NGUYỄN THỊ KIM THOA SO SÁNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH - KỸ THUẬT CỦA CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM SÚ Penaeus monodon THÂM CANH VÀTÔM THẺ CHÂN TRẮNG Penaeus vannamei Ở TỈNH BẾN TRE LUẬN VĂN TỐ
Trang 1NGUYỄN THỊ KIM THOA
SO SÁNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH - KỸ THUẬT
CỦA CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon) THÂM CANH VÀTÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus
vannamei) Ở TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
2011
Trang 2KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ KIM THOA
SO SÁNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH - KỸ THUẬT
CỦA CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon) THÂM CANH VÀ TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus
Trang 3Xin chân thành cảm ơn các bạn trong nhóm luận văn lớp Quản Lý Nghề Cá K34 đã hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Tác giả
NGUYỄN THỊ KIM THOA
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “So sánh một số chỉ tiêu tài chính-kỹ thuật của mô hình nuôi thâm canh
tôm sú (Penaeus monodon) và tôm thẻ chân trắng ( Penaeus vanamei) ở tỉnh
Bến Tre được thực hiện từ tháng 08/2011 đến tháng 12/2011 tại 3 huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú Đề tài đã phỏng vấn trực tiếp 32 hộ nuôi tôm sú thâm canh và 33 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng nhằm so sánh hiệu quả tài chính-kỹ thuật, thuận lợi và khó khăn của hai mô hình nuôi thâm canh tôm sú và tôm thẻ chân trắng
Diện tích và sản lượng nuôi tôm thẻ chân trắng có xu hướng tăng trong khi diện tích và sản lượng mô hình nuôi tôm sú đang giảm dần trong thời gian qua.Mật độ thả giống trung bình của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng là 82,03±21,82 con/m2 ở vụ 1 và 96,28±27,37 con/m2 ở vụ 2 cao hơn gấp 2 lần mật độ thả giống trung bình của mô hình nuôi tôm sú vụ 1 là 38,66±8,47 con/m2 và vụ 2 là 51,17±25,14 con/m2 Năng suất trung bình của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng là 9.280±3.144 kg/ha/vụ ở vụ 1 và vụ 2 là 10.048±3.903 kh/ha/vụ cao hơn có ý nghĩa thống kê đối với mô hình nuôi tôm
sú vụ 1 là 7515.±1601 kg/ha/vụ và vụ 2 là 6810±2997 kg/ha/vụ nhưng giá bán của tôm sú trung bình là 143,07±49,59 nghìn đồng/kg ở vụ 1 và 136,08±53,58 nghìn đồng/kg vụ 2 cao hơn giá bán của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng là 110,21±31,64 nghìn đồng/kg vụ 1 và 101,49±14,77 nghìn đồng/kg ở vụ 2 Lợi nhuận mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng là 769±507triệu/ha/năm đạt tỷ suất lợi nhuận 63±41%, mô nuôi tôm sú là 601±167 triệu/ha/năm đạt tỷ suất lợi nhuận 74±69%, lợi nhuận giữa 2 mô hình không có khác biệt về ý nghĩa thống
kê Cả hai mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm sú đều gặp khó khăn về chi phí đầu vào cao và giá bán không ổn định
Nhìn chung, nếu xét về mặt kỹ thuật, mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng có những ưu điểm nổi trội hơn mô hình nuôi tôm sú như mật độ nuôi cao, thời gian nuôi ngắn, nuôi được nhiều vụ trong năm nhưng xét về khía cạnh tài chính thì cả hai mô hình đều mang lại lợi nhuận tương tự nhau Từ các đặc điểm trên, nếu nuôi tôm thẻ chân trắng được đầu tư đúng mức thì có thể mang lại lợi nhuận cao hơn nuôi tôm sú Tuy nhiên, cần có sự quản lý của cơ quan nhà nước và quy hoạch vùng nuôi cụ thể để phát triển bền vững cả hai mô hình nuôi thâm canh tôm sú và tôm thẻ chân trắng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH viii
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT…….………ix
Chương I GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
Chương II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Giới thiệu sơ lược về tôm sú và tôm thê chân trắng 3
2.1.1 Vị trí phân loại 3
2.1.2 Phân bố 3
2.1.2 Đặc điểm dinh dưỡng 3
2.1.3 Tập tính bắt mồi của tôm 4
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 4
2.1.5 Sinh sản 4
2.2 Tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng trên thế giới 5
2.2.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản trên thế giới 5
2.2.2 Tôm Sú 6
2.2.3 Tôm thẻ chân trắng 6
2.3 Tình hình nuôi tôm sú và thẻ chân trắng ở Việt Nam và ĐBSCL 7
2.3.1 Tình hình chung 7
2.3.2 Tôm sú 9
2.3.3 Tôm thẻ chân trắng 10
2.4 Các mô hình nuôi tôm ở Việt Nam và ĐBSCL 11
2.5 Tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở Bến Tre 12
Trang 62.5.1 Tôm sú 13
2.5.2 Tôm thẻ chân trắng 13
2.6 Điều kiện tự nhiên 14
2.7 Tài nguyên thiên nhiên 15
Chương III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
3.1.1 Thời gian nghiên cứu 17
3.1.2 Địa điểm và đối tượng nghiên cứu 17
3.2 Phương pháp nghiên cứu 17
3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu 17
3.2.1 Thông tin thứ cấp 17
3.2.2 Thông tin sơ cấp 17
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 19
Chương IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng hiện nay ở tỉnh Bến Tre 20
4.2 Khía cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng thâm canh 22
4.2.1 Kết cấu ao nuôi 22
4.2.2 Thời vụ nuôi 25
4.2.4 Quản lý ao nuôi 27
4.2.5 Thả giống 30
4.2.6 Thu hoạch 32
4.3 Khía cạnh tài chính của mô hình nuôi TC tôm sú và TCT 34
4.3.1 Chi phí cố định 34
4.3.2 Chi phí biến đổi 35
4.3.3 Tổng thu 40
4.3.4 Hiệu quả tài chính 41
4.4 Nhận thức của người nuôi 43
4.4.1 Nhận thức về môi trường nước 43
Trang 74.4.2 Thuận lợi khi thực hiện mô hình nuôi 45
4.4.3 Khó khăn khi thực hiện mô hình 46
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 49
5.1 Kết luận 49
5.2: Đề xuất 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 54
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Sản lượng các loài tôm nuôi chính trên thế giới 6
Bảng 2.2: Tổng hợp kết quả sản xuất thủy sản một số tỉnh trọng điểm 8
Bảng 2.3: Kết quả sản xuất thủy sản tháng 7 năm 2011 8
Bảng 2.4 : Sản lượng tôm nuôi theo địa phương 9
Bảng 2.5: Diện tích nuôi tôm lợ, mặn của tỉnh Bến Tre từ 2006-2010 13
Bảng 4.1: Kết cấu mô hình nuôi tôm sú và tôm TCT thâm canh 22
Bảng 4.2: Thời gian nuôi thực của mô hình nuôi TC tôm sú và tôm TCT 27
Bảng 4.3: Nơi chứa bùn sên vét 28
Bảng 4.4: Tình hình thay nước ở các hộ nuôi tôm sú TC và tôm TCT 30
Bảng 4.5: Mật độ thả vụ 1 và kích cỡ con giống của mô hình nuôi TC tôm sú và tôm TCT 31
Bảng 4.6: Mật độ thả vụ 2 và kích cỡ con giống của mô hình nuôi TC tôm sú và tôm TCT 31
Bảng 4.7: Tình hình thu hoạch vụ 1 của mô hình nuôi TC tôm sú và tôm TCT 33
Bảng 4.8: Chi phí cố định và chi phí khấu hao của mô hình nuôi thâm canh tôm sú và tôm TCT 34
Bảng 4.9: Cơ cấu chi phí cố định của mô hình nuôi tôm sú và tôm TCT thâm canh 35
Bảng 4.10: Chi phí biến đổi vụ 1 của mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng thâm canh 36
