế Dường như họ sống với nhau cũng bởi vì những hủ tục lạc hậu, vì một cái gì đó khác chứ không phải sống với nhau bởi tình yêu thương, sự quan tâm lẫn nhau Khi bà Cửu bị rơi xuống mương, Can Ba
đến báo cho ông Cửu biết thì “ông Cửu nghe xong còn tợp thêm một ngụm rượu nữa
rồi giương đôi mắt đỏ quạch nhìn tôi bảo nói lại câu vừa rồi Tôi bảo bà Cửu sắp chết
ở dưới mương, nghe xong ông ta tợp một ngụm rượu nữa rồi nói: quá tốt!” [15, tr.21]
Bằng cách nói bỡn cợt khi kể về nhân vật bà Cửu trong tiểu thuyết này, Mạc Ngôn đã
vẻ lên một bức tranh rối ren, loạn lạc của cái xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ - khi con người lại đem cái chết ra làm trò đùa, người chứng kiến lại xem cái chết như chuyện bình thường Con người bây giờ không coi trọng tình người như trước nữa, chỉ cốt làm
Trang 3528
sao để họ có lợi lọc, chỉ vì chính bản thân mình sống để hưởng thụ dục vọng của bản thân Đó là một trong những câu chuyện thu nhỏ của miền quê Cao Mật khi những con người chỉ biết sống bon chen với nhau Bi kịch cuộc sống tinh thần của họ đã trở thành
bi kịch cuộc sống tinh thần của quốc dân Trung Quốc
Những câu chuyện lặt vặt trong cuộc sống của con người nơi chốn vùng quê liệu
nó có khác so với cuộc sống nơi chốn phồn hoa đô thị ở thành phố hay không Cuộc sống trần tục của con người ở Cao Mật nổi lên với những chi tiết thấm đẫm hiện thực
“Đông Bắc Cao Mật chúng tôi ăn rất khỏe, chủ yếu là các loại rau nên lượng phân thải ra cũng rất lớn, và có mùi cỏ khô Tất cả mọi người ở đây sau khi đại tiện đều biểu hiện vẻ hạnh phúc nhẹ nhàng thư thái trên mặt, đều cảm nhận cuộc sống sao mà tươi đẹp, rực rỡ như một rừng hoa đang nở rộ giữa mùa thu” [15, tr.53] Với cách nói
vừa chân thật vừa gây cười, Mạc Ngôn cho người đọc thấy được Đông Bắc Cao Mật là vùng đất độc đáo, nhiều bản sắc và sống trên vùng đất ấy cũng có một đại gia tộc độc
đáo là “đại tiện không có mùi thối” [15, tr.53], hoàn toàn đối lập với thành phố “sống
trong thành phố ngập ngụa mùi nhà tiêu cống rãnh, tôi phải thể nghiệm được nỗi thống khổ tột cùng khi phải vào nhà vệ sinh chật chội để làm cái công việc đại tiện hàng ngày ấy Tôi có cảm giác là hậu môn của người thành phố, bất kì là nam nữ lão
ấu đều bị tắc, chẳng khác nào đường ống nước lâu ngày không được tu sửa” [15,
tr.53] Ở đoạn văn này, giọng điệu bỡn cợt trỗi lên với tiếng cười hài hước, châm biếm,
mỉa mai, cười bởi nhu cầu sinh lý “đại tiện” hàng ngày trong cơ thể con người, lấy cái
bẩn thỉu để nói cái cao cả; miêu tả sự bế tắc trong cơ thể mỗi người ngay từ cái bẩn
thỉu nhất bằng chất giọng mỉa mai, chế giễu “Ông Tứ có thói quen đại tiện rất lâu,
thói quen này cả làng ai cũng biết Ông thường nói rằng, ngồi xổm trên đồng ruộng mênh mông mà đại tiện là một kiểu hưởng thụ lạc thú trong đời người” [15, tr.47],
ngoài ra ông còn chọn mùa để ra đồng đại tiện, điều này nói lên rất rõ rằng ông là một người có kiến thức, tinh thông về âm dương ngũ hành Ông là người sống trong gia tộc
ăn cỏ tranh và ông từng nói rằng: “gia tộc của chúng tôi có một cách biểu đạt rất độc
đáo, nhưng thứ ngôn ngữ đẹp đẽ của chúng tôi bị người chửi là thô tục, bẩn thỉu, rác tai, nhớp mắt Chúng tôi quá oan khuất! Khi chúng tôi ca tụng đại tiện, ca tụng hạnh phúc được đại tiện thì những người trong bụng chứa đầy phân lại chửi chúng tôi là bẩn thỉu và hạ lưu Chúng tôi càng oan khuất! Những lọn phân mà chúng tôi đại tiện
