1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát TÌNH HÌNH CHẾ BIẾN và TIÊU THỤ sản PHẨM CHẾ BIẾN THỦY sản của TỈNH TRÀ VINH

62 260 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi thì thủy sản cả nước nói chung và thủy sản Trà Vinh nói riêng cũng đã và đang đối mặt với không ít những khó khăn, thử thách về tình hình chế biến thủy

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

2010

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Luận văn tốt nghiệp được hoàn thành bên cạnh sự cố gắng của bản thân trong

4 năm học tập ở trường còn nhờ sự tận tình giúp đỡ của nhiều thầy cô, bạn bè

và gia đình

Trước hết tôi xin gởi lời cảm ơn tới thầy Nguyễn Thanh Long Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, thầy đã hướng dẫn tôi rất tận tâm Những lúc tôi không tìm được hướng mới cho đề tài, thầy luôn nhiệt tình gợi mở hướng đi cho đề tài

Kế tiếp, tôi xin cảm ơn tất cả các cô chú, anh chị ở Sở Nông Nghiệp và Phát Tiển Nông Thôn tỉnh Trà Vinh và ở các Công ty thủy sản Trà Vinh đã cung cấp những thông tin và tài liệu cần thiết để tôi hoàn thành luận văn

Sau đó, tôi xin cảm ơn tới toàn thể giảng viên trong Khoa thủy sản, đã cung cấp những kiến thức vô cùng bổ ích và cần thiết để tôi hoàn thành luận văn

Và tôi nghĩ kiến thức các thầy cô cung cấp không chỉ dừng ở cuốn luận văn này mà là kiến thức vô cùng quý báo để tôi phục vụ cho công việc sau này Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi về vật chất cũng như tinh thần trong thời gian thực hiện luận văn

Phạm Văn Tổng

Trang 4

ty còn thấp cụ thể là: 32,5% về cá tra, 33,4% về tôm và 3,5% các loài cá khác, nguyên liệu chủ yếu được nhập từ nơi khác Vì vậy vấn đề hiện nay là phải làm thế nào để tiêu thụ hết nguồn nguyên liệu trong tỉnh

Trang 5

MỤC LỤC

Tựa mục Trang

Lời cảm tạ i

Tóm tắt ii

Mục lục iii

Danh sách bảng v

Danh sách hình vi

Danh sách từ viết tắt vii

Chương I: Giới thiệu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu 2

1.3 Nội dung 2

Chương II: Lược khảo tài liệu 3

2.1 Tình hình chế biến và xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam 3

2.1.1 Tình hình cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thủy sản ở

Việt Nam 3

2.1.2 Tình hình chế biến và xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam 4

2.2 Tình hình chế biến và xuất khẩu thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long 8

2.2.1 Tình hình cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long 8

2.2.2 Tình hình chế biến và xuất khẩu thủy sản ở ĐBSCL 10

2.3 Tình hình chế biến và xuất khẩu thủy sản ở tỉnh Trà Vinh 11

2.3.1 Tình hình cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thủy sản ở tĩnh Trà Vinh 11

2.3.2 Tình hình chế biến và xuất khẩu thủy sản ở tỉnh Trà Vinh 12

2.4 Những thuận lợi và khó khăn trong chế biến và xuất khẩu thủy sản 13

2.4.1 Những thuận lợi trong chế biến và xuất khẩu thủy sản 13

2.4.2 Những khó khăn trong chế biến và xuất khẩu thủy sản 14

Trang 6

2.4.3 Biện pháp khắc phục những khó khăn trong chế biến và xuất khẩu

thủy sản 15

2.5 Các mô hình nuôi và sản lượng của một số loài chính ở Trà Vinh 15

Chương III: Phương pháp nghiên cứu 18

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18

3.2 Phương pháp nghiên cứu 18

3.2.1 Thông tin thứ cấp 18

3.2.2 Thông tin sơ cấp 18

3.2.3 Số mẫu phỏng vấn 19

3.3 Phương pháp xử lý và phân tich số liệu 19

Chương IV: Kết quả và thảo luận 20

4.1 Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Trà Vinh 20

4.1.1 Sơ lược về ngề nuôi trồng thủy sản 20

4.1.2 Sản lượng thủy sản 22

4.2 Tình hình chế biến thủy sản ở tỉnh Trà Vinh 24

4.2.1 Tình hình phát triển các nhà máy chế biến thủy sản 24

4.2.2 Quy mô nhà máy chế biến thủy sản 26

4.3 Đánh giá hiện trạng sử dụng nguồn nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm chế biến thủy sản 30

4.3.1 Tình hình sử dụng nguồn nguyên liệu thủy sản 30

4.3.2 Tình hình tiêu thụ sản phẩm chế biến thủy sản 31

4.4 Những thuận lợi và khó khăn trong chế biến và tiêu thụ sản phẩm chế biến thủy sản 35

Chương V: Kết luận và đề xuất 37

5.1 Kết luận 37

5.2 Đề xuất 37

Tài liệu tham khảo 38

Phụ lục 40

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG Trang

Bảng 2.1 Tỉ trọng xuất khẩu đối với các ngành hàng năm 2009 4

Bảng 2.2 Mười nước cung cấp tôm hàng đầu cho Nhật T1-T9/2009 7

Bảng 2.3 Tình hình nuôi tôm sú 2008-2009 16

Bảng 4.1 Diện tích mô hình nuôi trồng thủy sản nước mặn-lợ 2005-2009 21 Bảng 4.2 Diện tích mô hình nuôi trồng thủy sản nước ngọt 2005-2009 22

Bảng 4.3 Sản lượng thủy sản 2005-2009 22

Bảng 4.4 Sản lượng các loài thủy sản qua các năm 23

Bảng 4.5 Công suất chế biến và các mặt hàng chế biến của các nhà máy chế biến thủy sản năm 2009 25

Bảng 4.6 Nguồn cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy 26

Bảng 4.7 Các mặt hàng chế biến của các nhà máy 2009 28

Bảng 4.8 Tỉ lệ thành phẩm/nguyên liệu 28

Bảng 4.9 Cơ cấu chi phí chế biến 3 mặt hàng chính 29

Bảng 4.10 Tình hình tiêu thụ nguyên liệu thủy sản trong tỉnh 2009 30

Bảng 4.11 Cơ cấu tiêu thụ theo thị trường nội địa và xuất khẩu của các công ty 2009 31

Bảng 4.12 Cơ cấu sản lượng và giá tiêu thụ nội địa 2009 33

Bảng 4.13 Cơ cấu sản lượng và giá xuất khẩu 2009 34

Bảng 4.14 Thuận lợi và khó khăn trong chế biến 35

Bảng 4.15 Thuận lợi và khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm thủy sản 36

Trang 8

DANH SÁCH HÌNH

Trang Hình 4.1Diện tích nuôi trồng thủy sản qua các năm 20

Hình 4.2 Số lượng nhà máy qua các năm 24

Hình 4.3 Sản lượng chế biến qua các năm 27

Hình 4.4 Sản lượng tiêu thụ nội địa qua các năm 32

Hình 4.5 Sản lượng xuất khẩu qua các năm 34

Hình 4.6 Giá trị xuất khẩu qua các năm 35

Trang 10

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một quốc gia ven biển, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với đường

bờ biển dài 3260 km và vùng biển rộng hơn 1 triệu km2, thuận lợi cho sự phát triển thủy sản Trước đây thủy sản phụ thuộc vào nông nghiệp, do được sự ưu đãi

về địa lý, sự phong phú về điều kiện tự nhiên, sự đa dạng của các mô hình và đối tượng nuôi đã thúc đẩy thủy sản vươn lên và trở thành một trong số những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Trong những năm gần đây thủy sản có tốc độ tăng trưởng nhanh và sản phẩm thủy sản đã trở thành mặt hàng đem lại lợi nhuận xuất khẩu cao đóng góp 4-5% vào tổng sản phẩm quốc nội, 9-10% vào kim ngạch xuất khẩu cả nước, ngoài ra thủy sản cũng đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống của cộng đồng làm nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản (NTTS), bên cạnh đó góp phần làm cho GDP của đất nước tăng trưởng nhanh