Bảng 4.11: Cơ cấu chi phí biến đổi vụ 1 của mô hình nuôi tôm sú và tôm TCT thâm canh 36
Bảng 4.12: Chi phí biến đổi vụ 1 của mô hình nuôi tôm sú và tôm TCT thâm canh 36
Bảng 4.13: Cơ cấu chi phí biến đổi vụ 1 của mô hình nuôi tôm sú và tôm TCT thâm canh 37
Bảng 4.14: Chi phí biến đổi của mô hình nuôi TC tôm sú và tôm TCT 38
Trang 9Bảng 4.15: Cơ cấu chi phí biến đổi cả năm của mô hình nuôi TC tôm sú và
tôm TCT 39
Bảng 4.16 : Tổng chi phí mô hình nuôi tôm sú và tôm TCT 40
Bảng 4.17: Giá bán tôm sú và tôm TCT 40
Bảng 4.18: Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi TC tôm sú và tôm TCT 42
Bảng 4.20: Thuận lợi khi thực hiện mô hình nuôi tôm sú 45
Bảng 4.21 : Thuận lợi khi thực hiện mô hình nuôi tôm TCT 46
Bảng 4.22: Khó khăn khi thực hiện mô hình nuôi tôm sú 47
Bảng 4.23: Khó khăn của mô hình nuôi tôm TCT….……… …48
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Bến Tre đến năm 2020 14 Hình 2.2: Bản đồ tỉnh Bến Tre 15 Hình 4.3: Cơ cấu DT hộ nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Bến Tre 23 Hình 4.4: Cơ cấu diện tích ao nuôi TC tôm sú và tôm thẻ chân trắng 24 Hình 4.5: Thời điểm thả giống vụ 1 của mô hình TC tôm sú và tôm thẻ chân trắng 25 Hình 4.6: Thời điểm thả giống vụ 2 của mô hình TC tôm sú và tôm thẻ chân trắng 26 Hình 4.7: Thời điểm thu hoạch vụ 1 của mô hình TC tôm sú và tôm thẻ 26 Hình 4.8: Thời điểm thu hoạch vụ 2 của mô hình TC tôm sú và tôm thẻ 27 Hình 4.9: Đánh giá chất lượng ao lắng trong mô hình nuôi tôm sú và thẻ chân trắng 29 Hình 4.10: Chất lượng con giống tôm sú và tôm thẻ chân trắng 31 Hình 4.11: Nguồn gốc con giống tôm sú và tôm thẻ chân trắng 32 Hình 4.12 : Hiện trạng môi trường nước hiện nay của mô hình nuôi TC tôm sú
và tôm thẻ chân trắng 43 Hình 4.13: Hiện trạng môi trường nước hiện nay so với trước của mô hình nuôi TC tôm sú và tôm thẻ chân trắng 44 Hình 4.14: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng đối với môi trường nước công cộng 45
Trang 11FAO : Food and Agriculture Organization of the Unitied Nation
FCR : Food Conversion Ratio
NN&PTNT : Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
NTTS : Nuôi Trồng Thủy Sản
TC : Thâm canh
TCT : Thẻ chân trắng
Trang 12Chương I GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề
Nuôi trồng thủy sản cung cấp một phần thực phẩm quan trọng, tạo công ăn việc làm cho nhiều người trên thế giới Ở nước ta, nuôi trồng thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn đã và đang góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo an ninh thực phẩm, nguyên liệu cho chế biến, tạo công ăn việc làm xóa đói giảm nghèo Nuôi tôm biển đã trở thành hoạt động quan trọng nhất và là mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 1999-2010 (224/1999/QĐ – TTg) Theo báo cáo của Bộ Thủy Sản (2004) thì năm 2003, diện tích nuôi nước lợ và mặn đạt khoảng 573.137 ha, trong đó có 546.000 ha là diện tích nuôi tôm và tổng sản lượng tôm nuôi đạt xấp xỉ 200.000 tấn và có khoảng 80% sản lượng là ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (Tạp chí Khoa học, 2006) Đối tượng nuôi chủ yếu trước đây là con tôm
sú đóng vai trò chủ lực, tuy nhiên trong những năm gần đây người nuôi không
có lãi do chi phí đầu tư cao, bệnh tật thường xuyên xảy ra gây thiệt hại lớn cho người dân, giá bán lại thấp nên tôm thẻ chân trắng được đưa vào nuôi thử nghiệm năm 2002 Tôm thẻ chân trắng có đặc tính phát triển tốt cho năng suất cao, giá thành thấp, góp phần đa dạng hoá đối tượng nuôi và sản phẩm xuất khẩu Tuy nhiên, tôm thẻ chân trắng có những nhược điểm cơ bản như thường mắc những bệnh của tôm sú, mang hội chứng Taura gây nên dịch bệnh lớn ở Nam Mỹ (1999- 2000) và các bệnh khác có thể nhiễm sang các đối tượng tôm bản địa, làm mất an ninh sinh thái và ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, có thể gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất thủy sản và môi trường tự nhiên
Theo Bộ NN&PTNT hàu Thái Bình Dương và tôm TCT đang là đối tượng nuôi chủ đạo của ngành thủy sản Việt Nam Tuy nhiên, Ngày 9-8, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chính thức đưa ra quan điểm bằng Thông tư 22 về việc quy định tiêu chí xác định loài ngoại lai xâm hại, trong đó đưa tôm thẻ chân trắng (TCT) vào danh mục loài có nguy cơ xâm hại (Trà Phương và Hoàng Vân, 2011)
Ở Bến Tre, con tôm sú vẫn đóng vai trò chủ lực, tuy nhiên tôm sú nuôi tại các
xã ven biển trên địa bàn tỉnh thường xảy ra bệnh đốm trắng và dịch bệnh Năm
2005, UBND tỉnh Bến Tre thông báo về việc áp dụng biện pháp cắt vụ để phòng ngừa dịch bệnh xảy ra đối với tôm sú năm 2005 và vụ nuôi chính năm
2006 (Hải Đăng, 2005) Năm 2011, UBND tỉnh Bến Tre đã chỉ đạo: Từ ngày 1/5/2011, tạm ngưng nhập, thả giống tôm sú nuôi với mọi hình thức trên địa
Trang 13bàn huyện Bình Đại, đến khi có văn bản chỉ đạo mới của UBND tỉnh (Báo Nông Nghiệp Việt Nam, 2011)
Song song đó, sau khi có Chỉ thị 228 của Bộ NN&PTNT cho phép các tỉnh ĐBSCL được nuôi tôm chân trắng Bến Tre đã di nhập giống và nuôi thử nghiệm ở một số địa bàn như Bình Đại, Thạnh Phú, Ba Tri, chủ yếu nuôi thâm canh với mật độ 80-100 con/m2.Nhằm phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng trên địa bàn tỉnh theo hướng ổn định và bền vững, góp phần thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản
Nuôi tôm sú và thẻ chân trắng ở Bến Tre đã và đang góp phần tạo việc làm, ổn định đời sống của người dân các huyện ven biển Tuy nhiên hiệu quả từ hai
mô hình này những năm gần đây có sự thay đổi do con tôm thẻ chân trắng
đang chiếm dần vị trí quan trọng Vì vậy đề tài “So sánh một số chỉ tiêu tài
chính - kỹ thuật của mô hình nuôi tôm sú thâm canh và tôm thẻ chân trắng
ở tỉnh Bến Tre” đã được thực hiện nhằm để giúp người nuôi và các nhà quản
lý thủy sản nắm được tình hình sản xuất của hai mô hình nuôi thủy sản này để lựa chọn sản xuất đem lại thu nhập cao cho gia đình và xã hội
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
So sánh hiệu quả tài chính - kỹ thuật của mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng thâm canh nhằm cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc quản lý nghề nuôi trồng thủy sản ven biển
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát hiện trạng mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng thâm canh
- So sánh hiệu quả tài chính - kỹ thuật của 2 mô hình nghiên cứu
- Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng thâm canh
Trang 14Chương II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu sơ lược về tôm sú và tôm thê chân trắng
Loài: P vannamei ( Booone, 1931)
Loài: P monodon (Fabricius, 1798)
2.1.2 Phân bố
a Tôm sú
Trên thế giới: Tôm sú phân bố từ châu Phi, Pakistan đến Nhật, châu Úc Ở Việt Nam: Tôm sú có ở vùng biển miền Trung và Nam bộ (Nguyễn Khắc Hường, 2003)
