TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THỊ KIM NGÂN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THÀNH THỤC SINH DỤC CỦA CÁ ÉT MỌI Morulius chrysophekadion LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THÀNH THỤC SINH DỤC CỦA CÁ ÉT MỌI
( Morulius chrysophekadion)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
Bộ môn Quản Lý & Kinh Tế Nghề Cá
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THÀNH THỤC SINH DỤC CỦA CÁ ÉT MỌI
( Morulius chrysophekadion)
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts TRẦN ĐẮC ĐỊNH
2010
Trang 3Cuối cùng, tôi xin cảm ơn tất cả các bạn lớp Quản Lý Nghề Cá K32 đã giúp đỡ
và động viên tôi trong suốt thời gian học tập ở trường và cả thời gian thực hiện
đề tài này
Xin chân thành cảm ơn
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm thành thục sinh dục của cá Ét Mọi
(Morulius chrysophekadion) tại tỉnh An Giang” được thực hiện từ tháng
11/2009 đến tháng 04/2010 Qua thời gian nghiên cứu đã thu được 306 mẫu cá tại các chợ địa phương và ngư dân của huyện Châu Phú và TP Long Xuyên, tỉnh
An Giang
Mối tương quan hệ chiều dài và trọng lượng của Cá Ét Mọi được xác định là W = 0,0065xL3.2773 ( R2 = 0,9658), trong đó của cá đực là W = 0,0085xL3,1669 (R2 = 0,9703) và của con cái là W = 0,0364xL2,7265 ( R2 = 0,9237)
Về kích cở, trong thời gian từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau nhóm cá có chiều dài nhỏ hơn 20cm chiếm tỷ lệ cao Trong khi đó từ các tháng 3 và 4 nhóm cá có chiều dài từ 20 – 25cm chiếm tỷ lệ cao và xuất hiện các nhóm có chiều dài lớn hơn 25cm
Kết quả nghiên cứu cho thấy Cá Ét Mọi trong giai đoạn sinh trưởng và thành thục ở giai đoạn I và II trong thời gian thực hiện nghiên cứu này Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ cá Ét Mọi thành thục có xu hướng tăng dần; do đó đề nghị tiếp tục nghiên cứu về sự thành thục của cá trong những tháng tiếp theo
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG I GIỚI THIỆU 6
1.1 Đặt vấn đề 6
1.2 Mục tiêu của đề tài 6
1.3 Nội dung của đề tài 6
CHƯƠNG II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
2.1 Hiện trạng nguồn lợi thủy sản 8
2.1.1 Hiện trạng nguồn lợi thủy sản trên thế giới 8
2.1.2 Tình hình nguồn lợi thủy sản Việt Nam 8
2.1.3 Tình hình nguồn lợi thủy sản Đồng Bằng Sông Cửu Long 9
2.1.4 Đặc điểm chung của các loài cá nước ngọt Việt Nam 9
2.2 Đặc điểm hình thái phân loại của cá Ét Mọi 10
2.2.1 Phân loại 10
2.2.2 Phân bố 10
2.2.3 Đặc điểm hình thái sinh trưởng và sinh sản của cá Ét Mọi 12
CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 18
3.2 Vật liệu nghiên cứu 18
3.3 Phương pháp nghiên cứu 18
3.3.1 Thu mẫu 18
3.3.2 Phương pháp phân tích 18
3.4 Phương pháp phân tích số liệu 20
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Đặc điểm hình thái phân loại 21
4.2 Mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng 23
4.3 Xác định nhân tố điều kiện CF 26
4.4 Xác định giới tính 27
4.5 Biến động kích thước quần thể theo chiều dài 29
4.6 Đặc điểm phát triển của tuyến sinh dục 30
4.6.1 Đặc điểm hình thái của tuyến sinh dục 30
4.6.2 Sự biến động của tuyến sinh dục 31
CHƯƠNG V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 35
5.1 Kết luận 35
5.2 Đề xuất 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
PHỤ LỤC 38
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3 1 Bậc thang thành thục sinh dục theo Nikolsky (1963) Bảng 4.1 Các chỉ tiêu phân tích trên mẫu cá (n = 306) và tỉ lệ các số đo Bảng 4.2 Bảng đối chứng tài liệu
Bảng 4.3 Các hệ số điều kiện của mối quan hệ giữa chiều dài và trọng lượng Bảng 4.4 Nhân tố điều kiện CF của cá Ét Mọi qua các tháng thu mẫu
Bảng 4.5 Tỷ lệ đực cái của cá Ét Mọi qua các tháng thu mẫu (%), n: số cá thể Bảng 4.6 Chiều dài trung bình và phân nhóm theo các kích cỡ trong các mẫu thu Bảng 4.7 Tỷ lệ (%) các giai đoạn thành thục của cá Ét Mọi
DANH MỤC HÌNH
Trang 7Hình 4.1 Bản đồ địa điểm thu mẫu cá Ét Mọi
Hình 4.2 Hình thái bên ngoài của cá Ét Mọi (Moruslius chrysophekadion)
Hình 4.3 Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng của cá Ét Mọi
Hình 4.4 Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng của cá Ét Mọi đực
Hình 4.5 Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng của cá Ét Mọi cái
Hình 4.6 Biến động hệ số điều kiện của cá Ét Mọi qua các tháng thu mẫu
Hình 4.7 Tỷ lệ đực cái của cá Ét Mọi qua các tháng thu mẫu
Hình 4.8 Sự biến động về kích cỡ theo chiều dài trung bình qua các tháng thu mẫu