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng kinh tế trọng điểm với 8 tỉnh trên

29 tỉnh ven biển của đất nước, đồng thời là vùng có tiềm năng NTTS rất lớn Nhờ những điều kiện thuận lợi về hệ thống sông ngòi và sự tiếp thu nhanh kỹ thuật tiên tiến của người dân, cộng với việc đẩy mạnh cải tiến công nghệ đã giúp cho vùng có thể sản xuất ra những sản phẩm thủy sản có thể cạnh tranh về chất lượng cũng như giá thành sản phẩm Trà Vinh là tỉnh ven biển của ĐBSCL có đường bờ biển dài 65 km, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, thông ra biển Đông bằng cửa Cung Hầu và cửa Định An với những lợi thế về vị trí nên Trà Vinh rất có tiềm năng để phát triển kinh tế biển Trong những năm qua Trà Vinh đã xem thủy sản

là một trong những ngành kinh tế quan trọng Trong 7 tháng đầu năm 2008 ngành thủy sản Trà Vinh đã thu mua 12.347 tấn nguyên liệu (trong đó có 3.149 tấn tôm), chế biến 6.314 tấn, tiêu thụ 6.169 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 24.005.873 USD, vùng nước mặn, lợ đến nay thu hoạch được 8.625 tấn tôm sú 4.117 tấn cua biển Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi thì thủy sản cả nước nói chung và thủy sản Trà Vinh nói riêng cũng đã và đang đối mặt với không ít những khó khăn, thử thách về tình hình chế biến thủy sản trong nước cũng như những khó khăn trong quá trình xuất khẩu như: tình trạng thiếu hụt nguyên liệu, khả năng cạnh tranh của sản phẩm còn yếu, kinh nghiệm quản lý và trang thiết bị khai thác còn lạc hậu, ngày nay các nước nhập khẩu trên thế giới đã đẩy mạnh việc kiểm soát về sản

Trang 11

phẩm và gắt gao hơn về các qui định cho nên thị trường đầu ra gặp nhiều bấp bênh đòi hỏi nhà quản lý tìm ra hướng giải quyết, ngoài ra vấn đề thương hiệu cũng được coi là một thách thức lớn

Như vậy, việc thực hiện đề tài “Khảo sát tình hình chế biến và tiêu thụ sản phẩm chế biến thủy sản của tỉnh Trà Vinh” là cần thiết nhằm khắc phục khó

khăn mà thủy sản Trà Vinh cũng như thủy sản cả nước đang gặp phải, cung cấp thông tin cho công tác quản lý và các tổ chức cơ quan trong việc xây dựng một chiến lược phát triển cho ngành thủy sản của tỉnh

1.2 Mục tiêu đề tài

Phân tích đánh giá hiện trạng chế biến và xuất khẩu thuỷ sản ở tỉnh Trà Vinh nhằm cung cấp thông tin và quản lý phát triển ngành chế biến và xuất khẩu thủy sản ở tỉnh Trà Vinh

1.3 Nội dung đề tài

 Tình hình phát triển các nhà máy chế biến thủy sản (số lượng nhà máy, tổng công suất, quy mô);

 Sản lượng chế biến, cơ cấu nguyên liệu và các mặt hàng chủ yếu;

 Đánh giá hiện trạng sử dụng nguồn nguyên liệu;

 Tình hình tiêu thụ sản phẩm chế biến thủy sản;

 Những thuận lợi và khó khăn trong chế biến và xuất khẩu (CB-XK) thủy sản của tỉnh Trà Vinh

Trang 12

CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Tình hình chế biến và xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam

2.1.1 Tình hình cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thủy sản ở Việt Nam

Hiện nay phong trào nuôi tôm giống, tôm thịt, nuôi cá nước ngọt, nước lợ phát triển từ Nam ra Bắc nhất là vùng biển Đông Nam Bộ các phương thức nuôi cá ruộng, cá ao, cá bè, cá lồng, nuôi sò huyết, nuôi nghêu…tiếp tục mở rộng ở nhiều địa phương tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động và tăng thêm đáng kể thực phẩm cho xã hội Trong những năm đầu thế kỉ 21 ngành thủy sản vẫn giữ được xu hướng phát triển và tiếp tục tạo đột phá mới Tính chung diện tích NTTS năm 2003 là 902.229 ha chưa kể diện tích sông, hồ chứa, mặt nước biến sử dụng cho thủy sản Trong đó diện tích nuôi thủy sản nước lợ là 575.137 ha bằng 36,3% diện tích NTTS cả nước Tổng sản lượng thủy sản năm 2003 đạt 2,5 triệu tấn trong đó sản lượng khai thác đạt 1,42 triệu tấn, sản lượng NTTS đạt 1,1 triệu tấn tăng hơn 15% so với năm 2002 (Cao Nguyễn Tường Vi.2005)

Theo phân tích của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), kinh tế thế giới trong năm 2009 tiếp tục suy thoái, nhu cầu tiêu thụ tại các thị trường lớn giảm, bên cạnh đó là sự cạnh tranh mạnh mẽ của một số nước trong khu vực nên xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm nay tiếp tục gặp khó khăn

Đối với mặt hàng cá tra, ba sa, tình hình thiếu hụt nguyên liệu cũng đang ở trước mắt Do thua lỗ nặng nề trong năm 2008 nên nhiều nông dân đã treo ao, bỏ ao, hiện có đến 50% diện tích ao chưa thả nuôi Theo báo cáo của Bộ Nông Nghiêp

và Phát Triển Nông Thôn (BNN-PTNT), ở ĐBSCL đã có 30 - 50% số hộ nuôi cá

đã treo hầm, khoảng 30 - 40% số hộ bị lỗ và thâm nợ ngân hàng Dự đoán, ngay trong đầu năm 2009, lao động tại các nhà máy buộc phải giảm từ 20-45% Theo Bộ Thủy Sản Việt Nam hiện đang nhập khẩu thủy sản từ 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, với kim ngạch nhập khẩu khoảng từ 90 đến 100 triệu USD/năm, tương đương từ 4 đến 5% kim ngạch xuất khẩu thủy sản Thị trường cung cấp thủy sản chính cho Việt Nam là các nước châu Á như Ấn Ðộ (chiếm 26%), Trung Quốc (18%), Nhật Bản (11%), Hồng Kông (9%), ASEAN (18%), Ðài Loan (6%)

Trang 13

2.1.2 Tình hình chế biến xuất và khẩu thủy sản ở Việt Nam

Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng thủy sản trong tháng 10/2009 ước đạt 450 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của tháng 10 năm 2009 lên 3,488 tỷ USD, giảm 8,7% so với cùng kỳ năm 2008

Bảng 2.1 Tỉ trọng xuất khẩu đối với các ngành hàng năm 2009

Theo Hiệp hội CB-XK thủy sản Việt Nam, cá tra xuất khẩu sang Mỹ vẫn được giá Đây là thị trường nhập khẩu cá tra ổn định nhất từ đầu năm đến nay, xét cả về khối lượng lẫn giá trị Hiện nay, giá trung bình xuất khẩu cá tra là 3,25 USD/kg, tăng 0,1 USD/kg so với cùng kỳ năm ngoái Trong tháng 11, Mỹ đã nhập khẩu khoảng 5.000 tấn cá tra, trị giá hơn 15 triệu USD, tăng gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm tới 10% tỉ trọng xuất khẩu cá tra của Việt Nam

