Ngoài ra các nhà nghiên cứu còn nghiên cứu mối tương quan giữa chiếu dài, trọng lượng đá tai với chiều dài trọng lượng thân cá từ đó có thể dựa vào kích thước đá tai mà suy ra kích thước
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
VÕ CHÍ THANH
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI ĐÁ TAI HỌ CÁ ÚC (Tachysuridae)
VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN TUYẾN SINH DỤC CỦA CÁ ÚC
TRẮNG (Tachysurus sciurus) PHÂN BỐ Ở SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
2010
Trang 2MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG I 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG II 3
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm hình thái và thành phần loài của Bộ Cá Trơn (Siluriformes) 3
2.1.1 Thành phần giống loài 3
2.1.2 Đặc điểm hình thái, phân bố và sinh trưởng 4
2.2 Đá tai cá 14
2.2.1 Vị trí, cấu tạo, hình dạng và đặc điểm chung của đá tai 14
2.2.2 Sự hình thành đá tai 18
2.2.3 Các nghiên cứu và ứng dụng của đá tai 19
2.3 Tương quan chiều dài, trọng lượng đá tai và chiều dài, trọng lượng cá 20
CHƯƠNG III 22
ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Địa điểm nghiên cứu: 22
3.2 Thời gian nghiên cứu: 23
3.3 Vật liệu nghiên cứu: 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Phương pháp thu mẫu 23
3.4.2 Phương pháp cố định mẫu 23
3.4.3 Phương pháp phân tích mẫu 24
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 28
Trang 3CHƯƠNG IV 29
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Thành phần loài thuộc họ cá Úc, phân bố ở tỉnh Sóc Trăng 29
4.2 Mô tả hình thái đá tai của một số loài cá thuộ họ cá Úc (Tachysuridae) 35
4.3 Tương quan chiều dài và trọng lượng cá của một số loài thuộc họ Cá úc 43
4.4 Tương quan chiều dài, trọng lượng đá tai với chiều dài, trọng lượng cá 47
4.5 Một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá Úc Trắng 54
4.5.1 Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục 54
4.5.2 Hệ số điều kiện (CF) 56
4.5.4 Hệ số thành thục (GSI) 58
4.5.5 Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối 59
CHƯƠNG V 63 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 63 5.1 Kết luận 63
5.2 Đề xuất 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 67
Trang 4CHƯƠNG I GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Họ cá Úc (Tachysuridae) có sản lượng tự nhiên khá cao và đem lại cho vùng giá trị kinh tế nhất định Tuy nhiên do tình hình khai thác và đánh bắt không hợp lý của ngư dân thì thời gian gần đây sản lượng tự nhiên của nguồn cá Úc bị suy giảm khá nghiêm trọng Nhằm kịp thời ngăn chặn và bảo vệ nguồn lợi này và đưa
ra những chính sách khai thác hợp lý thì cần phải nắm được các đặc điểm sinh thái, sinh trưởng, vòng đời phát triển cũng như mùa vụ sinh sản của nguồn lợi này trong tự nhiên qua đó góp phần cung cấp thông tin cần thiết cho công tác quản lý khai thác, bảo vệ đàn cá bố mẹ và cá con để bổ sung quần đàn trong tự nhiên Việc dựa vào các chỉ tiêu hình thái bên ngoài để định loại cá đã trở nên quá quen thuộc thì giờ đây một công cụ khác dùng để xác định thành phần loài mang lại hiệu quả tích cực đó là đá tai (otolith) Nếu như ở Việt Nam việc nghiên cứu về
đá tai chỉ dừng lại ở mục đích là các luận văn tốt nghiệp hay các đề tài cao học và chưa được công bố nhiều, thì trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về đá tai được công bố rộng rãi như Hecht (1977), Popper và Coombs (1980); Platt and Popper (1981); Popper (1983), Nolf (1985), Hakonen (1986), Chilton and Beamish (1982), Hall (1987)…Từ việc phân tích cấu trúc đá tai của cá mà các nhà nghiên cứu đã khá thành công trong việc xác định tuổi và tăng trưởng của cá cũng như quá trình sống và phát triển của cá Ngoài ra các nhà nghiên cứu còn nghiên cứu mối tương quan giữa chiếu dài, trọng lượng đá tai với chiều dài trọng lượng thân cá từ đó có thể dựa vào kích thước đá tai mà suy ra kích thước của cá (Hunt, 1979)…Các thông tin này rất có ích cho việc định loại cũng như công tác quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng Do đó, đề tài “Đặc điểm hình thái đá tai họ cá Úc (Tachysuridae) và đặc điểm phát triển tuyến sinh dục của cá Úc Trắng (Tachysurus sciurus) phân
bố ở tỉnh Sóc Trăng” đã được thực hiện nhằm nghiên cứu sự sinh trưởng và phát
triển của các loài cá thuộc họ cá Úc (Tachysuridae) dựa trên việc phân tích các chỉ tiêu đá tai của các loài thuộc họ cá này phân bố ở địa bàn một số huyện của tỉnh Sóc Trăng
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Kết quả của nghiên cứu này sẽ là bổ sung tiếp theo về việc dùng đá tai để xác định đặc điểm sinh học, phân loại, quản lý, bảo vệ và phát triển các loài cá
Trang 5nói chung và một số loài thuộc họ cá Úc (Tachysuridae) nói riêng phục vụ cho công tác giảng dạy các đối tượng nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát thành phần loài thuộc họ cá Úc (Tachysuridae) tìm được ở Sóc Trăng Phân tích quan hệ tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá
- Mô tả các đặc điểm hình thái đá tai của một số loài thuộc họ cá Úc (Tachysuridae) tìm được ở Sóc Trăng
- Phân tích quan hệ tương quan giữa chiều dài, trọng lượng thân cá với chiều dài và trọng lượng đá tai của các loài cá thuộc họ cá Úc (Tachysuridae) tìm được ở Sóc Trăng
- Phân tích một số đặc điểm phát triển tuyến sinh dục của cá úc trắng
(Tachysurus sciurus)
Trang 6CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm hình thái và thành phần loài của Bộ Cá Trơn (Siluriformes) 2.1.1 Thành phần giống loài
Ở Đồng bằng sông Cửu Long thì theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) Bộ Cá Trơn (Siluriformes) có 7 họ là Siluridae, Claridae, Plotosidae, Schilbeidae, Bagridae, Sisoridae và Tachysuridae Trong đó họ cá Úc
Tachysuridae có 3 giống với các loài như: Cá úc thép (Osteogeneiosus militaris Smith, 1945), Cá úc nghệ ( Tachysurus cealatus Smith, 1945), Cá úc nghệ (Tachysurus venosus Smith, 1945), Cá úc trắng (Tachysurus sciurus Smith, 1931), Cá úc sào (Tachysurus truncates Cuvier and Valenciennes, 1840), Cá vồ chó (Tachysurus sagor Hamilton, 1822), Cá thiều (Tachysurus stormii Bleeker, 1858), Cá úc gạo (Hemipimelodus borneensis Bleeker, 1851), trong đó một số
loài có sản lượng khá cao và có giá trị kinh tế nhất định
Theo Mai Đình Yên (1992) thì Bộ Cá Trơn (Siluriformes) có 7 họ Trong đó họ
cá úc cũng có 3 giống nhưng lại có tới 11 loài, và nhiều loài cũng có giá trị kinh
tế nhất định
Cũng là họ cá úc (Ariidae) nhưng theo Rainboth, 1996 thì họ này có 3 giống và
chỉ có 6 loài là: Hemipimelodus bicolor Fowler, 1935, Hemipimelodus borneensis Bleeker, 1851, Hemipimelodus daugeti Chevey, 1932, Hemipimelodus intermedius Vinciguerra, 1880, Ketengus typus Bleeker, 1847, Osteogeneiosus militaris Linnaeus, 1758
Giống Osteogeneiosus Bleeker, 1846
Loài: Osteogeneiosus militaris (Smith, 1945) – Cá úc thép
Trang 7Giống Tachysurus Lacepère, 1803
Loài: Tachysurus cealatus (Smith, 1945) - Cá úc nghệ
Loài: Tachysurus venosus (Cuvier and Valenciennes, 1840) -Cá úc nghệ Loài: Tach ysurus sciurus (Smith, 1931) – Cá úc trắng
Loài: Tachysurus truncates (Cuvier and Valenciennes, 1840) –Cá úc sào Loài: Tachysurus sagor (Hamilton, 1822) – Cá vồ chó
Loài: Tachysurus stormii (Bleeker, 1858) – Cá thiều
Giống Hemipimelodus Bleeker, 1858
Loài: Hemipimelodus borneensis (Bleeker, 1851) – Cá úc gạo
2.1.2 Đặc điểm hình thái, phân bố và sinh trưởng
Đặc điểm hình thái, phân bố và sinh trưởng của các loài trong họ cá Úc
(Tachysuridae) được Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương mô tả như sau
Giống Osteogeneiosus Bleeker, 1846
Osteogeneiosus militaris (Smith, 1945) – Cá úc thép
Tên đồng vật (Synonyms): Silurus militaris, Osteogeneiosus blochii, Osteogeneiosus cantoris, Silurus militaris, Osteogeneiosus macrocephalus
Phần thân thon dài, phần cuối dẹp bên Phần trước đường bên không thấy rõ, phần sau liên tục và phân nhánh hình lông chim Gai vi lưng và vi ngực mảnh, phần trước và sau gai có răng cưa
Mặt lưng, nửa trên của đầu có màu xám xanh Nửa dưới của than, đầu và bụng có màu trắng bạc Toàn thân ửng lên màu vàng nghệ Gốc vi lưng màu trắng và sậm dần lên ngọn Vi mỡ trắng đục có một đốm đen ở phía sau ngọn vi
Trang 8Hình 2.1: Osteogeneiosus militaris (Smith, 1945) – Cá úc thép
(http://www.fishbase.org ) Phân bố
Cá sống chủ yếu ở nước lợ, sống gần đáy; di cư trong nước ngọt Nhưng cũng có mặt ở cả nước mặn Cá phân bố ở Ấn Độ, Borneo, Java, Sumatra, Thái Lan và ĐBSCL Việt Nam
Đặc điểm sinh trưởng:
Cá úc thép là một trong những loài sống phổ biến ở Vịnh Thái Lan, cá đực ấp trứng trong miệng, mùa đẻ kéo dài quanh năm, thức ăn chủ yếu là động vật không xương sống và các loại cá con
Giống Tachysurus Lacepère, 1803
Tachysurus cealatus (Smith, 1945) - Cá úc nghệ
Tên đồng vật (Synonyms): Arius caelatus, Tachysurus cealatus,.Arius coelatus
Kích thước: 90 – 150mm
Chỉ tiêu hình thái:
D.II, 7 A (4-6), 13 P I, 9 V 1,5 Số đôi râu: 3
Trang 9Mô tả:
Đầu ngắn, dẹp bằng, nhìn từ trên xuống có dạng bầu dục Miệng cận dưới rộng ngang, không co duỗi được Râu mép kéo dài tới gốc vi ngực Răng hàm trên nhỏ mịn Mắt có dạng hình bầu dục, phần trán giữa hai mắt rộng và cong lồi
Giáp che đầu cứng, có nhiều hạt sần sùi xếp theo hình phóng xạ Mấu xương chẩm nhỏ, chiều dài trước sau gần bằng chiều rộng hai bên Hai màng mang phát triển, dính nhau và dính với eo mang
Thân thon dài Gai vi lưng và vi ngực dầy, cứng Vi bụng kéo dài quá khởi điểm
Cá sống chủ yếu ở nước lợ và mặn, nhưng cũng thường bắt gặp ở nước ngọt Cá này phân bố ở Ấn Độ, Thai Lan, các đảo giữa vùng Ấn Độ - Úc Châu và ĐBSCL Việt Nam
Đặc điểm sinh trưởng:
Kích thước tối đa: 450 mm Thức ăn chủ yếu của cá là động vật không xương sống và cá con
Trang 10 Tachysurus venosus (Smith, 1945) - Cá úc nghệ
Tên đồng vật (synonyms): Arius venosus
Giáp đầu mịn Lỗ thóp rộng , kéo dài từ gốc mấu xương chẩm tới chót mõm Tấm xương gốc vi lưng nhỏ có dạng lưỡi liềm Gai vi lưng và gai vi ngực yếu, mảnh
Vi mỡ lớn
Mặt lưng và nửa trên của thân và đầu có màu nâu nhạt và nhạt dần xuống bụng, bụng cá có màu trắng đục Vi mỡ màu nâu, không có đốm đen Toan thân cá có màu vàng nghệ
Trang 11Đặc điểm sinh trưởng:
Cá sống gần đáy, chiều dài tồi đa của cơ thể là 30cm Cá thường sống vùng nước nông có độ sâu từ 20 – 50 m Thức ăn chủ yếu là động vật không xương sống và
cá con
Tachysurus sciurus (Smith, 1931) – Cá úc trắng
Tên đồng vật (synonyms): Pseudarius microcephalus, Arius sciurus, Arius microcephalus
Mắt to có dạng bầu dục, được che phủ bằng một lớp da mỏng, mắt nằm phía trên đường thẳng kẻ từ gốc miệng và gần điểm cuối nắp mang hơn chót mõm
Giáp che đầu nhám Mấu xương chẩm ngắn, dài trước sau tương đương với rộng hai bên, tấm xương gốc vi lưng dạng lưỡi liềm
Thân thon dài, phần trước tròn phần sau dẹp bên Cuống đuôi to ngắn Gai vi lưng
và gai vi ngực to, dài và uống cong Vi mỡ lớn
Phần phía trên đường bên của thân và đầu có màu xám xanh và nhạt dần xuống bụng, bụng màu trắng Một số nơi như mặt dưới của đầu, dọc theo đường bên của thân ánh lên màu vàng nhạt Vi mỡ có màu vàng sậm và có một đốm đen, to gần hết vi
Phân bố:
Cá sống ở nước lợ và mặn nhưng cũng thường vào nước ngọt, Phân bố ở Thái Lan và ĐBSCL Việt Nam
Đặc điểm sinh trưởng:
Cá sống nổi và đáy, kích thước lớn nhất 60cm Thức ăn của Cá úc là động vật thân mềm và động vật giáp xác có vỏ dày
Trang 12Hình 2.4: Tachysurus sciurus (Smith, 1931) – Cá úc trắng
Giáp che đầu hơi nhám, có nhiều hạt nhỏ mịn Mấu xương chẩm nhỏ, dài, hai cạnh bên của mấu xương chẩm cong lồi, mép sau lõm Tấm xương gốc vi lưng rất nhỏ và có dạng lưỡi liềm
Trang 13Đường bên hoàn toàn, xuất phát từ gốc mấu xương chẩm và kết thúc ở điềm giữa gốc vi đuôi, phần trước mờ, phần sau không phân nhánh Phần ngọn gai vi lưng
có răng cưa hướng vào
Phần phía trên đường bên của đầu và thân có màu xám lục mặt bên dưới đường bên và bụng có màu trắng Vi ngực, vi bụng, vi hậu môn có màu trắng đục
Hình 2.5:Tachysurus truncates (Cuvier and Valenciennes, 1840) – Cá úc sào
( http://www.fishbase.org) Phân bố:
Cá sống chủ yếu ở nước lợ, mặn, nhưng cũng thường xuất hiện ở nước ngọt Phân
bố ở Java, Sumatra, Mã Lai, Thái Lan và ĐBSCL Việt Nam
Đặc điểm sinh trưởng:
Cá sống đáy, kích thước lớn nhất của cá là 420 cm Thức ăn là các loài đông vật đáy, cá con và động vật giáp xác
Tachysurus sagor (Hamilton, 1822) – Cá vồ chó
Tên đồng vật (synonyms): Pimelodus sagor, Arius sagor, Bagrus doroides, Bagrus javensis, Hexanematichthys sagor
Kích thước: 130 – 250 mm
Trang 14Giáp che đầu cứng, nhám, có nhiều hạt thô Mẩu xương chẩm ngắn, chiều rộng hai bên lớn hơn chiều dài trước sau Tấm xương gốc vi to, có dạng cánh bướm, trên có nhiều hạt thô
Thân thon dài, phần sau dẹp bên Đường bên phân nhánh như lông chim Gai vi lưng và gai vi ngực to, cứng và dài Vi bụng kéo dài chạm dến khởi điểm vi hậu môn Mặt lưng và phía trên đường bên có màu xám xanh và nhạt dần xuống mặt bụng, bụng có màu trắng sữa Vi mỡ lớn vừa không có đốm đen như một số loài
Trang 15- 12 -
Đặc điểm sinh trưởng:
Cá sống gần đáy, kích thước tối đa là 45 cm Con đực có tập tính ấp trứng trong miệng, trứng có kích thước lớn, số lượng ít Cá ăn động vật không xương sống và
cá có kích thước nhỏ
Tachysurus stormii (Bleeker, 1858) – Cá thiều
Tên đồng vật (synonyms): Cephalocassis stormii, Arius stormii, Hemiarius stormii
Giáp che đầu hơi nhám, các hạt sắp xếp gần như phóng xạ Mấu xương chẩm có chiều dài trước sau lớn hơn chiều rộng hai bên, cạnh sau lõm vào và chạm tới tấm xương gốc vi lưng Tấm xương gốc vi lưng nhỏ có dạng lưỡi liềm
Thân thon dài, phần sau nhỏ so với phần trước Đường lưng thẳng dốc từ chót mõm đến gốc vi lưng Đường bên hoàn toàn, phân nhánh như lông chim Gai vi ngực và gai vi lưng dầy, dài
Mặt lưng và mặt bên phía trên đường bên có màu xám nhạt, phần dưới đường bên nhạt dần xuống bụng, bụng có màu trắng Gốc vi mỡ màu xám không có đốm đen
Trang 16Phân bố:
Môi trường sống chủ yếu là nước lợ và mặn nhưng cũng thường xuất hiện ở nước ngọt Phân bố ở Borneo, Sumatra, Thai Lan và ĐBSCL Việt Nam
Đặc điểm sinh trưởng:
Cá sống đáy, chiều dài lớn nhất của cá là 50 cm Thức ăn chủ yếu là động vật không xương sống và các loài cá nhỏ
Giống Hemipimelodus Bleeker, 1858
Hemipimelodus borneensis (Bleeker, 1851) – Cá úc gạo
Tên đồng vật (synonyms): Cephalocassis borneensis, Hemipimelodus siamensis, Pimelodus borneensis
Giáp che đầu trơn phẳng Chiều dài trước sau của mấu xương chẩm tương đương với chiều rộng hai bên
Thân thon dài, phần trước dẹp bằng, phần sau dẹp bên Gai vi lưng và gai vi ngực mềm, yếu, cạnh sau có răng cưa hướng xuống gốc
Mặt lưng và phần phía trên đường bên có màu xám ánh xanh và nhạt dần xuống bụng Toàn than ửng lên màu vàng nhạt, một số cá thể mõm và mặt dưới của bụng ửng lên màu trắng hồng Phần trước của lỗ thóp có một đốm trắng đục rất lớn Gốc các vi có màu hơi vàng, ngọn vi lưng, vi ngực, vi đuôi có màu xám đen
Vi mỡ có màu xám ánh vàng
Trang 17Hình 2.8: Hemipimelodus borneensis (Bleeker, 1851) – Cá úc gạo
( http://www.fishbase.org)
Phân bố:
Cá sống nước lợ, mặn nhưng cũng thường thấy ở nước ngọt Cá phân bố ở Thai Lan và ĐBSCL Việt Nam
Đặc điểm sinh trưởng:
Cá sống đáy, di cư vào nước ngọt Chiều dài lớn nhất là 30 cm Thức ăn của cá là động vật than mềm hai mảnh vỏ, động vật giáp xác
2.2 Đá tai cá
2.2.1 Vị trí, cấu tạo, hình dạng và đặc điểm chung của đá tai
Ở cá có một cơ quan cảm giác có chức năng giữ thăng bằng cho cơ thể, định hướng và cảm nhận, dò tìm âm thanh Cơ quan này được gọi là tai trong (Labyrinth) Cơ quan này nằm ở phía sau của khoang sọ (Popper, 1983; Popper and Coombs, 1980, 1982; Platt and Popper, 1981)
Tai trong của cá có 3 cấu trúc giống như túi gọi là utriculus, sacculus và legena, ở mỗi túi chứa đựng một viên đá gọi là đá tai (otoliths) Mỗi cấu trúc túi thì chứa đựng đá tai riêng của nó Đá tai của utriculus gọi là lapillus, đá tai của sacculus
Trang 18được gọi là sagitta, và đá tai của legena thì được gọi là asteriscus (Platt and Popper, 1981)
Hình 2.9: Cấu trúc đá tai của cá (Boss and Jumars, 2003)
Các thông số, chiều dài, chiều rộng của đá tai
Hình 2.10: Hình dạng cơ bản của đá tai (Trần Thị Kiều Diễm, 2010)
Kênh bán nguyệt
Túi
Utriculus
Lapillus Macula Rãnh Sulcus
Túi Sacculus
Sagitta
Asteriscus Túi Lagena
phần bụng
Trang 19Hầu hết các loài cá xương điều có 3 cặp otoliths: lapillus, sagitta, và asterissus Trong đó sagitta lớn nhất trong 3 cặp otoliths; tham gia vào việc phát hiện các âm thanh và quá trình xử lý, hoặc chuyển đổi các sóng âm thanh thành tín hiệu điện, Asteriscus; tham gia vào việc phát hiện các âm thanh và quá trình xử lý âm thanh
và lapillus là nhỏ nhất; tham gia vào việc phát hiện của lực hấp dẫn và âm thanh (Popper và Lu 2000)
Hình 2.11: Ba cặp đá tai của cá (Campana, 2009)
Trong ba cặp đá tai (otolith) thì sagitta là cặp lớn nhất nằm sau mắt và dưới não
cá Chúng thường được sử dụng trong nhiều nghiên cứu để tính tuổi cá và tăng trưởng vì kích thước lớn và vòng tăng trưởng phân biệt rõ rang (Chilton và Beamish, 1982; Boehlert, 1985; Summerfelt và Hall, 1987)
Hình 2.12: Vị trí đá tai sagitta trong đầu cá (Boss and Jumars, 2003)
Khoang
sọ Não cá
Đá tai (sagitta)
Trang 20Mỗi loài cá khác nhau thì hình dạng đá tai cũng sẽ khác nhau nhưng cấu trúc chính của đá tai sagitta vẫn giống nhau (Hakonen, 1986)
Hình 2.13: Cấu tạo cơ bản bề mặt trung gian của đá tai sagittta
(Dye and Longenecker, 2004)
Ghi chú hình 2.13:
A – vùng lõm mặt lưng (dorsal depression)
C - Gờ rãnh trên (crista superior)
D - đối chủy (antirostrum)
F - Chủy (rostrum)
G - Miệng rãnh trung tâm(ostium)
H - Rãnh trung tâm (sulcus)
J - đường rãnh mặt bụng (ventral groove)
K - Gờ rãnh dưới (cristainferior)
Trang 21Các dạng hình học, phát thảo của sagitta là rất hữu ích trong việc định loại cho
các loài (Hecht 1990), Smale và ctv (1995)
Hình 2.14: một số hình dạng tiêu biểu của sagitta
(Dye and Longenecker, 2004)
2.2.2 Sự hình thành đá tai
Otolith được cấu tạo của cacbonat canxi ở dạng aragonite và protein Hai hợp chất này tiếp xúc với bề mặt đá tai, kết hợp với quá trình kết tủa ion trên bề mặt tiếp xúc tạo ra tinh thể đá tai (otolith) (Hecht, 1977)
Các hình dạng và kích cở otolith thì khác nhau với các loài cá do sự tiếp xúc của hai hợp chất Canxi cacbonat và protein lên bề mặt đá tai (otolith) Và sự tiếp xúc này còn phụ thuộc vào môi trường sống và tốc độ tăng trưởng của cá theo mùa vụ…Vì dụ như các loài cá sống ở rạng san hô hoặc đáy đá (Cá mú…) sẽ có
Trang 22otolith lớn hơn các loài cá dành phần lớn thời gian bơi lội ở không gian trống hoặc cá sống tầng mặt (http://en.wikipedia.org/wiki/Otolith)
Các lớp otoliths của Cá tăng lên của cacbonat canxi và protein sệt ma trận trong suốt cuộc sống của nó Tỷ lệ bồi đắp này dần thay đổi theo tốc độ tăng trưởng của
cá, thường tăng trưởng ít hơn trong mùa đông và nhiều hơn trong mùa hè Mà kết quả là sự xuất hiện của vòng có hình dạng chiếc nhẫn tương tự như vòng cây, có một số vòng có màu đục và một số vòng có màu trắng trong Các vòng này còn được gọi là vòng tăng trưởng của cá
Hình 2.15: Vòng tăng trưởng của đá tai (otolith)
(TNFISH.ORG, 2008)
2.2.3 Các nghiên cứu và ứng dụng của đá tai
Ở cá các lớp otoliths tăng lên của cacbonat canxi và protein xen kẽ nhau trong suốt quá trình lớn lên của chúng Tỷ lệ bồi đắp dần thay đổi theo tốc độ tăng trưởng của cá - thường tăng trưởng ít hơn trong mùa đông và nhiều hơn trong mùa hè Mà kết quả là xuất hiện các vòng tăng trưởng, bằng cách đếm các vòng
này ta sẽ biết được tuổi và kích cỡ cá vì tốc độ tăng trưởng là tỷ lệ thuận với tăng
trưởng otolith
Vòng trắng đục (tăng trưởng nhanh)
Vòng trắng trong (tăng trưởng chậm)
Trang 23Ngoài ra, trong hầu hết các loài sự lớn dần lên của lớp canxi cacbonat và protein sệt trong ma trận khuyết trên một chu kỳ hàng ngày Do đó, cũng có thể để xác định tuổi cá trong ngày Thông tin này sau đó thường thu được dưới kính hiển vi,
và cung cấp các dữ liệu quan trọng để nghiên cứu cuộc sống ban đầu của cá
Đá tai là một tinh thể rất khó phân hủy Điều này cho phép các nhà sinh học cá xác định loài cá bị ăn thịt là loài cá nào Chúng ta cũng có thể dựa vào đá tai mà biết được tính ăn của loài (Bailey và Ainley, 1982; Brown và Mate, 1983;
Antonilis và ctv, 1984; Havey, 1987)
Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về thành phần cấu tạo nên otolith Các canxi cacbonat cấu tạo nên otolith chủ yếu bắt nguồn từ nước Nghiên cứu các thành phần nguyên tố dấu vết hoặc dấu hiệu đồng vị của nguyên tố trong otolith cho phép xác định vết tích đàn cá đã sống trong môi trường nào Cấu tạo của đá tai còn phản ánh nồng độ các chất ô nhiễm trong môi trường sống của cá Tất cả các thông tin này có thể được dùng để xác định chu kỳ đời sống của cá để các nhà
khoa học thủy sản có thể làm cho tốt hơn các quy định, thông báo về nguồn lợi
cá
Nghiên cứu otoliths cũng nâng cao sự hiểu biết cho các nhà khoa học về hệ sinh thái biển và ven biển - giúp các nhà quản lý giải quyết các vấn đề như bảo tồn các rạn san hô và môi trường sống trẻ, quản lý quần đàn, và chọn địa điểm cho các khu bảo tồn biển
2.3 Mối tương quan giữa chiều dài, trọng lượng đá tai và chiều dài, trọng lượng thân cá
Mối quan hệ giữa chiều dài và trọng lượng cá cũng được nghiên cứu nhiều nhằm cung cấp thông tin về điều kiện và quá trình sinh sản, chu kỳ sống và tổng quan
về tốc độ tăng trưởng (Nikolsky, 1963; Wootton, 1992; Pauly, 1993; Erkoyunku, 1995; Avsar, 1998) Và thông tin này cũng có ích cho việc so sánh lịch sử quá trình cuộc sống của những quần đàn Mối quan hệ này được tính toán và sử dụng phương trình W=aLb ,(Ricker, 1979) Ở phương trình này có liên quan tới cơ số b
là số mũ cho thấy sự tăng trưởng khi phương trình bằng 3 Các thống kê ở mức độ
ý nghĩa r² được ước tính bằng phép hồi quy tuyến tính trên các phương trình biến đổi tương đương: LogBW = loga + b.logSL Và còn mối quan hệ được tính bằng phép hồi quy tuyến tính: (1) TL vs FL; (2) FL vs SL; và (3) SL vs TL Nhằm để kiểm tra sự khác biệt của hai độ dốc bằng việc phân tích phương sai Tất cả các phân tích thống kê được đánh giá ở mức ý nghĩa P<0.05
Trang 24Trout (1954), và Templemann and Squires (1956) là một trong số những người đầu tiên chứng minh mối quan hệ tích cực đáng kể giữa kích cở đá tai và kích cở
cá Chiều dài đá tai cũng tương quan với trọng lưỡng của cá (Casteel, 1976) Và những nghiên cứu ban đầu về chiều dài dá tai và chiều dài cá cũng được thực hiện (Frost and Lowry, 1981)
Đối với phần lớn các loài mối quan hệ giữa chiều dài đá tai và chiều dài cá có thể được mô tả bởi một phương trình hồi quy tuyến tính đơn đã được mô tả tốt nhất bởi hai phương trình hồi quy tuyến tính với một điểm uốn (Frost and Lowry, 1981) Đá tai bên trái và bên phải cũng có sự khác biệt về kích cỡ trong những loài cá rock (Echeverria, 1987)
Mục tiêu của việc nghiên cứu nhằm thu thập thông tin đối với mối quan hệ giữa chiều dài đá tai và chiều dài cá để những nhà nghiên cứu khảo cổ học dựa vào số liệu này để xác định kích cỡ của cá từ chiều dài đá tai thu hồi được
Trang 25CHƯƠNG III ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm nghiên cứu:
Đề tài đã được thực hiện từ tháng 7/ 2010 đến tháng 11/ 2010 Mẫu được thu tại các huyện Cù Lao Dung, Long Phú, Trần Đề, Mỹ Xuyên tỉnh Sóc Trăng
Hình 3.1: Bản đồ tỉnh Sóc Trăng
Trang 263.3 Vật liệu nghiên cứu:
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu mẫu
Mẫu được thu hàng tháng và kéo dài trong 3 tháng ( 8, 9, 10)
Thu thập tại hiện trường bằng các loại ngư cụ khai thác thương mại thông thường: lưới kéo, lưới rê, giăng câu…và thu mua mẫu tại các chợ địa phương
3.4.2 Phương pháp cố định mẫu
Mẫu vật sau khi thu đã được bảo quản, trữ lạnh và mang vào phòng nguồn lợi khoa Thủy Sản – Đại học Cần Thơ để phân tích
3.4.3 Phương pháp phân tích mẫu
Mẫu được xác định trọng lượng toàn thân, chiều dài tổng, chiều dài chạc và chiều dài chuẩn thân cá, chiều dài và trọng lượng của đá tai Trọng lượng được tính bằng g, chiều dài đá tai được tính bằng mm, trong lượng đá tai được tính bằng mg
Trang 27Trong đó:
W: trọng lượng (g) L: chiều dài (mm) b: hệ số tăng trưởng a: hằng số tăng trưởng ban đầu
- Thiết lập mối tương quan giữa chiều dài đá tai và chiều dài thân cá theo phương pháp của Harkonen (1986) qua công thức:
Lt = c + d * Lo
Trong đó:
Lt: chiều dài thân cá (mm)
Lo: chiều dài đá tai (mm)
h L
Trang 28- Phương pháp để xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục
Khi khảo sát sự phát triển của tuyến sinh dục, có thể chọn bất cứ bậc thang thành thục nào theo chủ ý của người quan sát, tuy nhiên mục tiêu chính là nhằm định
kỳ khảo sát một số lượng lớn mẫu trong những khoảng thời gian nhất định để có được một hình ảnh rõ ràng về giai đoạn thành thục và những thay đổi của quần thể cá tại thời điểm khảo sát Hơn nữa, các bậc thang thành thục còn được sử dụng để đánh giá nhanh tình trạng thành thục của tuyến sinh dục trong điều kiện
ít trang thiết bị khảo sát và cho phép khảo sát một số lượng lớn mẫu ngoài hiện trường
Xác định trọng lượng tuyến sinh dục và giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục từng cá thể (Nikolsky, 1963)
Nikolsky (1963) đã đưa ra một bậc thang tổng hợp hơn để có thể sử dụng rộng rãi ngoài hiện trường với 6 giai đoạn
Bảng 3.1 : Bậc thang thành thục sinh dục theo Nikolsky (1963)
I Cá thể non, chưa thành thục sinh dục
II Tuyến sinh dục có kích thước rất nhỏ, mắt thường không nhìn thấy hạt trứng
VI
Giai đoạn sau khi đẻ Các sản phẩm sinh dục được phóng thích hết, lỗ sinh dục phồng lên, tuyến sinh dục trong dạng túi mềm nhão Ở con cái thường có những trứng nhỏ còn sót lại, ở con đực còn sót lại một ít tinh trùng
Trang 29- Xác định số lượng trứng bằng cách đếm toàn bộ số lượng trứng ở giai đoạn
IV trở lên có trong buồng trứng
- Phân tích kết quả trong mối hệ tương quan với các chỉ tiêu chiều dài trọng lượng thân, sức sinh sản tuyệt đối và tương đối
+ Phân tích sức sinh sản tuyệt đối theo công thức của Bagenad (1967) (được trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004):
g
n.G
F
Trong đó: F : là sức sinh sản tuyệt đối
N : là số lượng trứng giai đoạn IV trở lên trong mẫu đại
diện
G : là trọng lượng buồng trứng (gam)
G : là trọng lượng mẫu đại diện (gam) + Phân tích sức sinh sản tương đối theo công thức của Hardisty (1964) (được trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004):
100 W
F
FA
Trong đó: FA :là sức sinh sản tương đối
F : là sức sinh sản tuyệt đối
W : là trọng lượng cá (gam) Ngoài ra mối tương quan giữa sức sinh sản (F), chiều dài tổng (TL), trọng lượng thân (BW) và trọng lượng buồn trứng (GW), cũng xác định bằng phương pháp hồi qui
Ngoài ra, Hile (1936) và Beckman (1948) đã đề xuất công thức để tính hệ số điều kiện như sau:
Trang 30- Xác định hệ số thành thục (GSI) theo công thức :
100 )
/W (W
Trong đó: GSI: là hệ số thành thục sinh dục
Wg: là trọng lượng tuyến sinh dục Wn: là trọng lượng không nội quan
3.4.3.2 Phương pháp phân tích đá tai
Mô tả phương pháp lấy đá tai: Đá tai nằm trong một khe của tai trong, nằm ở hai bên đầu cá Mặt cắt thẳng đứng của đá tai cũng được sử dụng để xác định tuổi của
cá Phương pháp thu đá tai là thu qua một đường mở nằm ngang trên đầu phía sau mắt, hoặc mở nắp hộp sọ (Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)
Hình 3.2: Mô tả cách lấy ba cặp đá tai trong khoang sọ của cá
(a- Corey C Phillis (2008); b- Members of the Woodrow Wilson Science
Trang 32CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thành phần loài thuộc họ cá Úc ( Tachysuridae) phân bố ở tỉnh Sóc Trăng
Qua thời gian thực hiện đề tài đã xác định được 4 loài, 3 giống thuộc họ cá Úc Tachysuridae, bộ cá trơn Siluriformes ở tỉnh Sóc Trăng
Bảng 4.1: Thành phần loài thuộc họ cá Úc phân bố ở Sóc Trăng
Bảng 4.2: Tần suất xuất hiện các loài thuộc họ cá Úc ở tỉnh Sóc Trăng
STT Tên giống Tên khoa học Tên địa phương
Trang 33Qua Bảng 4.1 và Bảng 4.2 ta nhận thấy, các loài thuộc họ cá Úc tương đối phổ biến và phân bố khá rộng Đối với hai loài cá Úc thép và Úc trắng chúng xuất hiện hầu như quanh năm tập trung ở các nhánh sông Hậu là chủ yếu, riêng các loài còn lại chỉ xuất hiện theo mùa với số lượng rất ít
Loài 1: Cá Úc Thép (Osteogeneiosus militaris Smith, 1945)
Hình 4.1: Cá Úc Thép
Bộ cá trơn: Siluriformes
Họ cá Úc: Tachysuridae
Giống Osteogeneiosus Bleeker, 1846
Loài: Osteogeneiosus militaris (Smith, 1945)
Bảng 4.3: Bảng so sánh một số chỉ tiêu hình thái của cá Úc Thép
Chỉ tiêu hình thái Trương thủ Khoa và Trần
Thị Thu Hương (1993) Mẫu cá nghiên cứu
Trang 34Tổng số cá thể được định danh: 31
Đặc điểm hình thái: Đầu lớn, dẹp bằng Miệng dưới, rộng ngang, không Răng hàm nhỏ mịn, chỉ có một đôi râu, đôi râu này hóa xương cứng Mắt hình bầu dục, phần trán giữa hai mắt rộng
phần thân thon dài, phần cuối dẹp bên Phần trước đường bên không thấy rõ Gai
vi lưng và vi ngực mảnh, phần trước và sau gai có răng cưa
Mặt lưng, nửa trên của đầu có màu xám xanh Nửa dưới của thân, đầu và bụng có màu trắng bạc Toàn thân ửng lên màu vàng nghệ Gốc vi lưng màu trắng và sậm dần lên ngọn Vi mỡ trắng đục có một đốm đen ở phía sau ngọn vi
Qua Bảng 4.3 nhận thấy mẫu cá trong nghiên cứu này có các chỉ tiêu hình thái rất giống với nghiên cứu của Trương thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) Như
vậy, có thể kết luận loài trên là loài cá Úc Thép (Osteogeneiosus militaris Smith,
Giống Tachysurus Lacepère, 1803
Loài : Tach ysurus sciurus (Smith, 1931)
Trang 35Bảng 4.4: Bảng so sánh một số chỉ tiêu hình thái của cá Úc Trắng
Tổng số cá thể được định danh: 158
Đặc điểm hình thái: Đầu hình nón cụt, mõm cúp xuống Miệng hẹp ngang không
co duỗi được Răng hàm trên nhỏ mịn, Râu mép kéo dài tới phần cuối của xương nắp mang
Mắt to có dạng bầu dục, được che phủ bằng một lớp da mỏng, mắt nằm phía trên đường thẳng kẻ từ gốc miệng và gần điểm cuối nắp mang hơn chót mõm
Giáp che đầu nhám, tấm xương gốc vi lưng dạng lưỡi liềm
Thân thon dài, phần trước tròn phần sau dẹp bên Cuống đuôi to ngắn Gai vi lưng
và gai vi ngực to, dài và uống cong Vi mỡ lớn
Phần phía trên đường bên của thân và đầu có màu xám xanh và nhạt dần xuống bụng, bụng màu trắng Vi mỡ có màu vàng sậm và có một đốm đen, to gần hết vi Qua Bảng 4.4 nhận thấy mẫu cá trong nghiên cứu này có các chỉ tiêu hình thái giống với nghiên cứu của Trương thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) Như
vậy, có thể so sánh và thể kết luận loài trên là loài cá Úc Trắng (Tach ysurus
sciurus Smith, 1931)
Loài 3: Cá thiều (Tachysurus stormii Bleeker, 1858)
Chỉ tiêu hình thái Trương thủ Khoa và Trần
Thị Thu Hương (1993) Mẫu cá nghiên cứu
Trang 36Bộ cá trơn: Siluriformes
Họ cá Úc: Tachysuridae
Giống Tachysurus Lacepère, 1803
Loài: Tachysurus stormii (Bleeker, 1858)
Bảng 4.5: Bảng so sánh một số chỉ tiêu hình thái của Cá Thiều
Tổng số cá thể được định danh: 1
Đặc điểm hình thái: Đầu rộng hơi dẹp bằng, mõm nhọn hướng lên Môi rất dày Răng thô nhọn xếp dày đặc Râu mép dài tới gốc vi ngực Mắt có dạng bầu dục, được da che phủ Phần tráng giữa hai mắt rộng và cong lồi
Giáp che đầu hơi nhám, các hạt sắp xếp gần như phóng xạ Mấu xương chẩm có chiều dài trước sau lớn hơn chiều rộng hai bên Tấm xương gốc vi lưng nhỏ có dạng lưỡi liềm
Thân thon dài, phần sau nhỏ so với phần trước Đường lưng thẳng dốc từ chót mõm đến gốc vi lưng Đường bên hoàn toàn, phân nhánh như lông chim Gai vi ngực và gai vi lưng dầy, dài
Mặt lưng và mặt bên phía trên đường bên có màu xám nhạt, phần dưới đường bên nhạt dần xuống bụng, bụng có màu trắng Gốc vi mỡ màu xám không có đốm đen
Qua Bảng 4.5 nhận thấy mẫu cá trong nghiên cứu này có các chỉ tiêu hình thái gần giống với nghiên cứu của Trương thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993)
Như vậy, có thể so sánh và thể kết luận loài trên là loài cá thiều (Tachysurus stormii Bleeker, 1858)
Chỉ tiêu hình thái Trương thủ Khoa và Trần
Thị Thu Hương (1993) Mẫu cá nghiên cứu
Trang 37Loài 4: Cá Úc Gạo (Hemipimelodus borneensis Bleeker, 1851)
Hình 4.4: Cá Úc Gạo
Bộ cá trơn: Siluriformes
Họ cá Úc: Tachysuridae
Giống Hemipimelodus Bleeker, 1858
Loài: Hemipimelodus borneensis (Bleeker, 1851)
Qua Bảng 4.6 nhận thấy mẫu cá trong nghiên cứu này có các chỉ tiêu hình thái gần giống với nghiên cứu của Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993)
Như vậy, có thể so sánh và thể kết luận loài trên là loài cá Cá Úc Gạo
(Hemipimelodus borneensis Bleeker, 1851)
Bảng 4.6: Bảng so sánh một số chỉ tiêu hình thái của Cá Úc Gạo
Tổng số cá thể được định danh: 3
Đạc điểm hình thái: Đấu hơi dẹp bằng ở mặt bụng Mõm nhỏ nhọn, chót mỏm
cúp xuống Miệng rõ dưới, nằm ngang Không có răng vòm miệng Râu kém phát triển, mềm nhỏ và ngắn: Râu mép dài không chạm tới màng mang, hai đôi râu hàm dưới gần như thoái hóa Mắt nhỏ hình bầu dục Phần trán giữa hai mắt rộng
và cong lồi
Chỉ tiêu hình thái Trương thủ Khoa và Trần
Thị Thu Hương (1993) Mẫu cá nghiên cứu
Trang 38Giáp che đầu trơn phẳng Chiều dài trước sau của mấu xương chẩm tương đương với chiều rộng hai bên
Thân thon dài, phần trước dẹp bằng, phần sau dẹp bên Gai vi lưng và gai vi ngực mềm, yếu, cạnh sau có răng cưa hướng xuống gốc
Mặt lưng và phần phía trên đường bên có màu xám ánh xanh và nhạt dần xuống bụng Toàn thân ửng lên màu vàng nhạt Phần trước của lỗ thóp có một đốm trắng đục rất lớn Gốc các vi có màu hơi vàng, ngọn vi lưng, vi ngực, vi đuôi có màu xám đen Vi mỡ có màu xám ánh vàng
Qua Bảng 4.6 nhận thấy mẫu cá trong nghiên cứu này có các chỉ tiêu hình thái rất giống với nghiên cứu của Trương thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) Như
vậy, có thể kết luận loài trên là loài cá Úc Gạo (Hemipimelodus borneensis,
Bleeker, 1851)
4.2: Mô tả hình thái đá tai của một số loài cá thuộ họ cá Úc (Tachysuridae)
* Cá Úc Thép (Osteogeneiosus militaris, Smith, 1945)
- Đặc điểm đá tai:
Loài Cá Úc Thép với số mẫu thu được là N = 31 cá thể, tương ứng với 3 kích cỡ chiều dài Lt (cm) của cá để quan sát, thấy:
Hình dạng ngoài của đá tai có hình thoi Ta quan sát thấy phần nhọn nhô ra nhất
là phần chủy (Rostrum) của đá tai Đối diện chủy là phần đuôi (Posterior Margin), phần đuôi có một số răng cưa Đi lên phía trên của chủy cũng thấy một đầu nhô
ra, đó là phần đối chủy (Antirostrum) Phía trên đối chủy là phần lưng (Dorsal Margin) và đối diện phần lưng là phần bụng (Ventral Margin) Phần lưng hơi nhô lên cao không có răng cưa và phần bụng có răng cưa phân bố tương đối điều nhau Ở chính giữa trung tâm của đá tai là một rãnh lõm rất cạn nếu ta nhìn kỹ mới thấy được đây là rãnh trung tâm (sulcus) Miệng rãnh trung tâm (Ostium) mở
ra ở phần giữa chủy (Rostrum) và đối chủy Những mô tả trên là cấu trúc mặt trong của đá tai Cấu trúc mặt ngoài đá tai (Sagitta) của loài Cá Úc Thép là một mặt cong lồi
Kết quả phân tích từ 31 mẫu đá tai (31 mẫu mặt trong và 31 mẫu mặt ngoài) do số mẫu nghiên cứu khá ít và kích cở khá tương đồng nên đặc điểm hình thái đá tai của cá có ít sự thay đổi Sau đây là một số hình ảnh về cấu trúc mặt ngoài và mặt trong đá tai của loài cá Úc Thép, tương ứng với từng kích cỡ chiều dài cá khác nhau là những hình dạng đá tai cũng khác nhau theo chiều dài Trong N = 31 cá
Trang 39thể, tương ứng 3 kích cỡ chiều dài thân cá Lt (cm) là 3 hình ảnh đá tai trong quá trình thực hiện đề tài
Hình 4.5: Mô tả cấu trúc đá tai (Sagitta) của loài Cá Úc Thép –
Osteogeneiosus militaris, Smith, 1945
Nhóm 1: Chiều dài thân cá từ [9,9 – 18 cm]
Quan sát mẫu đá tai có chiều dài thân cá trong đoạn 9,9 - 18 cm nhận thấy Phần lưng và phần bụng có răng cưa cạn, đến gần phần đuôi phân thùy sâu hơn và tạo thành răng cưa Phần đuôi và phần chủy ít nhô ra so với nhóm chiều dài khác
Phần đuôi có dạng bầu dục Được thể hiện cụ thể ở Hình 4.5A và Hình 4.5B
đuôi
Rãnh trung tâm
Miệng rãnh Trung tâm