ra trông chẳng khác nào những quả chuối tươi nguyên được dán nhãn thương hiệu
Trang 3629
nhập khẩu từ nước ngoài vào, tại sao chúng tôi lại không được ca tụng nó? Lúc đại tiện, chúng tôi luôn liên tưởng đến một hình thức cao thượng của ái tình, thậm chí có khi thăng hoa thành một nghi tức mang tính tôn giáo, thế tại sao chúng tôi lại không thể ca tụng nó?” [15, tr.60] Với lối miêu tả chân thực đến mức thô tục của những chi
tiết ấy bằng giọng điệu bỡn cợt sắc sảo của mình, Mạc Ngôn đã tái hiện lối sống gắn
bó và tôn thờ thiên nhiên của gia tộc ăn có tranh nói riêng và những người dân Cao Mật nó chung, mặc dù nghe qua cảm thấy nực cười và khó hiểu
Cuộc sống trần tục đó tiếp tục hiện lên với những chi tiết thấm đẫm sự nghịch lý
và chua cay Các chuyên viên nghiên cứu về châu chấu họ đến đây để nghiên cứu về các loài châu chấu thì trong đó có một vị giáo sư với bước chân lảo đảo nghiêng bên
này vẹo bên kia trông thật khổ sở “Khi đứng lên, ông ta đánh rắm một tràng thật dài,
đánh rắm dài như thể chỉ có những người sắp chết mới làm được Giáo sư đánh rắm vừa dài, vừa to, vừa thối” [15, tr.66] Điều này làm cho nhân vật tôi có cảm giác kinh
ngạc vô cùng Hay là “hai anh em, ông Tứ và ông Cửu khi ăn cơm một tay dùng đũa
gắp thức ăn, một tay thủ sẵn trong cò súng nhưng quan hệ giữa họ vẫn tốt đẹp, vẫn thuận hòa” [15, tr.51]; việc tháo gỡ bức tranh treo tường khiến tranh bị rách “miệng nói tay làm, chưa đợi mọi người đồng ý, nó đã bóc bức tranh xuống, không ngờ là bức tranh đã được mẹ tôi dùng củ thục địa dán kính vào tường, khó mà bóc ra được, trầy trật mãi, cuối cùng không những không bóc được, mà cô em còn xé toạc nó ra làm hai nửa, ngay chỗ bầu vú Mọi người cười ồ lên, cô em tôi liến thoắng: không xong rồi, ông Tứ không còn sửa để uống nữa rồi! Mọi người lại cười ầm lên, cô Thất thì cười đến độ đánh rắm Lại cười!” [15, tr.52] Chính những điều tưởng chừng như vô hại đó
lại lột tả được cái thực trạng của xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ, cái thực trạng làm việc thiếu trách nhiệm không chịu rèn luyện, hay là cái thực tại nữa thật nữa đùa, nữa hài hước nữa châm biếm, nữa phê phán nữa xót xa ngay chính tại nơi mà những con người
đã dần đánh mất các giá trị của bản thân họ
Khi xã hội chuyển mình khác hẳn với những gì không phải là vốn có của nó, thì dường như con người cũng như thế Họ đi ngược với những gì mà tạo hóa đã ban tặng Ông Cửu lại đam mê nuôi loài cú mèo mà không phải là đam mê nuôi những loài chim khác có tiếng hót trong veo dịu nhẹ mà yên lành Ông đi nuôi loài chim mà người
thành phố gọi là “tan cửa nát nhà” [15, Tr.70], “là con quái vật hung ác, và có tiếng
kêu khiến con người ta dựng cả tócc gáy lên như thế” [15, Tr.71] Có lẽ trong thời
Trang 3730
buổi xã hội loạn lạc con người muốn tạo nên những điều khác biệt chăng? Có thể đó là một sự nỗ lực cố gắng của con người khi muốn khai phá những điều tưởng chừng như không thể nhưng lại có thể làm được, bỏ qua lời chê bai châm biếm của người khác Như vậy bằng giọng điệu bỡn cợt tác giả đã tạo nên một sự hài hước nhưng qua đó làm nổi bật thái độ của tác giả đối với những hiện thực của cuộc sống thực tại