Hình 4.9 Biến động về kích cỡ theo chiều dài qua các tháng thu mẫu
Hình 4.10 Tỷ lệ (%) các giai đoạn thành thục của cá Ét Mọi ở tháng 11/ 2009 Hình 4.11 Tỷ lệ (%) các giai đoạn thành thục của cá Ét Mọi ở tháng 12/ 2009 Hình 4.12 Tỷ lệ (%) các giai đoạn thành thục của cá Ét Mọi ở tháng 1/ 2010 Hình 4.13 Tỷ lệ (%) các giai đoạn thành thục của cá Ét Mọi ở tháng 2/ 2010 Hình 4.14 Tỷ lệ (%) các giai đoạn thành thục của cá Ét Mọi ở tháng 3/ 2010 Hình 4.15 Tỷ lệ (%) các giai đoạn thành thục của cá Ét Mọi ở tháng 4/ 2010 Hình 4.16 Tỷ lệ các giai đoạn thành thục của cá Ét Mọi qua các tháng thu mẫu
Trang 8CHƯƠNG I GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Từ lâu các loài thủy sản được coi là nguồn thức ăn tự nhiên có giá trị dinh dưỡng cao của con người Trước đây khi con người sử dụng thủy sản, người ta thường nghĩ đến các sản phẩm khai thác từ biển hoặc sông hồ Do đó, nhu cầu của con người đối với loại thực phẩm này ngày càng cao, và con người cũng có nhiều hoạt động để bảo tồn và phát triển nguồn dinh dưỡng vô giá này Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc khai thác các loài thủy sản quá mức cùng với việc
sử dụng các loại nông dược, hóa chất, thuốc trừ sâu… đã làm giảm đáng kể sản lượng thủy sản
Nghề nuôi cá ở nước ta phong phú về giống loài đặc biệt là ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Nghề nuôi cá ở các ao hồ cũng có từ lâu nhưng chiếm vị trí quá nhỏ
bé so với nghề đánh cá Do đó, việc phát triển đối tượng nuôi mới với những loài
cá bản địa có triển vọng về kinh tế trong đó cá Ét Mọi là sự cần thiết
Cá Ét Mọi là loài có kích thước lớn, thịt ăn rất ngon, sản lượng khá nhiều ở hạ lưu sông Điều này cho thấy cá Ét Mọi đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng trong nước và có thể dùng để xuất khẩu khi đủ điều kiện Tuy nhiên, hiện nay loài cá này không còn nhiều ngoài tự nhiên, nhất là cá lớn và những nghiên cứu về loài cá này ở nước ta chưa nhiều, đặc biệt là đặc điểm về sinh học sinh sản của cá Ét
Xuất phát từ nhận thức trên, việc nghiên cứu các vấn đề về sinh học của loài cá này sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho hoạt động khai thác và bảo vệ nguồn lợi, đồng thời làm nền tảng cho qui trình sản xuất giống và nuôi đối tượng
có giá trị này Trên cơ sở đó, đề tài “ Nghiên cứu một số đặc điểm thành thục
sinh dục của cá Ét Mọi (Morulius chrysophekadion) tại tỉnh An Giang” được
thực hiện
1.2 Mục tiêu của đề tài
Cung cấp một số dẫn liệu về đặc điểm sinh học của cá Ét Mọi để làm cơ sở cho việc xây dựng qui trình sản xuất giống và phát triển nghề nuôi thương phẩm của loài cá này trong tương lai, đồng thời góp phần bảo vệ nguồn lợi cá tự nhiên
và giữ gìn đa dạng sinh học các giống loài thủy sản
1.3 Nội dung của đề tài
Để thực hiện được mục tiêu trên đề tài cần tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:
Trang 9- Xác định đặc điểm hình thái phân loại của cá Ét Mọi
- Xác định mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng của cá Ét Mọi
- Nghiên cứu một số đặc điểm thành thục sinh dục của cá Ét Mọi
Trang 10CHƯƠNG II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Hiện trạng nguồn lợi thủy sản 2.1.1 Hiện trạng nguồn lợi thủy sản trên thế giới
Nguồn lợi thủy sản ngày càng được đánh giá là nguồn tài nguyên quan trọng trong các loại hình thủy vực Cá cung cấp nguồn chất đạm đáng kể cho cuộc sống con người ở rất nhiều quốc gia trên thế giới , là nguồn thực phẩm rẻ tiền, tươi sống và có giá trị dinh dưỡng cao Vì vậy, việc khai thác nguồn lợi thủy sản ngày càng cao, điều đó càng làm cho nguồn lợi thủy sản ngày càng suy giảm một cách nhanh chóng do khai thác quá mức và và việc thay đổi vùng sinh sống của chúng (Nguyễn Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)
Sản lượng khai thác hải sản trên toàn thế giới nói chung có khuynh hướng bảo hòa trong suốt 10 - 15 năm qua, mặc dù có sự gia tăng hoặc suy giảm ở một vài đối tượng hay khu vực Kết quả quan sát biến động trữ lượng cho thấy vấn đề khai thác quá mức của con người và việc làm thay đổi vùng sinh sống của chúng
đã làm suy giảm nguồn lợi thủy sản, mặc dù trong những năm 70 và 80 có một số dấu hiệu phục hồi nguồn lợi Theo kết quả ước tính đến năm 2005, chỉ có ¼ nhóm nguồn lợi hải sản được khai thác chưa vượt mức cho phép, trong đó khai thác dưới mức cho phép chỉ chiếm 2% và khai thác ở mức độ cho phép chiếm 20% Trong khi đó khoảng một nữa (52%) đã đạt mức khai thác tối ưu, vì vậy sản lượng khai thác của chúng đã đạt đến mức tối đa Trong một phần tư còn lại, 17% bị khai thác quá mức, 7% khai thác cạn kiệt và 1% đang được phục hồi Theo thống kê của FAO (2006), 75% trữ lượng cá biển trên thế giới đã đạt hoặc vượt mức khai thác tối đa, điều đó cho thấy rằng khả năng khai thác nguồn lợi hải sản đã lên đạt mức bảo hòa Do đó nghề cá cần phải được quan tâm hơn nửa