Đối với các mặt hàng xuất khẩu thì ngành hàng tôm (cả tôm đông lạnh và chế biến) hiện đã trở lại vị trí số một với khối lượng xuất khẩu là 95,4 ngàn tấn (tăng 4,64%) nhưng giá trị chỉ đạt 773,7 triệu (giảm 2,12%) với thị trường xuất khẩu chính theo thứ tự là Nhật, Mỹ, EU Tuy nhiên, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, thị trường Nhật vẫn bị sụt giảm so với năm 2008 (giảm 8,26% về khối lượng và 6,51% về giá trị), trong khi Mỹ (tăng 18,54% và 2,29%) và EU (tăng 12,21% và 2,62%) lại có sự tăng trưởng khá, mặc dù khối lượng tăng nhanh hơn giá trị

Ngành hàng giữ vị trí thứ hai là cá tra, basa với khối lượng xuất khẩu 324,38 ngàn tấn, đạt giá trị 733,17 triệu USD Mặt hàng này vẫn đạt được sự tăng trưởng tốt ở

Trang 14

khối thị trường EU (130,37 ngàn tấn; 316,81 triệu USD), Mỹ (21,81 ngàn tấn, 69,37 triệu USD)

Thủy sản Việt Nam có ba thị trường "xừng xỏ" đó là EU, Mỹ và Nhật Bản - chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu Ngoài ra các Tiểu vương quốc Arab cũng là mảnh đất màu mỡ cho doanh nghiệp (DN) thuỷ sản nước ta để mắt, cùng với Bắc Phi và Nam Mỹ Các DN xác định mặt hàng tiêu thụ chủ lực vẫn là cá tra

và tôm Trong thời gian qua, các hoạt động xúc tiến thương mại của Bộ và Vasep

đã góp phần đáng kể trọng việc mở rộng thị phần Đã có 4 đoàn xúc tiến thương mại sang thăm dò và củng có các thị trường Trung Quốc, Nga, Đức và Ai Cập nhằm quảng bá sản phẩm

Năm 2009, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu khiến nhu cầu tiêu thụ các loại thực phẩm cao cấp trên thị trường thế giới sụt giảm mạnh, là cơ hội tốt cho xuất khẩu cá tra, basa Việt Nam, loài cá thịt trắng có giá cạnh tranh, phù hợp với túi tiền của đa số người tiêu dùng Tuy nhiên xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam

lẽ ra có thể tăng, lại liên tục sụt giảm từ đầu năm đến nay

Bên cạnh những nguyên nhân như sự bất ổn của một số thị trường nhập khẩu như: Nga, Tây Ban Nha, Ai Cập, thông tin xấu “bôi bẩn” cá tra, những rào cản kỹ thuật và sự bất ổn nguồn nguyên liệu chế biến trong nước, phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của sự sụt giảm giá trung bình xuất khẩu Bên cạnh các ý kiến từ một số nhà quản lý và chuyên gia lo ngại về sự sụt giảm giá là một phần phản ánh hoặc là chất lượng sản phẩm hoặc là sự cạnh tranh không lành mạnh, thiếu sự phối hợp giữa các DN CB-XK, các DN thương mại xuất khẩu Thì sự suy thoái kinh tế, sự biến động cung-cầu trên thị trường là những nguyên nhân cơ bản khiến cho giá xuất khẩu giảm so với năm ngoái

Từ đầu năm đến nay, giá trung bình xuất khẩu cá tra sang các thị trường hầu như giảm so với năm trước trừ thị trường Mỹ Trong đó thể hiện rỏ nhất xu hướng này

là thị trường Tây Ban Nha, Ba Lan, Ai Cập và một số thị trường khác Đây cũng chính là lý do khiến cho xuất khẩu sang thị trường này hoặc tăng về lượng nhưng lại giảm về giá trị, hoặc giảm nhẹ về khối lượng nhưng lại giảm mạnh về giá trị Mười tháng đầu năm, xuất khẩu cá tra sang Tây Ban Nha tăng 7,4% về khối lượng nhưng lại giảm 0,8% về giá trị Riêng trong tháng 10 xuất khẩu sang thị trường này tăng 31,7% về lượng nhưng chỉ tăng 9,4% về giá trị, giá trung bình xuất khẩu từ 2,35 USD, giảm 17,5%

Trang 15

Tương tự vậy khối lượng xuất khẩu cá tra sang Ai Cập cũng tăng 10,8% trong tháng 10, nhưng lại giảm 15,4% về giá trị, giá trung bình giảm 24% từ 2,1 USD/kg xuống 1,6% USD/kg Xuất khẩu trong 10 tháng đầu năm giảm 7,4% về lượng trong đó giá trị giảm đến 25,1%

Thị trường Mêhicô mặc dù duy trì được tăng trưởng dương cả về lượng và giá trị nhập khẩu cá tra Việt Nam, nhưng giá trung bình nhập khẩu cá tra vào thị trường này những tháng gần đây cũng giảm khá mạnh Trong tháng 10, giá trung bình nhập khẩu cá tra Việt Nam vào Mêhicô chỉ đạt 2,24 USD/kg, giảm 23% so với 2,9 USD/kg cùng kỳ năm ngoái, do vậy khối lượng nhập khẩu tăng 35,2% nhưng giá trị chỉ tăng 4,5%

Trong tốp các thị trường nhập khẩu cá tra Việt Nam trong 10 tháng qua, chỉ có thị trường Mỹ khả quan nhất vì tăng cả về khối lượng, giá trị và giá trung bình nhập khẩu mặt hàng này Giá trung bình nhập khẩu cá tra vào Mỹ trong tháng 10/2009

là 3,25 USD/kg, tăng so với 3,15 USD/kg cùng kỳ năm 2008

Dự báo năm 2010 với sự tăng liên tục của các yếu tố đầu vào, cùng với sự điều chỉnh mạnh để cân đối cung cầu, giá trung bình xuất khẩu cá tra sẽ tăng trở lại Tuy nhiên, để tăng giá trị xuất khẩu, giảm chi phí vận chuyển, đảm bảo thương hiệu cho cá tra Việt Nam về lâu dài, doanh nghiệp nên tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm và liên kết chặt chẽ để có được mức giá sàn cơ bản cho cá tra xuất khẩu

Theo thống kê, các tháng cuối năm là thời điểm xuất khẩu tôm bứt phá bởi nhu cầu tiêu thụ tôm ở các thị trường tiêu thụ chính như Nhật, Mỹ, EU tăng mạnh vào cuối năm Tuy nhiên cho đến hết tháng 11, xuất khẩu tôm của Việt Nam mới chấm dứt được tình trạng tăng trưởng âm về giá trị Thống kê từ hải quan cho thấy, xuất khẩu tôm 10 tháng đầu năm 2009 của Việt Nam đạt 170.283 tấn, tri giá trên 1,35 tỉ USD, tăng 7,4% về khối lượng và giá trị tương đương so với cùng kì năm ngoái

Trong số 3 thị trường nhập khẩu tôm hàng đầu là Mỹ, Nhật và EU thì chỉ có EU

là có mức tăng trưởng dương với 22,2% về khối lượng đạt 33.689 tấn và 15% về giá trị đạt trên 228,4 triệu USD Xuất khẩu sang nhật và Mỹ đều sụt giảm cả về lượng lẩn giá trị Trong đó, xuất khẩu tôm sang Nhật giảm 4,5% về lượng và 2,8% về giá trị, xuất khẩu sang Mỹ giảm 6,2% về lượng và 15,3% về giá trị Đối với thị trường Nhật hiện nay, Việt Nam vẫn là nhà cung cấp tôm số một, tuy nhiên cạnh tranh từ các nhà cung cấp khác ngày càng gia tăng, đặc biệt là Thái

Trang 16

Lan Chín tháng đầu năm 2009, nhập khẩu tôm từ Thái Lan vào Nhật tăng 28,7% trong khi nhập khẩu từ Việt Nam lại giảm 11% Ngoài ra, năm 2008, Thái Lan là nhà cung cấp tôm lớn thứ tư cho Nhật sau Việt Nam, Inđônêxia và Ấn Độ thì sang Năm 2009, nước này đẩy nhanh chóng vươn lên vị trí thứ 3

Nếu như năm 2008, Việt Nam chỉ đứng sau Thái Lan và Inđônêxia về cung cấp tôm cho thị trường Mỹ thì sang năm 2009 Việt Nam tụt xuống vị trí thứ 5, sau cả Ecuado và Trung Quốc Thị trường tôm Mỹ năm nay nói chung là cung vượt quá cầu Nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu Trong khi đó, sản lượng tôm khai thác nội địa tăng lên Ngoài ra, trong bối cảnh kinh tế khó khăn nhiều nhà nhập khẩu Mỹ tìm tới nguồn hàng từ các nước gần kề như Mêhicô hay Ecuado để giảm tải chi phí Điều này dẫn tới thị trường tôm sú ở

Mỹ chững lại còn thị trường tôm chân trắng bão hòa

Mười tháng đầu năm 2009, trong khi xuất khẩu tôm sang Nhật và Mỹ giảm thì xuất khẩu sang các thị trường khác như Hàn Quốc và các nước ASEAN lại tăng mạnh so với cùng kì năm ngoái Trong đó, xuất khẩu sang Hàn Quốc tăng 30,1% khối lượng và 21,3% về giá trị, xuất sang Trung Quốc tăng 92,4% về lượng và 72,8% về giá trị, Thụy Sỉ tăng 37,5% về lượng và 35,2% về giá trị

Bảng 2.2 Mười nước cung cấp tôm hàng đầu cho Nhật T1-T9/2009 (Found)

TT Xuất xứ T1-T9/2009 T1-T9/2008 Năm 2009 so với 2008

Trang 17

2.2 Tình hình chề biến và xuất khẩu thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long 2.2.1 Tình hình cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có khoảng 400.000 ha mặt nước nuôi thủy sản với tổng sản lượng hằng năm lên đến hơn 1,5 triệu tấn, chiếm hơn 70% sản lượng thủy sản nuôi của cả nước (riêng cá tra, basa diện tích nuôi toàn vùng gần 5.000ha, tổng sản lượng năm 2007 khoảng 1 triệu tấn)

Nhưng hiện nay nghề nuôi thủy sản của ĐBSCL được đánh giá là không bền vững, các tỉnh ở khu vực vẫn đang loay hoay tự bươn chải để phát triển

Những năm gần đây, nguồn tôm, cá tra nguyên liệu cung cấp cho các công ty thủy sản ở ĐBSCL luôn trong tình trạng thiếu hụt, nhưng chưa năm nào thiếu hụt nghiêm trọng như năm nay Nhiều nhà máy chế biến thủy sản ở ĐBSCL đang phải giảm công suất hoạt động do khang hiếm nguồn nguyên liệu sản lượng khai thác từ biển và các nguồn thủy sản nuôi đều giảm mạnh là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này

Thực trạng trên khiến các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu ở ĐBSCL chỉ hoạt động 35-40% công suất thiết kế Thiếu nguyên liệu thủy sản chế biến xuất khẩu, cũng là nguyên nhân đẩy giá các loại thủy sản tăng, nhất là hai đối tượng thủy sản xuất khẩu chủ lực là cá tra và tôm sú Hiện giá cá tra ở mức 14.000 - 16.200 đồng/kg; tôm sú nguyên liệu các loại từ 97.000 – 135.000 đồng/kg Tuy nhiên, vấn đề khó khăn lớn nhất hiện nay là người nuôi cá tra, nuôi tôm sú ở ĐBSCL vẫn thiếu vốn đầu tư, nhiều người nuôi chưa ký được hợp đồng tiêu thụ với các DN rất dè dặt trong thả nuôi Thực trạng này cho thấy nguồn nguyên liệu

cho chế biến xuất khẩu thủy sản thời gian tới sẽ còn giảm mạnh

Tại Cà Mau hiện có 264.500 ha nuôi tôm Trong đó, tôm công nghiệp 1.300 ha, tôm quảng canh cải tiến năng suất cao 2.200 ha, phần lớn còn lại là diện tích nuôi theo phương thức quảng canh truyền thống năng suất thấp Các nhà máy chế biến thủy sản của tỉnh Cà Mau hiện chỉ hoạt động 48% công suất vì thiếu tôm nguyên liệu Theo đánh giá, những tháng tới, nhất là đầu năm 2010, tình trạng thiếu hụt tôm nguyên liệu sẽ trtở nên gay gắt hơn (Khưu Thái Khanh, 2009)

Theo báo cáo từ Sở NN&PTNN tỉnh Cà Mau, sản lượng thu hoạch tôm của tỉnh

ổn định Lượng thu hoạch tôm theo mô hình guảng canh cải tiến đạt 8kg/ha/con

Trang 18

nước Diện tích nuôi công nghiêp đạt 1.300 ha, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng đạt 60 ha

Tuy nhiên, các vùng như Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Bạc Liêu đang trong tình trạng khan hiếm nguyên liệu, sản lượng ước giảm 50% so với cùng kỳ năm ngoái Trong khi đó, nhu cầu mua nguyên liệu để chế biến của các nhà máy nhằm đáp ứng đơn hàng gia tăng vào cuối năm khiến tình hình bơm chích tạp chất trở nên phức tạp hơn Trước tình trạng này, rất mong các DN “vững lòng” với cam kết không thu mua, chế biến tôm tạp chất

Tình trạng khan hiếm tuy đẩy giá tôm nguyên liệu tăng chút, lợi cho người nuôi nhưng gây nhiều khó khăn cho DN Nhiều DN tuy được các đối tác đặt hàng nhưng chưa dám nhận do không tự chủ được nguyên liệu Hiện nay nhiều công ty

ở ĐBSCL phải ra các tỉnh và sang Indonesia, Ấn Độ… tìm mua tôm nguyên liệu trữ lạnh để sản xuất

Trong khi đó, do bị thua lổ thường xuyên nên tình trạng người dân treo hầm cá tra trong thời gian gần đây càng diễn ra với chiều hướng tăng dần Theo hiệp hội thủy sản tỉnh Đồng Tháp, cả năm 2009, tỉnh có 1.600 ha nuôi cá tra (hiện nay còn khoảng 800 ha chưa thu hoạch, giảm hơn 200 ha so với năm trước, với diện tích này từ nay đến cuối năm Đồng Tháp chỉ còn khoảng 40.000 tấn cá tra nguyên liệu

Theo phân tích của các chuyên gia, chỉ có đa dạng hóa trong lĩnh vực chế biến, phá vở thế độc canh con tôm và quy hoạch lại vùng nuôi cá tra phù hợp thì ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung mới có thể chấm dứt tình trang thiếu hụt nguồn nguyên liệu cá – tôm luôn kéo dài

Theo Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, năm 2010, các tỉnh ÐBSCL phấn đấu đưa diện tích nuôi thủy sản lên 930 nghìn ha mặt nước, tăng hơn 100 nghìn ha so năm 2009; sản lượng đạt 2,4 triệu tấn, tăng hơn 400 nghìn tấn

Cùng với việc mở rộng nuôi các loài thủy sản nước lợ, nước ngọt khác như: cá hồng mỹ, cá hồng bạc, cá chẽm, cua, tôm hùm, cá rô phi, rô đồng, các tỉnh tập trung phát triển nuôi tôm sú, tôm càng xanh, cá tra là các loài có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ mạnh với diện tích hơn 680 nghìn ha Các tỉnh sẽ tập trung hoàn thiện hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi thủy sản nói chung và tôm sú nói riêng, sạch hóa môi trường nước bằng các biện pháp kiểm soát chất thải, kiểm tra,

xử lý nghiêm các cơ sở, cá nhân gây ô nhiễm môi trường; siết chặt việc quản lý, kiểm soát con giống, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng đưa tôm giống kém

Trang 19

chất lượng vào nuôi, cho người nuôi vay vốn cải tạo ao hồ, làm bè, mua con giống, thức ăn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm

2.2.2 Tình hình chế biến và xuất khẩu thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long

Theo Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn-cơ sở phía Nam, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của ĐBSCL năm 2008 đạt gần 2,5 tỷ USD, chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của cả nước Riêng mặt hàng

cá tra, cá basa đóng góp 2% GDP của cả nước và khoảng 32% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành thuỷ sản

Năm 2009, ngành hàng thủy sản ĐBSCL tiếp tục gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn con giống có chất lượng, thiếu vốn, giá cả nguyên liệu đầu vào như thức ăn thủy sản, thuốc thú y tăng cao Trong quý I/2009, sản lượng chế biến và kim ngạch xuất khẩu của các tỉnh xuất khẩu thuỷ sản vùng ĐBSCL như Cà Mau, Cần Thơ, An Giang, Vĩnh Long… đều giảm, các nhà máy chế biến chỉ hoạt động 35 - 40% công suất thiết kế Hiện nay, do thiếu nguyên liệu nên giá nguyên liệu thủy sản tăng cao nhưng do không chuẩn bị đầu tư cùng với tác động từ rủi ro của các

vụ trước còn quá lớn nên nhiều nông dân vẫn chưa sẵn sàng tiếp tục sản xuất Thị trường xuất khẩu chủ yếu của thủy sản ĐBSCL là các nước EU, Mỹ, Nga, Hàn Quốc

Từ khi mở rộng xuất khẩu thì nghề nuôi cá tra và cá basa bước sang một trang mới và trở thành đối tượng xuất khẩu mang về nguồn ngoại tệ cao Thị trường xuất khẩu đã mở rộng ra trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, đặc biệt do chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao, có thời điểm xuất khẩu cá tra sang thị trường

EU đã tăng 214% về khối lượng và giá trị Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia thì hoạt động sản xuất và tiêu thụ cá tra, cá basa tại khu vực ĐBSCL vẫn chưa thật ổn định và bền vững (Hồ Lê Phương Quyên, 2009)

Theo ước tính của Bộ Công Thương, năm nay xuất khẩu cá tra sẽ đạt khoảng 1,3

tỉ USD thế nhưng đến nửa đầu tháng 11-2009, lượng cá tra xuất khẩu chỉ gần 1,171 tỉ USD, giảm 10% so với cùng kỳ năm 2008 Thị trường xuất khẩu vào Nga đối với mặt hàng cá tra giảm mạnh gần 63% so với cùng kỳ Hiện tại, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam lo ngại thời điểm này, nhu cầu hàng thủy sản tăng nhưng giá nguyên liệu cá tra vẫn ở mức thấp

Người nuôi đã khốn đốn còn nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cũng không mấy dễ thở Tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và TP Cần Thơ nhiều doanh nghiệp

Trang 20

không hoàn thành kế hoạch, thậm chí bị lỗ nặng Nguyên nhân là do bị mất thị trường Nga thời điểm đầu năm, cộng với giá cá xuất khẩu năm nay thấp, nguồn cá nguyên liệu thiếu hụt nên tình hình sản xuất kinh doanh không như mong muốn Ông Lâm Minh Chiếu, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, lo lắng: “Cá tra là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đóng góp rất lớn vào sự tăng trưởng chung của tỉnh Năm nay xuất khẩu cá tra không hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế của địa phương”

2.3 Tình hình chế biến và xuất khẩu thủy sản ở tỉnh Trà Vinh

2.3.1 Tình hình cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thủy sản ở tỉnh Trà Vinh

Hiện trạng cung cấp nguyên liệu từ nuôi trồng thủy sản

Trà Vinh có mặt nước tự nhiên gần 23.000 ha, nguồn lợi phong phú, khai thác ổn định, nguồn giống tự nhiên tốt, rừng chồi ngập mặn có khả năng khai phá 24.000

ha để nuôi tôm (nhất là tôm sú) Dọc hai sông lớn là các cù lao, bãi bồi có thể nuôi nghêu, sò huyết, cua và thủy sản nước ngọt (tôm Càng Xanh) Sản lượng nuôi thủy sản có thể đạt tới 80.000-100.000 tấn/năm Sáu mươi lăm km bờ biển là vùng có trữ lượng và khả năng khai thác hải sản với trữ lượng 1,2 triệu tấn, khả năng khai thác 630.000 tấn/năm Ba cửa sông lớn thông ra bờ biển Cổ Chiên, Cung Hầu và Đinh An, gần các bãi cá, tôm, mực chính là của miền Đông Nam Bộ

có khả năng di chuyển ngư trường theo mùa vụ sang biển Tây Nam Bộ cho phép Trà vinh khai thác thủy sản quanh năm với sản lượng ổn định 50.000-55.000 tấn/năm (Chi cục BVNL thủy sản Trà Vinh, 2009)

Diện tích NTTS từ 2005-2008 tăng khá nhanh, năm 2005 diện tích 51.723 ha, đến năm 2008 là 61.000 ha, tăng 9.277 ha Trong đó diện tích nuôi cá tra năm 2005 là

18 ha, năm 2008 tăng lên 82,5 ha

Sản lượng NTTS năm 2005 đạt 71.010 tấn (17.434 tấn tôm sú) đến năm 2008 tăng lên 83.825 tấn (18.832 tấn tôm sú)

Hiện trạng cung cấp nguyên liệu từ khai thác

Theo sở Thủy Sản Trà Vinh thì nghề khai thác hải sản tỉnh tập trung vào trên 100 đối tượng có giá trị kinh tế và sinh thái, phần lớn các đối tượng này đang ở mức báo động về sản lượng cho phép khai thác ở vùng nước ven biển- sông có độ sâu dưới 30m Trong tương lai nghề khai thác thủy sản muốn duy trì và phat triển bền vững cần phải tập trung và phân bố lại nghề cá ven bờ, có biện pháp thích hợp

Trang 21

nhằm bảo vệ và phục hồi một số lớn nguồn lợi ven biển và nguồn lợ ở lớp nước đáy- gần đáy, dự báo và hoạch định cụ thể nghề cá xa bờ

Trong các loại hình và đối tượng khai thác hiện nay, loại hình câu khơi, vây ánh sáng, rê, là có triển vọng phát triển mạnh, không gây ảnh hưỡng đến môi trường (cá thu, ngừ, nục, mực…) và có giá trị xuất khẩu cao Tuy nhiên vấn đề vốn để đóng mới và sửa tàu thuyền cũng như dự báo ngư trường và mùa vụ khai thác xa

bờ đang là trở ngại lớn đến hiệu quả kinh tế của các loại hình khai thác này Sản lượng khai thác tuy không tăng nhiều qua các năm (năm 2005 đạt 52.000 tấn, đến năm 2008 tăng lên 54.028, tăng 2.028 tấn), nhưng từ nhu cầu mặt hàng CB-

XK từ khai thác hải sản, ngư dân đã chuyển dần từ khai thác theo số lượng sang những đối tượng có giá trị xuất khẩu Trước đây những tác động của giá nhiên liệu liên tục tăng lên trong thời gian qua, nhiều tàu khai thác đã chuyển nghề khai thác sang khai thác kiêm nghề hoặc khai thác bằng nghề ít tốn nhiên liệu, chất lượng cao và lựa chọn đối tượng khai thác có giá trị xuất khẩu (Sở Nông Nghiệp

& Phát Triển Nông Thôn Trà Vinh,2009)

Nhiều loại cá trước đây không xuất khẩu được nay nhờ có thị trường và đổi mới công nghệ chế biến, đổi mới quản lý an toàn vệ sinh mà trở thành đối tượng khai thác có hiệu quả

Một số loại hình khai thác gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và làm suy giảm nguồn lợi thủy sản ven bờ phải quy định chặt chẽ hơn về mùa vụ, vị trí, kích thước đối tượng khai thác và chuyển đổi dần khai thác ven bờ ra xa bờ

2.3.2 Tình hình chế biến và xuất khẩu thủy sản ở tỉnh Trà Vinh

Về chế biển thủy-hải sản, tỉnh tiếp tục ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách kêu gọi, thu hút đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh như tôm sú, cá tra, chế biển nghêu, sò huyết, chế biển tôm khô xuất khẩu; thực hiện tốt chính sách miễn giảm thuế đối với cơ sở đầu tư xây dựng mới hoặc cơ sở có đổi mới thiết bị công nghệ hiện đại, tạo mọi thuận lợi trong đăng ký

và cấp phép hành nghề, thủ tục về quyền sử dụng đất, thủ tục xây dựng cơ bản, tạo môi trường tốt nhất để thu hút được các thành phần kinh tế trong, ngoài tỉnh

và nước ngoài đầu tư phát triển công nghiệp chế biến thủy hải sản xuất khẩu

Về dịch vụ hậu cần nghề cá, tỉnh chú trọng khai thác và phát huy tốt năng lực hoạt động của các cảng cá Láng Chim, bến cá Định An, khuyến khích đầu tư cơ

sở đóng sửa tàu tại các cảng cá, bến cá, xây dựng các trung tâm sản xuất giống thủy sản; đầu tư xây dựng trạm thông tin liên lạc với tàu cá, trạm quan trắc, cảnh

Trang 22

báo bão, áp thấp nhiệt đới, môi trường nước tại trung tâm vùng ben biển của

huyện Duyên Hải (Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Trà Vinh,2009)

Vùng biển Trà Vinh nằm trong vùng biển Đông Nam Bộ có nguồn lợi hải sản phong phú với nhiều bãi cá, bãi tôm, bãi mực tự nhiên, bên cạnh đó lại tiếp giáp với vùng biển Đông – Trường Sa có độ sâu lớn và nhiều loại hải sản có giá trị thương phẩm cao như cá ngừ, cá hồng, cá thu, cá chim tạo tiềm năng lớn cho phát triển ngành thủy sản tỉnh nhà Những năm qua, ngành thủy sản của tỉnh liên tục đạt sản lượng cao, tỷ trọng giá trị (GDP) đạt 11,62% năm 2001, tăng lên 17,86% năm 2006, đóng góp giá trị xuất khẩu chiếm 51% năm 2001 và 75% năm

2006 trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của tỉnh Bảy tháng đầu năm

2008, GDP của tỉnh tăng 13,39%, trong đó, lĩnh vực nông-lâm-thủy sản ước tăng 12,5% NTTS vùng nước mặn ven biển tiếp tục phát triển đa dạng con nuôi như tôm, cá, cua, nghêu, sò huyết với diện tích nuôi năm 2001 là 13.600 ha, năm

2006 là 38.000 ha

2.4 Những thuận lợi và khó khăn trong chế biến và xuất khẩu thủy sản

2.4.1 Những thuận lợi trong chế biến và xuất khẩu thủy sản

Việc gia nhập WTO sẽ mang lại cơ hội cho sản phẩm thủy sản Việt Nam trong việc thâm nhập thị trường thế giới, do các nước biết đến Việt Nam nhiều hơn, doanh nhân các nước sẽ quan tâm hơn đến xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam

Sự ưu đãi hơn về thuế quan, xuất xứ hàng hoá, hàng rào phi thuế quan và những lợi ích về đối xử công bằng, bình đẳng sẽ tạo điều kiện để hàng thủy sản Việt Nam có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới

Để đáp ứng được các quy định của WTO cũng như yêu cầu của các nước thành viên, BTS đã không ngừng điều chỉnh cơ chế chính sách và ban hành các văn bản

vi phạm pháp luật, các tiêu chuẩn cho phù hợp

Vào WTO sẽ là cơ hội để các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hơn đến đầu tư vào phát triển thủy sản tại Việt Nam

Ngành Thuỷ sản Việt Nam đã đứng vị trí thứ 7 trong topten có kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất, với 2,65 tỷ USD đạt được trong năm 2005, và đã có mặt ở

105 thị trường nước ngoài…

Trang 23

2.4.2 Những khó khăn trong chế biến và xuất khẩu thủy sản

Việt Nam là nước đang phát triển, nên khả năng cạnh tranh của hàng thủy sản còn yếu, trình độ quản lý còn nhiều bất cập, trong khi các yêu cầu về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm của các nước thường xuyên thay đổi và ngày càng đòi hỏi khắt khe

Sự hiểu biết của các DN về luật pháp quốc tế, nhất là hiểu rõ về pháp luật trong tranh chấp thương mại còn rất hạn chế, điều này ảnh hưởng khá lớn tới năng lực cạnh tranh của các DN

Sự mất cân đối giữa khu vực sản xuất nguyên liệu và khu vực CB-XK, cụ thể hơn

là khu vực sản xuất nguyên liệu chưa đáp ứng được nhu cầu của khu vực CB-XK

cả về số lượng cũng như chất lượng sản phẩm

Công tác quản lý nguồn lợi, quản lý tàu thuyền trên biển, công tác thống kê nghề

cá còn lạc hậu và chưa đáp ứng được các yêu cầu về hội nhập

Công tác đào tạo cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật tuy đã được quan tâm nhưng do hạn chế về kinh phí và kinh nghiệm nên chưa đáp ứng được yêu cầu cả

về số lượng và chất lượng

Năng lực, kinh nghiệm quản lý và trang thiết bị phục vụ cho kiểm tra, kiểm soát chất lượng, kiểm dịch hàng thủy sản nhập khẩu còn hạn chế - là thách thức lớn đối với việc bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng cũng như sức khoẻ và môi trường sống của các loài thủy sản, đồng thời đó cũng là thách thức đối với những cạnh tranh không lành mạnh sẽ diễn ra đối với thủy sản Việt Nam

Do Việt Nam là nước đang phát triển nên nhiều DN vừa và nhỏ đang gặp rất nhiều khó khăn về vốn, công nghệ và kinh nghiệm, bên cạnh đó kỹ năng và trình

độ quản trị của nhiều DN thủy sản chưa đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế và còn rất thấp so với các đối thủ

Hệ thống cơ sở hạ tầng cho sản xuất kinh doanh thủy sản (hệ thống thủy lợi, các chợ thủy sản đầu mối, các trung tâm thương mại thủy sản) chưa có hoặc còn yếu, cộng với khả năng cạnh tranh thấp của các DN vừa và nhỏ sẽ là thách thức lớn trong việc giữ được thị trường trong nước

Vấn đề thương hiệu của thủy sản Việt Nam cũng được coi là một thách thức lớn,

vì hiện nay các mặt hàng thủy sản Việt Nam được xuất khẩu thông qua các nhà nhập khẩu và được phân phối dưới nhiều thương hiệu khác nhau, vừa không

Trang 24

quảng bá được sản phẩm, vừa có thể gây ra những rắc rối như vụ “cá basa” thành

“cá mú” ở thị trường Mỹ vừa qua

2.4.3 Biện pháp khắc phục những khó khăn trong chế biến và xuất khẩu thủy sản

Tăng cường công tác nghiên cứu và áp dụng công nghệ mới trong sản xuất nguyên liệu thủy sản, đặc biệt là công nghệ sinh học, nhằm đa dạng hóa đối tượng xuất khẩu với giá thành hạ

Tổ chức lại sản xuất trong toàn ngành theo hướng liên kết ngang và dọc giữa các khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ thủy sản, nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm và phù hợp với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước

Đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nghề cá, tăng cường năng lực chế biến cả về chiều rộng và chiều sâu nhằm đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, tăng năng lực chế biến mặt hàng giá trị gia tăng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao

về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm

Tiếp tục công tác quy hoạch phát triển thủy sản, thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng đẩy mạnh phát triển NTTS làm nguồn cung cấp chính nguyên liệu sạch cho CB-XK và tiêu dùng nội địa

Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, chú trọng vào xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường cho các sản phẩm chủ lực

Tăng cường công tác điều tra, đánh giá nguồn lợi để có biện pháp bảo vệ, tái tạo nguồn lợi, thực hiện quản lý an toàn vệ sinh, môi trường, đảm bảo phát triển nghề

cá bền vững

2.5 Các mô hình nuôi và sản lượng của một số loài nuôi thủy sản chính ở tĩnh Trà Vinh

Các đối tượng nuôi chính của tỉnh là: tôm sú, thẻ chân trắng, cua và nghêu ngoài

ra cũng còn có các đối tượng khác nhưng ít được đầu tư cao

Về nuôi tôm sú

Vụ nuôi năm 2009 nhìn chung số hộ, diện tích nuôi, con giống thả nuôi đều giảm nên sản lượng thu hoạch cũng giảm, nguyên nhân là do ảnh hưỡng của giá thị trường, dịch bệnh của vụ nuôi năm 2008, nên các hộ nuôi không yên tâm đầu tư

và một bộ phận người nuôi thì thiếu vốn sản xuất nhất là các hộ nuôi theo hình

Trang 25

thức công ngiệp và bán công ngiệp Tuy diện tích và sản lượng tôm nuôi bị giảm nhưng năng suất và hiệu quả kinh tế của vụ nuôi lại tăng cao hơn so với năm

Về nuôi tôm thẻ chân trắng

Đến nay có 18 hộ (cơ sở) thả nuôi tôm thẻ trên diện tích 48,58 ha, số lượng giống thả nuôi là 49.432,000 con Có 2 hộ nuôi của huyện Duyên Hải bị thiệt hại trên diện tích 3,2 ha, lượng giống thiệt hại là 2.500.000 con Các hộ còn lại thu hoạch được 371,31 tấn sản phẩm Nhìn chung các hộ nuôi thẻ chân trắng năm 2009 (trừ

2 hộ bị thiệt hại) đều có lãi với mức lãi trung bình 150 triệu đồng/ha

Đây là một đối tượng nuôi mới chỉ được nuôi với hình thức nuôi thâm canh và năm trong vùng quy hoạch, nuôi theo qui trình khép kín, chi phí đầu tư tương đối cao nên còn hạn chế trong phát triển

Về nuôi cua biển

Có 10.027 hộ nông dân 4 huyện ven biển nuôi cua biển (giảm 99 hộ), với diện tích 11.157,98 ha (giảm 444,72 ha so với năm 2008), lượng giống thả 40.556,47 ngàn con, sản lượng là 6.075,8 tấn (tăng 1.563,3 tấn so với năm 2008) Những năm gần đây nguồn cua giống tự nhiên xuất hiện ngày càng nhiều đã đáp ứng được nhu cầu của người nuôi trong vùng, bên cạnh đó một vài cơ sở sản xuất giống tại địa phương đã thành công trong sản xuất cua giống nhân tạo, nhiều mô hình nuôi cua biển bằng giống nhân tạo được thử nghiệm và được khuyến cáo

Trang 26

nhân rộng Nhìn chung đa số nông dân vùng ven biển nuôi cua theo hình thức kết hơp với nuôi tôm sú trong ao quảng canh, quảng canh cải tiến hoặc luân canh sau

vụ nuôi tôm sú Do giá cả cua thương phẩm tương đối cao và khá ổn định nên đa

số các hộ nuôi cua đều có lãi (Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Trà Vinh.2009)

Về nuôi nghêu

Diện tích nuôi nghêu bãi bồi ven biển của tỉnh là 3.783 ha trong năm 2009 đã thả nuôi mới được 235 tấn nghêu giống, thuộc địa bàn các huyện Duyên Hải, Cầu Ngang và Châu Thành Đây là diện tích canh tác của 4 hợp tác xã và 5 tổ hợp tác nuôi nghêu với 2.988 hộ tham gia sản xuất Đến nay đã thu hoạch được 1.473 tấn nghêu thương phẩm, giá trị sản lượng 4,7 tỉ đồng, số còn lại hiện đang được chăm sóc Do ảnh hưởng của vụ nuôi năm 2008, nên các hợp tác xã và tổ hợp tác nuôi nghêu thiếu vốn sản xuất, sản lượng thu hoạch thấp hơn năm 2008

Về nuôi các đôi tượng khác

Ở các vùng có độ mặn thấp, nuôi tôm sú thường xuyên bị thất bại các hộ nuôi đã mạnh dạn chuyển sang nuôi tôm càng xanh và các loại khác Bên cạnh đó, sau vụ nuôi tôm sú một số hộ nuôi còn tận dung ao hồ thả nuôi các đối tượng thủy sản khác để tăng thu nhập nhằm cải thiện cuộc sống cho gia đình

- Nuôi tôm càng xanh: có 1.600 hộ thả nuôi trên diện tích 1.232 ha, lượng giống thả 28.071.000 con Hiện nay đã thu hoạch được 353 tấn tôm thương phẩm

- Nuôi cá lóc: huyện Trà Cú có 338 hộ nuôi cá lóc với diện tích 45,4 ha, lượng giống thả 9.460.000 con Ước lượng thu hoạch khoãn 4.000 tấn

- Nuôi cá tra: huyện Châu Thành có 4 hộ thả nuôi cá tra với diện tích 27,2 ha, lượng giống thả nuôi 7.854.000 con Đến nay đã thu hoạch được 3.124,3 tấn

- Nuôi ốc len: huyện Duyên Hải có 7 tổ hợp tác nuôi ốc len với 22 thành viên tham gia, đã thả nuôi khoãng 1.000 kg ốc giống trên diện tích 350 m2 Hiện nay

đã thu hoạch 1.250 kg, ước sản lượng còn lại khoãng 900 kg ốc thương phẩm

- Theo số liệu chưa đầy đủ của các huyện, tỉnh có 8 hộ nuôi cá kèo trên diện tích 2,8 ha, lượng giống thả nuôi 252.000 con Ước sản lượng thu hoạch khoãng 7,2 tấn Có 20 hộ nuôi cá chẽm, thả nuôi 40.000 con cá giống trên diện tích ha, đến nay cá vẫn đang phát triển bình thường Ước sản lượng thu hoạch khoãng 16 tấn

- Nuôi cá hỗn hợp: có 4.969 hộ thả nuôi 304.096.000 con cá hỗn hợp trên diện tích 1.055 ha

Trang 27

CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Đề tài đã được thực hiện từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 05 năm 2010

Địa điểm nghiên cứu: Tỉnh Trà Vinh

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Thông tin thứ cấp

Nội dung thông tin thứ cấp cần thu thập:

 Tình hình phát triển số lượng các nhà máy CB-XK thủy sản ở tỉnh Trà Vinh

 Sản lượng chế biến thủy sản hàng năm của tỉnh Trà Vinh

 Sản lượng xuất khẩu thủy sản hàng năm của tỉnh Trà Vinh

 Giá trị xuất khẩu thủy sản hàng năm của tỉnh Trà Vinh

 Các chính sách và qui định của ngành CB-XK thủy sản

Thông tin thứ cấp được thu thập từ các nghiên cứu, báo cáo của các cơ quan địa phương, sách báo, tạp chí và các trang web có liên quan

3.2.2 Thông tin sơ cấp

Các thông tin sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp đại diện các nhà máy CB-XK thủy sản thông qua bảng phỏng vấn soạn sẵn với những thông tin như sau:

Tình hình chế biến thủy sản

 Qui mô các nhà máy chế biến

 Nguồn nguyên liệu

 Các mặt hàng chế biến thủy sản

 Chi phí chế biến của từng mặt hàng chế biến thủy sản

Trang 28

 Những thuận lợi và khó khăn trong chế biến thủy sản

Tình hình tiêu thụ sản phẩm chế biến thủy sản

 Thị trường nội địa (sản lượng, tỷ lệ, giá trị, địa điểm, mặt hàng)

 Thị trường xuất khẩu (sản lượng, tỷ lệ, giá trị, địa điểm, mặt hàng)

 Những thuận lợi và khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm chế biến thủy sản

3.2.3 Số mẫu phỏng vấn

Đề tài đã thu thập số liệu thứ cấp của 7 nhà máy và đã phỏng vấn trực tiếp các nhà máy bằng bảng câu hỏi soạn sẵn là 6 nhà máy

3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Các số liệu được tiến hành tổng hợp, kiểm tra, bổ sung , mã hóa và nhập vào máy tính Các phương pháp thống kê miêu tả, tần suất xuất hiện, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn… được sự dụng để phân tích số liệu Các phần mềm Excell được sử dụng để nhập và phân tích số liệu

Trang 29

CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Trà Vinh

4.1.1 Sơ lược về nghề Nuôi trồng thủy sản

Diện tích NTTS của toàn tỉnh từ năm 2005-2009 thì luôn tăng năm 2005 có 41.222 ha đến 2009 có 59.030 ha, từ năm 2005 đến năm 2008 trung bình mỗi năm tăng 6.143 ha, nhưng sang năm 2009 diện tích giảm 621 ha so với năm 2008 và trong những năm tới có thể là diện tích nuôi sẽ tiếp tục suy giảm Nguyên nhân của sự suy giảm này là do ảnh ảnh hưởng của giá cả thị trường và tình hình dịch bệnh của vụ nuôi 2008 và một bộ phận người dân do thiếu vốn để tiếp tục đầu tư nhìn chung sự suy giảm này là không đáng kể so với sự gia tăng diện tích nuôi trồng của các năm trước

Hình 4.1 Diện tích nuôi trồng thủy sản qua các năm Nuôi thủy sản của tỉnh chủ yếu phát triển với hai loại hình nuôi: nuôi thủy sản nước ngọt và nuôi thủy sản nước mặn-lợ Tuy nhiên diện tích NTTS nước mặn lớn hơn so với diện tích NTTS nước ngọt do Trà Vinh là một tỉnh tiếp giáp với biển nên thuận lợi hơn trong NTTS nước mặn

Đối với nuôi thủy sản nước mặn tỉnh đã có các mô hình nuôi như: nuôi tôm sú theo hình thức công nghiệp, bán công nghiệp và quảng canh cải tiến; nuôi tôm thẻ; nuôi cua và các loài thủy sản khác…

41,222 45,541

50,502

59,651 59,030

0 10,000 20,000 30,000 40,000 50,000 60,000 70,000

Trang 30

Bảng 4.1 Diện tích mô hình nuôi thủy sản nước mặn-lợ 2005-2009 (ha)

Về nuôi tôm sú vào năm 2009 toàn tỉnh có 25.000 ha diện tích và 1.601,27 triệu

con giống thả nuôi, so với năm 2008 có 26.385 ha (giảm 1385 ha) diện tích và

2.397,27 triệu con (giảm 796 triệu con) Nhìn chung vụ nuôi năm 2009 diện tích

và lượng con giống thả nuôi đều giảm nên sản lượng thu hoạch cũng bị giảm Tuy

diện tích và sản lượng tôm nuôi bị giảm nhưng năng suất và hiệu quả kinh tế của

vụ nuôi tăng cao hơn so với năm 2008 do: sự nổ lực tập trung chỉ đạo của các cấp

các ngành có liên quan trong tỉnh trong đó vai trò của ngành nông nghiệp tỉnh,

huyện và chính quyền địa phương là nồng cốt; ý thức tuân thủ về lịch thời vụ và

phòng chống dịch bệnh của người dân ngày càng cao; trình độ kỷ thuật cũng như

ý thức về tầm quan trọng của việc chọn con giống tốt, giống sạch bệnh cũng dần

được nâng lên; thời tiết khí hậu và môi trường nước phục vụ cho NTTS tương đối

tốt và ổn định nên tình hình dịch bệnh cũng giảm hơn so với năm 2008; giá thức

ăn, thuốc thú y thủy sản hóa chất phục vụ cho NTTS giảm nhẹ, giá tôm thương

phẩm tăng khá và ổn định

Ngoài tôm sú thì các mô hình nuôi cua và các loài thủy sản khác cũng dần tăng về

diện tích, sự gia tăng này cũng tương đối nhanh qua các năm và trong những năm

tới có thể tăng thêm vì đây những đối tượng nuôi sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao

cho người nuôi cũng như trong CB-XK, ngoài ra với điều kiện tự nhiên thuận lợi

thì tiềm năng phát triển của các đối tượng này là rất lớn Cùng với sự gia tăng

diện tích nuôi cua qua các năm là sự giảm về diện tích nuôi tôm thẻ nhìn chung

nghề nuôi tôm thẻ ít được phát triển đến năm 2008 mới được nuôi với diện tích là

71 ha, đến năm 2009 chỉ còn lại 10 ha Tôm thẻ cũng là đối tượng nuôi rất có giá

trị về kinh tế nhưng do điều kiện không phù hợp hơn nữa đây là loài tôm rất dể bị

bệnh nên diện tích nuôi ngày càng giảm

Trang 31

Đối với nuôi thủy sản nước ngọt tỉnh đã có hai mô hình nuôi: nuôi tôm, cá kết hợp và tôm, cá ao đìa với diện tích nuôi của các năm được thể hiện qua Báng 4.2 Bảng 4.2 Diện mô hình nuôi thủy sản nước ngọt 2005-2009 (ha)

Diện tích của các mô hình nuôi thủy sản nước ngọt nhìn chung là ít biến động kể

từ 2005-2009, diện tích nuôi năm 2005 là 13.500 ha đến năm 2009 là 19.000 ha (tăng 5.500 ha)

Như vậy với diện tích NTTS thì cho thấy ngành thủy sản Trà Vinh đang được phát triển nhưng vẫn chưa cao nên cần có thêm những chính sách hổ trợ về vốn

để mở rộng diện tích nuôi để thủy sản Trà Vinh phát triển mạnh hơn

4.1.2 Sản lượng thủy sản

Tổng sản lượng thủy sản năm 2009 là 159.167 tấn, tăng 9,1% (13.394 tấn) so với cùng kỳ năm 2008 Nhìn chung sản lượng có sự tăng trưởng nhưng không đồng đều từ 2005-2009 trung bình mỗi năm tăng 4.948 tấn, cụ thể: năm 2005 là 139.376 tấn đến năm 2006 là 133.988 tấn (giảm 5.388 tấn), sang năm 2007 được 151.734 tấn, nhưng đến 2008 thì lại giảm còn 145.773 tấn Nguyên nhân của sự tăng trưởng không đồng đều là do sản lượng của các loại hình khai thác trong tỉnh

Ngày đăng: 09/04/2018, 21:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w