2.1.2 Đặc điểm dinh dưỡng
Protein là thành phần quan trọng nhất có trong thức ăn, có vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ thể, cung cấp năng lượng và các axitamin thiết yếu (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004) Nhu cầu protein của tôm
thẻ chân trắng (20-35%) thấp hơn tôm sú (36-40%) (Biggs et al., 2004)
Trang 15Chất béo có vai trò quan trọng đối với tôm, vì chúng cung cấp nhiều năng lượng, axit béo cao phân tử không no, phospholipids và vitamin Nguồn lipit tốt nhất cho tôm là từ động vật biển như dầu mực, dầu cá…hàm lượng lipit cần thiết trong thức ăn của tôm khoảng 6-7.5% (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004)
2.1.3 Tập tính bắt mồi của tôm
a Tôm sú
Tôm sú ăn tạp, có thể tận dụng các nguồn đạm động, thực vật cao hơn các loại tôm khác Trời tối hoặc ít sáng tôm sú bắt mồi mạnh hơn (Nguyễn Khắc Hường, 2003)
b Tôm thẻ chân trắng
Trong tự nhiên, tôm thẻ chân trắng là loài có tập tính ăn đêm Ban ngày chúng đào hang, vùi mình xuống bùn và không tìm kiếm thức ăn Tuy nhiên, trong điều kiện ao nuôi tôm bị kích thích bởi thức ăn (Wyban and Sweeney, 1991)
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Trong quá trình lớn lên, tôm trải qua nhiều lần lột xác Tốc độ tăng trưởng của tôm phụ thuộc vào hai yếu tố: thời gian mỗi lần lột xác và lượng tăng thêm sau mỗi lần lột xác Thời gian giữa hai lần lột xác phụ thuộc vào kích cỡ tôm: ở giai đoạn ấu trùng, cứ khoảng 30-40 phút thì lột xác một lần, với trọng lượng
từ 1-5 g thì 4-6 ngày lột xác một lần và trọng lượng 15g có thể 2 tuần lột xác một lần Ngoài ra các yếu tố như điều kiện môi trường, dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến tần số lột xác của tôm, trong điều kiện môi trường có nhiệt độ nước cao thì tần số lột xác của tôm tăng (Wyban and Sweeney, 1991) Tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2006)
Theo Briggs et al (2004) châu Á tôm thẻ chân trắng tăng trưởng (1-1,5 g/tuần)
nhanh hơn tôm sú (1 g/tuần)
Trang 16trứng Tôm thành thục nhờ cắt mắt đẻ 200.000-300.000 (Phạm Văn Trang và
ctv, 2003)
b Tôm thẻ chân trắng
Tôm thẻ chân trắng là loài có thelycum hở, thường chỉ giao vĩ khi trứng đã chín hoàn toàn Tôm thẻ chân trắng có thói quen giao vĩ trước hoặc sau khi hoàn hôn và thường kéo dài 3-16 giây Sau khi giao vĩ 1- 2 giờ tôm bắt đầu đẻ trứng Trứng thụ tinh sau 16 giờ bắt đầu nở và trở thành Nauplius (Wyban and Sweeney, 1991)
Lượng trứng trên một con cái đẻ ra dao động trong khoảng 100.000 -140.000 trứng đối với con cái có trọng lượng 30-35 g và trong khoảng 150.000-200.000 trứng đối với con cái có trọng lượng 40-45 g (FAO, 2003)
2.2 Tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng trên thế giới
2.2.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản trên thế giới
Thủy sản là một trong những nghành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới và là nguồn thực phẩm quan trọng không thể thiếu của cộng đồng người Năm 2003, tổng sản lượng thủy sản của thế giới đạt gần 132 triệu tấn, trong đó khai thác đạt 90 triệu tấn và nuôi đạt gần 42 triệu tấn, trong đó sản lượng thủy sản dùng làm thực phẩm khoảng 101 triệu tấn, chiếm hơn 76,5% (FAO,2003)
Châu Á là khu vực sản xuất thủy sản lớn nhất trên thế giới chiếm khoảng 90% sản lượng, với 38 triệu tấn, kế đến là Châu Âu 2,2 triệu tấn Các nước dẫn đầu
về nuôi trồng thủy sản trong giai đoạn 2003 là : Trung Quốc gần 29 triệu tấn,
Ấn Độ 2,2 triệu tấn, Indonesia 996 nghìn tấn, Việt Nam đứng hàng thứ tư với
937 nghìn tấn
Năm 2006 châu Á chiếm chín vị trí trong 10 quốc gia dẫn đầu về nuôi trồng thủy sản, trong đó VN đứng vị trí thứ sáu Trung Quốc là nước dẫn đầu bảng xếp hạng với 69,6% về sản lượng và 51,2% về giá trị các mặt hàng thủy sản được nuôi trồng trên thế giới Vị trí thứ hai của Ấn Độ chỉ chiếm 4,2% cả về sản lượng cũng như giá trị Ở vị trí thứ năm, Nhật vẫn chiếm đến 6% về mặt giá trị (4,24 tỉ USD) tuy sản lượng nuôi trồng chỉ khoảng 1,26 triệu tấn do sản phẩm của nước này chủ yếu là các loại thủy sản có giá trị cao.(FAO,2006)
Tôm nuôi được xem là một trong những đối tượng nuôi chính trong NTTS vì
có hiệu quả kinh tế cao Bảng 2.1 cho biết tên và sản lượng một số loài tôm nuôi chính trên thế giới
Trang 17Bảng 2.1: Sản lượng các loài tôm nuôi chính trên thế giới (Tấn)
Loài 1999 2000 2001 2002 2003 Tôm sú 547.621 633.594 676.262 593.011 666.071 Tôm chân trắng 186.113 145.387 280.114 430.976 723.858 Tôm he 67.464 70.190 70.507 75.718 78.018 Tôm rảo 20.566 20.547 20.009 22.379 23.215 Tôm thẻ Ấn Độ 11.428 16.417 25.559 25.736 31.560 Tổng số 833.192 1.164.408 1.348.275 1.405.367 1.804.932
Tôm sú và tôm TCT là một trong những đối tượng thủy sản được biết đến rất lâu trên thế giới Trên thế giới tôm thẻ chân trắng đứng hàng thứ hai sau tôm
sú nhưng tại một số khu vực, tôm thẻ chân trắng đang chiếm vị trí hàng đầu
2.2.2 Tôm Sú
Tôm sú (Penaeus monodon) là đối tượng thủy sản có giá trị cao và là một
trong các đối tượng thủy sản quan trọng được nuôi ở một số nước như Thái Lan, Trung Quốc, Equador, Việt Nam, Philippin…
Năm 1984 chỉ có 33 nước có nuôi tôm sú, con số này tăng nhanh đến năm
1989 là 51 nước và năm 1996 là 60 nước Năm 1998, tổng sản lượng tôm nuôi trên thế giới đạt 1,14 triệu tấn, gấp 5 lần năm 1985 là 213.640 tấn (riêng Trung Quốc có mức tăng trưởng 37,8%) Thái Lan là nước dẫn đầu thế giới, đạt 250.000 tấn, Indonesia đứng hàng thứ 2 có số lượng vượt qua con số 150.000 tấn Equador vượt qua 100.000 tấn (1991) Thời Kỳ năm 1993-1996, sản lượng tôm sú ở Trung Quốc đạt trên mức 100.000 tấn Tuy nhiên có sự giảm sút năm 1998, sản lượng tôm sú ở nước này vẫn chưa đầy ½ năm 1991 là 219.000 tấn Philippin cũng là một nước có sản lượng tôm sú lớn Sản lượng tôm nuôi năm 1993-1994 đạt 90.000 tấn Tuy nhiên sản lượng giảm chỉ còn 34.527 tấn (1999) Các nước Việt Nam, Bangladesh, Ấn Độ… là những nước sản xuất lớn nhưng phải trải qua đợt sa sút do dịch bệnh đốm trắng khiến sản lượng từ 95.816 tấn (1991) xuống còn 35.898 tấn (1999) (Phạm Văn Trang và
ctv, 2003)
2.2.3 Tôm thẻ chân trắng
Tôm TCT là loài tôm biển, có nguồn gốc từ vùng biển xích đạo Đông Thái Bình Dương, từ Mehico đến Pêru là loài tôm quí có nhu cầu cao trên thị trường được nuôi phổ biến ở khu vực Mỹ La tinh và cho sản lượng lớn gần
Trang 18200.000 tấn (1999) Gần đây tôm được thuần hóa và nuôi thành công ở Trung
Quốc (Phạm Văn Trang và ctv, 2003)
Có nhiều nước Mỹ La Tinh ở bờ Đông Thái Bình Dương có nghề khai thác tôm chân trắng như Pêru, Êquađo, Êl Sanvađo, Panama, Costa Rica Ecuador coi nuôi tôm TCT là ngành sản xuất lớn nhất, tổng sản lựong nuôi tôm của nước này chiếm 95% tổng sản lựong nuôi tôm khu vực Châu Mỹ, năm 1991 la 103.000 tấn Một số nước như Mehico, Panama, Peru, Colompia… cũng có tình hình phát triển tương tự như Ecuador