và công tác phát triển nghề cá cũng cần phải được quản lý chặt chẽ hơn Trong
đó đặc biệt chú ý đối với những đối tượng khai thác chủ lực có tập tính di cư xa trong những vùng biển sâu như cá thu và cá ngừ
2.1.2 Tình hình nguồn lợi thủy sản Việt Nam
Việt Nam được đánh giá là nước đa dạng, độc đáo về hệ sinh thái và thành phần loài cả về khu hệ nước ngọt và nước biển Nguồn lợi thủy sản nước ngọt đóng vai trò quan trọng không kém Theo thống kê của Bộ thủy sản (1996) đã xác định được 544 loài , thuộc 18 bộ, 57 họ và 228 giống (Nguyễn Tấn Trịnh, 1996)
Trang 11Theo A.krempj và P.Chevay (1993) cho rằng khu hệ cá nước ngọt Việt Nam và Campuchia rất giống với khu hệ cá Indonexia Do đó khu hệ cá nước ngọt miền Nam (thuộc lưu vực sông Cửu Long) được xếp chung với hệ cá phân bố ở vùng
Mã Lai, Thái Lan và Indonexia ( Mai Đình Yên, 1979)
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thủy sản khắp cả nước về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt Tính đến năm 2003 đã sử dụng 612.778 ha nước mặn, lợ và 254.835 ha nước ngọt để nuôi thủy sản (www.fistenet.gov.vn, 22/ 04/2010)
2.1.3 Tình hình nguồn lợi thủy sản Đồng Bằng Sông Cửu Long
Theo báo cáo hằng năm của các Chi Cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản các tỉnh ven biển ĐBSCL (1986 - 1995), trong 2 thập kỷ qua, nhờ khai thác nguồn lợi thuỷ sản ven biển của các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đã cung cấp một lượng đáng kể thực phẩm cá cho 16 triệu dân trong vùng và một phần cho cả nước Trong đó có nhiều loại cá, tôm có giá trị kinh tế cao được xuất khẩu sang các nước khác Sản lượng khai thác ngày càng tăng dần theo qui mô tàu, thuyền được sử dụng cho khai thác thuỷ sản Tuy nhiên, việc tăng sản lượng khai thác qua việc tăng số lượng tàu thuyền, đa dạng hoá các công cụ khai thác, cộng với
áp lực dân số ngày càng tăng đã đưa đến việc khai thác quá mức và làm suy giảm nguồn lợi thuỷ sản, suy thoái môi trường vùng ven biển Việc cần thiết là nhận thức rõ các nguy cơ và tìm biện pháp khắc phục nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững tài nguyên thuỷ sản, an toàn thực phẩm cho người dân trong vùng
Nguồn lợi thủy sản vùng ĐBSCL mang tính chất nhiệt đới rõ rệt và được đánh giá là đa dạng về thành phần loài cũng như phong phú về sản lượng theo Nguyễn Văn Hảo & ctv (1976) (trích dẫn bởi Hà Phước Hùng, 2006) Xác định có 236 loài cá đã tìm thấy, trong đó có 74 loài thuộc họ cá chép (chiếm 31,36%) và 51 loài thuộc họ cá trơn (chiếm 21,6%) Trong đó có hơn 50 loài cá kinh tế và có khoảng 10 loài đang được nuôi trong các bè, ao, hồ bé (Nguyễn Tấn Trịnh, 1996) (trích dẫn bởi Hà Phước Hùng, 2006)
2.1.4 Đặc điểm chung của các loài cá nước ngọt Việt Nam
Cá thường có tuổi thọ thấp, từ 1 vài năm đến 7-8 năm, ít gặp cá ở độ tuổi 15 năm Sinh sản, tuổi thành thục lần đầu đến sớm, 1-3 tuổi đối với loài cá nhỏ, trung bình 3-4 năm đối với các loài cá lớn (Trắm đen, cá Măng, cá Hô…) hoặc 6-8 năm đối với cá Măng Sữa Sức sinh sản tùy theo từng loài cá, đối với các loài biết bảo vệ và chăm sóc con như cá Chuối chỉ đẻ 7.000-8.000 trứng, trái lại có loài đẻ đến hàng triệu trứng như cá Măng Sữa 3-4 triệu, cá Hô 6 triệu trứng, Mùa vụ sinh sản gần như quanh năm, song tập trung vào tháng Xuân Hè, đối với
Trang 12loài cá di cư đẻ, nhất là loài có nguồn gốc biển thường sinh sản vào mùa lũ (Theo
Hà Phước Hùng và Trần Đắc Định, 2006)
Nhờ cấu trúc tuổi đơn giản, tuổi thành thục sớm, sức sinh sản cao, đẻ đa chu kỳ, điều kiện thức ăn dồi dào, cá thường lớn nhanh, khả năng tái sản xuất số lượng, quần thể lớn Theo thống kê nhiều năm cho thấy trữ lượng cá nước ngọt ở các thuỷ vực Việt Nam có thể khai thác được trên 200.000 tấn/ năm và thực tế riêng các tỉnh Nam Bộ đã có thời kỳ khai thác đạt 150.000 tấn/ năm (trước 1975) Đồng Bằng Bắc Bộ khai thác đạt 5.000-7.000 tấn/năm (vào những năm 1970) ( theo Hà Phước Hùng và Trần Đắc Định, 2006)
2.2 Đặc điểm hình thái phân loại của cá Ét Mọi 2.2.1 Phân loại
Theo dẫn liệu từ http://www.itis.gov hệ thống phân loại của cá Ét Mọi được xác định như sau:
Giới Animal - Động vật Ngành Chordata - Động vật có dây sống Tổng lớp Osteichthyes – Cá xương
Lớp Actinopteruygii – Cá vây tia
Bộ Cypriniformes – Cá chép
Họ Cyprinidae – Cá chép
Loài Morulius chrysophekadion (Bleeker, 1850)
- Tên tiếng Anh: Black Shark monon
- Các đồng danh: Rohita chrysophekadion , Rohita cyanomelas…
2.2.2 Phân bố
Hệ thống sông Mê Kông là một trong những hệ thống sông lớn và màu mỡ trên thế giới (theo Ủy Hội Sông Mê Kông) Nó cung cấp thực phẩm và sinh kế cho hàng triệu cư dân Sông Mê Kông chứa đựng một trong những khu hệ cá phong phú và đa dạng trên thế giới (Sverdrup-Jensen, 2002) (trích dẫn bởi Ủy Hội Sông
Mê Kông) Có ít nhất 1200 loài cá đang sống ở đây đại diện cho nhiều họ, đa dạng về mặt hình thái và đời sống Nhưng tất cả các loài chỉ thỉnh thoảng mới bắt được, chỉ có 50-100 loài đánh được thường xuyên, chúng sống chủ yếu ở những vùng đồng bằng màu mỡ, nơi có nhiều dân cư Ở hạ lưu sông Mê Kông sản lượng nghề cá nội địa ít nhất là 2 triệu tấn/ năm (Hortle and Bush, 2003) (trích dẫn bởi Ủy Hội Sông Mê Kông), làm cho nghề cá ở đây thành nghề lớn hàng thế giới Cá được đánh chủ yếu là cá tự nhiên, trong đó cá trắng di cư chiếm phần chủ yếu
Trang 13Những loài cá trắng có cự li di cư xa đặc biệt bị tổn hại bởi vì chúng phụ thuộc vào nhiều nơi cư trú, phạm vi phân bố rộng và và phụ thuộc vào hành lang di cư nối những nơi di trú khác nhau Cá chủ yếu di cư ngược dòng đến bãi đẻ khi mức nước bắt đầu lên, đẻ trứng diễn ra khi mức nước vẫn còn tiếp tục lên để đảm bảo dòng chảy mang trứng và cá con đến nơi kiếm mồi ở vùng ngập dưới hạ lưu Sau khi đẻ, cá trưởng thành cũng di chuyển đến các vùng ngập Trong mùa lũ cá kiếm mồi tích cực ở các vùng ngập, sinh trưởng và tích trữ mỡ để sử dụng cho tình trạng hiếm thức ăn mùa khô sắp tới ( theo Ủy Hội Sông Mê Kông) Bãi đẻ của rất nhiều loài cá sông Mê Kông vẫn chưa xác định được nhưng một số lượng lớn các loài cá đã thành thục di chuyển vào các nhánh sông chính thuộc các nước Lào, Thái Lan, và miền Bắc Campuchia và Việt Nam (theo Ủy Hội Sông Mê Kông)
Cá Ét Mọi sống ở môi trường nước ngọt, sống ở tầng mặt và tầng đáy Phân bố chủ yếu ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Indonexia và vùng hạ lưu sông MêKông ở Việt Nam Chúng thường được tìm thấy ở các sông suối, kênh rạch và vùng ngập
lũ, đôi khi cũng được tìm thấy trong các ao nhưng với số lượng không nhiều (theo www.fishbase.org)
Morulius chrysophekadion là một trong những giống cá chép lớn Một cuộc khảo
sát về sự phân bố trên lưu vực từ các trạm phía Bắc của Lào và Thái Lan đến trạm phía Nam Bassac và ĐBSCL của Việt Nam Quá trình sinh sản của loài cá này khi quan sát thấy trứng có trong bụng của cá từ giữa tháng 2 đến tháng 10, và cho rằng quá trình sinh sản của cá kéo dài từ tháng 4 đến tháng 7 Do đó cho thấy
cá Ét Mọi là loài cá có mùa sinh sản tương đối dài Loài cá này thường đẻ trứng trong ruộng lúa ngập nước và đồng cỏ Ở Lào và Thái Lan, loài cá này bắt đầu di
cư lên thượng nguồn lúc bắt đầu gió mùa và tiếp tục di chuyển vào nhánh sông vùng đồng bằng để đẻ trứng (theo Ủy Hội Sông Mê Kông)
Theo Alders F và ctv ( 2002), đã xác định được 3 hệ di cư riêng biệt liên quan đến nhiều loài cá có liên hệ mật thiết với nhau là: hệ hạ lưu, trung lưu và thượng lưu Những hệ di cư này được hình thành từ việc thích nghi với điều kiện thủy văn và hình thái của các vùng hạ lưu, trung lưu và thượng lưu của sông Mê kông Theo Thi Thanh Vinh và ctv (2004), mùa vụ sinh sản của cá Ét Mọi bắt đầu vào mùa mưa, sau khi thành thục cá bơi ngược dòng tìm nơi đẻ tại các nơi dọc bờ sông Cá bột mới nở lập tức di chuyển đến chỗ có cỏ ngập nước dọc bờ sông để lẫn tránh địch hại và bị nước cuốn trôi vào nội đồng Trong ao cá có thể đẻ từ tháng 5 đến tháng 10, ở Thái Lan mùa vụ sinh sản của cá Ét Mọi từ tháng 7 – 8 Theo Mai Đình yên (1983), Phạm Đình Khôi (2005) cá Ét Mọi đẻ vào tháng 4-9
cá có thể tái thành thục trong thời gian 20 – 123 ngày và cho sinh sản 1- 3 lần trong năm
Trang 142.2.3 Đặc điểm hình thái sinh trưởng và sinh sản của cá Ét Mọi 2.2.3.1 Đặc điểm hình thái của cá Ét
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) đã mô tả cá Ét Mọi như sau:
U Góc miệng chưa chạm đến đường thẳng đứng kẻ từ bờ trước của mắt Môi rất phát triển có nhiều gai thịt Phần giữa sau môi dưới có nhiều gai thịt to hơn các phần khác Có 2 đôi râu: Râu mõm và râu mép, 2 râu này tương đương nhau và tương đương đường kính mắt Mắt lớn và hơi lệch về phía trên của đầu, gần điểm cuối nắp mang hơn gần chót mõm Phần trán giữa hai mắt cong lồi
- Thân thon dài, dẹp bên Vảy tròn phủ khắp thân, đầu không có vảy Có 5 hàng vảy phủ lên gốc vi đuôi Đường bên hoàn toàn bắt đầu từ mép trên lỗ mang, hơi cong xuống quá đường ngang giữa thân và cuối cùng qua điểm giữa gốc vi đuôi
- Tia đơn vi lưng và hậu môn không hóa xương, vi đuôi chẻ hai
- Cá có màu xám đen, mặt lưng đậm hơn mặt bụng và 2 bên Bụng cá có màu xám trắng Trên thân có nhiều chấm đen và đỏ Các vi có màu xám đen
Theo Mai Đình Yên (1983) mô tả cá Ét Mọi như sau:
Vi lưng D (3- 4), (15 – 16) Vây hậu môn A 3, 5
- Cá có thân dẹp bên, lưng cao Mõm rộng, tròn, với nhiều lỗ ở trước, với nếp gấp mõm phủ phần gốc của giữa môi trên Miệng ở phía dưới, vòng cung nhiều hoặc ít, môi trên rất mỏng, ngăn cách với mõm bởi một rãnh sâu Môi dưới phân biệt với cằm bởi một rãnh sâu, phần giữa có khía tua cờ
- Râu có hai đôi, đôi râu mõm dài hơn, còn đôi râu hàm thì bằng đường kính mắt Các vây đều cao, chiều cao của vây lưng dài hơn chiều dài đầu và bằng hoặc dài hơn chiều cao thân Vây ngực kéo dài đến gốc vây bụng, vây bụng kéo dài đến gốc vây hậu môn, các tia vây trước của vây hậu môn bằng chiều cao thân và dài hơn chiều dài đầu Vây lưng không có tia gai cứng
-Thân có màu đen đều đến tím hoặc xám nâu, mặt dưới của đầu màu sáng, các vây đều đen
Trang 15Cá Ét Mọi phân bố chủ yếu ở Đông Nam Á: sông Mê Kông và sông Phraya ở Thái Lan cho đến bán đảo Ma-lay, Tây Indonesia và Bor-neo Kiếm ăn ở nơi cư trú vùng ngập ăn thực vật ngập nước như tảo, periphyton, phytoplankton, cây cỏ
và mùn hữu cơ Là loài cá đẻ tùy tiện nên có thể đẻ ở nhiều nơi như đầm, nơi cư trú vùng ngập đồng bằng và chổ nước nông trên sông Đẻ trứng vào đầu mùa lũ Vào lúc bắt đầu mùa mưa ( tháng 5-6) cá thành thục di cư vào vùng ngập để đẻ trứng, cá bột và cá con ở lại vùng ngập kiếm ăn cho đến khi mức nước bắt đầu xuống vào đầu mùa khô Cả 2 nhóm cá trưởng thành và cá con đều quay về sông
và cuối cùng đến dòng chính để tìm nơi ẩn náu mùa khô Ở trung lưu sông Mê Kông chúng di cư ngược dòng vào các nhánh sông chính Khi nước bắt đầu lên chúng vượt qua bờ sông vào vùng ngập.Ở hạ lưu sông Mê Kông chúng có thể từ dòng chính đi thẳng vào vùng ngập ( theo Ủy Hội Sông Mê Kông)
2.2.3.2 Sự sinh trưởng của cá
Theo Bùi Lai và ctv (1979), sự sinh trưởng của cá là sự gia tăng về kích thước và trọng lượng cơ thể, là một trong những cơ chế quan trọng đảm bảo cho cá điều chỉnh sự thay đổi độ đảm bảo thức ăn Sinh trưởng này kéo dài suốt đời sống của
cá và chậm dần khi cá vào giai đoạn già, cá càng nhiều tuổi sẽ có kích thước và trọng lượng càng lớn Cá sinh trưởng chậm có kích thước nhỏ, sinh trưởng nhanh thì có kích thước lớn
Tuy nhiên, trong suốt vòng đời của cá, tốc độ tăng trưởng không đồng đều mà có
sự nhanh hay chậm tùy vào từng giai đoạn Cá sinh trưởng nhanh nhất trước khi thành thục, khi vào giai đoạn thành thục cá sinh trưởng chậm lại và khi cá sinh sản hầu như nó không sinh trưởng
Theo Mai Đình Yên (1979), quá trình phát triển của cá là quá trình cơ thể cá biến đổi một cách thích ứng về chất và về lượng từ lúc mới sinh ra cho đến lúc chết đi Bao gồm tất cả các chu kì sống của cá như: tế bào trứng, trứng, phôi tự do, tiền
ấu trùng, ấu trùng, cơ thể non, cá thể tưởng thành và già nua Theo Phạm Đình Khôi và ctv (2005), cá Ét Mọi đạt kích cỡ 6,86cm và trọng lượng trung bình 3,1g sau 60 ngày ương
Cá Ét Mọi có trọng lượng tối đa là 5 kg, chiều dài tối đa là 500mm, cỡ khai thác thông thường là 30cm, cá có tốc độ lớn vừa phải, cá 2 tuổi có chiều dài 30cm, cá
3 tuổi khoảng 45cm Cá sống ở vùng trũng lớn nhanh hơn ở sông (Mai Đình Yên, 1983; Mai Đình Yên và ctv, 1992) Cá Ét Mọi hiện chưa được nuôi phổ biến trong ao, do chưa có nguồn cá giống nhân tạo, nguồn cá giống thu ngoài tự nhiên không chủ động về số lượng, chất lượng và kỹ thuật nuôi chưa được phát triển (theo Phạm Đình Khôi và ctv, 2005)
Trang 162.2.3.3 Sự sinh sản của cá
Theo Mai đình Yên (1979), sinh sản là một khâu quan trọng của chu trình sống của cá Đặc biệt là các quần đàn cá được bảo tồn Sự sinh sản và sinh trưởng của mỗi loài cá thích nghi với những điều kiện nhất định và được phản ánh trên những thời điểm của trứng và phôi và những thời kì còn lại của đời sống
Thông thường ở nước ngọt, trong cùng loài, cá cái có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn cá đực Tuy nhiên có một số ít loài, cá đực tăng trưởng nhanh hơn cá cái Trong một chu kì sống, cá trải qua nhiều giai đoạn phát triển cơ thể khác nhau,
đó là các giai đoạn: phôi- ấu trùng- tiền trưởng thành- trưởng thành- “già”, trong từng giai đoạn này có các đặc trưng sinh lý, sinh thái tương ứng cũng là những căn cứ làm cơ sở phân chia các giai đoạn phát triển của cá (theo Phạm Minh Thành và Nguyễn văn Kiểm, 2009)
Tuổi và kích cỡ thành thục sinh dục cũng là đặc điểm thích nghi với điều kiện sinh sản hay là đặc tính của loài ở các loài cá khác nhau Sinh sản xảy ra vào một
độ tuổi và kích thước xác định Trong một quần thể tuổi trưởng thành giữa các cá thể thay đổi và có liên quan đến sự tăng trưởng của chúng Số lượng trứng là biểu hiện sự thích nghi của loài với điều kiện sinh sản và điều kiện môi trường Đồng thời kích thước của trứng cũng khác nhau giữa các loài và phụ thuộc vào lượng dự trữ chất dinh dưỡng của trứng Khi điều kiện môi trường thay đổi thì sức sinh sản của cá cũng thay đổi theo
Sự biến đổi những yếu tố khí hậu, kéo theo những biến đổi điều kiện khác của môi trường ( thức ăn, lưu tốc dòng chảy, độ trong, mực nước…) theo mùa trong năm Những biến đổi đó đã tạo thành các nhịp sinh học, các mùa sinh học Trong môi trường nước, các mùa sinh học có thể là sự phát triển theo mùa của các nhóm sinh vật, là mùa vỗ béo, mùa di cư, mùa sinh sản… Cá sinh sản vào những thời điểm, những mùa có điều kiện môi trường thuận lợi cho sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển của phôi và cá con (theo Phạm Minh Thành và Nguyễn văn Kiểm, 2009)
Theo Phạm Văn Khánh thì cá Ét Mọi được Trung tâm quốc gia thủy sản nước ngọt Nam Bộ huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang thuần dưỡng và cho sinh sản nhân tạo thành công, thích hợp với điều kiện nuôi ao bè, ăn thức ăn viên, ngoài việc giữ gìn sự đa dạng giống loài bản địa còn đáp ứng được nhu cầu nuôi thương phẩm (theo www.vietlinh.com.vn)
Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Ét Mọi được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long (Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản II) Cá bố mẹ có nguồn gốc tự nhiên được tập hợp và nuôi vỗ thành thục trong
ao Cá cái được kích thích sinh sản bằng hormone, cá cái được tiêm não thùy thể
Trang 17và LH-RH Sau liều tiêm quyết định từ 5 – 6 giờ cá cái bắt đầu rụng trứng Sức sinh sản tương đối của cá Ét Mọi là 8.500 – 66.000 trứng/ kg Tỷ lệ thụ tinh và tỷ
lệ nở lần lượt là 20 – 88% và 31 – 93% Thời gian ấp khoảng 12 giờ ở nhiệt độ nước 29 – 30o C Cá bột được ương thành cá giống, sau 60 ngày ương cá đạt trọng lượng 3,91g và chiều dài 6,86cm Tỷ lệ sống của cá khoảng 72%
Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn văn Kiểm (2009) Sức sinh sản của cá tùy thuộc vào điều kiện môi trường sống (nhất là điều kiện dinh dưỡng và điều kiện nhiệt độ) và mang theo đặc tính loài rõ rệt Những loài cá đẻ trứng kích thước lớn hoặc có bảo vệ trứng và ấu trùng thì có sức sinh sản thấp Những loài cá có trứng nhỏ lượng noãn hoàn ít và những loài cá không bảo vệ trứng, không bảo vệ cá con thì có sức sinh sản cao hơn Theo quy luật tự nhiên, sự phát triển của tuyến sinh dục cá trải qua trình tự của 6 giai đoạn trình tự đó diễn ra trong trường hợp các điều kiện sinh lý, sinh thái thuận lợi Khi cá đã thành thục mà gặp các điều kiện môi trường thích hợp cho sự tồn tại, phát triển của phôi và ấu trùng thì cá sẽ sinh sản Ở ĐBSCL, mùa mưa thường được bắt đầu vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5 Thời gian này, nhiệt độ nước có dấu hiệu giảm, chuyển từ nóng cuối mùa khô sang mát đầu mùa mưa, mực nước thủy vực dâng cao do những lần mưa đầu mùa Đó là những điều kiện cần thiết, quan trọng được coi là dấu hiệu sinh thái sinh sản của hầu hết các loài cá ở ĐBSCL Đặc điểm phát triển tuyến sinh dục theo chu kỳ, liên hệ chặt chẽ với các thời điểm ( tháng) trong năm, tạo nên đặc tính sinh sản theo mùa của cá
Trong quá trình phát triển của tuyến sinh dục, nhất là của buồng trứng, cá cần được cung cấp lượng thức ăn khá lớn Chúng vừa được sử dụng để cung cấp năng lượng cho hoạt động sống hằng ngày, vừa tham gia vào quá trình tạo sản phẩm sinh dục
Cá Ét Mọi có tuổi thành thục lần đầu là 1+ khi cá đạt trọng lượng là 0,9kg, sức sinh sản tuyệt đối từ 42.306 – 448.217 trứng và sức sinh sản tương đối từ 28.204 – 129.918 trứng ( Phạm Đình Khôi và ctv, 2005)
Theo Tienchareon và ctv (1989) được trích dẫn bởi Đặng Văn Trường và ctv (2005), trọng lượng cá cho sinh sản nên trong khoảng 0,8 – 3,5 kg Theo Ounsrisong và ctv (1990) cá 1 năm tuổi không tích hợp làm cá bố mẹ
Mùa vụ sinh sản cá Ét Mọi từ tháng 4 – 9 ( cá có thể tái thành thục trong thời gian từ 20- 123 ngày và cho sinh sản 1 – 3 lần trong năm Theo Tienchareon và ctv (1989), mùa vụ sinh sản cá Ét Mọi từ tháng 5 – 10 trong ao đất
Để đánh giá về tiềm năng thương mại của loài cá này thì nguồn thông tin về sức sinh sản của cá là rất cần thiết, sự hiểu biết về sức sinh sản giúp ta có thể đánh giá sự phong phú của quần đàn cũng như khả năng sinh sản của loài cá này
Trang 18 Hệ số thành thục:
Hệ số thành thục là một chỉ số để dự đoán mùa vụ sinh sản của cá Sự thay đổi theo mùa của khối lượng tuyến sinh dục có thể thấy ở trên cá cái do tăng trọng nhanh chóng khối lượng sản phẩm sinh dục Xác định hệ số thành thục chủ yếu dựa vào tuyến sinh dục Khối lượng tuyến sinh dục là chỉ tiêu về số lượng để đánh giá tình trạng thành thục của cá (theo Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)
Theo Pravdin (1973), khối lượng tuyến sinh dục là một trong những điều kiện giải thích mức độ chín muồi của các sản phẩm sinh dục và hệ số thành thục ngày càng được sử dụng trong các công trình nghiên cứu hiện nay Hệ số này cho phép
ta theo dõi quá trình chín của sản phẩm sinh dục Sự thiếu sót của hệ số này là ở chỗ tính khối lượng hoàn toàn thân cá (gồm cả ruột và các thứ trong đó) Vì vậy, khối lượng này thay đổi theo độ no của ruột Ở những loài cá có dạ dày no, hệ số thành thục giảm đi rất nhiều
Kích thước đường kính trứng:
Việc xác định đường kính trứng bằng phương pháp lấy mẫu đại diện nên không thể đo các trứng trong buồng trứng Trước khi lấy mẫu đại diện cần thiết phải xác định xem có sự khác biệt có ý nghĩa về số lượng hoặc về đường kính trứng trung bình giữa các phần trước, giữa và sau của từng buồng trứng hay của
cả 2 buồng trứng Nếu không có sự khác biệt thì mẫu đại diện có thể lấy một cách ngẫu nhiên Đối với cá có mức sinh sản lớn được lấy từ 8 – 10 mẫu đại diện cho mỗi cá cái Mẫu đại diện đo ngẫu nhiên đường kính khoảng 200 trứng bằng kính lúp có trắc vi thị kính sẽ được đo để đảm bảo tính ngẫu nhiên của các số đo
và tránh sự trùng lập kết quả các số đo đường kính trứng có thể được biểu diễn bằng đồ thị hoặc sắp xếp thành bảng ( Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)
Theo Leng Bung Long (2005), dựa vào các tần số xuất hiện của đường kính trứng có thể chia các loài cá ra làm 3 nhóm:
- Nhóm 1: Bao gồm các loài cá chỉ mang 1 lứa trứng có cùng giai đoạn thành thục trong buồng trứng Sự sinh sản của nhóm cá này theo nhịp 1 năm, chu kì thành thục và thoái hóa của buồng trứng xảy ra chỉ 1 lần trong năm trên tất cả các
cá thể trong quần thể vào thời điểm bắt đầu của mùa mưa Đối với nhóm này, tuyến sinh dục thể hiện sự thay đổi theo mùa và ở bất kì vào thời điểm nào tuyến sinh dục của hầu hết các cá thể trong quần thể sẽ có cùng giai đoạn thành thục
- Nhóm 2: Bao gồm các loài cá có buồng trứng từ 2 lứa trứng với giai đoạn thành thục khác nhau Trong nhóm này, chu kì sinh sản của các cá thể trong quần thể
Trang 19thì độc lập với nhau Mùa vụ sinh sản kéo dài, giai đoạn thành thục thể hiện sự chồng lấn nhau, gối lên nhau trong quần thể
- Nhóm 3: Buồng trứng của các loài cá trong nhóm này có đủ tất cả các kích cỡ
từ nhỏ nhất đến lớn nhất và khó có thể chia thành các lứa trứng Chu kì thành thục và sinh sản trở thành một tiến trình liên tục
Theo Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định (2004), chu kỳ sinh sản của cá thường được xác định bằng việc khảo sát về hình thái và tổ chức mô của tuyến sinh dục
Sự thay đổi về hình thái và có tính chu kỳ của tuyến sinh dục (như hình dạng và cấu trúc) thường được sư dụng để đánh giá giai đoạn thành thục của cá
2.2.3.4 Đặc tính dinh dưỡng của cá
Thức ăn là cơ sở cung cấp chất dinh dưỡng cho quá trình trao đổi chất của động vật thủy sản Nếu không có thức ăn thì không có quá trình trao đổi chất
Cá Ét Mọi là loài cá ăn đáy, lúc nhỏ ăn tảo và thực vật nhỏ, nghiên cứu thức ăn trong ruột cá là rễ cây, tảo , thực vật nhỏ, các mãnh vụn và giáp xác Cá chủ yếu tìm thức ăn ở đáy ao bằng cách sạch bùn (Thi Thanh Vinh và ctv, 2004)
Theo Mai Đình Yên (1983), cá Ét Mọi thuộc nhóm ăn sinh vật nổi, thực vật phù
Trang 20CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện
- Đề tài được thực hiện từ tháng 11/2009 đến tháng 04/2010
- Địa điểm nghiên cứu: mẫu cá sau khi thu được giữ lạnh và phân tích tại phòng thí nghiệm Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ
3.2 Vật liệu nghiên cứu
Một số dụng cụ và hóa chất được sử dụng để phân tích: formol, cồn, bàn đo
cá, thước đo kỹ thuật, cân điện tử, khai nhựa, pel, kéo giải phẫu…
3.3 Phương pháp nghiên cứu 3.3.1 Thu mẫu
- Mẫu cá sẽ được thu định kì mỗi tháng 1 lần, số lượng từ 2-15con/lần, mẫu được thu với các kích cở khác nhau tại các hộ ngư dân và các chợ địa phương
- Địa điểm thu mẫu: huyện Châu Phú và Tp Long Xuyên, An Giang
- Mẫu sau khi thu sẽ được giữ lạnh sau đó đưa về phòng thí nghiệm Khoa Thủy Sản- Đai Học Cần Thơ để phân tích
3.3.2 Phương pháp phân tích 3.3.2.1 Đặc điểm hình thái
- Các chỉ tiêu hình thái được xác định dựa theo phương pháp của Pravdin, I F,
1973 kết hợp với quan sát trực tiếp:
+ Chiều dài tổng L (cm) + Chiều cao thân H (cm) + Chiều dài đầu Lđ (cm) + Chiều dài chuẩn Lo(cm) + Khoảng cách giữa 2 mắt OO (cm) + Số tia vi lưng D
+ Số tia vi hậu môn A + Số tia vi ngực P + Số tia vi bụng V
3 3 2 2 Xác lập mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng
Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng được thực hiện bằng cách: Mẫu
cá thu được qua các tháng sẽ được cân, đo khối lượng và chiều dài, sau đó xác lập phương trình tương quan của cá Ét Mọi theo công thức:
Trang 21W = a x Lb Trong đó:
W: khối lượng toàn thân cá (g) L: chiều dài toàn thân cá (cm) a: hệ số diều kiện
b: số mũ của mối quan hệ giữa chiều dài và khối lượng Ngoài ra, King (2007) đã đề xuất công thức để tính hệ số điều kiện như sau:
CF =
b
L W
Trong đó:
CF: hệ số điều kiện W: khối lượng toàn thân cá (g) L: chiều dài toàn thân cá (cm)
3.2.2.3 Đặc điểm sinh học sinh sản
- Nghiên cứu mối tương quan giữa kích thước và sự thành thục của cá trên cơ sở
đo chiều dài tổng và khối lượng của cá Ét có tuyến sinh dục phát triển
- Xác định giới tính và tỷ lệ đực cái:
+ Xác định bằng cách quan sát các đặc điểm hình thái bên ngoài
+ Giải phẫu để quan sát tuyến sinh dục
Theo Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định (2004), khi cần xác định một số lượng lớn mẫu, phương pháp thường được áp dụng là quan sát bằng mắt nếu cần thiết thì sử dụng kính lúp Thông thường, tinh sào thường có dạng hẹp và quăn gợn sóng trong khi noãn sào có dạng ống, màu hồng nhạt và có hạt màu sắc của tuyến sinh dục cũng là một đặc điểm quan trọng để xác định giới tính đối với cá chưa thành thục sinh dục trong khi đó noãn sào thường có màu hồng nhạt hay hơi đỏ
Theo Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định (2004) để xác định các giai đoạn thành thục ta dựa vào:
Trang 22Bảng 3 1 Bậc thang thành thục sinh dục theo Nikolsky (1963) Giai đoạn Mô tả
I Cá thể còn non, chưa thành thục sinh dục
II Tuyến sinh dục có kích thước rất nhỏ, mắt thường không nhìn thấy
được hạt trứng III Giai đoạn thành thục bằng mắt thường có thể nhìn thấy những hạt
trứng, khối lượng tuyến sinh dục tăng lên rất nhanh, tinh sào có màu trắng trong chuyển sang màu hồng nhạt
IV Giai đoạn chín muồi Tuyến sinh dục có kích thước lớn nhất, nhưng
khi ấn nhẹ các sản phẩm sinh dục chưa chảy ra
V Giai đoạn đẻ trứng Các sản phẩm sinh dục chảy ra khi ấn nhẹ vào
bụng cá Khối lượng tuyến sinh dục từ đầu đến cuối giai đoạn đẻ trứng giảm đi rất nhanh
VI Giai đoạn sau khi đẻ Các sản phẩm sinh dục được phóng thích hết,
lỗ sinh dục trong dạng túi mềm nhão, ở con cái thường có những trứng nhỏ còn sót lại, con đực thường sót lại một ít tinh trùng
3.4 Phương pháp phân tích số liệu
Dùng phần mềm Excel để tính toán các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị tối thiểu và tối đa
Trang 23CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm hình thái phân loại
Địa điểm Thu mẫu: Huyện Châu Phú, TP Long Xuyên – An Giang
Hình 4.1 Bản đồ địa điểm thu mẫu cá Ét Mọi
Kết quả thu mẫu ở tỉnh An Giang từ tháng 11/ 2009 đến tháng 04/ 2010 Cho thấy
cá Ét Mọi ở đây chỉ có một giống loài duy nhất, không phát hiện loài nào khác như kết quả trước đây của các tác giả Mai Đình Yên (1983), Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993)
Mô tả:
- Cá Ét Mọi có thân dẹp bên, lưng cao, có vảy tròn phủ khắp thân, đầu trơn láng không có vảy Mõm tù, mõm cá có nhiều nốt sừng kéo dài từ đầu mõm tới mắt Miệng dưới Môi trên rất mỏng ngăn cách với mõm bằng một rãnh sâu và liên tục Môi cá có nhiều gai thịt Cá có 2 đôi râu: râu mõm và râu mép, râu mõm dài hơn râu mép và tương đương với đường kính mắt Đường bên của cá cong xuống phía dưới thân bắt đầu từ lỗ mang kéo dài tới gốc vi đuôi Vi ngực kéo dài đến gốc vi
Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu