TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN HUỲNH THỊ PHƯƠNG THẢO KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT GIỐNG, ƯƠNG VÀ NUÔI CÁ RÔ ĐẦU VUÔNG Ở TỈNH HẬU GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
HUỲNH THỊ PHƯƠNG THẢO
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT GIỐNG, ƯƠNG
VÀ NUÔI CÁ RÔ ĐẦU VUÔNG Ở TỈNH HẬU GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
HUỲNH THỊ PHƯƠNG THẢO
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT GIỐNG, ƯƠNG
VÀ NUÔI CÁ RÔ ĐẦU VUÔNG Ở TỈNH HẬU GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts Trương Hoàng Minh Ths Nguyễn Thanh Hiệu
2011
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn thầy Trương Hoàng Minh và thầy Nguyễn Thanh Hiệu
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các anh, chị cán bộ ở Chi cục Thủy Sản tỉnh Hậu Giang, trạm Khuyến nông – khuyến ngư huyện Long Mỹ, trạm Khuyến nông – khuyến ngư huyện Vị Thủy, cùng bà con nông dân thuộc hai huyện Long Mỹ và Vị Thủy đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu để thực hiện đề tài này
Xin chân thành cảm ơn tập thể lớp Quản lý nghề cá K33, đặc biệt là các bạn Bùi Thị Kiều Oanh, Trần Trọng Tân, Nguyễn Thị Diệu Tuyết, Nguyễn Thị Trung Kiên, Trần Thị Nhật Quyên, Trần Gió Lạnh và Trần Nhựt Bổn (lớp Bệnh học thủy sản K33) đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành đề tài này
Huỳnh Thị Phương Thảo
Trang 4TÓM TẮT
Nhằm phân tích khía cạnh kỹ thuật, hiệu quả tài chính và những thuận lợi, khó khăn của mô hình nuôi cá rô đầu vuông ở Hậu Giang, đề tài này đã được thực hiện thông qua phỏng vấn ngẫu nhiên 60 hộ sản xuất giống và nuôi cá rô đầu vuông thương phẩm ở hai huyện Long Mỹ và Vị Thủy từ tháng 01/2011 đến tháng 5/2011 Kết quả điều tra cho thấy, có 38,3% số hộ có 3 năm kinh nghiệm nuôi cá rô đầu vuông, 26,7% số hộ có 2 năm kinh nghiệm và 35% số hộ có 1 năm kinh nghiệm Có 83,3% số hộ tự sản xuất giống và 16,7% số hộ mua cá bột về ương và nuôi thương phẩm
Diện tích ao nuôi hộ trung bình là 1270,4 ± 734,6 m2/ao, mực nước bình quân
ao nuôi là 2,09 ± 0,42 m Các hộ tự SXG thì sản xuất được khoảng 2,2 ± 1,8 triệu cá bột/đợt Sức sinh sản trung bình là 309.000 ± 35.985 trứng/kg cá cái
Cá được ương với mật độ là 1.586,6 ± 1.678,1 con/m2, có hai loại thức ăn được
sử dụng là công nghiệp và tự chế, có hàm lượng đạm khoảng 40 - 42% với lượng 81,39 ± 14,32 kg/1000m2/vụ, ngày cho ăn từ 3 - 4 lần Thời gian ương cá bột lên giống khoảng 47,5 ± 4,9 ngày Kích cỡ cá sau khi ương đạt 8,6 ± 1,0 gram/con, tỷ lệ sống đạt 6,2 ± 3,5 % Giai đoạn nuôi thương phẩm cá được thả nuôi với mật độ trung bình là 71,12 ± 21,11 con/m2 và được cho ăn thức ăn công nghiệp 100%, hàm lượng đạm từ 27 - 40% ngày cho ăn 2 - 3 lần với FCR
= 1,52 Đối với các hộ chỉ ương và nuôi, năng suất thu hoạch 5,7 ± 3,5 tấn/1000m2/vụ Giá cá bán tại ao là 24,3 ± 2,1 ngàn đồng/kg Tổng chi phí là 125,3 ± 69,5 triệu đồng/1000m2/vụ, doanh thu là 143,8 ± 96,6 triệu đồng/1000m2/vụ thì lợi nhuận thu được là 18,5 ± 31,2 triệu đồng/1000m2/vụ
Tỷ suất lợi nhuận đạt 5 ± 23,3 % Số hộ nuôi có lời chiếm 70% và số hộ bị thua
lỗ là 30% Đối với các hộ tự SXG, ương và nuôi cho năng suất thu hoạch là 8,1
± 3,3 tấn/1000m2/vụ Giá cá bán tại ao là 26,2 ± 2,1 ngàn đồng/kg Tổng chi phí là 171,2 ± 66,9 triệu đồng/1000m2/vụ, doanh thu là 214,9 ± 101,4 triệu đồng/1000m2/vụ thì lợi nhuận thu được là 43,7 ± 45,5 triệu đồng/1000m2/vụ
Tỷ suất lợi nhuận đạt 23,5 ± 20,9% Số hộ nuôi có lời chiếm 88% và số hộ bị thua lỗ là 12%
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Danh sách bảng v
Danh sách hình vi
Danh mục từ và thuật ngữ viết tắt vii
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu tổng quát 1
1.3 Mục tiêu cụ thể 1
1.4 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học cá rô đầu vuông 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Hình thái 3
2.1.3 Đặc điểm phân bố 3
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 4
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 4
2.1.6 Đặc điểm sinh sản 4
2.2 Tình hình thủy sản trên thế giới 4
2.3 Tình hình thủy sản Việt Nam 5
2.4 Tình hình ngành thủy sản ở ĐBSCL 6
2.5 Tổng quan về tỉnh Hậu Giang 6
2.5.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội 6
2.5.2 Tình hình thủy sản ở Hậu Giang 8
2.6 Các nghiên cứu có liên quan đến sản xuất giống, ương và nuôi cũng như tiêu thụ cá rô đầu vuông 9
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 10
3.1 Thời gian và địa điểm khảo sát 10
3.2 Phương pháp nghiên cứu 11
3.3 Phương pháp xử lý số liệu 12
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 13
4.1 Thông tin về hộ nuôi 13
4.1.1 Thông tin chung 13
4.1.2 Nguồn thông tin kinh tế - kỹ thuật 14
4.1.3 Lao động tham gia 14
Trang 64.1.4 Hình thức tham gia 14
4.2 Khía cạnh kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá rô đầu vuông 15
4.2.1 Sản xuất giống 15
4.2.2 Giai đoạn ương 15
4.2.3 Giai đoạn nuôi cá thương phẩm 16
4.3 Khía cạnh kinh tế của mô hình nuôi cá rô đầu vuông 19
4.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận của các hình thức sản xuất 21
4.4.1 Mô hình ương và nuôi 21
4.4.2 Mô hình SXG, ương và nuôi 22
4.5 Nhận thức của người nuôi 23
4.6 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi cá rô đầu vuông ở Hậu Giang .23
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 25
5.1 Kết luận 25
5.2 Đề xuất 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
PHỤ LỤC 28
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1 Các chỉ tiêu kỹ thuật của mô hình nuôi cá rô đầu vuông 18
Bảng 4.2 Các loại chi phí đầu tư trong quá trình nuôi cá rô đầu vuông 20
Bảng 4.3 Các thông số kinh tế của mô hình nuôi cá rô đầu vuông 20
Bảng 4.4 Nhận thức của người nuôi 23
Bảng 4.5 Bảng đánh giá những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi cá rô đầu vuông ở Hậu Giang 24
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Cá rô đầu vuông 3
Hình 3.1 Khu vực nghiên cứu 10
Hình 4.1 Cơ cấu theo nhóm tuổi người nuôi cá rô đầu vuông ở Hậu Giang 13
Hình 4.2 Tỷ lệ số năm kinh nghiệm nuôi cá rô đầu vuông của nông hộ 14
Hình 4.3 Sơ đồ hình thức SXG và nuôi cá rô đầu vuông ở Hậu Giang 15
Hình 4.4 Tỷ lệ số hộ sử dụng các loại thức ăn 17
Hình 4.5 Cơ cấu chi phí biến đổi của các hộ nuôi cá rô đầu vuông 21
Hình 4.6 Mối tương quan giữa mật độ, năng suất và lợi nhuận 23
Trang 9DANH MỤC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
ĐBSCL Đồng Bằng sông Cửu Long
Trang 10CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu
Hiện nay, ngành thủy sản Việt Nam không ngừng phát triển với nhiều hoạt động như: khai thác kết hợp với các phương tiện hiện đại, NTTS tăng nhanh, chế biến thủy sản cũng phát triển, thêm vào đó các dịch vụ hậu cần phục vụ nghề cá cũng từ đó phát triển Theo ước tính của FAO (2010) sản lượng thuỷ sản nuôi trồng và khai thác quý I/2010 đạt 1.067,7 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, cá đạt 808,4 nghìn tấn, tăng 4,2%, tôm đạt 93 nghìn tấn, tăng 6,1%
Hậu Giang là tỉnh nằm ở phía Tây Nam của ĐBSCL là tỉnh mới thành lập nhưng hoạt động thủy sản rất phát triển Với diện tích 1.608 km², điều kiện tự nhiên thuận lợi, hệ thống sông ngòi chằng chịt Thủy sản được xác định là thế mạnh thứ hai của tỉnh sau cây lúa với sản lượng khai thác cao, khoảng 33.000 - 35.000 tấn/năm Hàng năm xuất khẩu thủy hải sản của tỉnh đạt 20.000 tấn (khoảng 50 triệu USD) Các loại cá được tỉnh tập trung phát triển là: cá tra, cá thác lác, cá rô đồng, cá sặc rằn… Năm 2008 cá rô đầu vuông được phát hiện ở tỉnh Hậu Giang Tuy là loài cá mới nhưng khi nuôi đạt giá trị kinh tế rất cao Người dân trong tỉnh hiện đang bắt đầu nuôi loài cá này rất nhiều Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều thông tin về tình hình sản xuất giống, ương và nuôi cá
rô đầu vuông thương phẩm Do đó, đề tài “Khảo sát hiện trạng sản xuất
giống, ương và nuôi cá rô đầu vuông ở tỉnh Hậu Giang” được thực hiện
1.2 Mục tiêu tổng quát
Đề tài được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng sản xuất giống, ương và nuôi
cá rô đầu vuông để từ đó cung cấp các thông tin cần thiết cho các nghiên cứu
và các nhà quản lý, để góp phần đưa ra hướng phát triển ổn định cho nghề nuôi
cá rô đầu vuông ở Hậu Giang
Trang 11iii Xác định được những thuận lợi, khó khăn trong các khâu sản xuất giống
và nuôi cá rô đầu vuông ở Hậu Giang
1.4 Nội dung nghiên cứu
i Điều tra và đánh giá khía cạnh kỹ thuật và tài chính trong các khâu sản xuất giống và nuôi cá rô đầu vuông ở Hậu Giang
ii Đánh giá những mặt thuận lợi, khó khăn và đề ra biện pháp phát triển cho mô hình nuôi cá rô đầu vuông ở Hậu Giang
Trang 12CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học cá rô
Ngoài ra, khi cá có kích thước lớn, đầu cá có hình hơi vuông, môi trề, bụng sệ, đuôi dài, vây dưới dày Thân cá dài có hai chấm đen ở gần đuôi và mang cá Đặc điểm khác giữa cá rô đầu vuông và cá rô đồng bình thường là cá đực và cá cái có tốc độ tăng trưởng tương đương
2.1.3 Đặc điểm phân bố
Cá rô đầu vuông là loài cá nước ngọt, hiện đang được nuôi chủ yếu ở một số tỉnh vùng ĐBSCL Chúng được nuôi trong ao chưa phát hiện ngoài tự nhiên
Trang 132.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Đặc điểm dinh dưỡng tương tự như cá rô đồng Có ruột dày và ngắn so với chiều dài thân, là loài cá ăn tạp thiên về động vật Thành phần thức ăn rất đa dạng, giai đoạn còn nhỏ cá ăn chủ yếu là động vật, thực vật phù du, mùn bã hữu cơ Khi lớn lên ngoài những thức ăn trên chúng còn ăn cả mầm lúa, hạt cỏ,
lá bèo, rong…và cả nhóm động vật như tép, giáp xác, cá nhỏ, nòng nọc… khi nuôi trong ao chúng có thể ăn cả phụ phế phẩm nông nghệp, từ các nhà máy như: phân gia súc, gia cầm, đầu tôm, đầu cá… ngoài những loại thức ăn trên cá còn có thể ăn cả thức ăn tự chế, thức ăn công nghiệp (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Tốc độ sinh trưởng của cá rô đầu vuông là rất lớn và lớn hơn cá rô đồng mới hơn 3 tháng đạt trọng lượng 100-120 g/con Hệ số tiêu thụ thức ăn thấp, theo kinh nghiệm của các hộ nuôi thì chỉ tốn 1,4 kg thức ăn cho 1 kg cá, trong khi