Ecuador là nước xuất khẩu tôm TCT lớn nhất với khối lượng kỷ lục là 114 nghìn tấn năm 1998 với giá trị 852 triệu USD, giá trung bình xuất khẩu là 8 USD/kg Tuy nhiên, chỉ sau một năm xuất khẩu giảm 70% Khối lượng tôm chân trắng xuất khẩu sang Mỹ năm 1998 là 65 nghìn tấn sang năm 2000 chỉ còn 17 nghìn tấn
Ở Châu Á, Trung Quốc là nước nuôi tôm TCT sớm nhất Sản lựợng nuôi tôm thẻ chân trắng đạt 1,5- 1,6 triệu tấn (năm 2006) và 1,8 triệu tấn (năm 2009) Tại nhiều nước Đông Nam Á cũng dã nhập tôm chân trắng để nuôi như: Philippin, Indonesia, Malaisia, Thái Lan,Việt Nam… Đặc biệt tại Thái Lan, năm 2004 sản lượng nuôi tôm TCT đã lên tới 300.000 tấn, chiếm tỷ lệ cao trong sản xuất tôm biển với sản lượng chiếm xấp xỉ 80%
2.3 Tình hình nuôi tôm sú và thẻ chân trắng ở Việt Nam và ĐBSCL
Năm 2010 sản lượng thủy sản ước đạt 5.157,6 ngàn tấn, tăng 6,4% so với năm
2009, trong đó, sản lượng khai thác đạt 2.450,8 ngàn tấn, tăng 7,6% so với cùng kỳ và đạt 102,1% kế hoạch năm, sản lượng nuôi trồng đạt 2.706,8 ngàn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ và đạt 102,1% kế hoạch năm (Trung tâm Tin học và Thống kê, Bộ NN&PTNT, 2010)
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm
ước đạt 2.511 ngàn tấn tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản
lượng khai thác ước đạt 1.251,9 ngàn tấn, tăng 1,4%, sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.260 ngàn tấn, tăng 5,3 % so với cùng kỳ năm trước
Trang 19Bảng 2.2: Tổng hợp kết quả sản xuất thủy sản một số tỉnh trọng điểm
Tổng Khai
thác biển
Khai thác nội địa
1 2=(3+7
)
3=(4+5)
4 6 7=(8+9
)
8 9
Long An 9.203 3.513 3.513 5.690 3.100 2.590 Tiền
Giang
109.94
7 67.396 49.092 18.304 42.551 40.515 2.036
Bến Tre 136.36
0 74.740 64.395 10.350 61.515 59.155 2.400 Trà Vinh 63.459 26.915 18.500 8.415 36.544 32.108 4.436 Vĩnh
Long
73.050 68.000 68.000 5.050 5.050 Đồng
Cần Thơ 93.727 92.717 92.717 1.010 1.010 Hậu
Giang
27.884 26.384 26.384 1.500 1.500
Sóc Trăng 25.453 5.322 2.020 3.302 20.131 17.371 2.760 Bạc Liêu 109.14
4 58.063 480 57.583 51.081 48.624 2.457
( Nguồn : Trung Tâm Tin Học và Thống Kê, Bộ NN&PTNT, 2011)
Trong tháng 7/2011 có nhiều thuận lợi, hầu hết các tỉnh trọng điểm đều đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước Sản lượng thủy sản tháng 7 ước đạt 527 ngàn tấn, nâng tổng sản lượng 7 tháng đầu năm nay lên 3.039 ngàn tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước (Trung tâm tin học và thống kê,
Bộ NN&PTNT, 2011)
Bảng 2.3: Kết quả sản xuất thủy sản tháng 7 năm 2011
Đơn vị : 1000 tấn Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 So sánh năm
2011/2010
Trang 206 tháng
Tháng
07
07 tháng
Tháng
07
07 tháng
Tháng
07
07 tháng Tổng sản lượng 2.512 527 3.039 465 2.896 113 105 Sản lượng khai thác 1.552 224 1.476 176 1.410 128 105 Khai thác biển 1.170 210 1.380 160 1.312 134 105 Khai thác nội địa 82 14 96 16 98 90 98 Sản lượng nuôi trồng 1.260 303 1.563 289 1.486 105 105
( Nguồn: Trung tâm tin học và thống kê, Bộ NN&PTNT, 2011
Bảng 2.4 : Sản lượng tôm nuôi theo địa phương (Tấn)
Tỉnh 2005 2006 2007 2008 2009
Cả nước 327.194 354.541 384.519 388.359 413.132 ĐBSCL 265.761 286.837 305.531 307070 312.315 Long An 6.014 7.190 6.968 5.270 7.333 Tiền Giang 7.998 8.273 9.381 10.118 10.558 Bến Tre 25.090 23.446 25362 22.841 19.300 Trà Vinh 19.688 24142 24814 19.789 17.287
Đồng Tháp 103 402 953 1504 1.450
An Giang 698 815 1.060 1.297 1.045 Kiên Giang 18.461 22.847 28.350 28.601 31.207
Sóc Trăng 42.837 52.696 58.495 58.790 60.350 Bạc Liêu 63.616 58.400 64.151 63.984 65.700
Cà Mau 81.100 88.443 89.737 94.291 98.100
( Nguồn: Tổng Cục Thống Kê, 2009)
Đồng Bằng sông Cửu Long là vùng nuôi tôm nước lợ quan trọng nhất so với
cả nước năm 2005, diện tích nuôi tôm nước lợ ở đây đạt 535.145 ha chiếm 88,5% với sản lượng tôm nuôi 265.761 tấn chiếm 81,2% so với cả nước, năm
2009, sản lượng tôm nuôi ở đây đạt 312.405 tấn (Tổng Cục Thống kê, 2009)
2.3.2 Tôm sú
Tôm sú được nuôi thử nghiệm đầu tiên vào năm 1989 tại Hải Phòng nhưng hiệu quả đạt rất thấp Hiện nay nuôi quảng canh cải tiến và bán thâm canh và thâm canh đã làm cho năng suất tăng lên
Trang 21Năm 1994 có khoảng 250 triệu ha đất có mặt nước chuyển thành ao nuôi tôm
Sản lượng tôm sú đạt kỷ lục năm 1993 là 60.000 tấn (Phạm Văn Trang và ctv,
2004)
Năm 1999 tổng diện tích nuôi tôm sú ở miền Bắc là 39.429 ha, ở miền Nam là 238.279 ha, miền Trung là 12.530 ha Miền Trung là khu vực đi đầu trong lĩnh vực phát triển công nghệ nuôi tôm ở nước ta Năm 1995 năng suất tôm nuôi trung bình mới đạt 415 đến 1144 kg/ha/năm Năm 1996, một số mô hình nuôi công nghiệp ở Ninh Hòa, Nha Trang và Cam Ranh theo công nghệ của CP (Thái Lan) đã đạt được năng suất trên 5 tấn/ha/vụ
Cà Mau và Bạc Liêu có diện tích nuôi lớn nhất cả nước 150.000 ha Bắt đầu từ năm 1980, hình thức nuôi chủ yếu là quảng canh, quảnh canh cải tiến Nuôi tôm quảng canh, quảng canh cải tiến trong rừng ngập mặn: Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Kiên Giang Nuôi bán công nghiệp: Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre, Tiền Giang Nuôi luân canh với trồng lúa: Long An, Sóc Trăng Nuôi trong ruộng muối: Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh
Mô hình nuôi Artemia Tôm: Vĩnh Châu, Sóc Trăng Nuôi tôm công nghiệp: Bạc Liêu, Trà Vinh, Tiền Giang
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) rất đa dạng các vùng sinh thái và loại hình nuôi tôm, nhất là nuôi tôm sú Đến cuối tháng 8/2008, diện tích nuôi tôm nước lợ của 7 tỉnh ven biển Nam Bộ là gần 540 ngàn ha, chiếm hơn 89% tổng diện tích nuôi tôm của cả nước, trong đó chủ yếu là nuôi tôm sú
Năm 1992, diện tích nuôi tôm sú ở Sóc Trăng chỉ có 19.200 ha thì đến năm
2002 đã lên đến 43.390 ha, trong đó có 2.500 ha nuôi bán công nghiệp, sản lượng tôm sú nuôi đạt 16.000 tấn Trong năm 2003, diện tích nuôi tôm sú ước đạt 53.000 ha Cà Mau là tỉnh có diện tích nuôi tôm lớn nhất ở đồng bằng sông Cửu Long với 265 nghìn ha Những năm gần đây, tỉnh đã có nhiều giải pháp, trong đó có đề án tạo bước đột phá khai thác lợi thế, tiềm năng đất đai, nâng cao hiệu quả nghề nuôi tôm
Về con giống, năm 2005, lượng tôm sú giống cả nước sản xuất được 28.805 tỉ postlarva với khoảng 4.281 trại sản xuất giống (Bộ Thủy Sản, 2006)
Tuy nhiên tình hình dịch bệnh xảy ra phức tạp gây khó khăn cho người nuôi nên thời gian gần đây diện tích nuôi tôm sú có xu hướng giảm Năm 2010, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đưa 550.600 ha vào nuôi tôm sú, chiếm gần 70% diện tích nuôi toàn vùng; giảm gần 16.000 ha so với năm 2009 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2010)
Trang 222.3.3 Tôm thẻ chân trắng
Ở Việt Nam và vùng ĐBSCL, tôm TCT được đưa vào nuôi thử nghiệm năm
2002 Đến năm 2008, Bộ NN&PTNT có chủ trương cho phát triển nuôi tôm TCT Theo đó, các tỉnh Nam bộ đã quy hoạch vùng nuôi và có hệ thống thủy lợi, cơ sở hạ tầng đảm bảo cho nuôi thâm canh Các tỉnh ven biển từ Bình Thuận tới Quảng Ninh được nuôi trong vùng nuôi tôm của địa phương Năm
2002, diện tích nuôi tôm TCT của cả nước là 1.710 ha, sản lượng 10.000 tấn Năm 2007 diện tích nuôi đạt 4.000 ha, sản lượng đạt 30.000 tấn Năm 2008, diện tích nuôi khoảng 8.000 ha, năm 2009 tăng lên 14.500 ha và đến năm 2010
đã tăng lên trên 25.300 ha Các tỉnh miền Trung và miền Bắc chiếm 17.960 ha, bằng 72% diện tích nuôi tôm TCT của cả nước Các tỉnh khu vực ĐBSCL đang phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng trong phạm vi hẹp, trong đó tỉnh Sóc Trăng đến năm 2011 khoảng 150 ha, Cà Mau khoảng 200 ha, Bạc Liêu khoảng
158 ha Theo nhận định của Sở NN&PTNT các tỉnh trong khu vực ĐBSCL, nuôi tôm thẻ chân trắng khá thuận lợi Khả năng đề kháng của tôm TCT tốt, thích nghi nhanh với sự biến thiên của sự thay đổi môi trường (Cục Chế biến
TM NLS&NM, Bộ Nông Nghiệp & Phát triển Nông Thôn, 2011)
Sau khi chính phủ cho phép nuôi tôm TCT ở ĐBSCL, nhiều hộ nuôi tôm ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre đang chuyển sang nuôi tôm TCT Ở miền Nam, nhất là các tỉnh ĐBSCL, tôm TCT được nuôi nhằm đa dạng thêm đối tượng nuôi trồng, xuất khẩu thủy sản Hiện nay diện tích nuôi tôm ở ĐBSCL phát triển được trên 540.000 ha, chiếm gần 90% diện tích nuôi tôm của cả nước Trong đó, tôm sú 538.800 ha, tôm TCT 807 ha Tôm chân trắng đã phát triển được trên 800 ha trên vùng đất nuôi tôm sú truyền thống nên cần phải phát triển tốt hệ thống thủy lợi, hướng dẫn người nuôi tôm nâng cao trình độ kỹ thuật canh tác, kiểm soát nuôi tôm TCT theo hình thức thâm canh, nhưng phải đảm bảo các điều kiện theo tiêu chuẩn mà Bộ vừa ban hành
Năm 2010, các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL thả nuôi 8.800 ha, tăng gấp 2,5 lần
so với năm 2009 Với năng suất bình quân khoảng 6,8 tấn/ha thì năm nay sản lượng tôm thẻ chân trắng ước đạt 60.300 tấn, tăng gấp 4,3 lần so với năm 2009 (Hoàng Mai, 2010)
2.4 Các mô hình nuôi tôm ở Việt Nam và ĐBSCL
Theo Bộ Thủy Sản (2002), ở Việt Nam có các mô hình nuôi tôm phổ biến sau:
1 Mô hình nuôi tôm quảng canh
Mô hình có đặc điểm là hình thức nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn tự nhiên trong ao Mật độ tôm nuôi thấp, phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên, diện tích
Trang 23ao nuôi thường lớn để đạt năng suất cao Ưu điểm của mô hình này là chi phí vận hành thấp, kích cỡ tôm nuôi lớn bán được giá cao, cần ít lao động cho một đơn vị sản xuất Tuy nhiên, có những nhược điểm của mô hình nuôi là năng suất thấp, cần diện tích ao lớn để tăng sản lượng nên vận hành và quản lý khó nhất là ở các ao nuôi có hình dạng khác nhau
2 Nuôi quảng canh cải tiến
Mô hình này có đặc điểm là mùa vụ nuôi quanh năm, diện tích lớn hơn 1 ha, năng suất nhỏ hơn 300 kg/ha/năm, sử dụng con giống tự nhiên kết hợp với con giống bổ sung, mật độ thả giống nhỏ hơn 2 con/m2, không cho ăn, chỉ gây màu nước , thu hoạch theo phương pháp thu tỉa thả bù Ưu điểm của mô hình này là chi phí vận hành thấp có thể bổ sung con giống, kích cỡ tôm thu hoạch lớn bán giá cao, cải thiện năng suất đầm nuôi Nhược điểm là phải bổ sung con giống lớn để tránh hao hụt do địch hại trong ao, nhiều hình dạng và kích cỡ ao khác nhau nên khó quả lý Năng suất và lợi nhuận vẫn còn thấp Ngoài ra vẫn còn những hình thức nuôi quảng canh cải tiến nhưng được vận hành với những giải pháp kỹ thuật cao hơn: Ao đầm nuôi nhỏ, xây dựng khá hoàn chỉnh (mương, bờ bao, cống…), quản lý chăm sóc tốt…vì thế năng suất và hiệu quả cao hơn, điển hình là mô hình nuôi tôm lúa
3 Nuôi bán thâm canh
Mô hình có đặc điểm là có thể nuôi 2 vụ trên năm, mật độ thả 5-20 con/m2, sửdụng thức ăn công nghiệp hoặc tự chế biến Năng suất 1-4 tấn/ha/vụ Trong đó giới hạn năng suất không có quạt nước là 1,7-2 tấn/ha/vụ Diện tích ao nuôi nhỏ từ 0,2-0,5 ha được xây dựng hoàn chỉnh và có trang bị đầy đủ trang thiết
bị như sụt khí, máy bơm…để chủ động trong quản lý ao Ưu điểm của mô hình này là đầu tư vừa phải về tài chính cũng như kỹ thuật phù hợp với khả năng đầu tư và quản lý của nông hộ, tận dụng được diện tích đất, năng suất cao Nhược điểm là phải đầu tư vốn khá lớn, dễ xảy ra dịch bệnh, sử dụng hóa chất chưa hợp lý gây lãng phí và ô nhiễm môi trường
4 Nuôi tôm thâm canh
Mô hình có đặc điểm là nuôi quanh năm, mật độ thả giống từ 20-80 con/m2, mật độ thả thích hợp là 30-40 con/m2, vốn đầu tư lớn, quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt Diện tích ao nuôi từ 0,5-1 ha, tối ưu là 1 ha, ao xây dựng hoàn chỉnh, cấp và thoát nước chủ động, trang bị đầy đủ phương tiện nên dễ quản lý
và vận hành, mang lại lợi nhuận rất cao, tận dụng được quỹ đất có hạn Nhược điểm của mô hình này là tôm thu hoạch có kích cỡ nhỏ (30-35 con/kg), giá bán thấp, chi phí vận hành cao, lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm thấp Môi trường nuôi dễ suy thoái do sử dụng nhiều thức ăn và hóa chất
Trang 242.5 Tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở Bến Tre
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre, tính đến năm 2010, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 42.407 ha, đạt 100,97% so với kế hoạch năm 2010, tương đương với năm 2009 Trong đó, tổng diện tích nuôi tôm sú năm 2010 đạt 30.252 ha, sản lượng thu hoạch đạt 16.500 tấn, diện tích nuôi tôm biển thâm canh, bán thâm canh 4.827 ha, đạt 100,56% kế hoạch năm (trong đó tôm chân trắng: 528ha; tôm sú: 4.299ha), tăng 6,67% so với năm 2009
Bảng 2.5: Diện tích nuôi tôm lợ, mặn của tỉnh Bến Tre giai đoạn 2006-2010
DT nuôi nước mặn, lợ ha 2006 2007 2008 2009 2010 Nuôi tôm sú: 31.262 31.706 31.285 30.341 30.300
* Nuôi TC, BTC ha 5.778 5.842 5.421 4.265 4.299
* Nuôi quảng canh ha 15.883 16.165 16.716 17.040 16.690
* Nuôi tôm - Lúa ha 6.198 6.144 5.790 5.709 5.780
* Nuôi tôm - Rừng ha 3.403 3.556 3.358 3.328 3.330 Nuôi tôm chân trắng ha 176 260 528
(Nguồn: Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre,2011)
2.5.1 Tôm sú
Đến tháng 8-2002, diện tích nuôi tôm sú công nghiệp và bán công nghiệp ở Bến Tre đạt gần 800 ha trong đó huyện Bình Đại trên 450 ha, huyện Thạnh Phú 200 ha Năm 2009 tỉnh Bến Tre thả nuôi hơn 5.000 ha tôm sú công nghiệp
và bán công nghiệp Tuy nhiên những năm gần đây, dịch bệnh tấn công khiến tôm chết hàng loạt gây thiệt hại cho nhiều người dân.Tại các huyện Bình Đại, Thạnh Phú năm 2009 có 20% hộ không đầu tư nuôi tôm sú, hơn 30% hộ chuyển sang mô hình nuôi thủy sản khác Năm 2011, gần 500 ha diện tích nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh bị nhiễm bệnh, chiếm 16% tổng diện tích nuôi Ngoài ra, tại huyện Thạnh Phú có hơn 3.900 ha ao tôm nuôi xen ruộng lúa bị thiệt hại với tỷ lệ thiệt hại 60% (Chu Trinh, 2011)
2.5.2 Tôm thẻ chân trắng
Sau khi có Chỉ thị 228 của Bộ NN&PTNT cho phép các tỉnh ĐBSCL được nuôi tôm chân trắng Bến Tre đã di nhập giống và nuôi thử nghiệm ở một số địa bàn như Bình Đại, Thạnh Phú, Ba Tri, chủ yếu nuôi thâm canh với mật độ 80-100 con/m2.Nhằm phát triển nuôi TCT trên địa bàn tỉnh theo hướng ổn định và bền vững, góp phần thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản Ngày 24 tháng 5 năm 2010, Ủy ban nhân dân
Trang 25tỉnh Bến Tre đã ban hành quyết định số 1196/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết nuôi TCT trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến năm 2020 Tổng diện tích quy hoạch đến năm 2020 là 5.450 ha Được phân bố trên địa bàn các huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú Ngoài ra, đối với các vùng đã quy hoạch nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh trước đây, mà không có quy hoạch nuôi tôm TCT như dự án này cũng có thể phát triển nuôi tôm chân trắng nếu chủ đầu tư thực hiện tốt các điều kiện kỹ thuật và được UBND tỉnh cho phép Về tổng sản lượng quy hoạch năm 2010 là 8.800 tấn, ước tính đến năm
2015 là 32.880 tấn, đến năm 2020 là 63.500 tấn (Sở Công Thương tỉnh Bến Tre, 2010)
Hình 2.1: Bản đồ quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Bến Tre đến
năm 2020
2.6 Điều kiện tự nhiên tỉnh Bến Tre
Bến Tre là một trong 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên
là 2.315 km2, được hình thành bởi cù lao An Hoá, cù lao Bảo, cù lao Minh và
do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ mà thành (gồm sông Tiền dài 83
km, sông Ba Lai 59 km, sông Hàm Luông 71 km, sông Cổ Chiên 82 km) Tỉnh Bến Tre bao gồm 8 huyện: Chợ Lách, Châu Thành, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày
Trang 26Bắc, Giồng Trôm, Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú và thành phố Bến Tre Điểm cực bắc của Bến Tre nằm trên vĩ độ 9o48' Bắc, điểm cực nam nằm trên vĩ độ
10o20' Bắc, điểm cực đông nằm trên kinh độ 106o48' Đông, điểm cực Tây nằm trên kinh độ 105o57' Đông
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, các tháng còn lại là mùa khô Nhiệt độ trung bình năm từ 26 – 27 oC Lượng mưa trung bình năm từ 1.250 - 1.500 mm (Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, 2011)
Hình 2.2: Bản đồ tỉnh Bến Tre
2.7 Tài nguyên thiên nhiên tỉnh Bến Tre
Địa hình của Bến Tre bằng phẳng, rải rác những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, chỉ có một số rừng chồi và những dải rừng ngập mặn ở ven biển và các cửa sông Những con sông lớn nối từ biển Đông qua các cửa sông chính (cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên), ngược về phía thượng nguồn đến tận Campuchia, cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt khoảng 6.000 km đan vào nhau chở nặng phù sa chảy khắp ba dải
cù lao là một lợi thế của Bến Tre trong phát triển giao thông thủy, hệ thống thủy lợi, phát triển kinh tế biển, kinh tế vườn, trao đổi hàng hoá với các tỉnh lân cận Từ Bến Tre, tàu bè có thể đến thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Ngược lại, tàu bè từ thành phố Hồ Chí Minh về các tỉnh miền Tây đều phải qua Bến Tre (Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, 2011)
Về Thủy Sản, những con sông lớn và vùng biển Đông ở Bến Tre có nhiều loại thủy sản như cá vược, cá dứa, cá bạc má, cá thiều, cá mối, cá cơm, nghêu, cua
Trang 27biển và tôm he Rừng nước mặn chạy dọc theo bờ biển, mang lại cây dừa nước, chà là, bần Dân chúng lấy rượu ở khu rừng mắm Bình Đại, Thạnh Phú
để làm nước mắm Ruộng muối ở Thạnh Phú, Bình Đại, Ba Tri cũng là nguồn lợi khả quan
Tài nguyên biển rất đa dạng và phong phú:
Động vật nổi: ở vùng cửa sông Bến Tre có khoảng 20 loài tảo đơn bào Trong mùa khô, chúng xâm nhập và chiếm lĩnh các dạng thủy vực ở sâu trong nội địa Tuy nhiên, càng sâu vào nội địa, số lượng và tính đa dạng của tảo cũng giảm đi do nước bị ngọt hóa, trừ một số loài có biên độ sinh thái rộng sống cả
ở môi trường biển và môi trường sông
Động vật đáy: động vật đáy ở Bến Tre thuộc 3 nhóm chính là loại thâm mềm (mollusca), giun đất (annelia) và tiết túc (arthopoda), trong đó chủ yếu là lớp giáp xác chân bụng, loại 2 mảnh vỏ, những động vật đại diện điển hình cho môi trường lợ mặn
Các loài cá: Các công trình nghiên cứu ở sông và ven biển tỉnh Bến Tre đã phát hiện 120 loài cá thuộc 43 họ, nằm trong 15 bộ cá Bộ cá vược chiếm ưu thế cả về họ (21 họ) lẫn về loài (54 loài), bộ cá trích chiếm 2 họ gồm 15 loài,
bộ cá bơn có 3 loài
Căn cứ vào điều kiện sinh thái, có thể phân thành các nhóm sau:
- Nhóm cá nước lợ gồm các loài thường xuyên sống ở môi trường lợ, mặn thường là những loài có kích thước nhỏ như cá kèo, cá bống cát
- Nhóm cá biển di cư vào vùng nước lợ, đôi khi cả vùng nước ngọt, gồm nhiều loại, được phân bố rộng ở các vùng ven bờ sông, gồm các loài cá sống nổi thuộc họ cá trích, loại sống ở đáy ăn động vật đáy như cá đối,
cá bống dừa
- Nhóm cá nước ngọt sống trong sông rạch, thường xâm nhập vùng nước
lợ vào mùa mưa, khi lưu lượng của nước sông tương đối lớn Đó là loại
cá mè vinh, cá mè dảnh, cá rô biển, cá trê vàng
- Nhóm cá sống trên đồng ruộng, các loại đại diện là cá lóc, cá rô,cá trê,
cá sặc
Qua các cuộc điều tra, đã nhận diện được 20 loại trong địa bàn tỉnh Bến Tre, trong đó tôm biển có 12 loài (thuộc 5 họ), và 8 loài tôm nước ngọt (thuộc 2 họ) Về tôm nước mặn thì tôm tự nhiên hiện diện phổ biến nhất là tôm thẻ
(Penaeus merguiensis), còn tôm được nuôi phổ biến nhất là tôm sú (Penaeus monodon)
Trang 28Chương III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 08/2011 đến tháng 12/2011
3.1.2 Địa điểm và đối tượng nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: tại huyện Bình Đại, Thạnh Phú, Ba Tri của tỉnh Bến Tre
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Mô hình nuôi tôm sú thâm canh
+ Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu
Các số liệu thứ cấp được thu thập từ các nghiên cứu, báo cáo của các cơ quan địa phương, sách báo, tạp chí và các website có liên quan…
Thông tin sơ cấp được thu thập thông qua phiếu phỏng vấn trực tiếp nông dân thực hiện mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng thâm canh bằng bảng câu hỏi soạn sẳn
Số mẫu phỏng vấn gồm có:
- Hộ nuôi tôm sú thâm canh: 32 mẫu
- Hộ nuôi tôm thẻ chân trắng: 33 mẫu
3.2.1 Thông tin thứ cấp
- Điều kiện tự nhiên của địa phương
- Điều kiện kinh tế- xã hội
Trang 29- Tình hình phát triển của các mô hình nuôi tôm sú và thẻ chân trắng ở địa phương
- Sản lượng của mô hình trong tổng sản lượng NTTS của tỉnh
3.2.2 Thông tin sơ cấp
Thu thập từ các hộ nuôi thâm canh tôm sú và tôm thẻ chân trắng bằng bảng câu hỏi soạn sẵn với các nhóm biến chính sau:
Thông tin chung của nông hộ
- Mô hình nuôi
- Kinh nghiệm
- Số lao động tham gia NTTS
Thông tin về kỹ thuật
- Diện tích nuôi (ha)
- Số lượng ao nuôi (ao/hộ)
- Số vụ trong năm (vụ/năm)
- Tên loài nuôi
- Mật độ thả (con/m2)
- Kích cỡ giống (PL)
- Số cải tạo ao
- Chế độ thay nước
- Tổng lượng thức ăn cho vụ nuôi (kg/ha)
- Kích cỡ thu hoạch (g/con)
- Sản lượng (kg/ha)
Thông tin kinh tế
- Chi phí cố định (tr/ha/năm)
- Khấu hao chi phí cố định (tr/ha/năm)
- Chi phí biến đổi (tr/ha/năm)
- Thu nhập (tr/ha/năm)
- Lợi nhuận (tr/ha/năm)
- Tỷ suất lợi nhuận (tr/ha/năm)
Trang 30- Hình thức tiêu thụ sản phẩm
Thông tin môi trường
- Đánh giá về môi trường nước
- Đánh giá tác động của mô hình đang nuôi đến môi trường nước
- Nhận thức của người nuôi
- Thuận lợi
- Khó khăn
- Giải pháp và đề xuất
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Số liệu thu thập được kiểm tra, mã hóa và nhập vào máy tính Phần mềm excel
và SPSS được sử dụng để nhập và phân tích số liệu Các số liệu được thể hiện thống kê mô tả, tần suất, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất Các số liệu được phân tích thống kê ANOVA để so sánh sự khác biệt giữa các mô hình
Trang 31Chương IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thông tin chung về nông hộ
Bến Tre có 4 cửa sông thuộc hệ thống sông Cửu Long đổ ra biển, với chiều dài
65 km bờ biển và gần 20.000 km2 vùng biển đặc quyền, với hệ sinh thái rừng ngập mặn và nhiều bãi bồi phù sa ở cửa sông, ven biển, tạo cho Bến Tre có nhiều lợi thế về phát triển nuôi trồng thủy sản
Theo sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre, hình thức nuôi tôm quảng canh, tôm rừng phát triển mạnh tạo ra lượng nguyên liệu lớn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, diện tích nuôi quảng canh, tôm rừng tại 03 huyện biển đến năm 2010 đạt 20.020 ha Tuy nhiên, diện tích nuôi tôm sú TC và BTC lại có xu hướng giảm Năm 2009, diện tích nuôi TC và BTC tôm sú là 4.265 ha, giảm 1.156 ha
so với năm 2008 (Hình 4.1) Nguyên nhân do một số hộ dân chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng Mặt khác, một bộ phận người nuôi không tuân thủ mùa vụ nuôi, khi tôm chết xả thải ra môi trường bên ngoài không qua xử lý gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các ao nuôi thả vào chính vụ dẫn đến thiệt hại lớn Trong những tháng đầu năm 2011 dịch bệnh xảy ra trên tôm sú khá nhiều, thời điểm gây thiệt hại nhiều nhất tập trung vào thời điểm 4 và tháng 5 chủ yếu trên địa bàn huyện Bình Đại Diện tích nuôi tôm sú thâm canh bị thiệt hại 689 ha, chiếm 25% diện tích thả nuôi (Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre, 2011)
Trang 32TC tôm sú Tôm thẻ chân trắng
Hình 4.1: Biến động diện tích của mô hình nuôi tôm sú và tôm TCT TC
Đối với tôm thẻ chân trắng, sau khi có Chỉ thị 228 của Bộ NN&PTNT cho phép các tỉnh ĐBSCL được nuôi tôm thẻ chân trắng Năm 2008, Bến Tre đã di nhập giống và nuôi thử nghiệm ở một số địa bàn như Bình Đại, Thạnh Phú, Ba Tri chủ yếu ở hình thức thâm canh Qua 3 năm, diện tích và sản lượng nuôi tôm thẻ có xu hướng tăng liên tục, từ 176 ha và sản lượng đạt 751 tấn năm
2008 tăng đến 528 ha và sản lượng đạt 1500 tấn vào năm 2010 (Hình 4.2) Tuy nhiên, so với mô hình nuôi tôm sú thì tổng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng còn khá nhỏ do mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng chỉ mới được hình thành năm 2008 và chưa mở rộng được mô hình nuôi Năng suất tôm thẻ chân trắng khá biến động, có xu hướng tăng giai đoạn năm 2008-2009, nhưng giảm vào năm 2010 (Phụ Lục 2)
Trang 33Tôm sú Tôm thẻ chân trắng
Hình 4.2 : Biến động sản lượng của mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân
trắng TC Nhìn chung, qui mô của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng chưa phát triển mạnh như mô hình nuôi tôm sú do tôm thẻ chân trắng mới được phép thả nuôi
từ năm 2008 Tuy nhiên trong thời gian tới có xu hướng thay đổi, người nuôi đầu tư nhiều hơn cho tôm thẻ chân trắng, mặt khác một bộ phận hộ dân nuôi tôm sú chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng nên diện tích và sản lượng nuôi tôm thẻ có xu hướng tăng qua các năm trong khi diện tích và sản lượng nuôi tôm sú có xu hướng giảm
Theo kế hoạch của Sở NN&PTNN tỉnh Bến Tre, tổng diện tích nuôi thủy sản
là 42.555 ha, trong đó: Nuôi thủy sản thâm canh, bán thâm canh là 5.640 ha (Tôm sú, tôm chân trắng thâm canh, bán thâm canh 4.900 ha, cá tra thâm canh
650 ha) Tuy nhiên, tổng diện tích nuôi thủy sản đã thả giống 6 tháng đầu năm
2011 ước đạt 40.437 ha, đạt 95,02% so với kế hoạch năm và giảm 4,95% so với cùng kỳ năm 2010 Trong đó nuôi tôm sú TC, BTC 3.605 ha, giảm 13,13% so với cùng kỳ năm 2010; nuôi tôm thẻ chân trắng 922 ha, tăng 80,78% so với cùng kỳ năm 2010 Nhìn chung, tôm vẫn là một trong những đối tượng ưu tiên phát triển trong NTTS của tỉnh Bến Tre bên cạnh nhuyễn thể
và cá tra Tuy nhiên, diện tích và sản lượng nuôi tôm khá biến động qua các năm do tình hình dịch bệnh diễn ra phức tạp Vì vậy, các cơ quan ban ngành của tỉnh cần có nhiều biện pháp hạn chế dịch bệnh như: quản lý tốt lịch thời
vụ, quản lý chất lượng con giống, tăng cường quản lý chất lượng thức ăn, thuốc thú y thủy sản, tập trung quản lý tốt môi trường nuôi
Trang 344.2 Khía cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng thâm canh
4.2.1 Kết cấu ao nuôi
Qua kết quả điều tra cho thấy, diện tích NTTS trung bình 1,16±1,33 ha/hộ đối với hộ nuôi tôm sú, nhỏ nhất là 0,2 ha và lớn nhất là 57 ha Diện tích mặt nước nuôi trung bình là 0,75 ± 0,80 ha, nhỏ nhất là 0,1 ha và lớn nhất là 3,2 ha Diện tích ao lắng xử lý trung bình chiếm 20,4 ±10,3% so với diện tích mặt nước nuôi, nhỏ nhất là 0% và lớn nhất đến 46,67% (Bảng 4.1)
Bảng 4.1: Kết cấu mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng thâm canh
Diện tích NTTS (toàn bộ) (ha/hộ) 1,16±1,33 1,85±2,58
DT ao lắng (ha/hộ) 0,16±0,21 0,27±0,42
DT mặt nước ao nuôi (ha/hộ) 0,75±0,80 1,29±1,77
DT ao nuôi (m2) 3.593±2.218 3.430±1.770 Mực nước bình quân ao nuôi (m) 1,40±0,14 1,50±0,14
Tỷ lệ DT ao nuôi so với tổng DT NTTS (%) 66,3±10,4 68,4±11,2
Tỷ lệ DT ao lắng so với tổng DT NTTS (%) 13±5,89 15±6,52
Tỷ lệ DT ao lắng so với DT mặt nước nuôi (%) 20,4±10,3 22,9±11,4
Đối với mô hình nuôi thâm canh tôm TCT, diện tích NTTS/hộ trung bình là 1,85±2,58 ha, nhỏ nhất là 0,15 ha, lớn nhất là 12 ha Diện tích mặt nước nuôi trung bình 1,29±1,77 ha, nhỏ nhất là 0,1 ha, lớn nhất là 8 ha Diện tích ao lắng
xử lý trung bình chiếm 22,9±11,4% so với diện tích mặt nước nuôi, nhỏ nhất
là 7,69% và lớn nhất lên đến 50% (Phụ lục 2) Nhìn chung, kết cấu mô hình nuôi TCT không có khác biệt nhiều so với mô hình nuôi tôm sú Nguyên nhân
do phần lớn hộ nuôi tôm TCT chuyển từ mô hình nuôi tôm sú sang
Theo Hình 4.3, phần lớn hộ nuôi tôm có diện tích NTTS/hộ nhỏ hơn 1 ha (65,63% đối với hộ nuôi tôm sú và 54,55% với hộ nuôi TCT), chỉ có 3,03% hộ nuôi tôm chân trắng có diện tích lớn hơn 10 ha So với kết quả điều tra của Ngô Thế Trường (2009) ở tỉnh Kiên Giang thì kết cấu mô hình nuôi tôm sú và tôm TCT ở Bến Tre khá nhỏ, đây là một điều bất lợi cho việc mở rộng mô hình nuôi tôm ở tỉnh Bến Tre nhưng lại thuận lợi cho việc quản lý ao nuôi trên diện rộng
Trang 35Tôm thẻ chân trắng Tôm sú
Hình 4.3: Cơ cấu DT nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Bến Tre
Diện tích ao nuôi trung bình của ao nuôi tôm sú và tôm TCT lần lượt là 3.593
±2.218 m2 và 3.430±1.770 m2 (Bảng 4.1) Hình 4.4 thể hiện cơ cấu diện tích
ao nuôi TC tôm sú và tôm thẻ chân trắng, có đến 56,25% hộ nuôi TC tôm sú
có diện tích ao nuôi từ 2.000-4.000 m2/ao, tỷ lệ này chiếm 45,45% tôm thẻ chân trắng Tuy nhiên cũng có một phần nhỏ ao nuôi có diện tích trên 8.000
m2 (3,03% đối với tôm sú và 6,25% đối với tôm thẻ chân trắng)
Tôm thẻ chân trắng Tôm sú
Hình 4.4: Cơ cấu diện tích ao nuôi TC tôm sú và tôm thẻ chân trắng
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phương và ctv (2008) ở tỉnh Sóc
Trăng, nhóm ao nuôi có diện tích nhỏ hơn 4.000 m2 cho năng suất, kích cỡ thu hoạch và hiệu quả kinh tế lớn hơn nhóm ao nuôi có diện tích lớn hơn So với kết quả trên, nhìn chung ao nuôi thâm canh tôm sú và tôm TCT ở tỉnh Bến Tre
có diện tích khá phù hợp, đây là điều kiện thuận lợi cho vấn đề quản lý ao nuôi, chăm sóc, thu hoạch Mặt khác, cũng cần điều chỉnh nhóm ao nuôi có diện tích lớn cho phù hợp để tăng năng suất và giảm thiểu rủi ro
Trang 36Theo kết quả điều tra, số lao động cần thiết trên diện tích 1 ha nuôi tôm của hai mô hình nuôi TC tôm sú và tômTCT không có khác biệt lớn, trung bình 4,5 người theo dõi, chăm sóc trên một ha diện tích (Phụ lục 4)
Nghề nuôi tôm sú đã phát triển khá lâu ở các tỉnh ĐBSCL nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng Trước đây, chủ yếu là hình thức nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến, thời gian 8-10 năm trở lại, hình thức nuôi tôm TC và BTC phát triển mạnh Theo kết quả phỏng vấn cho thấy, người nuôi thâm canh tôm sú có kinh nghiệm trung bình 6,66 năm, ít nhất là 1 năm, lâu nhất là 10 năm Tôm thẻ chân trắng có kinh nghiệm trung bình 1,48 năm, ít nhất là 1 năm, lâu nhất
là 4 năm (Phụ lục 3) Kinh nghiệm của các hộ nuôi tôm tôm sú và tôm TCT có
sự khác biệt lớn do tôm thẻ chỉ được phép nuôi năm 2008 còn tôm sú là loại tôm biển được chọn nuôi lâu dài Theo khuynh hướng hiện tại, diện tích nuôi tôm TCT có xu hướng tăng để thay thế cho ao nuôi tôm sú bị lỗ
4.2.2 Thời vụ nuôi
Mùa vụ nuôi thích hợp góp phần nâng cao năng suất và giảm thiểu rủi ro do các tác động của môi trường, thời tiết gây ra Kết quả điều tra cho thấy phần lớn hộ nuôi tômTCT thả nuôi 2 đến 3 vụ/năm, mô hình nuôi TC tôm sú chỉ thả nuôi 1 đến 2 vụ/năm (Phụ lục 5) Nuôi nhiều vụ/năm tạo hiệu quả cao hơn nhưng cũng làm gia tăng rủi ro do không tuân thủ lịch thời vụ, dễ gây ra dịch bệnh và thiệt hại
Theo Trương Tấn Thống (2007) thì nuôi tôm mùa khô có điều kiện môi trường thích hợp Kết quả điều tra của Võ Văn Bé (2007) thì mùa vụ thả giống
từ cuối tháng 1 DL đến cuối tháng 4 DL Hình 4.5 cho thấy thời gian thả giống tập vụ 1 của hai mô hình nuôi tôm Phần lớn các hô nuôi thả giống tập trung vào tháng 1 và tháng 2 ÂL Có đến 75% hộ nuôi tôm sú và 81.81% hộ nuôi tôm TCT thả giống vụ 1 vào tháng 1 và tháng 2 ÂL
Trang 37T ôm t hẻ chân t rắng T ôm sú
Hình 4.5: Thời điểm thả giống vụ 1 của mô hình TC tôm sú và tôm thẻ
chân trắng Trong vụ 2, mùa vụ thả giống tập trung vào tháng 5 và tháng 6 ÂL Đối với tôm sú, có 83,33% hộ nuôi thả giống vụ 2 vào tháng 5, tháng 6 và tháng 7 với
tỷ lệ tương đương nhau Riêng tômTCT, do thời gian nuôi ngắn và thời điểm thả vụ 1 tập trung tháng 1 và tháng 2 nên vụ 2 có đến 53,13% hộ nuôi thả giống vào tháng 5 ÂL Như vậy, thời điểm thả giống vụ 2 phụ thuộc nhiều vào mùa vụ và thời gian nuôi thực của từng loại tôm
Trang 38Mùa vụ thu hoạch cũng phụ thuộc vào thời điểm thả giống và thời gian nuôi
thực Theo Hình 4.7 và 4.8, đối với tôm sú, thời gian nuôi thực trung bình
111,67-123,19 ngày/vụ (Bảng 4.2) nên mùa vụ thu hoạch của các hộ nuôi, tập
trung vào tháng 5 (40,63%), tháng 6 ÂL (34,38%) ở vụ 1 và vào tháng 9
(25%), tháng 11 (33,33%) ở vụ 2 Tôm TCT có thời gian nuôi thực ngắn hơn
tôm sú, trung bình 75-81,82 ngày nên thời gian thu hoạch có sự khác biệt, vụ 1
có 57,57% hộ nuôi tôm sú thu hoạch vào tháng 3, tháng 4 ÂL, ở vụ 2 có đến
56,25% hộ nuôi thu hoạch tập trung vào tháng 7 ÂL
Tôm thẻ chân trắng Tôm sú
Hình 4.8: Thời điểm thu hoạch vụ 2 của mô hình TC tôm sú và tôm thẻ
Trang 39Bảng 4.2: Thời gian nuôi thực của mô hình nuôi TC tôm sú và tôm thẻ chân trắng
Thời gian nuôi thực Tôm sú TC Tôm thẻ chân trắng
Vụ 1( ngày) 123,19±18,48a 81,82±18,53b
Vụ 2 (ngày) 111,67±32,78a 75,00±6,11b Thời gian nuôi ngắn góp phần giảm thiểu rủi ro trong nuôi tôm, tiết kiệm thời gian nuôi, quay vòng vốn nhanh Kết quả phỏng vấn cho thấy, thời gian nuôi của tôm sú thì dài hơn nuôi tôm TCT và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05) (Bảng 4.2) Đây là một ưu thế của tôm TCT so với tôm sú, người nuôi có thể thu hoạch nhanh, nuôi được nhiều vụ trong năm, nâng cao hiệu quả tài chính
4.2.4 Quản lý ao nuôi
Sên vét, cải tạo ao là khâu quan trọng khi thực hiện mô hình nuôi tôm sú và tôm TCT, khi mức độ thâm canh càng cao thì lượng vật chất dư thừa lắng động càng nhiều Lượng mùn bã này mang nhiều mầm bệnh và khí độc cho tôm Sên vét, cải tạo ao sẽ hạn chế các mối nguy như các sinh vật mang mầm bệnh cho tôm nuôi, đặc biệt là các bệnh có thể lây lan như bệnh đốm trắng Kết quả điều tra cho thấy toàn bộ hộ nuôi tôm đều có sên vét, cải tạo ao trước khi thả giống Tuy nhiên, lớp bùn do sên vét chưa được các hộ nuôi xử lý triệt
để, có đến 56,56% hộ nuôi tôm sú và hộ nuôi tôm thẻ có 36,36% xả bùn trực tiếp ra môi trường tự nhiên (Bảng 4.3) Xả thải trực tiếp ra kênh, sông ảnh hưởng nhiều đến môi trường xung quanh, gây ô nhiễm và cũng là một trong những nguyên nhân lây lan dịch bệnh trên diện rộng làm cho hiệu quả nuôi ngày càng thấp và quá trình phát triển nuôi tôm thiếu bền vững
Để việc quản lý ao đạt hiệu quả cao, người nuôi cần sên vét bùn đáy ao một cách triệt để, bùn đáy ao phải được bơm vào ao chứa bùn, không bơm bùn ra kênh rạch tự nhiên, diệt tất cả các loài giáp xác còn lại trong ao nuôi trước khi lấy nước vào ao, nên xử lý nước bằng chlorine trước khi thả giống nuôi, không
sử dụng thuốc trừ sâu để diệt tạp, xử lý nước trước khi nuôi