Trong thời điểm quá khứ, trong hoàn cảnh khó khăn khi nạn châu chấu tràn về thì dường như chính con người cũng không thể sống tốt, sống thật lòng với nhau Nguyên nhân ở đây không phải xuất phát từ cái sự sướng quá hóa hỏng của người thành phố
mà cái chính đó là do quan niệm và hủ tục Khi nạn châu chấu ập đến thì ông Tứ kêu
gọi dân làng xây miếu Ba Lạp nhằm thờ “Thần châu chấu” Trong quá trình xây miếu,
qua cuộc hội thoại giữa ông Tứ và người chủ thầu ta thấy rằng con người sống với nhau thật là lạnh nhạt Họ luôn giành cho nhau những lời lẽ cay nghiệt và châm biếm
“Bỗng nhiên ông Tứ phát hiện người chủ thầu này rất giống một con châu chấu to
tướng” [15, tr.114] trong khi đó người chủ thầu lại nói rằng “tộc trưởng! Tôi đã hiểu
vì sao ông phải xây dựng ngôi miếu này! – Người chủ thầu nói một cách quỷ quyệt”
[15, tr.144] Ông Tứ ngừng nhai cỏ và hỏi dồn người chủ thầu vì sao, người chủ thầu
lại tiếp tục nói “ông ta phát hiện khi nhai cỏ tranh ông Tứ giống một con châu chấu,
không những thế tất cả những người trong gia tộc ăn cỏ tranh này trên mặt đều phảng phất hình dáng của loài chấu chấu” [15, tr.114] Với lối viết bỡn cợt, Mạc Ngôn đã vẻ
lên tính cách, suy nghĩ của người chủ thầu, của ông Tứ, dù làm việc với nhau nhưng lại kì thị, ghen ghét nhau, giành cho nhau những lời lẽ chua chát
Ở trong tiểu thuyết này chúng ta thấy rằng những người vợ người chồng dù không yêu thương nhau nữa, thậm chí là căm ghét nhau nhưng vẫn cắn răng cùng sống chung dưới một mái nhà như ông Tứ bà Tứ, ông Cửu bà Cửu, để rồi người chồng thường xuyên say xỉn và người vợ thì trong những điều kiện thuận tiện sẵn sàng đổ lên đầu tất cả những gì bực bội chất chứa, thậm chí anh em còn tranh giành, trở thành kẻ
thù không đội trời chung chỉ vì một người đàn bà “Bà Ngũ cho rằng, ông Cửu không
nên tranh chấp người đàn bà này với ông Tứ Đàn bà trong trời đất này không thiếu, anh tìm người đàn bà khác không được sao? Nhưng đàn ông là vậy, cho dù bất kì cái
gì, hễ tranh được trên tay người khác thì sẽ biến thành của báu, thậm chí là một cục cứt khô! Đàn ông chỉ là những con chó điên!” [15, tr.218, 219] Qua đó ta thấy rằng
lịch sử của một gia tộc có khi lại là lịch sử của một vương triều thu nhỏ; một vương
Trang 3831
triều hay một gia tộc trong bước đường suy thoái đều có những kẻ dâm ô trác táng, đều
có cảnh nồi da nấu thịt, cha con anh em tranh đoạt Nhưng trên bề mặt nó vẫn là nhân nghĩa đạo đức thân ái, từ nhượng, công bằng nghiêm minh
Giọng điệu bỡn cợt còn xảy ra ở sự trái ngược giữa tính cách, địa vị của chủ thể phát ngôn với lời nói của họ Nghĩa là tác giả đặt vào miệng kẻ lưu manh những câu nói nghiêm túc và ngược lại, đặt vào miệng kẻ vốn được xem là nghiêm túc những câu nói lưu manh, trái ngược với đạo đức của họ Nổi bật lên trong tiểu thuyết này là vị giáo sư trên thành phố, là đại diện cho một tầng lớp thượng lưu, phong nhã và đạo mạo của những con người sống ở chốn phồn hoa đô thị, lúc nào cũng tỏ vẻ mực thước
đường hoàng: “giáo sư nói, thầy rất yêu người vợ đã từng vào sinh ra tử, sẻ chia hoạn
nạn với thầy, thầy còn bảo thầy nhìn những cô gái trẻ đẹp chẳng khác nào những bộ xương bọc thịt biết đi” [15, tr.10], nhưng lại làm những việc đi ngược lại với phẩm
chất, đạo đức vốn có của mình.“Trên chiếc ghế đá, dưới bóng tối của lùm cây, vị giáo
sư già đưa bàn tay trắng nhỏ luồn vào mái tóc vàng rực của cô sinh viên trẻ Họ hạnh phúc trong yên lặng” [15, tr.16] Và bên cạnh đó là những nhân tình của vị giáo sư, là
cô sinh viên trẻ đẹp, người phụ nữ mặc váy đen, và những người phụ nữ khác Họ đại diện cho những phụ nữ thời thượng của thành phố, không tránh khỏi những dục vọng của tiền tài, địa vị để rồi đánh mất phẩm chất và danh dự của bản thân bởi sự hư hỏng
về đạo đức và nhân cách Đến cả những con người khốn khổ ở miền quê Cao Mật như ông Tứ, ông Cửu, bà Tứ cũng phải chịu sự chi phối của xã hội Họ là hình ảnh tượng trưng cho những con người ở vùng nông thôn, vừa phải khốn đốn để bảo vệ và giành lấy cuộc sống cho mình, vừa bị trói buộc bởi những quan niệm phong kiến, những hủ tục, vừa bị nhiễm những thói hư tật xấu của xã hội đương thời Chính sự nghịch dị trong tính cách và ngôn ngữ của nhân vật lại mang đến một sắc thái bỡn cợt khác Mỗi
sự nghịch dị xảy ra sẽ bật lên tiếng cười và ý nghĩa châm biếm
Ghép yếu tố thiêng liêng với yếu tố phàm tục cũng tạo nên giọng điệu bỡn cợt Trong khi xây miếu Ba Lạp ông Tứ đã thuê mấy chục thợ ở những nơi khác đến xây miếu chứ không dùng người trong gia tộc Chính điều này ông Tứ đã không nhận được
sự đồng tình ủng hộ của mọi người Phải chăng đây là dụng ý riêng của ông “Cho dù
có phải chửi Phật mắng tổ, cho dù thiên lôi có đánh vào tôi năm bảy lần tôi cũng phải nói là do ông Tứ biểu hiện sự tôn kính đối với thần châu chấu nên đã quyết tâm xây dựng ngôi miếu cho tinh xảo hoàn mỹ; cũng có thể do một quan niệm rất thịnh hành
Trang 3932
thời bấy giờ là bụt chùa nhà không thiêng, chỉ có sãi từ xa mới biết niệm kinh đại loại như thế chi phối chăng? Nếu ông Tứ cả gan làm những điều nghịch tặc không suy đoán, ắt sẽ gánh lấy hậu quả một mình” [15, tr.113] Hay là lúc hai anh em ông Tứ
đánh nhau vì một người đàn bà Người chửi “đ mẹ mày” [15, tr.221], người thì chửi
“ỉa vào mặt tổ tông nhà người” [15, tr.221] Họ đều là do một mẹ sinh ra, cũng chẳng
có hai ông tổ khác nhau, mà họ lại đi chửi tổ tiên mình như thế Khi chủ nhân những
lời bỡn cợt đó là “tổ tông” của ông Cửu và ông Tứ đầy chất “bợm nghịch”, thì sự mỉa
mai, châm biếm, giễu cợt đó càng được nhân đôi Mức độ bỡn cợt ngày càng được tăng cao, sự bông lơn đã làm xô ngã ngữ điệu thành kính, làm vở òa tiếng cười điêu ngoa, bạc bẽo, chua chát Có lẽ đây là dấu hiệu báo hiệu sự suy thoái về nhân hình lẫn nhân tính của con người trong xã hội thực tại Bằng giọng điệu bỡn cợt, tác giả đã tạo
nên một khung cảnh làng quê và gia đình “tràn ngập” sự thoái hóa đến trần trụi Đi
kèm với sự bỡn cợt là một thái độ mỉa mai, thậm chí coi thường đối tượng được nói tới của tác giả Qua cách so sánh bỡn cợt mà Mạc Ngôn sử dụng ở tác phẩm này không chỉ có tiếng cười mà còn có tiếng thở dài vì những giá trị thuộc về con người đang dần mất đi
Giọng điệu bỡn cợt trong tiểu thuyết đã tạo nên một phong cách tự sự bốp chát, suồng sã, bông lơn một cách thản nhiên Nó phá vỡ vẻ mực thước, trang trọng quen thuộc của văn xuôi, khiến người đọc nhận ra một phong cách ngôn ngữ đầy táo bạo của riêng Mạc Ngôn Bỡn cợt nhưng nội dung mà nó phản ánh lại sâu sắc vô cùng Đằng sau tiếng cười đó hiện lên một bức tranh cuộc sống ẩn chứa những ung nhọt, xấu
xa, giả dối của xã hội Trung Quốc cuối thế kỉ XX
2.2 Giọng khoa trương
Theo Từ điển tiếng Việt: khoa trương là cố ý phô bày để làm cho người ta tưởng
rằng mình có những mặt hay, tốt, mạnh, quá mức có thật, cường điệu hoặc phóng đại quá sự thật để đạt hiệu quả nghệ thuật cần thiết Giọng khoa trương là một trong
những hình thức biểu hiện của bút pháp trào lộng Để hình thành nên giọng điệu khoa trương, Mạc Ngôn đã sử dụng rất nhiều phương tiện và biện pháp tu từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa làm cơ sở khoa trương như ngoa dụ, cường điệu, nói điêu nói khoác, thậm xưng, phóng đại Nói chung là dùng những từ ngữ hoặc cách diễn đạt để nâng lên rất nhiều lần những thuộc tính của khách thể hoặc đối tượng nhằm mục đích làm nổi bật bản chất của đối tượng cần miêu tả và gây ấn tượng mạnh mẽ
Trang 4033
Biểu hiện đầu tiên của giọng điệu khoa trương là miêu tả và diễn tả đối tượng một cách cường điệu, phi lý, vượt lên mức bình thường Can Ba đã nhận ra ông già là người đồng hương với mình ở vùng quê Đông Bắc Cao Mật Điều làm cho ông rời xa quê hương đó là do năm mươi năm trước có một trận đại dịch châu chấu tràn vào làng
quê mà ông sống: “nhân vì trận đại dịch châu chấu mấy mươi năm trước xuất hiện ở
đấy khiến cả vùng Cao Mật không còn chút màu xanh, người sống phải ăn thịt người chết, lão đành phải rời quê hương lưu lạc lên thành phố, từ đó đến nay không còn cơ hội để quay về nữa” [15, tr.16] Đại dịch chấu chấu đã làm cho quê hương Cao Mật
điêu tàn, thậm chí con người phải ăn thịt cả chính đồng loại của mình, con người nơi đây phải gòng mình lên để chiến đấu, chiến đấu với loại thần trùng đã hủy diệt con người Can Ba là người đại diện cho những tri thức trẻ xa quê hương nhưng luôn có một tâm hồn yêu quê hương tha thiết, lúc nào cũng nhớ về miền quê Cao Mật yêu dấu Trong nhân vật không chỉ là tình cảm sâu đậm dành cho quê hương mà còn là tình yêu
đối với miền đất đó như máu thịt và đối với anh:“trong bước đường tha phương mà
gặp được người đồng hương là hạnh phúc vô cùng” [15, tr.16], niềm vui vỡ òa, nước
mắt mừng vui chan hòa
Khi nói về mùa thu trong đầm lầy ở vùng Cao Mật đầy thi tình họa ý ấy, tác giả cũng đã sử dụng giọng điệu khoa trương để diễn tả cánh đồng cao lương hàng vạn mẫu
“đỏ như một biển máu sôi sục” [15, tr.36] Thoạt nhìn là cứ tưởng một bầu trời không
phải màu xanh mà là màu đỏ sáng rực, màu đỏ của sự may mắn của những tia hi vọng
về những cánh đồng cao lương tốt tươi Nhưng những hi vọng đó dường như khó có
thể thực hiện được khi mà đã lâu lắm rồi không có mưa: “trên con đường đất, bụi phủ
một lớp dày cả gang tay, ngập đến gần đầu gối lừa” [15, tr.46] Chi tiết này thấy rằng
sự khoa trương đã vượt quá giới hạn của mình để đạt đến mức độ khoác lác Thời tiết khô hạn đã kéo dài trong một thời gian, đất đai khô cằn, mùa màng thất thu, quê hương tiêu điều, con người nghèo khổ, túng quẩn đến cùng cực
Người đọc còn nhìn thấy một hiện thực song chẳng khác gì một giấc mộng kì ảo
về vị thần châu chấu qua lời dẫn dắt của người kể chuyện Thế giới ấy hoang tưởng
đến siêu hạng Đó là lời dụ của thần linh ban ra: “ông lão ấy bảo ông Tứ hãy về xây
miếu từ đường đi!” [15, tr.86], ngôi miếu ấy chính là miếu Ba Lạp “Ông Tứ nói, ông chỉ trông thấy trên nền đá xanh một con châu chấu màu đỏ to bằng một con cừu Đôi mắt nó to như hai quả dưa, cái mồm to bằng cái mồm ngựa có hai chiếc răng nanh