đó nuôi cá rô đồng bình thường tốn đến 2 kg thức ăn
Cá rô đầu vuông có ưu điểm lớn nhanh, con đực và con cái có kích thước như nhau Thời gian nuôi 4 tháng đầu có thể đạt trọng lượng 6 con/kg Nếu nuôi kéo dài 7 tháng, trọng lượng cá có thể đạt từ 500-800 g/con (http://www.khuyennongvn.gov.vn, ngày 05/07/2010 )
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Cá sinh sản tự nhiên vào đầu mùa mưa Cá di chuyển từ nơi sinh sống đến những nơi vừa ngập nước sau những đám mưa lớn đầu mùa như ruộng, ao, đìa, nơi có chiều cao cột nước 30 - 40cm để sinh sản Cá không có tập tính giữ con Sức sinh sản dao động từ 300.000 - 700.000 trứng/kg cá cái Trứng cá thuộc loại trứng nổi (Dương Nhựt Long, 2006)
2.2 Tình hình thủy sản trên thế giới
Năm 2010, tổng sản lượng thủy sản toàn thế giới đạt khoảng 147 triệu tấn, tăng 1,3% so với năm 2009 Trái ngược với tình hình sa sút của hoạt động đánh bắt, sản lượng thủy sản nuôi trồng được dự báo sẽ tăng tới 3,8% (tương đương tăng 1,9 triệu tấn), lên mức 57,2 triệu tấn
Xu hướng suy giảm trong hoạt động trao đổi thương mại thủy sản thế giới trong suốt năm 2009 đã chấm dứt Theo thống kê sơ bộ của FAO, từ T1 – T7/2010,
XK TS Trung Quốc đã tăng tới 26,8% so với cùng kỳ 2009, Thái Lan và Na Uy – 2 nhà cung cấp thủy sản lớn khác cũng đều ghi nhận mức tăng trưởng dương
ấn tượng Tính chung, tổng kim ngạch thương mại XK TS toàn cầu trong năm
Trang 142010 dự báo đạt 101,9 tỷ USD, tăng 6,8% so với năm 2009 (http://www.xaluan.com, ngày 01/07/2011)
Cơ cấu nguồn cung dịch chuyển theo hướng tăng sản lượng NTTS và giữ ổn định nguồn khai thác tự nhiên Nguyên nhân do SLTS đáng bắt ngày càng cạn kiệt và sự cải tiến kỹ thuật cho phép gia tăng năng suất nuôi trồng Năm 2009, mảng NTTS đóng góp 37% tổng SLTS cả nước
Khu vực Châu Á chiếm ưu thế , cung cấp trên 60% lượng TS hằng năm Trong
đó, Trung Quốc là quốc gia XK TS lớn nhất TG, chiếm 35% SLTS toàn cầu và 69% SL NTTS thế giới năm 2009
Tiêu dùng thực phẩm TS bình quân đầu người từ năm 2006 ở mức 16,8 kg/người/năm Theo dự phóng FAO, trong giai đoạn hiện tại đến năm 2025, tốc
độ tăng tiêu dùng TS sẽ tăng khoảng 2%/năm, nhỉnh hơn tốc độ dự phóng tăng trưởng dân số là 1,4%/năm (http://www.sbsc.com.vn, ngày 01/07/2011)
2.3 Tình hình thủy sản Việt Nam
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và TS năm 2010 theo giá so sánh 1994 ước đạt 232.700 tỷ đồng, tăng 4,7% so với năm 2009, bao gồm nông nghiệp 168.400 tỷ đồng, tăng 4,2%; lâm nghiệp 7.400 tỷ đồng, tăng 4,6%; TS 56.900 tỷ đồng, tăng 6,1%
Tổng SLTS năm 2010 ước đạt 5.128.000 tấn, tăng 5,3% so với năm 2009, trong
đó cá 3.848.000 tấn, tăng 4,8%; tôm 589.000 tấn, tăng 7,1%
Theo Tổng cục Thống kê, SLTS khai thác năm 2010 ước đạt 2.420.800 tấn, tăng 6,2% so với năm 2009, trong đó khai thác biển 2.226.600 tấn, tăng 6,4% SLTS nuôi trồng cả 2010 ước đạt 2.706,8 nghìn tấn, chỉ tăng 4,5% so với năm
2009 Đây là năm đầu tiên tỷ lệ tăng SLTS nuôi trồng thấp hơn so với tỷ lệ tăng SLTS khai thác
Năm 2010, TS tiếp tục là nhóm mặt hàng XK chủ lực, có tốc độ tăng trưởng cao trong 18 nhóm mặt hàng đạt giá trị XK trên 1 tỷ USD của cả nước (năm
2009 có 12 nhóm mặt hàng giá trị XK trên 1 tỷ) Giá trị XK TS năm 2010 ước đạt 4,95 tỷ USD, tăng 16,4% so với năm 2009 Tuy nhiên, tỷ trọng của nhóm hàng TS trong cơ cấu XK của cả nước đã giảm xuống còn 6,9% từ mức 7,4% năm 2009 (http://www.vietfish.org, tháng 01/2011)
Theo Vasep, năm 2010, ngành thủy sản Việt Nam đã thiết lập kỷ lục mới với kim ngạch xuất khẩu trên 5 tỷ USD Cả nước đã xuất khẩu trên 1,35 triệu tấn thủy sản, trị giá trên 5,03 tỷ USD, tăng 11,3% về khối lượng và 18,4% về giá trị so với năm 2009 (http://www.fistenet.gov.vn, ngày 16/02/2011)
Trang 152.4 Tình hình ngành thủy sản ở ĐBSCL
ĐBSCL được xem là vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển NTTS nhất trong cả nước và khu vực Nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL trong thời gian qua được khẳng định là nghề sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế và xã hội cao, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng nông thôn và ven biển; giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo và thu hút được sự quan tâm đầu
tư của nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước (Bộ NN&PTNT, 2010) Hoạt động NTTS ở ĐBSCL tăng cao Năm 2009, diện tích nuôi thuỷ sản toàn vùng ĐBSCL đạt gần 824.000 ha, sản lượng đạt trên 1,9 triệu tấn, chiếm 89% diện tích và 93% sản lượng ở các tỉnh phía Nam Ngoài diện tích nuôi thuỷ sản nước mặn ven biển, diện tích nuôi thuỷ sản nước ngọt cũng khá lớn, với trên 500.000 ha, chủ yếu ở các tỉnh Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng…Các đối tượng thủy sản được nuôi nhiều nhất cá tra, cá ba sa, tôm sú, tôm càng xanh, cá rô đồng, cá thát lát, cá rô phi, cá chép, cá ngát, cá chình…
2.5 Tổng quan về tỉnh Hậu Giang
2.5.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội
Vị trí địa lý và địa hình
Hậu giang là tỉnh nằm ở trung tâm của vùng ĐBSCL, được tách từ tỉnh Cần Thơ cũ vào đầu năm 2004 Phía Bắc giáp thành phố Cần Thơ, phía Tây giáp Kiên Giang, phía Tây Nam giáp Bạc Liêu, phía Đông giáp Sóc Trăng, phía Đông Bắc giáp Sông Hậu
Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 160.058,69 ha, chiếm khoảng 4% diện tích vùng ĐBSCL và chiếm khoảng 0,4% tổng diện tích tự nhiên của cả nước Dân
số của toàn tỉnh là 756.625 người chiếm 4,6% dân số của ĐBSCL và 0,94% dân số cả nước (năm 2009) Dân thành thị là 132.406 người, chiếm 17% Số dân sống dựa vào nông nghiệp chiếm 41,4% Dân số sống bằng nghề phi nông nghiệp là 58,6%
Địa hình tương đối bằng phẳng, trên địa bàn tỉnh có hai tuyến đường giao thông chính là quốc lộ 1A và quốc lộ 61, độ cao trung bình dưới 2 m so với mực nước biển, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây Khu vực ven Sông Hậu cao nhất, trung bình là khoảng 1 - 1,5 m, độ cao thấp dần về phía Tây Phần lớn lãnh thổ nằm kẹp giữa kênh Xáng Xà No và kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp là vùng trũng, độ cao trung bình chỉ khoảng 0,2 - 0,5 m so với mực nước biển
Trang 16Tỉnh Hậu Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa mang đặc trưng của các tỉnh miền Tây Nam Bộ Trong năm có hai mùa mưa, nắng rõ rệt, không có mùa đông Nhiệt độ trung bình cao, khoảng 26,7 - 270C Những tháng có nhiệt độ cao là khoảng từ tháng 4-11 và tháng có nhiệt độ thấp khoảng tháng 12-1, khoảng chênh lệch nhiệt độ lớn nhất giữa các tháng trung bình là 30C, còn chênh lệch nhiệt độ ngày đêm là khoảng từ 8-140C Lượng mưa khoảng 1.800 mm/năm, tập trung cao nhất từ tháng 9 đến tháng 10 Lượng mưa phân bố không đều theo lãnh thổ, khu vực phía Tây có số ngày mưa nhiều hơn, lượng mưa lớn hơn và mùa khô không gay gắt như khu vực phía Đông Độ ẩm trung bình trong năm phân hóa theo mùa rõ rệt, chênh lệch độ ẩm trung bình giữa tháng ẩm nhất và tháng ít ẩm nhất khoảng 11% Độ ẩm trung bình thấp nhất vào khoảng tháng 3 và 4 (77%), độ ẩm trung bình trong năm là 82%
Hệ thống sông ngòi chằng chịt với tổng chiều dài khoảng 2.300 km Các con sông lớn như: sông Hậu, sông Cái Tư, kênh Đông Lợi, kênh Sóc Trăng, kênh
Mỹ Thuận, kênh Xáng Xà No, và nhiều kênh gạch nhỏ khác Trong đó, kênh Xáng Xà No và kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp được xem là hai trục giao thông thủy quốc gia
Chính những hệ thống sông ngòi như vậy không những phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của người dân mà còn là tuyến giao thông nội địa giúp cho người dân trao đổi mua bán, vận chuyển hàng hóa Hằng năm mỗi khi lũ về đã làm cho đất ở nơi đây trở nên màu mỡ, đồng thời cũng mang lại nguồn thủy sản phong phú cho tỉnh
Nguồn lợi thủy sản của tỉnh chủ yếu là có từ sông và nội đồng Vào mùa lũ nguồn lợi tôm cá từ sông Hậu gia tăng sản lượng thủy sản của tỉnh lên rất nhiều (www.vietgle.vn ngày 12/10/2010)
Hoạt động kinh tế -xã hội
Người dân nơi đây sống bằng nghề nông là chủ yếu, đây cũng là trung tâm lúa gạo của miền Tây Nam Bộ, thế mạnh của Hậu Giang là sản xuất lúa và một số loại cây ăn trái khác như: mía, khóm, xoài, cam…
Hậu Giang mới thành lập không lâu nhưng đã thu hút được sự đầu tư của các nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP 2001-2007 đạt 11,2%/năm Tổng GDP năm 2007 đạt 4,4 nghìn tỷ đồng Trong
đó GDP của ngành TS chiếm 17,2% (2006), giá trị sản xuất ngành thủy sản là
559 tỷ đồng năm 2007 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản giai đoạn 2001-2007 luôn chiếm trên 97%
Trang 17Trong những năm tới, Hậu Giang sẽ tập trung phát triển và mở thêm ngành công nghiệp chế biến, cơ khí sửa chữa nhỏ, công nghiệp đóng tàu và công nghiệp phụ trợ cho đóng tàu Hiện nay, tỉnh cũng đã xây dựng thêm nhiều khu công nghiệp và khu dân cư thương mại khác
Hoạt động thương mại của tỉnh phát triển rất sôi động, lượng hàng hóa lưu thông ngày càng tăng đã tạo nên sự đa dạng về mặt hàng của các loại sản phẩm trong toàn tỉnh
Lao động của tỉnh năm 2007 khoảng 595,6 ngàn người, trong đó lao động trong
độ tuổi là 544,6 ngàn người, chiếm 92% Phần lớn là lao động phổ thông Lực lượng chủ chốt được đào tạo bồi dưỡng ở một chừng mực nhất định, có kinh nghiệm điều hành (www.haugiang.gov.vn ngày 12/10/2010)
2.5.2 Tình hình thủy sản ở Hậu Giang
Hậu Giang là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, địa hình thấp và bằng phẳng, khí hậu ôn hòa, có nguồn nước ngọt phong phú, hệ thống sông ngòi chằng chịt tạo nên nhiều dạng thủy vực khác nhau, thích hợp cho sự phát triển của nhiều loài thủy sản Hậu Giang có tiềm năng lớn về nuôi cá nước ngọt
Trong năm 2009, toàn tỉnh Hậu Giang thả nuôi được 12.968 ha thủy sản, đạt 100% kế hoạch, tăng 6,5% so năm 2008 Trong đó, diện tích nuôi cá ao chiếm 7.113 ha, còn lại là cá ruộng, tôm càng xanh, tôm sú, nuôi lồng bè trên sông
Có 595 ha cá ao nuôi theo hình thức thâm canh như: cá tra, cá trê lai, cá rô đồng, thát lát cườm Tổng sản lượng thủy sản năm qua đạt 71.524 tấn, trong
đó, sản lượng nuôi bán thâm canh là 59.214 tấn, chiếm gần 83% sản lượng nuôi toàn tỉnh Theo Sở NN&PTNT Hậu Giang, đây là hình thức nuôi mang nhiều lợi thế cho ngành thủy sản của tỉnh, cần tập trung phát triển, nhằm gia tăng năng suất, sản lượng để nâng cao thu nhập cho người nuôi (www.vietlinh.vn, ngày 14/01/2010)
Tổng sản lượng thủy sản năm 2010 đạt 82.487,6 tấn vượt 4,2 % so với kế hoạch (79.133 tấn), trong đó sản lượng nuôi thâm canh, bán thâm canh đạt 62.483,54 tấn đạt 95,6 % so với kế hoạch (65.372 tấn) Đây là mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao và cũng là lợi thế trong phát triển ngành thủy sản của tỉnh Tuy nhiên với hình thức nuôi TC, BTC với mật độ nuôi cao đòi hỏi phải có trình độ
kỹ thuật cao, đây cũng là thách thức lớn với người nuôi, sản lượng nuôi quảng canh cải tiến đạt 16.503,06 tấn vượt 60,9 % so với kế hoạch năm 2010 (10.260 tấn) (Chi cục TS Hậu Giang, 2010)
Trang 182.6 Các nghiên cứu có liên quan đến sản xuất giống và nuôi cũng như tiêu thụ cá rô đầu vuông
Hiện ngành nông nghiệp tỉnh Hậu Giang đang theo dõi, xác định rõ nguồn gốc, phân tích ADN để tiến tới xây dựng thương hiệu “Cá rô đầu vuông Hậu Giang” Theo ngành nông nghiệp Hậu Giang, với những ưu điểm vượt trội về thời gian nuôi, tốc độ lớn nhanh, trọng lượng lớn sẽ là lợi thế để xây dựng thương hiệu cho giống cá này (http://nld.com.vn ngày 08/10/2010)
Tháng 11 năm 2010 qua kết quả khảo sát về hình thái bên ngoài và phân tích biến dị di truyền DNA ty thể của 2 nhóm cá rô ( cá rô đồng và cá rô đầu vuông)
cho thấy quần đàn cá rô đầu vuông vẫn thuộc loài cá rô thường Anabas
tetudineus (Bloch, 1792) Tuy nhiên, thực tế cho thấy cá rô đầu vuông có tốc độ
tăng trưởng và kích thước vượt trội hơn so với cá rô đồng thường có thể liên quan đến biến dị của DNA ty thể
Do người nông dân phát triển nghề nuôi cá rô đầu vuông một cách tự phát Kết quả là từ đầu năm 2011, người nuôi cá rô ở ĐBSCL thua lỗ do giá cá rớt quá nhanh, hiện nay (28/3/2011) giá cá thương phẩm là 15.000 – 17.000 đ/kg (loại
10 con/kg) Hiện nay giá thành cá nguyên liệu là 20.000 - 21.000đ/kg dẫn tới việc các hộ nuôi bị thua lỗ, chưa kể đến việc nuôi ồ ạt dẫn đến môi trường nước
bị ô nhiễm, cá bị bệnh, hao hụt lớn, thu hoạch không đạt năng suất (http://sonongnghiep.haugiang.gov.vn, ngày 27/04/2011)
Một số chuyên gia nước ngoài cùng các cán bộ khoa Thủy sản phân tích ADN mẫu cá rô đầu vuông ở Hậu Giang xác định được ADN của cá rô đầu vuông khác với cá rô đồng nên đã gởi mẫu ADN của loài cá này sang Singapore để phân tích
Trang 19CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm khảo sát
Mô hình nuôi cá rô đầu vuông ở huyện Long Mỹ chiếm 36% (79,51 ha), Vị Thủy chiếm 31,3% (69,08 ha)trong tổng số các mô hình nuôi TS hiện có ở hai
nơi này (http://sonongnghiep.haugiang.gov.vn, ngày 27/04/2011) và là hai địa
bàn trọng điểm của mô hình nuôi cá rô đầu vuông của tỉnh Hậu Giang Do đó hai địa điểm này được chọn thực hiện đề tài trong khoảng thời gian từ tháng01/2011 đến tháng 05/2011 (Hình 3.1)
Hình 3.1: Khu vực nghiên cứu
Trang 203.2 Phương pháp nghiên cứu
Số liệu thứ cấp: Tổng hợp từ các báo cáo của các cơ quan ban ngành ở địa bàn nghiên cứu về các điều kiện kinh tế - xã hội, về tình chung của ngành nuôi trồng thủy sản Các nghiên cứu liên quan đã được thực hiện trước đây và trên các báo, tạp chí thủy sản, các website… Ngoài ra, các số liệu thứ cấp cũng đã được thu thập từ Sở NN & PTNT tỉnh Hậu Giang và hai trạm Khuyến nông – khuyến ngư của hai huyện Long Mỹ và Vị Thủy
Số liệu sơ cấp: phỏng vấn ngẫu nhiên 60 hộ nuôi cá rô đầu vuông (vụ nuôi năm 2010) tại hai huyện Long Mỹ và Vị Thủy (Phụ lục) Trong đó, có 10 hộ ương, nuôi và 50 hộ SXG, ương, nuôi
Danh sách các biến chủ yếu trong biểu mẫu phỏng vấn:
Thông tin về nông hộ
Trang 21 Lợi nhuận thu được của nông hộ
Thống kê so sánh được áp dụng để so sánh giá trị trung bình một số biến chính về kỹ thuật và tài chính, với mức ý nghĩa α = 5%
Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Excel, SPSS để xử lý số liệu và Word để viết bài
Trang 22CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thông tin về hộ nuôi
4.1.1 Thông tin chung
Theo kết quả khảo sát lực lượng lao động tham gia SXG, ương, nuôi cá rô đầu vuông ở Hậu Giang có độ tuổi trung bình là 45,5 ± 9,6 tuổi, dao động trong khoảng từ 27-68 tuổi, tập trung chủ yếu ở độ tuổi từ 50-59 (chiếm 40,0%) Đây
là một thuận lợi vì các chủ hộ đều đã có nhiều kinh nghiệm sản xuất, có khả năng tiếp thu, học hỏi nhanh chóng dễ dàng các kỹ thuật mới
Hình 4.1 Cơ cấu theo nhóm tuổi người nuôi cá rô đầu vuông ở Hậu Giang Trình độ văn hóa có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nhận thức cũng như việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Trong 60 hộ được phỏng vấn
tỉ lệ có trình độ văn hóa cấp II chiếm cao nhất (60%), không có tỉ lệ mù chữ Tuy nhiên, trình độ trung cấp hoặc cao đẳng và đại học chiếm tỷ lệ thấp (2%) Nhìn chung trình độ văn hóa của các chủ hộ khá thấp, điều này làm hạn chế việc tiếp thu các kỹ thuật ứng dụng mới trong sản xuất so với các hộ có trình độ văn hóa cao hơn
Kinh nghiệm sản xuất là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của người nuôi cá rô đầu vuông Số năm kinh nghiệm trung bình của các hộ nuôi là 2 ± 0,8 năm, dao động trong khoảng từ 1 - 3 năm Trong đó kinh nghiệm nuôi 3 năm chiếm cao nhất (38,3%), 2 năm chiếm thấp nhất (26,7%)
Số năm kinh nghiệm thể hiện cá rô đầu vuông là đối tượng nuôi mới, nhưng khi mới phát hiện ra giống cá mới này thì người dân cũng bắt đầu chuyển sang nuôi
nó So với mô hình nuôi cá thát lát còm ở Hậu Giang thì kinh nghiệm nuôi của
Trang 23Hình 4.2 Tỷ lệ số năm kinh nghiệm nuôi cá rô đầu vuông của nông hộ
4.1.2 Nguồn thông tin kinh tế - kỹ thuật
Để nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm chi phí góp phần tăng thu nhập, các hộ nuôi cá rô đầu vuông đã tìm đến nhiều nguồn thông tin kinh tế - kỹ thuật khác nhau Qua khảo sát các hộ nuôi có được là từ tập huấn (38,3%), hội thảo (8,3%), công ty/đại lý thuốc (15%), người nuôi trước (33,3%), sách báo, đài (5%) Điều này cho thấy địa phương thường xuyên mở các lớp tập huấn để người dân dễ dàng tiếp thu kỹ thuật mới, tìm hiểu thông tin một cách chính xác
từ cán bộ, kỹ sư
4.1.3 Lao động tham gia
Do cá rô đầu vuông là đối tượng nuôi mới và diện tích nuôi nhỏ nên lực lượng lao động thuê mướn hầu như không đáng kể Lao động tham gia trong mô hình chủ yếu là trong gia đình, mỗi hộ trung bình có 2,1 ± 0,9 người, trong đó cao nhất là 5 người, ít nhất là 1 người Sử dụng lao động gia đình có thể giúp giảm chi phí đồng thời cá sẽ được chăm sóc tốt hơn
4.1.4 Hình thức tham gia sản xuất giống và nuôi cá rô đầu vuông
Đa số hộ nuôi cá rô đầu vuông tự SXG, ương, nuôi chiếm 83,3% số hộ, và mua con giống về ương và nuôi chiếm 16,7% số hộ So với trước đây khi còn nuôi
cá rô đồng thì người dân đã có thể tự chủ động được nguồn giống của mình đây
Trang 24Ương nuôi SXG, ương, nuôi
Hộ SXG
Cá bột Mua
Hình 4.3 Sơ đồ hình thức SXG và nuôi cá rô đầu vuông ở Hậu Giang
4.2 Khía cạnh kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá rô đầu vuông
4.2.1 Sản xuất giống
Theo kết quả khảo sát, mỗi trại có 2 đợt SXG chính trong năm là vào tháng 2
và tháng 8 âm lịch Ngoài 2 đợt chính còn có các đợt phụ tùy theo yêu cầu của người dân mua về nuôi Mỗi trại sản xuất được khoảng 2,2 ± 1,8 triệu cá bột/đợt Chất lượng cá bột được 100% số hộ cho là tốt
Trong số các hộ tự sản xuất giống, nguồn cá bố mẹ từ nuôi thịt chiếm 84% số
hộ và mua từ trại SXG chiếm 16% số hộ Và các hộ mua cá bột về ương và nuôi thương phẩm thì nguồn cá bột tốt được các hộ chọn mua từ những trại SXG có uy tín, chất lượng tốt Nguồn cá bố mẹ chất lượng tốt (100% số hộ) Sức sinh sản trung bình là 309.000 ± 35.985 trứng/kg cá cái
4.2.2 Giai đoạn ương
Trong giai đoạn ương, có 53,3% số hộ ương cá trong ao có vèo và 46,7% số hộ ương cá trong ao không vèo Diện tích vèo trung bình khoảng 7,2 ± 5,3 m2 Mật
độ ương là 1.586,6 ± 1.678,1 con/m2 Thời gian ương cá bột lên giống khoảng 47,5 ± 4,9 ngày Kích cỡ cá sau khi ương đạt 8,6 ± 1,0 g/con, chất lượng giống toàn bộ được cho là tốt
Trang 25Trong giai đoạn ương có 53,3% số hộ nuôi sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp, 11,7% số hộ sử dụng thức ăn tự chế, và 35,0% số hộ sử dụng cả hai loại Trong đó, những loại thức ăn công nghiệp được sử dụng: Tomwei, CP, Tomboy, Cargill, NAFACO, bột sữa cá có hàm lượng đạm khoảng 40 - 42%; ngoài ra, bột sữa cá có hàm lượng đạm 70% cũng được sử dụng Thức ăn tự chế được làm từ bột sữa đậu nành, bột sữa cá, lòng đỏ trứng và cá biển trộn đều, xay nhuyễn cho cá ăn Qua khảo sát lượng thức ăn sử dụng trong quá trình ương cá là 81,39 ± 14,32 kg/1000m2, cho ăn 3 - 4 lần/ngày Tỷ lệ sống của cá sau khi ương đạt từ 0,71 – 9,26 % chiếm 88% số hộ và từ 10 – 16 % chiếm 12% số hộ
4.2.3 Giai đoạn nuôi cá thương phẩm
Đặc điểm ao nuôi
Qua khảo sát ta thấy, diện tích ao nuôi của các nông hộ không đồng đều tùy theo điều kiện kinh tế của từng gia đình và diện tích đất sẵn có Trong số 60 hộ khảo sát được ao có diện tích lớn nhất là 3.200 m2, ao có diện tích nhỏ nhất là
400 m2 So với mô hình nuôi cá thát lát cườm (400 ± 700 m2/ao) (Nguyễn Thị Ngọc Ngân, 2010) thì diện tích ao nuôi cá rô đầu vuông lớn hơn (Bảng 4.1)
Mùa vụ nuôi
Số vụ nuôi trung bình là 2,1 ± 0,3 vụ/năm Thời điểm thả giống vụ 1 khoảng cuối tháng 3 - đầu tháng 4 (âm lịch), vụ 2 khoảng tháng 8 - tháng 9, vụ 3 khoảng cuối tháng 11- đầu tháng 12 Thời gian nuôi cá trung bình là 4,1 ± 0,3 tháng/vụ
Cải tạo ao và quản lý ao nuôi
Theo kết quả khảo sát, 100% số hộ đều sử dụng hóa chất để cải tạo ao trước khi bắt đầu vụ nuôi Các loại hóa chất được sử dụng là vôi (100% số hộ sử dụng) với liều lượng 10 – 100 kg/1000m2/vụ Ngoài ra, có 51,7% số hộ nuôi sử dụng thêm các loại hóa chất khác như muối (13,3% số hộ), Zeolite (11,7% số hộ) và các loại khác: BKC, Ure, Odine, Bio, thuốc tím… Thời gian cải tạo từ 5-20 ngày tùy theo từng hộ
Theo khảo sát, mật độ thả nuôi trung bình là 71,1 ± 21,1 con/m2 Trong đó, mật
độ cao nhất là 100 con/m2, thấp nhất là 10 con/m2
Kết quả khảo sát cho thấy, tất cả các hộ nuôi cá rô đầu vuông đều có cống cấp
và thoát Có 78,3% số hộ nuôi cá phải bơm nước từ sông và 21,7% số hộ bơm
từ kênh Ở giai đoạn ương cá, tần suất thay nước 1 ngày/lần, khi nuôi thương phẩm thì 1 tuần/lần, mỗi lần thay khoảng 30% nước trong ao Theo khảo sát có
Trang 26xử lí Hóa chất được dùng để xử lý nước cấp vào ao là vôi bột (28,3% số hộ sử dụng), vôi và muối (16,7% số hộ sử dụng), BKC, muối, Yucca… Nhưng có 83,3% số hộ không xử lí nước thải ra, 10% số hộ sử dụng ao lắng và 6,7% số
hộ sử dụng hóa chất xử lý nước thải Hóa chất xử lý nước thải ra có vôi bột và muối (5% số hộ sử dụng) và chỉ sử dụng vôi bột (1,7% số hộ) Điều này gây ô nhiễm môi trường vùng nuôi
Thức ăn
Trong giai đoạn nuôi thương phẩm thì toàn bộ thức ăn sử dụng là thức ăn công nghiệp Tùy theo vùng nuôi mà sử dụng loại thức ăn khác nhau: NAFACO, CP, Cargill, Tomwei, Tomboy, Hoàng Long, Fish Top; với hàm lượng đạm thường
từ 27-40% Thức ăn có hàm lượng đạm 30% được người nuôi sử dụng nhiều nhất Lượng thức ăn bình quân sử dụng trong một vụ nuôi cá rô đầu vuông là 11,7 ± 5,3 tấn/1000m2/vụ, cho ăn 2-3 lần/ngày Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) bình quân là 1,52 ± 0,1 Trong quá trình cho ăn có một số hộ còn bổ sung thêm vitamin nhằm tăng sức đề kháng cho cá (Bảng 4.1)
Hình 4.4 Tỷ lệ số hộ sử dụng các loại thức ăn
Tỉ lệ sống, năng suất khi thu hoạch
Qua khảo sát tỉ lệ sống của các hộ tự SXG thấp hơn các hộ mua cá bột Nhưng năng suất của hộ tự SXG lại cao hơn Có sự biến động lớn về năng suất cá nuôi giữa cá hộ điều tra
Trang 27Bảng 4.1 Các chỉ tiêu kỹ thuật của mô hình nuôi cá rô đầu vuông
( N = 10)
SXG, ương, nuôi (N = 50)
Tổng diện tích nuôi/hộ (m2) 1.160 ± 589,2a 2.089,2 ± 1.859,8aDiện tích bình quân/ao (m2) 1.160 ± 589,2a 1.292,5 ± 763,6a
Độ sâu ao (m) 2,2 ± 0,5 2,6 ± 0,5 Mực nước trung bình (m) 1,9 ± 0,5a 2,1 ± 0,4aKích cỡ cá giống (g/con) 8,8 ± 1,1a 8,6 ± 1,0aMật độ thả nuôi (con/m2) 58,2 ± 32,5 73,7 ± 17,4 Tổng lượng thức ăn (tấn/1000m2/vụ) 8,6 ± 5,3 12,4 ± 5,1
Hệ số tiêu tốn thức ăn 1,48 ± 0,1a 1,52 ± 0,1aKích cỡ cá thu hoạch (g/con) 106,6 ± 8,6a 120,5 ± 26,8a
Tỷ lệ sống (%) 91,5 ± 5,3a 89,1 ± 8,1aNăng suất (tấn/1000m2/vụ) 5,7 ± 3,5 8,1 ± 3,3 Thời gian nuôi (tháng) 4,1 ± 0, 2a 4,2 ± 0,3a
Các chữ cái (a) trong cùng hàng giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Một số bệnh thường gặp trên cá rô đầu vuông trong quá trình nuôi và cách phòng trị bệnh
Qua khảo sát cá rô đầu vuông thường xuất hiện rất nhiều loại bệnh tùy theo giai đoạn, trong các bệnh thường gặp thì bệnh xuất huyết đường ruột xuất hiện nhiều nhất (56,7% số hộ), giai đoạn cá từ 1-2 tháng tuổi Nguyên nhân là do chất thải từ các ao không được xử lý làm cho nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm Cách trị dùng các loại kháng sinh Enfro 2000, Sulfa, vôi và phèn
Đen thân (43,3% số hộ) là một trong các bệnh nghiêm trọng có thể gây chết hơn 70% Thời gian xuất hiện không tập trung vào một tháng nhất định nào Hiện chưa có nghiên cứu về loại bệnh này, khi bệnh xuất hiện chủ yếu người dân dùng kháng sinh Amoxicillin, Tetracycllin…
Bệnh tiếp theo là nấm nhớt (30% số hộ), bệnh này xuất hiện ở giai đoạn cá lớn
và không có thuốc trị nên đây là đang là mối lo ngại của hộ nuôi Bệnh nấm nhớt thường xảy ra khi nhiệt độ nước trong ao nuôi thấp hoặc thời tiết thay đổi (giao mùa hoặc trời lạnh) Đặc biệt bệnh thường bộc phát khi lượng nước trong
ao nuôi giảm hay nhiễm bẩn, mật độ cá trong ao nuôi quá dày, cách chăm sóc
và quản lý thức ăn hoặc chất lượng thức ăn chưa tốt Bệnh nấm nhớt cũng là một trong những loại bệnh khiến người nuôi lao đao, cá mắc bệnh này làm ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm và hiệu quả kinh tế của người nuôi Khi cá bệnh người nuôi chủ yếu dùng Clorine, muối, CuSO
Trang 28Ngoài các loại bệnh trên, trong quá trình nuôi còn xuất hiện thêm các loại bệnh khác như ký sinh trùng, mòn vây, cụt đuôi, gan thận mũ, tuột nhớt và thúi mang Tần số xuất hiện của các loại bệnh này khác nhau và mức độ gây thiệt hại cũng khác nhau
Mức độ thiệt hại do bệnh gây ra cũng tùy thuộc hộ nuôi, nếu phát hiện và trị sớm thì thiệt hại không cao nhưng nếu phát hiện trễ thì sẽ ảnh hưởng nhiều đến năng suất thu hoạch sau này
4.3 Khía cạnh kinh tế của mô hình nuôi cá rô đầu vuông
Theo kết quả khảo sát, tất cả các hộ nuôi đều tận dụng diện tích đất nhà không
có hộ nào thuê đất để nuôi Do thường xuyên thay nước nên chi phí máy bơm nước của các hộ nuôi là 0,6 ± 0,4 (triệu đồng/1000m2/vụ) Trong các mô hình nuôi cá thì chi phí đầu tư phụ thuộc vào một số yếu tố như kỹ thuật nuôi, chất lượng thức ăn, chất lượng con giống, mật độ thả nuôi… Do đó, chi phí đầu tư của các hộ nuôi cũng có sự khác biệt Kết quả điều tra cho thấy, chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ cao nhất (87,9%) trong tổng cơ cấu chi phí sản xuất So với chi phí thức ăn trong nuôi cá tra (chiếm 80% tổng chi phí đầu tư) (Cao Tuấn Anh, 2010) thì nuôi cá rô đầu vuông chi phí thức ăn cao hơn
Theo kết quả điều tra, giá bán cá tại ao đạt trung bình khoảng 25,9 ± 2,2 ngàn đồng/kg Giá cá bán tại ao của hộ tự SXG (26,2 ± 2,1 ngàn đồng/kg ) cao hơn
hộ không tự SXG (24,3 ± 2,1 ngàn đồng/kg), có sự biến động về giá bán giữa các hộ nuôi là do kích cỡ cá thu hoạch của hộ tự SXG lớn hơn nên giá cá bán cao hơn
Tổng chi phí đầu tư là 163,5 ± 68,9 triệu đồng/1000m2/vụ Trong đó, chi phí đầu tư của hộ tự SXG (171,2 ± 66,9 triệu đồng/1000m2/vụ) cao hơn hộ không
tự SXG (125,3 ± 69,5 triệu đồng/1000m2/vụ); Theo Nguyễn Thị Ngọc Ngân (2010), mô hình nuôi cá thát lát còm (nuôi đơn) thì tổng chi phí là 48,817 ± 27,104 triệu đồng/1000m2/vụ Chi phí đầu tư cho cá rô đầu vuông cao hơn cá thát lát còm Doanh thu cũng có sự khác biệt là 214,9 ± 101,4 triệu đồng/1000m2/vụ và 143,8 ± 96,6 triệu đồng/1000m2/vụ cho hai hình thức tự SXG và mua con giống Có sự biến động lớn về doanh thu giữa các hộ là do khác nhau về kỹ thuật Lợi nhuận thu được là 43,7 ± 45,5 triệu đồng/1000m2/vụ cho hộ tự SXG và 18,5 ± 31,2 triệu đồng/1000m2/vụ cho hộ mua cá bột; cao hơn mô hình nuôi cá thát lát còm (nuôi đơn) đạt 11,4 ± 23,7 triệu đồng/1000m2/vụ (Nguyễn Thị Ngọc Ngân, 2010)
Tỷ suất lợi nhuận đạt 20,4 ± 22,3 %; trong đó của hộ tự SXG là 23,5 ± 20,9 %
và của hộ mua cá bột là 5 ± 23,3 %; cao hơn tỷ suất lợi nhuận của mô hình nuôi
Trang 29cá tra (5,4%) (Cao Tuấn Anh, 2010) và mô hình nuôi cá thát lát còm nuôi đơn 1,2%, nuôi ghép 1,3% (Nguyễn Thị Ngọc Ngân, 2010)
Trong 60 hộ khảo sát, có 51 hộ lời (85%) và chỉ có 9 hộ lỗ (15%), các hộ lỗ là
do nuôi với mật độ thấp, cá bị bệnh nhiều và giá thức ăn tăng cao Mức lời trung bình của các hộ là 48,1 ± 42,7 triệu đồng/1000m2/vụ, với mức lời cao nhất là 237,5 triệu đồng, thấp nhất là 2,7 triệu đồng
Bảng 4.2 Các loại chi phí đầu tư trong quá trình nuôi cá rô đầu vuông
Đvt: triệu đồng/1000m2/vụ
(N = 10)
SXG, ương, nuôi (N = 50)
Chi phí đào ao 0,7 ± 0,3 0,6 ± 0,2 Chi phí máy móc 0,8 ± 0,4a 0,6 ± 0,4a
Chi phí cải tạo ao 0,4 ± 0,8a 0,5 ± 0,2a
Chi phí cá bột, cá bố mẹ 4,7 ± 1,0 2,6 ± 1,1 Chi phí thức ăn 105,3 ± 67,9 151,4 ± 63,6 Chi phí phòng trị bệnh 2,9 ± 1,8 4,0 ± 1,6 Chi phí lao động 10 ± 3,4a 13,2 ± 8,6a
Chi phí hóa chất xử lý nước 0,4 ± 0,2a 0,5 ± 0,2a
Lãi Ngân hàng 0,5 ± 0,4 0,3 ± 0,1
Các chữ cái (a) trong cùng hàng giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Bảng 4.3 Các thông số kinh tế của mô hình nuôi cá rô đầu vuông
(N = 10)
SXG, ương, nuôi (N = 50)
Tổng chi phí (triệu đồng/1000m2/vụ) 125,3 ± 69,5a 171,2 ± 66,9aTổng doanh thu (triệu đồng/1000m2/vụ) 143,8 ± 96,6 214,9 ± 101,4 Lợi nhuận (triệu đồng/1000m2/vụ) 18,5 ± 31,2a 43,7 ± 45,5a
Tỷ suất lợi nhuận (%) 5 ± 23,3 23,5 ± 20,9 Giá thành (ngàn đồng/kg) 24,2 ± 6,2 21,5 ± 2,6 Giá bán tại ao (ngàn đồng/kg) 24,3 ± 2,1 26,2 ± 2,1
Các chữ cái (a) trong cùng hàng giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Trang 30Phòng trị bệnhLao độngKhác
Hình 4.5 Cơ cấu chi phí biến đổi của các hộ nuôi cá rô đầu vuông
4.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận của các hình thức sản xuất
4.4.1 Mô hình ương và nuôi
Năng suất
Kết quả phân tích hồi quy tương quan đa biến cho thấy mật độ thả nuôi (X1), tỉ lệ sống (X2), kích cỡ thu hoạch trung bình (X3) có tương quan chặt chẽ (R2 = 0,998; Sig = 0,000) đến năng suất cá nuôi (Y), và thể hiện qua phương trình (1):
tố như: nhu cầu thị trường, kích cỡ cá giống và thời gian nuôi, tốc độ tăng trưởng của cá làm cho kích cỡ cá bán ra thường ở cỡ 100 g/con
Lợi nhuận
Kết quả phân tích hồi quy tương quan đa biến cho thấy giá bán (X1), giá thành (X2), diện tích ao nuôi (X3) có tương quan chặt chẽ (R2 = 0,971; Sig = 0,000) đến lợi nhuận cá nuôi (Y), và thể hiện qua phương trình (2):
Trang 31Y = - 172,12 + 9,89 X1 – 2,33X2 + 0,16X3 (2)
Kết quả cho thấy, giá bán và diện tích ao có tương quan thuận, giá thành có tương quan nghịch với lợi nhuận Đầu tư cho mô hình nuôi càng nhiều thì lợi nhuận càng thấp Nên các hộ nuôi nên đầu tư đúng mức để tránh bị thua lỗ
4.4.2 Mô hình SXG, ương và nuôi
Năng suất
Kết quả phân tích hồi quy tương quan đa biến cho thấy mật độ thả nuôi (X1), tỉ lệ sống (X2), kích cỡ thu hoạch trung bình (X3), tổng lượng thức ăn/vụ (X4) và số lần thay nước (X5) có tương quan chặt chẽ (R2 = 0,993; Sig = 0,000) đến năng suất cá nuôi (Y), và thể hiện qua phương trình (3):