1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU PHƯƠNG THỨC QUẢN lý NGHỀ NUÔI NGHÊU (meretrix lyrata) dựa TRÊN cơ sở CỘNG ĐỒNG ở TỈNH TRÀ VINH

50 159 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 622,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, ở Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL với 8 tỉnh ven biển, nghề nuôi nghêu đã phát triển mạnh ở các khu vực bãi bồi ven biển như Gò Công Đông Tiền Giang, Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú Bến

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN

ĐỖ THỊ THANH THÚY

TÌM HIỂU PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ NGHỀ NUÔI

NGHÊU (Meretrix lyrata) DỰA TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG

Trang 2

LỜI CẢM TẠ

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Trương Hoàng Minh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và viết luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn đến quý Thầy/Cô giảng dạy đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và tận tâm truyền đạt những kiến thức chuyên môn cho tôi trong suốt thời gian học tập

Xin gởi lời cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh, chị ở Sở Thủy sản Trà Vinh, phòng Thủy Sản huyện Cầu Ngang, huyện Duyên Hải, các cơ quan chính quyền địa phương cùng các xã viên HTX Thành Công, HTX Ba Vinh

Cám ơn các bạn lớp Quản Lý Nghề Cá khóa 32 đã đoàn kết, gắn bó cùng tôi vượt qua chặng đường dài sinh viên

Cuối cùng là lời cảm ơn đến gia đình, người thân đã giúp đỡ và động viên tôi trong thời gian học tập

Sinh viên thực hiện

Đỗ Thị Thanh Thúy

Trang 3

Các HTX nuôi nghêu hoạt động với mô hình, cách quản lý theo Liên minh các HTX, chịu sự quản lý và hỗ trợ trực tiếp của phòng thủy sản huyện

Hiện nay, khó khăn chủ yếu là nguồn giống, không đáp ứng đủ nhu cầu về chất lượng và số lượng, vì vậy hiện giờ đang bắt đầu vụ nuôi mới mà hầu hết các HTX vẫn chưa thả giống nuôi

Nhìn chung nghề nuôi nghêu dựa trên cơ sở cộng đồng mang lại hiệu quả kinh tế

và tăng thu nhập cho người dân địa phương Đa số các xã viên tham gia HTX đều có lãi trung bình từ 75-100% Do nguồn giống không đảm bảo về chất lượng

và số lượng, khâu quản lý còn chưa chặt chẽ nên năng suất nuôi giữa các HTX không giống nhau

Vì vậy cần giải quyết những khó khăn về con giống và vốn cho HTX để thúc đấy nghề nuôi nghêu phát triển bền vững hơn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM TẠ i

TÓM TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH SÁCH BẢNG v

DANH SÁCH HÌNH vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu 2

1.3 Nội dung 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL 3

2.2 Tình hình nuôi nghêu ở các tỉnh ven biển ĐBSCL 3

2.3 Tình hình Tổng quan về điều kiện tự nhiên-kinh tế xã hội của Trà Vinh 5

2.3.1 Điều kiện tự nhiên ở tỉnh Trà Vinh 5

2.3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội cơ bản vùng nghiên cứu 5

2.4 Quản lý nguồn lợi thủy sản dựa trên cơ sở cộng đồng 6

2.4.1 Một số khái niệm 6

2.4.2 Nguyên lý 7

2.4.3 Hiệu quả 7

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

3.1 Thời gian và địa điểm 8

3.2 Phương pháp nghiên cứu 8

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 8

3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 9

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 10

4.1 Hiện trạng nghề nuôi nghêu ở Trà Vinh 10

Trang 5

4.1.1 Tình hình nuôi 10

4.1.2 Hiện trạng nguồn giống 11

4.2 Phương thức quản lý nghêu của HTX 11

4.2.1 Cấp nhà nước 11

4.2.2 Cấp cộng đồng 12

4.2.3 Hiệu quả kinh tế 17

4.3 Khía cạnh kỹ thuật 19

4.3.1 Điều kiện bãi nuôi 19

4.3.2 Thả giống 19

4.3.3 Thời gian nuôi 19

4.3.4 Chăm sóc quản lý 19

4.3.5 Kích cỡ và mùa vụ khai thác 20

4.3.6 Các trở ngại 20

4.4 Hiện trạng kinh tế xã hội 20

4.4.1 Nhân khẩu và lao động 20

4.4.2 Tuổi trung bình của các xã viên ở vùng nghiên cứu 21

4.4.3 Trình độ văn hóa 21

4.4.4 Cơ cấu thu nhập 22

4.4.5 Các hoạt động có thu nhập từ nguồn lợi nghêu 23

4.4.6 Nhận thức của hộ xã viên đối với phương thức quản lý 25

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 27

5.1 Kết luận 27

5.2 Đề xuất 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

PHỤ LỤC 31

Trang 6

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Sản lượng NTTS phân theo khu vực năm 2005 3

Bảng 2.2 Kết quả nuôi nhuyễn thể ở các tỉnh ven biển ĐBSCL (2006-2007) 4

Bảng 4.1 Các khâu quản lý của HTX 15

Bảng 4.2 Thông tin về 2 HTX 15

Bảng 4.3 Hạch toán kinh tế của 2 HTX 17

Bảng 4.4 Bảng xếp hạng người dân tiếp cận nguồn thông tin kỹ thuật 22

Bảng 4.5 Thu nhập từ lao động liên quan đến nghêu 24

Bảng 4.6 Cơ cấu trung bình thu nhập đầu người 24

Bảng 4.7 Thuận lợi và khó khăn của các HTX 25

Trang 7

DANH SÁCH HÌNH

Trang

Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Trà Vinh 8

Hình 4.1 Diện tích và sản lượng nuôi nghêu ở Trà Vinh (2000-2008) 10

Hình 4.2 Sơ đồ hệ thống quản lý khai thác và nuôi nghêu ở tỉnh Trà Vinh 12

Hình 4.3 Cơ cấu tổ chức HTX Ba Vinh 13

Hình 4.4 Cơ cấu tổ chức HTX Thành Công 14

Hình 4.5 Hình thức khai thác và bán nghêu 16

Hình 4.6 Xếp hạng chi phí nuôi nghêu .18

Hình 4.7 Trình độ văn hóa 21

Hình 4.8 Tổng giá trị các cơ cấu kinh tế các nông hộ điều tra 23

Trang 9

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một quốc gia ven biển, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với đường bờ biển dài 3.260 km, thuận lợi cho sự phát triển ngành thủy sản Trong những năm gần đây ngành thủy sản đã vươn lên và trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn góp phần đáng kể vào GDP của đất nước Không những thế ngành thủy sản còn góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống của cộng đồng làm nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản Ngày nay, nhu cầu sống của người dân ngày càng cao, nhu cầu sử dụng ít chất béo ngày càng tăng, trong khi vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng được quan tâm thì sản phẩm thủy sản càng trở nên quan trọng, thiết thực để phục vụ nhu cầu đó

Vì vậy nghêu là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao nên được người tiêu dùng ưa thích Nếu như trước đây nghêu chỉ được dùng cho thị trường tiêu thụ nội địa thì trong những năm gần đây nghêu đã được chế biến đông lạnh sang nhiều nước trên thế giới (Hạnh, 2002) Từ đó giá trị kinh tế của nghêu cũng được nâng lên và trở thành đối tượng kinh tế

Do đó, ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với 8 tỉnh ven biển, nghề nuôi nghêu đã phát triển mạnh ở các khu vực bãi bồi ven biển như Gò Công Đông (Tiền Giang), Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), Cầu Ngang, Duyên Hải, Châu Thành (Trà Vinh), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Ngọc Hiển (Cà Mau), ven biển Cần Giờ (Thành phố HCM)

Trong những năm gần đây nghề nuôi nghêu đã bắt đầu phát triển ở Trà Vinh, nghêu được nuôi tập trung ở các bãi bồi thuộc các xã cù lao huyện Châu Thành, Cầu Ngang, Duyên Hải Nghề nuôi nghêu ở vùng này ngày càng phát triển, đặc biệt khi có sự khuyến khích, hỗ trợ kinh phí của tỉnh cho việc thành lập hợp tác

xã (HTX) nuôi nghêu và đã mang lại nhiều lợi nhuận, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho vùng nông thôn góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng chung của ngành thủy sản và của tỉnh Trà Vinh

Tồn tại song song với sự phát triển của nghề nuôi nghêu là những mối đe dọa đối với sự phát triển bền vững của ngành: ngành nuôi trồng thủy sản phát triển mang tính tự phát, quá trình quản lí còn gặp nhiều khó khăn, thiếu quy hoạch dẫn đến ảnh hưởng môi trường xung quanh là nguyên nhân gây dịch bệnh cho

Trang 10

các đối tượng nuôi khác, người nuôi chưa ý thức được việc chăm sóc cũng như các hình thức khai thác và bảo vệ đối tượng này, làm cho nghề nuôi càng trở nên khó khăn và tính rủi ro ngày càng cao Vấn đề đặt ra là làm sao vừa tăng năng suất, sản lượng và thu nhập nhưng vẫn ổn định được sản xuất và giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường, khống chế được dịch bệnh

Do đó, việc nghiên cứu: “Phương thức quản lý nghề nuôi nghêu dựa trên cơ

Các mục tiêu cụ thể bao gồm:

(i) Đánh giá tình hình phát triển nghề nuôi nghêu của tỉnh Trà Vinh (ii) Tìm hiểu phương thức quản lý nghề nuôi nghêu dựa trên cơ sở cộng đồng của tỉnh Trà Vinh

(iii) Tìm hiểu về khía cạnh kỹ thuật của mô hình

(iv) Đánh giá hiệu quả kinh tế- xã hội của mô hình quản lý này

1.3 Nội dung

a Khảo sát tình hình phát triển nghề nuôi nghêu ở tỉnh Trà Vinh

b Đánh giá hiệu quả của phương thức quản lý nghề nuôi nghêu dựa trên

cơ sở cộng đồng

c Tìm hiểu về khía cạnh kỹ thuật của mô hình

d Đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội của nghề nuôi nghêu Từ đó phân tích thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp cơ bản cho sự phát triển nghề nuôi nghêu tại địa bàn nghiên cứu

Trang 11

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL

Trong năm 2008, mặc dù nghề nuôi thủy sản có những khó khăn đáng kể về giá nguyên liệu đầu vào tăng cao và giá đầu ra đối với một số con nuôi chủ lực phục

vụ cho xuất khẩu bị giảm mạnh so năm 2007 như: cá tra, tôm sú, cá mú, nhưng ngành nuôi trồng thủy sản của cả nước nói chung và ĐBSCL nói riêng vẫn vượt qua được thách thức và đạt mức tăng trưởng cao trong cơ cấu nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 212,0 nghìn tỷ đồng, tăng 5,6% so với năm 2007, bao gồm giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 155,2 nghìn tỷ đồng, tăng 5,4%; giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 6,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2%; giá trị sản xuất thuỷ sản đạt 50,1 nghìn tỷ đồng, tăng 6,7% (Tổng cục Thống kê, 2008)

Bảng 2.1 Sản lượng NTTS phân theo khu vực năm 2005

Nguồn: Lê Xuân Sinh, 2006 http://www.mekongfish.net.vn

2.2 Tình hình nuôi nghêu ở các tỉnh ven biển ĐBSCL

Nghề nuôi nghêu ở vùng ĐBSCL tập trung ở các tỉnh: Bến Tre, Tiền Giang, Cần Giờ (TP HCM), một số nơi khác như Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, ở đây mới phát triển và sản lượng còn ít Diện tích nuôi nghêu ở các tỉnh ĐBSCL năm 2003 là: 9.685 ha, trong đó Cần Giờ 2.800ha (sản lượng 22.000 tấn), Bến Tre 4.260 ha sản lượng (53.600 tấn), Tiền Giang 2.000 ha (sản lượng 25.100 tấn),…nguồn cung cấp giống cho các tỉnh chủ yếu từ Bến Tre và Tiền Giang

Một vài năm gần đây, loài nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby) đã được di

Trang 12

giống ra một số tỉnh ven biển phía Bắc nuôi và đạt được kết quả cao (Huỳnh Phước Lợi, 2006)

Nghề nuôi nghêu có ở ĐBSCL hàng chục năm qua, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng chục ngàn dân nghèo ven biển Theo Sở Thuỷ sản Bến Tre,

từ khi con nghêu được thị trường châu Âu công nhận là sản phẩm “sạch”, đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thì nhu cầu chế biến xuất khẩu tăng vọt Các doanh nghiệp tăng cường quảng bá thương hiệu, mở rộng thị trường… sản lượng không đủ cung cấp Giá nghêu thương phẩm tăng lên và nhu cầu nuôi nghêu được mở rộng Con nghêu từ chỗ chẳng ai quan tâm trở thành hàng “đặc sản” xuất khẩu

Bến Tre là tỉnh có diện tích nuôi nghêu và bãi nghêu giống tự nhiên đứng đầu khu vực ĐBSCL và cả nước (Bảng 2.2) Với Bến Tre, diện tích tiềm năng phát triển nhuyễn thể khá lớn, khoảng 15.000 ha đất bãi bồi, cồn nổi, diện tích thực nuôi với trên 3.000 héc ta, hàng năm cung cấp cho thị trường khoảng 10.000 tấn nghêu thương phẩm Diện tích khai thác nghêu giống tự nhiên của Bến Tre cũng trên 480 héc ta, cung cấp khoảng 1.000 tấn nghêu giống cỡ lớn mỗi năm nhưng cũng chỉ đáp ứng chỉ 70% nhu cầu của tỉnh Riêng các tỉnh còn lại do mới hình thành về tổ chức chưa ổn định nên chưa chủ động thả nuôi, chủ yếu là quản lý và khai thác giống tự nhiên

Bảng 2.2 Kết quả nuôi nhuyễn thể ở các tỉnh ven biển ĐBSCL (2006-2007)

Nguồn: Lê Xuân Sinh, 2007 http://www.mekongfish.net.vn

Địa phương

Diện tích tiềm năng (ha)

Diện tích nuôi(ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích nuôi(tấn)

Sản lượng (tấn)

Cần Giờ-HCM 2.000 1.584 15.758 1.372 8.492 Tiền Giang 3.000 2.150 18.852 2.300 15.000

Trang 13

2.3 Tình hình Tổng quan về điều kiện tự nhiên-kinh tế xã hội của Trà Vinh 2.3.1 Điều kiện tự nhiên ở tỉnh Trà Vinh

Vị trí địa lý:

Trà Vinh là tỉnh đồng bằng ven biển, nằm giữa hạ lưu sông Tiền và sông Hậu tiếp giáp biển Đông

- Phía Bắc, Tây – Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long

- Phía Đông giáp tỉnh Bến Tre với sông Cổ Chiên

- Phía Tây giáp Sóc Trăng với sông Hậu

- Phía Nam, Đông – Nam giáp biển Đông với hơn 65 km bờ biển

2.3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội cơ bản vùng nghiên cứu Dân số và lao động

Theo số liêu thống kê 2008 dân số Trà Vinh là 1,062 triệu người Chiêm 6% tổng dân số ĐBSCL Mật độ dân số 463 người/km2

Lao động toàn tỉnh Trà Vinh đến năm 2007 hơn 780 nghìn người (chiếm khoảng 7,4 % dân số toàn ĐBSCL) Nhìn chung dân số Trà Vinh trong những năm gần đây tăng chậm, cơ cấu tuổi thuộc loại cơ cấu nhóm trẻ, tỷ lệ độ tuổi 35 tuổi rất cao đây cũng là một lợi thế để khai thác tiềm năng và lợi thế của tỉnh trong những năm sắp tới (Tổng cục thống kê, 2008)

Lịch sử phát triển và tình hình sử dụng diện tích cho nuôi nghêu

Nghề nuôi nghêu của tỉnh Trà Vinh bắt đầu hình thành vào đầu những năm 1990 của một vài nhóm người nhưng chỉ sau vài năm sau đó do vấn đề mất an ninh và giá nghêu lúc ấy còn thấp nên họ tự giải tán

Gần 10 năm sau, đến đầu năm 1999 chính quyền địa phương và nhân dân trong vùng, sau đó là tổ chức OXFAM Anh đã thấy được tiềm năng và lợi thế của đất bãi bồi ven biển nên đã tổ chức lại sản xuất để phát triển nuôi Qua gần 10 năm thực hiện nhất là từ 5 năm trở lại đây đã có những bước tiến rất rõ Năm 2005, có

Trang 14

1.420 hộ tham gia nuôi trong 6 THT và 2 HTX với tổng diện tích thả nuôi là 670

ha sản lượng thu được là 1.311 tấn Năm 2008, số hộ, THT, HTX, diện tích và sản lượng tăng lên rất đáng kể, tương ứng với 2.988 hộ, 4 HTX và 5 THT, diện tích 2.592 ha và đã thu hoạch hơn 7.000 tấn nghêu thương phẩm (Phân viện Kinh

tế và Quy hoạch (2007) và Sở Thủy sản Trà Vinh (2008)

Về mặc cơ chế và chích sách: Năm 2007, tỉnh đã thực hiện xong việc quy hoạch

và đã giao đất bãi bồi cho các THT và HTX để sản xuất; Có những chính sách trong việc không thu thuế đất và ưu tiên cho các hộ nghèo vay bằng nguồn vốn của ngân hàng chính sách để tham gia góp vốn nuôi nghêu và; Hỗ trợ trong việc

tìm kiếm thị trường đầu ra cho nghêu thương phẩm và đầu vào nghêu giống Hình thức tổ chức và qui mô các Tổ hợp tác nuôi nghêu ở Trà Vinh

Tổ chức nuôi nghêu ở Trà Vinh là theo hình thức THT và HTX Theo kết quả điều tra của Phân viện Kinh tế và Quy hoạch thì tới thời điểm tháng 12/2006 toàn tỉnh có 7 THT và 01 HTX được thành lập, với tổng số xã viên là 1.341 người; tổng vốn góp là 42.956,5 triệu đồng Đến năm 2008,có 5 HTX và 4 THT nuôi nghêu Với tổng số xã viên là 2.988 tăng 1.647 xã viên, số vốn góp được 83,2 tỷ đồng tăng gần gấp đôi so năm 2006

Phong trào nuôi nghêu ở Trà Vinh đang phát triển khá mạnh Với những hiệu quả mà ngành thủy sản và ngư dân đang đạt được đã đánh thức được tiềm năng vùng đất bãi bồi ven biển ở Trà Vinh

2.4 Quản lý nguồn lợi thủy sản dựa trên cơ sở cộng đồng 2.4.1 Một số khái niệm

Phát triển quản lý NTTS dựa và cộng đồng là hình thức quản lý có sự tham gia của người dân, là quá trình phân tích, thuyết phục để người nuôi tự thành lập tổ nhóm cộng đồng tự quản lý lẫn nhau có hiệu quả

Trong hai thập kỉ vừa qua, có rất nhiều nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý nguồn lợi Hầu như các cộng đồng nghề cá quy mô nhỏ đều phát triển hệ thống quản lý dựa vào cộng đồng, một hình thức khác với quản lý nhà nước (FAO, 2000)

Quản lý dựa vào cộng đồng coi thành viên cộng đồng và cộng đồng làm trọng tâm, trong khi đó đồng quản lý lại tập trung vào những vấn đề này cộng với sự phối hợp giữa Chính phủ, cộng đồng đia phương và các bên sử dụng nguồn lợi (Nielsen và Vedsmand, 1999, trích từ Mai Văn Tài)

Ở Việt Nam, hình thức quản lý trên cơ sở cộng đồng đã được áp dụng ở một số cộng đồng miền núi Đối với vùng biển, phá Tam Giang là điểm đầu tiên áp

Trang 15

dụng hình thức quản lý dựa vào cộng đồng Năm 1995-1997, hình thức này được áp dụng ở xã Quãng Thái (Pháp, 2001)

2.4.2 Nguyên lý

Nguyên lý của phương pháp là lấy cộng đồng làm trọng tâm trong việc quản lý nguồn lợi Đưa cộng đồng tham gia trực tiếp vào hệ thống quản lý, họ trực tiếp tham gia trong nhiều công đoạn của quá trình quản lý, từ khâu bàn bạc ban đầu tới việc lên kế hoạch thực hiện, triển khai các hoạt động và nhận xét, đánh giá sau khi thực hiện Đây là hình thức quản lý đi từ dưới lên, thực hiện theo nguyện vọng, nhu cầu thực tế và ý tưởng của chính cộng đồng, trong đó các tổ chức quần chúng đóng vai trò như một công cụ hỗ trợ thúc đẩy cho các hoạt động cộng đồng

2.4.3 Hiệu quả

Mô hình Hợp tác xã quản lý và khai thác nguồn lợi nghêu khu vực ven biển (Bến Tre, Trà Vinh): Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong mô hình này là khá toàn diện, từ các hoạt động quản lý, bảo vệ đến khai thác, bán sản phẩm, kể cả việc bảo vệ nguồn lợi ven biển khác như bảo vệ rừng ngập mặn Nhờ mô hình này, nguồn lợi nghêu tại địa phương đã được phục hồi và cho sản lượng lớn hằng năm Có được sản phẩm, hợp tác xã còn chịu trách nhiệm phân phối lợi ích lại cho các xã viên theo tỷ lệ được thống nhất và công bố công khai

Hiệu quả trong công tác quản lý:

Các quy định quản lý được tuân thủ tốt hơn do quản lý dựa trên nhu cầu – hướng tới nhu cầu thật sự của các bên liên quan

Chi phí quản lý thấp hơn trong mối tương quan với hiệu quả đạt được

Sự phối hợp, mức độ tham gia và trách nhiệm đối với việc sử dụng nguồn lợi bền vững được tăng cường từ các bên liên quan vì người sử dụng nguồn lợi cũng là người quản lý nguồn lợi, nên dẫn đến kết quả là nguồn lợi thủy sản được bảo tồn

Từ kết quả tốt của việc bảo tồn cơ sở nguồn lợi thủy sản đã tác động tích cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh thủy sản, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống kinh tế của cộng đồng ngư dân

Trang 16

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm

 Đề tài được thực hiện từ tháng 11/2009 đến tháng 5/2010

 Địa điểm tại: xã Hiệp Thạnh (huyện Duyên Hải) và xã Mỹ Long Nam (huyện Cầu Ngang ) tỉnh Trà Vinh

Số liệu về diện tích, sản lượng các vùng nuôi nghêu được thu thập từ sở nông nghiệp phát triển nông thôn, trung tâm khuyến nông – khuyến ngư tỉnh Trà Vinh

Đánh giá tình hình phát triển qua báo cáo tổng kết hàng năm của tỉnh

Bãi nghêu Thành Công xã Mỹ Long Nam

Bãi nghêu Ba Vinh xã Hiệp Thạnh

Trang 17

Nguồn thông tin: là những tư liệu có sẵn, các tài liệu xuất bản hoặc không xuất bản như các báo cáo, thống kê, bản đồ, chính sách, các chủ trương, kế hoạch và nghiên cứu có trước

Số liệu điều tra

Phương thức quản lý và các kỹ thuật áp dụng được tìm hiểu thông qua phỏng vấn mở (cán bộ chủ nhiệm HTX, cán bộ huyện, xã thuộc ngành có liên quan đến

sự phát triển của nghề nuôi nghêu ở địa bàn nghiên cứu)

Số liệu định lượng về kinh tế xã hội được thu thập thông qua biểu mẫu điều tra ngẫu nhiên 30 xã viên nuôi nghêu ở mỗi huyện

Biểu mẫu điều tra sẽ được sẽ được phỏng vấn thử và hiệu chỉnh cho phù hợp với thực tiễn của địa phương trước khi tiến hành khảo sát

Biểu mẫu điều tra sẽ được biên soạn dựa trên bảng thiết kế sơ đồ giản lượt (Schema Diagran) (Phụ lục 1)

3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu sau khi thu thập được kiểm tra, phân tích trước khi nhập vào máy tính

Sử dụng phần mềm Excel for Windows để làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá và viết báo cáo

Trang 18

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Hiện trạng nghề nuôi nghêu ở Trà Vinh 4.1.1 Tình hình nuôi

Trà Vinh là tỉnh có diện tích nuôi nghêu (2.592 ha) đứng thứ 3 trong vùng ĐGSCL sau Bến Tre và Tiền Giang Sản lượng nuôi nghêu tăng nhanh từ 2000-

2003 với sản lượng thu hoạch nghêu giống và nghêu thịt cao nhất là 6.000 tấn, và giảm rất nhanh trong năm 2004-2006 Đây là tình hình chung của các tỉnh ĐBSCL do nguồn nghêu giống khan hiếm nên người dân không đủ nghêu giống

để thả nuôi đã ảnh hưởng đến sản lượng nuôi Tuy nhiên, sản lượng nghêu ở tỉnh

có xu hướng tăng từ 2006 đến 2008 sản lượng đạt 7.600 tấn do diện tích nuôi tăng (Nguyễn Thanh Tùng, 2009) Sự biến động về diện tích và sản lượng nghêu

ở tỉnh Trà Vinh được trình bày trong Hình 4.1

0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000

Năm

Diện tích (ha) sản lượng (tấn)

Hình 4.1 Diện tích và sản lượng nuôi nghêu ở Trà Vinh (2000-2008) Qua hình trên cho thấy diên tích và sản lượng có biến động lớn từ 2000-2004, nhưng diện tích và sản lượng tăng đáng kể từ 2005-2008

Tỉnh Trà Vinh có 3.783 ha đất bãi bồi ven biển được nông dân các huyện Duyên Hải, Cầu Ngang và Châu Thành khai thác nuôi nghêu Tổ chức sản xuất nuôi nghêu hiện nay ở tỉnh phần lớn là theo hình thức THT và HTX nghề nuôi nghêu

đã thu hút 2.988 hộ tham gia sản xuất tại 04 hợp tác xã và 05 tổ hợp tác nuôi nghêu (Sở NN&PTNT tỉnh Trà Vinh, 2008)

Trang 19

4.1.2 Hiện trạng nguồn giống

Theo Sở NN&PTNT Trà Vinh (2010), tổng lượng nghêu giống 235 tấn nghêu giống đã được thả nuôi ở tỉnh Trà Vinh trong năm 2009 Theo kế hoạch năm

2010, các huyện Cầu Ngang, Duyên Hải và Châu Thành có kế hoạch thả nuôi khoảng 400 - 500 tấn nghêu giống trên diện tích 3.500 ha đất bãi bồi

Hiện nay trong điều kiện giống khan hiếm và giá cao 170 – 180 đồng/con (105 con/kg) tăng cao gấp 1,5-2 lần so với năm 2008 Các HTX và Tổ hợp tác ở Trà Vinh phải sang tận Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh), Bến Tre,…mua giống với giá cao (cao hơn 2 lần so với bình thường)

Thực trạng hiện nay là tình hình an ninh tại các bãi nghêu giống rất phức tạp Tình trạng người dân tâp trung lực lượng đông để trộm cắp, dẫn đến tranh giành,

xô xát, thậm chí chống trả cả người thi hành công vụ đã diễn ra ngày càng phổ biến hơn Việc quản lý và khai thác nguồn lợi nghêu càng trở nên khó khăn Theo Lê Xuân Sinh (2007), nguồn nghêu giống chỉ đáp ứng được 5-10% nhu cầu

về giống cho nghề nuôi nghêu của tỉnh Phần còn lại 90-95% lượng nghêu giống

là phụ thuộc vào khả năng cung cấp của các tỉnh khác chủ yếu 2 tỉnh Tiền Giang

và Bến Tre

Giống nhân tạo đã sản xuất thành công nhiều năm nhưng việc triển khai nhân rộng còn chậm Hiện tại việc sản xuất giống nghêu chỉ mới bắt đầu thành công bước đầu (tại tỉnh Tiền Giang), Bến Tre liên kết với Đại Học Trung Sơn (Trung Quốc) Năm 2009, đã sản xuất được gần 100 triệu con/năm cỡ 113.000 con/kg (Trung tâm giống thủy sản Tiền Giang, 2008)

Nếu việc sản xuất giống nhân tạo thành công sẽ mở ra hy vọng rất lớn để phát triển nghề nuôi nghêu ở khu vực ven biển ĐBSCL trong những năm sắp tới

4.2 Phương thức quản lý nghêu của HTX 4.2.1 Cấp nhà nước

Hầu hết các bãi nghêu được quản lý bởi chính quyền xã Dưới xã là các HTX trực tiếp điều hành lao động chăm sóc, bảo vệ, thu hoạch, phân phối sản phẩm và lợi nhuận thu được từ nghêu (Hình 4.2)

Trang 20

Hình 4.2 Sơ đồ hệ thống quản lý khai thác và nuôi nghêu ở tỉnh Trà Vinh Trong đó:

(1) Sở NN & PTNT tỉnh Trà Vinh: quản lý Ủy ban nhân dân huyện về mặt nhân lực, kỹ thuật, bộ máy hoạt động

(2) UBND huyện quản lý: Phòng thủy sản huyện về mặt hành chính, pháp luật (3) Phòng thủy sản huyện: hỗ trợ HTX nuôi nghêu về chuyên môn kỹ thuật (4) Liên minh HTX: hỗ trợ trực tiếp HTX áp dụng thi hành luật HTX và là cầu nối giữa các HTX trong địa phương

(5) Lực lượng công an, bộ đội biên phòng: hỗ trợ quản lý an ninh trật tự xã hội (6) HTX: với bộ máy quản lý do xã viên bầu, quản lý tất cả các hoạt động và tài chính của HTX

4.2.2 Cấp cộng đồng

Các HTX được thành lập trên cơ sở hợp nhất giữa các hộ gia đình trong ấp Đa

số là những hộ nghèo không có đất, không có cơ sở sản xuất, cùng nhau góp vốn vào HTX để sản xuất và cùng chia lợi nhuận

Hai HTX được khảo sát trong nghiên cứu này được trình bày tóm tắt trong Hình 4.3 & 4.4

HTX Ba Vinh, ở xã Hiệp Thạnh thành lập năm 2007 trên nền tảng từ tổ hợp tác

(1999-2006) và được Ủy ban nhân dân huyện Duyên Hải cấp giấy phép hoạt động Xã viên đã bầu ra bộ máy vừa quản lý vừa điều hành (Hình 4.3)

bộ đội biên phòng

Trang 21

Công tác tổ chức quản lý điều hành

Hình 4.3 Cơ cấu tổ chức HTX Ba Vinh

HTX nuôi nghêu Thành Công, ở xã Mỹ Long Nam vừa thành lập năm 2009,

được Sở kế hoạch đầu tư cấp giấy phép hoạt động, có sự đồng ý của liên minh HTX của tỉnh (Hình 4.4) HTX có số lượng xã viên nhiều nên cơ cấu tổ chức nhiều thành viên và thành lập 14 tổ trưởng để quản lý Do mới thành lập HTX nên các thành viên Ban quản trị và ban chủ nhiệm chưa thống nhất trong quan điểm quản lý

Đại hội đại biểu xã viên

Ban quản trị kiêm chủ nhiệm

Kiểm soát viên

P chủ nhiệm Thành viên BQT

Đội bảo vệ sân nghêu

Các tổ trưởng quản lý xã viên

Giám sát điều lệ HTX, cập nhật mọi thông tin và mọi chi phí trong sản xuất

Kế toán tài vụ kiêm thủ quỹ

Trang 22

Hình 4.4 Cơ cấu tổ chức HTX Thành Công

Đại hội xã viên hoặc Đại hội đại biểu xã viên có quyền quyết định cao nhất của HTX Đại hội bầu ra ban quản trị, ban chủ nhiệm (5-10 người) để thực hiện công tác quản lý và kinh doanh nghêu

Qua khảo sát cho thấy cơ cấu tổ chức giữa 2 HTX có vài điểm khác nhau:

Trong HTX Ba Vinh các thành viên ban quản trị cũng là ban chủ nhiệm chịu trách nhiệm các hoạt động trong HTX, các thành viên này đã hoạt động hơn 10 năm nên có nhiều kinh nghiệm trong quản lý cũng như sản xuất

Cơ cấu tổ chức HTX Thành Công tách rời ban quản trị và ban chủ nhiệm riêng biệt quản lý ở các lãnh vực khác nhau Do trình độ năng lực cán bộ quản lý điều hành chưa cao, chưa đồng bộ, nên giải quyết những khó khăn không kịp thời làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất Bên cạnh, hoạt động của ban kiểm soát chưa phân công trách nhiệm cụ thể nên từ đó hoạt động kém hiệu quả

Chi phí quản lý của HTX Thành Công cao hơn do ngoài việc trả lương cho đội bảo vệ (5,5 triệu/tháng) còn có lương cho ban quản trị, ban chủ nhiệm và các tổ trưởng (7,7 triệu/tháng), riêng HTX Ba Vinh chỉ trả lương cho bảo vệ (4,1 triệu/tháng)

Nhiệm vụ cụ thể của từng ban được trình bày trong Bảng 4.1

Đại hội đại biểu xã viên

Ban quản trị Ban kiểm soát Ban chủ nhiệm

Các tổ trưởng quản

lý xã viên

P chủ nhiệm P chủ nhiệm

Tổ chức hành chính, kinh doanh

An ninh, bảo vệ, sữa chữa sân bãi

Chủ nhiệm

Phụ trách chung

Trang 23

Bảng 4.1 Các khâu quản lý của HTX

Các khâu quản lý chung

Nhiệm vụ

Ban quản trị - Quản lý điều hành mọi công việc của HTX

- quản lý tài chính, kế toán trong HTX

Ban kiểm soát - Giám sát mọi hoạt động HTX theo luật HTX

- Kiểm tra mọi chi phí trong sản xuất

Ban chủ nhiệm

- Tổ chức lao động và quản lý nghêu

- Sản xuất kinh doanh: nuôi, khai thác nghêu và phát triển các ngành nghề khác

- Thực hiện trách nhiệm với cộng đồng địa phương

Các hoạt động của HTX quản lý dựa trên điều lệ và quy chế, trước khi vào thực thi các điều lệ, quy chế thông qua đại hội xã viên thống nhất, tất cả dựa vào luật pháp và công bằng trong HTX

Đội bảo vệ: Ban quản trị sẽ ký hợp đồng thuê đội bảo vệ (4-5 người) thường xuyên để canh giữ bãi nghêu, riêng HTX Thành Công do đội bảo vệ thường xuyên thay đổi nên quá trình quản lý gặp nhiều khó khăn Bộ phận bảo vệ có ban chỉ huy đội, gồm 1 đội trưởng và 3-4 đội phó Thông tin về 2 HTX nghiên cứu được trình bày qua Bảng 4.2

Tỷ lệ hộ xã viên /tổng số xã viên

Tổng số vốn (triệu đồng)

Trang 24

HTX Ba Vinh cĩ 102 xã viên, chia làm 8 tổ, trong tổng số vốn hoạt động thì cĩ 100% vốn xã viên, số vốn mỗi hộ gĩp từ 10 - 150 triệu, riêng HTX Thành Cơng

cĩ 298 xã viên chia làm 14 tổ trong tổng số vốn hoạt động thì cĩ 66,5% vốn dự

án Oxfam Anh đầu tư và 33,5% là vốn xã viên (mỗi hộ xã viên gĩp vốn từ

0,5-20 triêu đồng/vụ)

HTX Thành Cơng do mới thành lập nên cĩ sự thống nhất chưa cao giữa các xã viên Bên cạnh đĩ, người dân nơi đây cịn nhiều khĩ khăn về kinh tế, vì vậy nguồn vốn gĩp của xã viên cịn hạn chế so với HTX Ba Vinh dẫn đến nguồn vốn khơng đủ cho hoạt động sản xuất và vấn đề giá con giống cao làm hạn chế phần thu nhập của HTX Thành Cơng

Hoạt động tài chính

HTX cĩ 2 nguồn thu: từ nguồn lợi khai thác tự nhiên trên đất bãi bồi đựơc Nhà Nước giao quản lý và từ nuơi nghêu thương phẩm Việc hạch tốn và phân phối lợi nhuận giữa 2 nguồn thu đĩ được Nhà Nước, liên minh HTX và xã viên quy định Nghêu sẽ được khai thác và bán thơng qua hình thức đấu giá (Hình 4.5)

Hình 4.5 Hình thức khai thác và bán nghêu Trong báo cáo “Nghiên cứu thị trường hỗ trợ sự phát triển của nghành hàng nghêu ở Trà Vinh” của Lê Xuân Sinh & ctv (2007) và thơng tin từ các HTX cung cấp, thì nghêu thịt từ bãi cho tới tay người tiêu dùng thơng qua rất nhiều trung gian, phần lớn là phải qua thương lái hơn 90%, cịn lại khoảng 10% cho các đại

lý mua bán lẻ tiêu thụ nội địa, đặc biệt là các THT/HTX và các cơ sở nuơi rất khĩ tiếp cận với các nhà máy chế biến xuất khẩu, giữa NMCBXK và người nuơi nghêu trong thời gian qua chưa kết nối được với nhau nên việc mua bán nghêu thương phẩm phụ thuộc hồn tồn vào thương lái ở các tỉnh khác nên nghêu được bán theo hình thức đấu giá như hiện nay Đây là một vấn đề cần được

HTX lập kế hoạch Chính quyền địa phương duyệt

HTX định giá sàn Mời thương lái đấu giá

Đặt tiền cọc 10%

Làm hợp đồng nếu trúng giá

Trả tiền cọc nếu khơng trúng giá

Mất tiền cọc khi khơng đấu giá

Trang 25

khắc phục trong tương lai để tăng hiệu quả sản xuất và tính ổn định cho sự phát triển của các HTX và THT ở Trà Vinh

Mọi hoạt động thu chi của HTX đều công khai, minh bạch, dân chủ, xã viên cùng biết, cùng bàn, cùng thực hiện dựa trên quy chế, quy định đại hội xã viên thông qua

4.2.3 Hiệu quả kinh tế

Theo kết quả điều tra vụ nuôi (2008-2009 ) của 2 HTX, với năng suất bình quân đạt khoảng 9 tấn/ha, thu được lợi nhuận 66-200 triệu đồng/ha Việc đầu tư chủ yếu là để mua giống Ngoài nguồn thu nhập từ nghêu thịt, các HTX còn có thu nhập thêm từ nghêu cám, do nguồn nghêu cám hằng năm nhiều nhưng các HTX này không thể ương lên nghêu thịt hoặc nghêu giống nên đã khai thác và bán cho các vùng ương giống khác, tuy nhiên nguồn thu này rất ít so với các nguồn thu khác (chiếm 0,7-1%)

Bảng 4.3 Hạch toán kinh tế của 2 HTX

Các khoản thu và chi HTX Ba Vinh

(triệu đồng/vụ)

HTX Thành Công (triệu đồng/vụ)

Thu Vốn góp của xã viên Vốn vay

Nguồn lợi nghêu cám Nguồn lợi nghêu thả nuôi Tổng thu

8402 2,72 1,5

3335 1,80 0,75

Qua kết quả trên chúng ta nhận thấy có sự chênh lệch về lợi nhuận giữa các HTX Có nhiều nguyên nhân tạo nên sự khác biệt giữa 2 HTX này, trong đó thời gian hình thành, điều kiện tự nhiên, khả năng đầu tư và cách tổ chức quản lý điều

Ngày đăng: 09/04/2018, 21:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm