Trong ựó khu vực đồng bằng sông Cửu long đBSCL là một trong những vùng kinh tế ựa dạng về sinh thái và phong phú về nhiều giống loài thủy sản, ở ựó có tôm sú Penaeus monodon, một loài c
Trang 1TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN MINH THUẤN
ðÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ-KỸ THUẬT CỦA CÁC MÔ HÌNH NUÔI THỦY SẢN TRÊN NỀN AO
NUÔI TÔM SÚ Ở TỈNH SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ðẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÍ NGHỀ CÁ
Trang 22010 TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN MINH THUẤN
ðÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ-KỸ THUẬT CỦA CÁC MÔ HÌNH NUÔI THỦY SẢN TRÊN NỀN AO
NUÔI TÔM SÚ Ở TỈNH SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ðẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÍ NGHỀ CÁ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS Trương Hoàng Minh
Trang 32010 LỜI CẢM TẠ
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành nhất ñến thầy Trương Hoàng Minh, cô Nguyễn Bạch Loan, thầy Trần ðắc ðịnh ñã tận tình hướng dẫn, giúp ñỡ và tạo ñiều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này Tôi xin chân thành cám ơn toàn thể quý thầy cô của khoa Thủy Sản trường ðại học Cần Thơ ñã truyền ñạt những kiến thức và bài học quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường
Xin chân thành cám ơn tập thể lớp Quản Lý Nghề Cá K32 ñã nhiệt tình giúp ñỡ, khuyến khích và ñộng viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện nghiên cứu này
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Minh Thuấn
Trang 4TÓM TẮT
Ở ðồng Bằng Sông Cửu Long (ðBSCL), Thủy sản là một trong những ngành ñược ñầu tư và phát triển rất mạnh, ñặc biệt là nguồn lợi cá, tôm ðể phát triển tiềm năng to lớn ñó thì việc tìm hiểu hiện trạng nguồn lợi cá là rất quan trọng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về nguồn lợi này là chưa nhiều Vì vậy, ñề tài “Khảo sát thành phần loài cá phân bố ở Giồng Riềng, Gò Quao, Tân hiệp, tỉnh Kiên Giang” ñược tiến hành nhằm tìm hiểu, cập nhật và nhận ñịnh về các loài cá nước ngọt phân bố tại tỉnh Kiên Giang
Trong thời gian nghiên cứu ñã thu ñược 1.501 mẫu cá tại các thủy vực và chợ trên ñịa bàn nghiên cứu và ñã tìm ñược 56 loài cá thuộc 43 giống, 26 họ và 8
bộ Trong ñó, bộ cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế với 28 loài (có nhiều loài có giá trị kinh tế cao) chiếm 50%, bộ cá Chép (Cypriniformes) với 11 loài chiếm 20%, bộ cá Nheo (Siluriformes) với 10 loài chiếm 18%, bộ cá Trích (Clupeiformes) có 3 loài chiếm 5%, bộ cá Lìm kìm (Beloniformes), bộ cá bơn (Pleuronectiformes), bộ cá ðối (Mugiliformes), bộ cá Thát lát (Osteoglossiformes) cùng có 1 loài chiếm 2%
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần loài cá nước ngọt phân bố ở 3 huyện: Giồng Riềng, Gò Quao, Tân Hiệp tỉnh Kiên Giang không thay ñổi nhiều trong các ñợt thu mẫu và không sai khác gì so với các nghiên cứu trước ñó Mặc
dù ñã bắt gặp 56 loài cá thuộc 43 giống, 26 họ và 8 bộ, nhưng nhìn chung những loài cá ở ñây ñược phát hiện với số lượng không nhiều và có thể nói là chúng ñang trong tình trạng khang hiếm về giống loài cụ thể như: cá Chạch lấu
(Mastacembelus armatus), cá Chạch lửa (Mastacembelus erythrotaenia), cá dày (Channa lucius), cá Lưỡi trâu (Cynoglossus lingua), cá Sửu (Nibea soldado)…
Qua nghiên cứu ñã xác ñịnh ñược mối tương quan chiều dài và trọng lượng của 11 loài cá Trong ñó, hệ số R2 lớn nhất là R2 = 0,9428 và phương trình tương quan W = 0,0048L3,3827 ñối với loài cá Cơm sông (Clupeichthys goniognathus) và
Trang 5nhỏ nhất là R2 = 0,6356 và phương trình tương quan W = 0,1202L2,0319 ñối với
loài cá Sặc ñiệp (Trichogaster microlepis)
MỤC LỤC
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Danh sách bảng v
Danh sách hình vi
Danh mục từ viết tắt viii
Phần 1: Giới thiệu 1
1.1 Giới thiệu chung 1
1.2 Mục tiêu của ñề tài 2
1.3 Nội dung của ñề tài 2
Phần 2: Lược khảo tài liệu 3
2.1 Sơ lược tình hình thủy sản thế giới 3
2.2 Sơ lược tình hình thủy sản trong nước 3
2.2.1 Tình hình thủy sản 3
2.2.2 Nguồn lợi thủy sản 4
2.2.3 ðặc trưng về phân bố ñịa lý của khu hệ 5
2.2.4 Mối tương quan chiều dài – trọng lượng cá 5
2.3 Sơ lược tình hình thủy sản ðBSCL 6
2.3.1 ðiều kiện tự nhiên 6
2.3.2 Nguồn lợi thủy sản 6
2.3.3 Hiện trạng khai thác thủy sản nội ñịa 6
2.4 Tổng quan về Kiên Giang 7
2.4.1 Vị trí ñịa lí 7
2.4.2 ðiều kiện tự nhiên 7
Trang 6Phần 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 9
3.1 Vật liệu nghiên cứu 9
3.2 Phương pháp nghiên cứu 9
3.2.1 Thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu 9
3.2.2 Phương pháp thu mẫu 9
3.2.3 Phương pháp cố ñịnh và phân tích mẫu 10
3.2.4 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 10
Phần 4: Kết quả và thảo luận 11
4.1 Thành phần loài cá 11
4.1.1 Cá Bống cát 15
4.1.2 Cá Bống dừa 16
4.1.3 Cá Bống trân 17
4.1.4 Cá Bống trứng 17
4.1.5 Cá Bống tượng 18
4.1.6 Cá Chép 19
4.1.7 Cá Chốt cờ 20
4.1.8 Cá Chốt sọc 21
4.1.9 Cá Chốt trắng 22
4.1.10 Cá Cóc 23
4.1.11 Cá Dảnh 24
4.1.12 Cá Dày 25
4.1.13 Cá ðỏ mang 26
4.1.14 Cá Ét mọi 27
4.1.15 Cá Hường vện 28
4.1.16 Cá Lăng 29
4.1.17 Cá Lẹp ñen 30
4.1.18 Cá Linh ống 31
4.1.19 Cá Lóc ñồng 32
4.1.20 Cá Mang rỗ 32
4.1.21 Cá Mè vinh 33
4.1.22 Cá Nâu 34
4.1.23 Cá Rô biển 35
4.1.24 Cá Rô ñồng 36
4.1.25 Cá Rô phi 37
4.1.26 Cá Sặc bướm 38
4.1.27 Cá Sặc ñiệp 39
4.1.28 Cá Sặc rằn 40
4.1.29 Cá Sơn bầu 41
4.1.30 Cá Sữu 41
4.1.31 Cá Trê vàng 42
4.1.32 Cá Trê trắng 43
4.1.33 Cá Trèn bầu 44
4.1.34 Cá Thát lát 44
4.1.35 Cá ðục bạc 45
Trang 74.2 Biến ñộng thành phần loài qua các ñiểm thu mẫu 46
4.3 Biến ñộng thành phần loài qua các ñợt thu mẫu 47
4.4 Mối tương quan chiều dài – trọng lượng cá 50
Phần 5: Kết luận và ñề xuất 56
5.1 Kết luận 56
5.2 ðề xuất 56
Tài liệu tham khảo 57
Phục lục 59
DANH SÁCH BẢNG Bảng 2.1: Sản lượng khai thác thủy sản thế giới thời kỳ 1990 – 1999 3
Bảng 2.2: Bảng 2.2 Diện tích ñất tỉnh Kiên Giang 8
Bảng 4.1: Thông tin chung về các loài cá 11
Bảng 4.2: Các loài cá phân bố ở 3 huyện Giồng Riềng, Gò Quao, Tân Hiệp tỉnh Kiên Giang 12
Bảng 4.3: Các chỉ tiêu hình thái của cá Bống cát 16
Bảng 4.4: Các chỉ tiêu hình thái của cá Bống dừa 16
Bảng 4.5: Các chỉ tiêu hình thái của cá Bống trân 17
Bảng 4.6: Các chỉ tiêu hình thái của cá Bống trứng 18
Bảng 4.7: Các chỉ tiêu hình thái của cá Bống tượng 19
Bảng 4.8: Các chỉ tiêu hình thái của cá Chép 20
Bảng 4.9: Các chỉ tiêu hình thái của cá Chốt cờ 21
Bảng 4.10: Các chỉ tiêu hình thái của cá Chốt sọc 22
Bảng 4.11: Các chỉ tiêu hình thái của cá Chốt trắng 23
Bảng 4.12: Các chỉ tiêu hình thái của cá Cóc 24
Bảng 4.13: Các chỉ tiêu hình thái của cá Dảnh 25
Bảng 4.14: Các chỉ tiêu hình thái của cá Dày 26
Bảng 4.15: Các chỉ tiêu hình thái của cá ðỏ mang 27
Bảng 4.16: Các chỉ tiêu hình thái của cá Ét mọi 28
Bảng 4.17: Các chỉ tiêu hình thái của cá Hường vện 29
Bảng 4.18: Các chỉ tiêu hình thái của cá Lăng 30
Trang 8Bảng 4.20: Các chỉ tiêu hình thái của cá Linh ống 31
Bảng 4.21: Các chỉ tiêu hình thái của cá Lóc ñồng 32
Bảng 4.22: Các chỉ tiêu hình thái của cá Mang rỗ 33
Bảng 4.23: Các chỉ tiêu hình thái của cá Mè vinh 34
Bảng 4.24: Các chỉ tiêu hình thái của cá Nâu 35
Bảng 4.25: Các chỉ tiêu hình thái của cá Rô biển 36
Bảng 4.26: Các chỉ tiêu hình thái của cá Rô ñồng 37
Bảng 4.27: Các chỉ tiêu hình thái của cá Rô phi 38
Bảng 4.28: Các chỉ tiêu hình thái của cá Sặc bướm 39
Bảng 4.29: Các chỉ tiêu hình thái của cá Sặc ñiệp 39
Bảng 4.30: Các chỉ tiêu hình thái của cá Sặc rằn 40
Bảng 4.31: Các chỉ tiêu hình thái của cá Sơn bầu 41
Bảng 4.32: Các chỉ tiêu hình thái của cá Sữu 42
Bảng 4.33: Các chỉ tiêu hình thái của cá Trê vàng 43
Bảng 4.34: Các chỉ tiêu hình thái của cá Trê trắng 44
Bảng 4.35: Các chỉ tiêu hình thái của cá Trèn bầu 44
Bảng 4.36: Biến ñộng thành phần loài cá qua các ñiểm thu mẫu 46
Bảng 4.37: Biến ñộng thành phần loài cá qua các ñợt thu mẫu 48
DANH SÁCH HÌNH Hình 2.1: Bảng ñồ hành chính tỉnh Kiên Giang 7
Hình 4.1: Tỷ lệ số loài cá theo từng bộ 14
Hình 4.2: Tỷ lệ số họ theo từng bộ 14
Hình 4.3: Cá Bống cát 16
Hình 4.4: Cá Bống trân 17
Hình 4.5: Cá Bống trứng 18
Hình 4.6: Cá Bống tượng 19
Hình 4.7: Cá Chép 20
Hình 4.8: Cá Chốt cờ 21
Hình 4.9: Cá Chốt sọc 22
Hình 4.10: Cá Chốt trắng 23
Hình 4.11: Cá Cóc 24
Hình 4.12: Cá Dảnh 25
Hình 4.13: Cá Dày 26
Hình 4.14: Cá ðỏ mang 27
Hình 4.15: Cá Ét mọi 28
Hình 4.16: Cá Hường vện 29
Trang 9Hình 4.17: Cá Lăng 29
Hình 4.18: Cá Lẹp ñen 30
Hình 4.19: Cá Linh ống 31
Hình 4.20: Cá Lóc 32
Hình 4.21: Cá Mang rỗ 33
Hình 4.22: Cá Mè vinh 34
Hình 4.23: Cá Nâu 35
Hình 4.24: Cá Rô biển 36
Hình 4.25: Cá Rô ñồng 36
Hình 4.26: Cá Rô phi 37
Hình 4.27: Cá Sặc bướm 38
Hình 4.28: Cá Sặc ñiệp 39
Hình 4.29: Cá Sặc rằn 40
Hình 4.30: Cá Sơn bầu 41
Hình 4.31: Cá Sửu 42
Hình 4.32: Cá Trê vàng 42
Hình 4.33: Cá Trê trắng 43
Hình 4.34: Cá Trèn bầu 44
Hình 4.35: Cá Thát lát 45
Hình 4.36: Cá ðục bạc 45
Hình 4.37: Tỷ lệ thành phần loài theo bộ qua các ñợt thu mẫu 50
Hình 4.38: Tương quan giữa chiều dài tổng và trọng lượng của cá Chốt sọc 50
Hình 4.39: Tương quan chiều dài tổng và trọng lượng của cá Chốt trắng 51
Hình 4.40: Tương quan giữa chiều dài tổng và trọng lượng của cá Mè vinh 51
Hình 4.41: Tương quan giữa chiều dài tổng và trọng lượng của cá Rô ñồng 52
Hình 4.42: Tương quan chiều dài và trọng lượng của cá Sặc bướm 52
Hình 4.43: Tương quan chiều dài và trọng lượng của cá Sặc ñiệp 53
Hình 4.44: Tương quan chiều dài và trọng lương của cá Trê trắng 53
Hình 4.45: Tương quan chiều dài và trọng lượng của cá Trê vàng 54
Hình 4.46: Tương quan chiều dài và trọng lượng của cá Trèn bầu 54
Hình 4.47: Tương quan chiều dài và trọng lượng của cá Lòng tong bay 55
Hình 4.48: Tương quan chiều dài và trọng lượng của cá Cơm sông 55
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ðBSCL ðồng bằng sông Cửu Long
NTTS Nuôi trồng thủy sản
KTTS Khai thác thủy sản
KT – XH Kinh tế - xã hội
TC – KT Tài chính – kinh tế
Trang 11CHƯƠNG 1 đẶT VẤN đỀ 1.1 Giới thiệu
Việt Nam là ựất nước nông nghiệp lâu ựời, ngoài thế mạnh trồng lúa ựứng hàng ựầu thế giới, bên cạnh ựó ngành thuỷ sản của ta cũng phát triển mạnh mẽ và ựược xem là ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước Trong ựó khu vực đồng bằng sông Cửu long (đBSCL) là một trong những vùng kinh tế ựa dạng về sinh thái và
phong phú về nhiều giống loài thủy sản, ở ựó có tôm sú (Penaeus monodon), một
loài có giá trị kinh tế cao, song một vài năm gần ựây trong ao nuôi tôm ở các tỉnh như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng gặp nhiều khó khăn về dịch bệnh và giá cảẦ
Trước tình cảnh ựó phần lớn những người nuôi có lãi vẫn tiếp nuôi tôm, còn
những người bị thiệt hại lại chuyển sang giải pháp nuôi cá kèo (Pseudapocryptes elongatus) trên nền ao tôm sú, ựó là một loài dễ nuôi, cho năng suất cao và thị trường ổn ựịnh (Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Sóc Trăng), từ ựó xuất hiện khuynh hướng trong người dân nuôi theo mô hình cá kèo luân canh tôm sú hoặc chuyển hẳn sang chuyên canh cá kèo, mô hình nào sẽ cho hiều quả cao-bền vững
để giải quyết vấn ựề trên và ựánh giá xem mô hình nào ựạt hiệu quả về kinh tế
cũng như là kỹ thuật cho người nuôi Vì thế mà ựề tài Ộđánh giá hiệu quả kinh tế-kỹ thuật của các mô hình nuôi thủy sản trên nền ao nuôi tôm sú ở tỉnh Sóc TrăngỢ ựược tiến hành nghiên cứu ở Sóc Trăng theo sự cho phép thực hiện của
khoa Thuỷ Sản trường đại học Cần Thơ (đHCT)
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
đề tài ựược thực hiện nhằm nắm ựược tình hình phát triển cũng như về khắa cạnh kinh tế-kỹ thuật của mô hình nuôi luân canh tôm sú-cá kèo Từ ựó, ựề ra hướng
Trang 121.3 Mục tiêu cụ thể
- Khảo sát tình hình phát triển các mô hình nuôi thủy sản tren nền ao nuôi tôm sú trước ựây ở Vĩnh Châu-Sóc Trăng
- Tìm hiểu khắa cạnh kỹ thuật của các mô hình ựược nghiên cứu
- đánh giá và so sánh hiệu quả kinh tế của các mô hình này
- Xác ựịnh các yếu tố có liên quan ựến năng suất và lợi nhuận của các mô hình
- Tầm quan trọng, thuận lợi và khó khăn của các mô hình
1.4 Nội dung nghiên cứu
- Mô tả và ựánh giá các chỉ tiêu kỹ thuật của các mô hình nuôi tôm sú chuyên
canh, tôm sú-cá kèo luân canh và cá kèo chuyên canh ở Vĩnh Châu-Sóc Trăng
- Mô tả, ựánh giá và so sánh các chỉ tiêu kinh tế của 3 mô hình nghiên cứu trên
- Xác ựịnh các yếu tố ảnh hưởng ựến năng suất và lợi nhuận của các mô hình
Trang 13CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tôm sú
2.1.1 đặc ựiểm sinh học của tôm sú
Tôm sú ( Theo FAO là Giant/Black Tiger Prawn), thuộc:
Tên khoa học: Penaeus monodon Fabricius
Trên thế giới phân bố ở vùng biển Ấn ựộ dương-Thái bình dương, Bắc Úc, từ Pakistan ựến Nhật Bản hay ở Indonesia, đài Loan và Việt Nam
Trong nước phân bố ở vịnh Bắc bộ, vùng ven biển miền Trung và Nam Bộ, Vùng Tây Nam Bộ như Hà Tiên-Kiên Giang, Sông Ông đốc, Khánh Hội (Nguyễn Văn Thường & Ctv, 2004)
Tôm sú có công thức răng chủy: CR=7-8/2-3
Cấu tạo bên ngoài:
- Chủy dạng như lưỡi kiếm, có răng cưa và kéo dài ựến rìa của cuống râu thứ
I, ở sau chủy này có 3 răng và nó kéo dài hết Carapace
- Carapace có gai râu và gai gan và không có gai hốc mắt
- Có 3 cặp chân hàm có tác dụng lấy thức ăn và bơi lội với 5 cặp chân ngực
có tác dụng bò và lấy thức ăn, kế tiếp là cặp chân bụng có tác dụng ựể bơi, một cặp chân ựuôi có tác dụng búng xa cũng như là bơi lên hay xuống
- Chân ngực V không có nhánh ngoài Gờ lưng hiện diện từ cuối ựốt bụng IV ựến cuối ựốt bụng VI
Chu kỳ sống của tôm sú: gồm các giai ựoạn sau
- Nauplli: gồm 6 giai ựoạn, thời gian 36-51 giờ, trong quá trình này Nauplli lột vỏ 4 lần, mỗi lần khoảng 7 giờ và chúng tự dinh dưỡng bằng noãn hoàng, trong ựó:
+) N1: dài khoảng 0.40 mm, dày 0.20 mm
+) N2: dài khoảng 0.45 mm, dày 0.20 mm
+) N3: dài khoảng 0.49 mm, dày 0.20 mm
+) N4: dài khoảng 0.55 mm, dày 0.20 mm
+) N5: dài khoảng 0.61 mm, dày 0.20 mm
- Zoea: gồm 3 giai ựoạn, thời gian 105-120 giờ, giai ựoạn này chũng bơi liên tục và sẽ lột vỏ 2 lần, mỗi lần khoảng 36 giờ, ăn thực vật phiêu sinh, trong
Trang 14+) Z1: dài khoảng 1 mm, dày 0.45 mm, ñã có hai phần ñầu và xuất hiện bụng
rõ rệt
+) Z2: dài khoảng 1.9 mm, xuất hiện mặt và chủy
+) Z3: dài khoảng 2.7 mm, xuất hiện gai trên bụng
- Mysis: gồm 3 giai ñoạn với thời gian khoảng 72 giờ, lúc này Mysis sẽ có quá trình bơi xuống ñáy với ñầu ñi sau và ñuôi thì ñi trước Trong ñó:
+) M1: dài khoảng 3.4 mm, lúc này ñã có hình dạng của tôm trưởng thành, ñã xuất hiện các cặp chân bụng, quạt ñuôi, ñuôi và các gai bụng
- Juvenile: giai ñoạn trưởng thành
Tôm bột, tôm giống (Juvenile) và tôm gần trưởng thành có tập tính sống ven biển
và rừng ngập mặn Khi trưởng thành chúng di chuyển ra xa bờ ở ở ñộ sâu từ 0-62
m, với nền ñáy là cát bùn hay bùn hoặc cát do ñó bãi ñẽ của chúng có ñộ sâu khoảng 0-40 m hoặc có thể sâu hơn, ñây là loài thích hợp sống ở môi trường có ñộ trong cao và chịu ñược ñộ mặn cao
Tôm cái thường ñẻ quanh năm và vào ban ñêm (22 giờ ñến 2 giờ) và sau 14-15 giờ
sẽ nở với nhiệt ñộ khoảng 27-28oC Mùa ñẻ trứng vào tháng 11 ñến tháng 04 năm sau, ñây là thời ñiểm có nguồn giống dồi dào và ít xuất hiện vào những tháng còn lại với kích thước dài tối ña khoảng 270 mm và ña số ta thường gặp ở cỡ 122-232
mm (Nguyễn Văn Thường & Ctv, 2004)
Cơ quan sinh dục:
- Con ñực: có cơ quan nằm ở phía trong phần ñầu ngực và cơ quan giao phối phụ thì nằm ở nhánh ngoài ñôi chân ngực thứ 2, kế tiếp lỗ sinh dục nằm ở khớp háng ñôi của ñôi chân ngực thứ 5 khi mở ñôi chân ngực này ra
- Con cái: Buồng trứng nằm dọc theo phía trên của phần mặt lưng và hai ống dẫn chứng thì nằm ở khớp háng của ñôi chân ngực thứ 3 khi mở ñôi chân ngực này ra
Tôm sú có kích thước to hơn con ñực và sẽ phân biệt rõ ñược ñực cái khi chúng trưởng thành và tuổi thọ của con ñực ngoài tự nhiên khoảng 1,5 năm tuổi và con cái là 2 năm tuổi
Tập tính ăn: Tôm sú có tính ăn tạp, thức ăn của chúng là các ñộng vật sống, xác thối rữa, giun, côn trùng, mùn bã hữu cơ ðặc biệt là chúng có thể ăn lẫn nhau nếu quá ñói khi vào chu kỳ lột xác, do ñó trong quá trình nuôi nhân tạo cần tránh hiện tượng bẫy lột xác ở giai ñoạn này và tôm cũng ăn mồi rất nhiều vào lúc sáng sớm
và chiều tối, do ñó cần cho tôm ăn ñủ lượng và tránh dư thừa
Về ñặc ñiểm thành thục, cơ quan X của cuống mắt sẽ tiết ra hormone GIH (Gonal inhibiting hormone) ñiều khiển sự thành thục sinh dục của tôm sú, khi ñó nếu cắt
Trang 15mắt sẽ kích thích quá trình lột xác cũng như nhanh chóng thúc ñẩy sự thành thục Khi ñẻ, số lượng trứng nhiều hay ít là phụ thuộc vào buồng trứng của tôm cái và tỷ
lệ thuận với trọng lượng cơ thể chúng, ở ngoài tự nhiên số lượng trứng của tôm có thể ñạt 300.000-1.200.000 trứng với trọng lượng khoảng 100-300g Nếu nuôi vỗ trong bễ xi măng, bằng biện pháp cắt mắt ñể kích thích thành thục và khi ñẻ số lượng trứng cho ra khoảng 200.000-600.000 trứng (http://agriviet.com/nd/620-dac-diem-sinh-hoc-va-sinh-thai-cua-tom-su/)
2.1.2 Tình hình nuôi tôm sú trên thế giới
Ngày nay nghề nuôi thuỷ sản ñược phát triển mạnh mẽ ở nhiều nơi trên thế giới, nó tạo ra trào lưu mới trong công cuộc cải thiện cuộc sống người dân ở các quốc gia mà còn là nguồn ngoại tệ chủ yếu ñể phát triển và tái thiết ñất nuớc, không chỉ ở nước ta mà các nước cùng khu vực Châu Á: Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan,…các nước thuộc khu vực Mỹ la tinh như Brazin,Chile, Ecuador cũng phát triển mạnh mẽ và cuộc cách mạng nuôi thuỷ sản vẫn không ngừng tăng lên theo sản lượng cũng như chất lượng từ năm 1980 ñến nay
Theo thống kê của FAO năm 2002, sản lượng nuôi trồng thủy sản (NTTS) của thế giới khoảng 24,6 triệu tấn năm 1995 và ñã tăng lên 35,6 triệu tấn năm
2000, trong năm này thì Châu Phi ñạt 392.213 tấn, sau ñó là Nam Mỹ ñạt 691.872 tấn, Bắc Mỹ là 697.919 tấn, Châu Âu là 2.022.807 tấn, Châu Úc là 129.412 tấn và lớn nhất là Châu Á với 31.650.888 tấn (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I) khi ñó theo FAO, giai ñoạn 1970-2000, sản phẩm thủy sản nuôi trồng của các nước ñang phát triển có tốc ñộ tăng trưởng nhanh hơn so với các nước phát triển
và theo Alan Lowther, chuyên gia thống kê thuỷ sản của FAO, năm 2003, Trung Quốc là nước ñứng ñầu với sản lượng nuôi khoảng 29 triệu tấn, tiếp ñó là Ấn ñộ
và Indonesia, Việt Nam ñược xếp hàng thứ tư thế giới với sản lượng NTTS 937.000 tấn, kém hơn Indonesia khoảng 60.000 tấn
Về nuôi tôm năm 1975 thế giới chỉ nuôi với sản lượng khoảng 50 ngàn tấn, nhưng chỉ thập niên sau 1985 sản lưọng ñã tăng 200 ngàn tấn mà các nước thuộc khu vực Châu Á là tiên phong trong việc nuôi tôm với khoảng 70% so với sản lượng toàn cầu ðến năm 1988 sản lượng ñã tăng vọt ñáng kể lên 450 ngàn tấn và
900 ngàn tấn năm 1996 (FAO, 1998), ñến năm 2000 tổng sản lượng các loại tôm nuôi trên thế giới khoảng 1092,7 ngàn tấn, trong ñó sản lượng tôm sú ñược nuôi 571,5 ngàn tấn, chiếm 52,3% tổng sản lượng Theo số liệu thống kê, 2004 trên thế giới có khoảng 380.000 trại nuôi tôm, chủ yếu là tôm sú, tôm thẻ, tôm thẻ ñỏ ñuôi
Trang 16chiếm khoảng 1,25 triệu ha với sản lượng hằng năm từ 50 ñến 10.000 ha/năm bao gồm các mô hình quảng canh, bán thâm canh, thâm canh
Theo dự báo của FAO mới ñây, những năm tới ñây tổng sản lượng thủy sản thế giới sẽ tăng do nhờ vào sản lượng thủy sản nuôi tăng, cụ thể là 129 triệu tấn năm lên 159 triệu tấn vào năm 2010 và 172 triệu tấn năm 2015 với tăng trưởng bình quân tốc ñộ 2,1%/năm giai ñoạn 2010 và giai ñoạn 2010-2015 khoảng 1,6%/năm
Từ ñó cho thấy nghề NTTS cũng ñã không ngừng phát triển liên tục so với hai thập niên trước cùng với sự gia tăng của dân số và nhu cầu tiêu thụ thủy sản
Với sự gia tăng về sản lượng củng như là diện tích NTTS như thế cùng với nhu cầu ñòi hỏi của thị trường, làm cho sản lượng ngành thủy sản tăng lên cao hơn so với các ngành lương thực thực phẩm như chăn nuôi, trồng trọt (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I) ðặc biệt là góp phần hạn chế thêm cho ngành khai thác thuỷ sản ít gánh nặng hơn về cạn kiệt nguồn tài nguyên từ ñó làm cho nghề nuôi thủy sản ñã không ngừng cung cấp cho người dân trên toàn thế giới số lượng sản phẩm khổng lồ mà vẫn ñảm bảo nguồn lợi ổn ñịnh Ngoài ra việc phát triển của kỹ thuật nuôi con giống nhân tạo từ năm 1980 ñến nay ñã làm cho người nuôi chuyển
từ phưong thức nuôi quảng canh, quảnh canh cải tiến sang nuôi thâm canh trên diện rộng với mật ñộ cao Nhưng sau một thời gian canh tác theo mô hình thâm canh ñạt nhiều hiệu quả thì mặt tiêu cực của nó cũng ñã làm cho các yếu tố sinh thái, môi trường không cân bằng dẫn ñến ảnh hưởng xấu cho vùng nuôi ở những ñợt nuôi sau, trước tình hình ñó ñòi hỏi mỗi hộ nuôi cần có chiến lược nuôi thủy sản phát triển theo hướng vừa có hiệu quả vừa bền vững-bền vững trong quá trình hoạt ñộng sản xuất không ảnh hưởng lâu dài cho thế hệ sau và không làm biến ñổi các yếu tố môi trường (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II)
2.1.3 Tình hình nuôi tôm sú trong nước
Năm 1985, tình hình nuôi tôm sú ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ và gia tăng nhanh nhóng không chỉ về sản lượng mà về diện tích nuôi trong suốt chiều dài 3.260 Km bờ biển từ Bắc chí Nam Về diện tích nuôi tôm nước mặn, lợ năm
1985 là 50 ngàn ha và ñến năm 1998 tăng lên 295 ngàn ha với 30 tỉnh có nuôi tôm
sú (Bộ thủy sản 1999), theo Tổng cục thống kê Việt Nam, năm 2000 diện tích này của cả nước cũng ñã tăng ñến 324,1 ngàn ha, chiếm 81,6% diện tích nước mặn, lợ
và chiếm 50,5% tổng diện tích NTTS của cả nước, chỉ số này tăng lên qua các năm 2002 là 509,6 ngàn ha lần lượt chiếm 91,6% diện tích nước mặn lợ và 63,9% của cả nước; tương tự năm 2004 là 598 ngàn ha, 93,1%, 35%) qua ñó cho thấy tỉ lệ diện tích nuôi tôm ñều tăng so với cùng kỳ, qua năm 2006 là (612,1 ngàn ha 89,6%, 62,7%), 2008 (629,3 ngàn ha, 88,2%, 59,8%), ñiều này thể hiện qua Bảng sau
Trang 17Bảng 2.1 Diện tích nuôi tôm qua các năm 2000-2008 Ngàn ha
Tổng diện tích cả nước 641,9 797,7 920,1 976,5 1052,6
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam
Về tình hình nuôi tôm sú, năm 1999 Miền Nam có 238.279 ha là nơi có diện tích nuôi tôm sú lớn nhất nước trong ñó ðồng bằng sông Cửu long (ðBSCL)
là chủ yếu, chỉ riêng 2 tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu ñã chiếm 150.000 ha Tiếp theo
ñó là Miền Trung với diện tích nuôi tôm sú khoảng 12.530 ha với Khánh Hoà là tỉnh sản xuất giống tôm sú lớn nhất của nước, kế ñến là Miền Bắc với 39.429 ha Nhìn chung hình thức nuôi vào thập niên 80 và ñầu thập niên 90 của thế kỷ trước chủ yếu là nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến và bán công nghiệp, song từ năm
1997, mô hình nuôi công tôm sú nghiệp (thâm canh) ñã ñược áp dụng nuôi rộng rãi như Ninh Thuận, Bình Thuận (Miền Trung) là 2 tỉnh ñi ñầu trong công cuộc nuôi tôm công nghiệp của Thái Lan và một số tỉnh ðBSCL như Cà Mau
Ngoài ra ở ðBSCL các mô hình nuôi tôm sú rất ña dạng như quảng canh, quảng canh cải tiến, bán công nghiệp và công nghiệp Riêng ở mô hình quảng canh cải tiến thì các tỉnh có sự chuyển ñổi cơ cấu sản xuất do ñất bị nhiễm phèn thì
có mô hình tôm sú luân canh với trồng lúa (Sóc Trăng), nuôi trong ruộng muối (Vĩnh Châu-Sóc Trăng), nuôi Artemia Tôm (Bạc Liêu, Trà Vinh, Tiền Giang), nuôi công nghiệp (Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Tiền Giang) và ñặc biệt gần ñây ở vùng ven biển Vĩnh Châu-Sóc Trăng ñến Nhà Mát-Bạc Liêu mô hình nuôi luân canh tôm sú với cá kèo vào mùa mưa khi ñộ mặn hạ thấp ñược người dân áp dụng nhiều do mô hình ñem lại hiệu quả kinh tế cao và ít rũi ro hơn
là nuôi thâm canh tôm sú, với lại nhu cầu của thị trường cá kèo khan hiếm và giá lại cao làm cho mô hình này ñược nhân rộng rãi ở vùng này Tình hình ñó ñòi hỏi các ngành chức năng và cán bộ ñịa phương cần có giải pháp hợp lý ñể hướng dẫn người dân khi áp dụng mô hình này và có khuyến cáo thõa ñáng ñể tránh rũi ro xảy ra khi mô hình nuôi cá kèo thâm canh ñược mở rộng
Trang 182.1.4 Tình hình nuôi tôm sú ở Sóc Trăng-phương thức quản lý của tỉnh
đBSCL là vùng nằm trong vùng nhiệt ựới gió mùa, nóng ẩm, trong một năm có 2
mùa, một mùa mưa và một mùa khô, mùa mưa ở ựây thường kéo dài khoảng 5
tháng thường bắt ựầu từ cuối tháng 4 và ựầu tháng 5 hằng năm và sẽ kết thúc vào
tháng 11 và các tháng còn lại là thời gian mà mùa khô chiếm ưu thế (Lê Anh
Tuấn, 2002) Hơn nửa, đBSCL có ựiều kiện thổ nhưỡng cũng như là khắ hậu
thuận lợi trong việc nuôi tôm sú và các loài ựộng vật thủy sản nước lợ, nước ngọt
khác: cá tra, basa, tôm thẻ chân trắng,Ầ Với 2 tỉnh có diện tắch nuôi tôm sú lớn
nhất vùng, Cà Mau là 105.520 ha và Bạc Liêu là 30.925 ha (Bộ thủy sản 1999) thì
Sóc Trăng là tỉnh cũng có mô hình nuôi tôm lớn với diện tắch 24.919 ha chiếm
81,7% diện tắch NTTS của tỉnh và năm 2008 toàn tỉnh có khoảng 3177 trang trại
NTTS
Theo Lê Anh Tuấn, lượng mưa trung bình hằng tháng của một số vùng ở đBSCL
ựược thể hiện qua Bảng 2.2 sau
Trong ựó tỉnh Sóc Trăng vào mùa mưa có lượng mưa khá cao (từ tháng 5 ựến tháng
11), ựều này có ảnh hưởng ựến quá trình nuôi của người dân trong vùng khi nuôi
tôm sú vào mùa mưa
Tỉnh Sóc Trăng ựược thành lập vào năm 1992 (thuộc tỉnh Hậu Giang cũ),
có chiều dài bờ biển 72 Km, thuộc vùng châu thổ sông Cửu Long nằm ở cuối lưu
vực sông Hậu và tiếp giáp với biển đông và có tọa ựộ ựịa lý là lý 9014Ỗ Ờ 9055Ỗ vĩ
Bắc, 105034Ỗ Ờ 106017Ỗ kinh đông, (phắa Nam giáp với biển đông, Bắc giáp với
Trà Vinh, Tây giáp Bạc Liêu, Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Cần Thơ) Có nhiệt ựộ
Bảng 2.2 So sánh lượng mưa trung bình tháng (mm) của một số vùng ở đBSCL
(Số liệu chỉ mang tắnh chất tham khảo tạm thời, chưa quy về chuỗi nhiều năm)
Trang 19trung bình năm 26,80C, cao nhất là 37,80C và lượng mưa trung bình hằng năm từ tháng 5 ñến tháng 10 là 1850 mm, ñộ ẩm 83%
Hình 2.1 Bản ñồ tỉnh Sóc Trăng
Về diện tích tự nhiên, Sóc Trăng có 319.012 ha, trong ñó ñất cát chiếm 1/3
và phù sa của sông Hậu và 2/3 còn lại là ñất bị nhiễm phèn chua, ñược chia thành
3 vùng sinh thái tự nhiên: ngọt, mặn, lợ, trong ñó ñất sử dung cho nông nghiệp là 226.926 ha, lâm nghiệp 16.015 ha và tỉnh cũng có tiềm năng lớn về thủy sản với hơn 100.000 ha mặt nước có thể ñưa vào NTTS Về diện tích mặt nước NTTS ở
Sóc Trăng và sản lượng nuôi tôm ñược thể hiện qua các Bảng sau
Trang 20Bảng 2.3 Diện tích mặt nước NTTS ở Sóc Trăng 1995-2008
Năm Diện tích (ngàn ha) Năm Diện tích (ngàn ha)
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam
Bảng 2.4 Sản lượng tôm của tỉnh từ 1995-2008
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam
Theo Sở Thuỷ sản Sóc Trăng năm 1992, diện tích nuôi tôm sú ở Sóc Trăng chỉ có 19.200 ha thì ñến năm 2002 ñã lên ñến 43.390 ha, trong ñó có 2.500 ha nuôi bán công nghiệp, sản lượng tôm sú nuôi ñạt 16.000 tấn ðến năm 2003 là 53.000 ha và
là diện tích cao nhất từ trước ñến nay, năm 2004 toàn tỉnh rũi ro trong việc nuôi tôm sú do chất lượng con giống kém (không kiểm dịch), nuôi ngoài vùng quy hoạch, thả giống trước mùa vụ và cũng có nhiều nơi có ñầm mà không nuôi ñược
vì thiếu vốn mua con giống do ñó ñến năm 2005 diện tích thả nuôi chỉ còn 43.311
ha tôm sú với tổng số con giống trên 4,55 tỉ con So với năm 2004, năng suất nuôi ñạt khá cao với 1,63 tấn/ha nuôi bán công nghiệp (tăng 8%), 3,24 tấn/ha ñối với nuôi công nghiệp, 580 kg/ha với nuôi quảng canh cải tiến (tăng 28%), ñến năm
2006 diện tích tôm sú của toàn tỉnh là 47.293 ha tôm sú, tăng so với 2005, năm này có ñến 80% số hộ có lãi, năng suất tôm công nghiệp ñạt 3,2 tấn/ha, mặc dù
Trang 21vậy nhưng vẫn có một số hộ bị thiệt hại khi nuôi vụ 2 do thời tiết ở ñây không thuận lợi như theo ngành thuỷ sản Sóc Trăng ñã khuyến cáo, theo ñó diện tích tôm
sú vụ 2 bị thiệt hại tập trung ở hai huyện Vĩnh Châu và Mỹ Xuyên lên ñến 4.996
ha, trong ñó có 1.774 ha bị thiệt hại
Về giá trị sản xuất thủy sản của tỉnh, từ 1995 ñến 2008 giá trị mỗi năm ñều tăng, ñược thể hiện qua bảng sau
Bảng 2.5 Giá trị sản xuất thủy sản của tỉnh 1995-2008
Năm Giá trị sản xuất (tỷ ñồng) Năm Giá trị sản xuất (tỷ ñồng)
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam
Theo ñó, quy hoạch của tỉnh từ 1999 ñến năm 2010 về NTTS sẽ ñạt 80.000 ha, trong ñó, diện tích ñể nuôi tôm sú chiếm khoảng 45.000 ha và theo số liệu của ngành thuỷ sản Sóc Trăng, 5 tháng ñầu năm 2009, Sóc Trăng bị thiệt hại hơn 1.000 ha tôm sú, trong ñó nhiều nhất là các huyện Vĩnh Châu với trên 550 ha, Long Phú với 340 ha và Mỹ Xuyên gần 130 ha, nguyên nhân bị thiệt hại là tôm bị sốc nhiệt vì mưa nhiều và nắng nóng dẫn ñến tôm nổi ñầu hàng loạt và hiện nay diện tích nuôi khoảng 28.000 ha, ñạt trên 50% so với kế hoạch ñề ra trong 2009, trong ñó nuôi tôm bán công nghiệp và công nghiệp là 13.000 ha Trước tình hình này, ñòi hỏi ngành thủy sản Sóc Trăng nên khuyến cáo kịp thời về mùa vụ nuôi ñể năng cao năng suất cho vụ nuôi, mặt khác cần theo dõi diễn biến của thời tiết cũng như là trong việc mua con giống của người dân và ñưa ra các luận cứ khoa học ñể
ñề ra giải pháp ñối với từng vùng cho từng mô hình như luân canh tôm sú- cá kèo hay tôm sú-lúa,…, từ ñó nhằm làm giảm rũi ro khi nuôi quá mức trong thâm canh
và cảnh báo cũng như quản lý có kiểm soát cho những mô hình nuôi mới sẽ ñược
áp dụng
Trang 222.1.5 Thị trường xuất khẩu của tôm sú hiện nay
Theo thống kê của FAO mới ñây thì giá trị xuất khẩu tôm sú năm 2006 của nước
ta ñứng hàng ñầu thế giới, ñạt 1,25 tỷ USD, con về sản lượng thì ñạt ñỉnh 184 ngàn tấn vào năm 2005 ñến năm 2006 ñã giảm xuống với sản lượng 131.615 tấn
và ñứng hàng thứ 4 về sản lượng xếp sau Thái Lan, Ấn ðộ và Indonesia, tuy vậy giá trị xuất khẩu vẫn dẫn ñầu liên tục do tôm nước ta có kích cỡ lớn hơn Còn về xuất khẩu thủy sản năm 2006 nước ta ñứng hàng thứ 8, trong ñó tôm sú là mặt hàng xuất khẩu có giá trị của ngành và năm 2008 giá trị xuất khẩu mặt hàng này
ñã ñạt 1,62 tỷ USD
Theo Hiệp hội chế biến và Xuất khẩu thủy sản (Vasep) xuất khẩu thủy sản 6 tháng ñầu năm 2009 ñạt hơn 1,76 tỷ USD với hơn 510 ngàn tấn ñã giảm -3,8% về sản lượng cũng như là 7,6% về giá trị xuất khẩu so với cùng kỳ năm 2008, khi ñó mặt hàng tôm lạnh có giảm nhưng không ñáng kể và xuất khẩu ñạt kim ngạch 589 USD với hơn 72 ngàn tấn ñã tăng 1,8% về lượng và giảm 4,7% về giá trị so với cùng kỳ và các mặt hàng khác ñều giảm ñáng kể như mực, bạch tuột và riêng tháng 07/2009 kim ngạch xuất khẩu ñạt 400 triệu USD-tăng 80 triệu USD so với tháng 06/2009 và thị trường Mỹ cũng ñã có nhiều khởi sắc với mặt hàng tôm của
ta, với lượng tăng 18,3% và 2,1% về giá trị so với cùng kỳ tháng 07/2008 và thị trường EU cũng ñã tăng 10% về lượng và 5% về giá trị, từ ñó chứng tỏ, ngành thủy sản nói chung và ñặc biệt là tôm ñã bắt ñầu có chiều hướng lạc quan trở lại
2.1.6 Khía cạnh kinh tế và kỹ thuật nuôi tôm sú
Diện tích của ao nuôi tôm sú khoảng 3000-5000 m2, chọn giống khỏe mạnh, ñầy ñủ các bộ phận, màu sắc sáng Trước khi thả giống nên ương ñể diệt mầm bệnh và có kích cỡ ñồng ñều hơn Giống có kích cỡ nhỏ nhất trên 1,2cm nên kiểm tra các chỉ tiêu ñộ mặn phù hợp nhất là 10-200/00, pH là 7,5-8,5, nhiệt ñộ là 28-300C, ñộ kiềm là 80-20mg CaCO3/L bởi vì khi ñưa tôm giống vào ao, các chỉ tiêu này có thể gây sốc cho tôm (Tạp chí thủy sản- số 5/2002, Viet Linh Pte) Ao nuôi tôm sú nên sử dụng ao lắng ñể lắng chất ñộc và diệt mầm bệnh trong nước Bón phân hữu cơ ñể gây thức ăn tự nhiên cho tôm giống như bón DAP với liều lượng 0,5-1kg/1000 m3, hay zeolite (10-15kg/1000 m3), với liều lượng 10-30 kg/100m3 và tháng ñầu thức ăn công nghiệp cho tôm giống chỉ cho ăn một ít và phải phù hợp với kích cở của tôm, do chúng rất ít vận ñộng (http://agriviet.com/nd/1055-mot-so-van-de-co-ban-trong-ky-thuat-nuoi-tom-su/)
Mật ñộ thả tôm theo hình thức công nghiệp khoảng 30 con/ m2, bán công nghiệp 15-20 con/m2 và quảng canh cải tiến 5-10 con/m2 trong quá trình nuôi cần sử dụng sục khí cho ao ñể cung cấp oxy cho tôm Ao nuôi tôm sú màu vàng nâu là tốt
Trang 23nhất, nếu như ao quá ñậm do thức ăn dư thừa nhiều thì phải thay nước cho ao ñể tránh tảo phát triển quá mức gây thiếu oxy cho tôm, số lượng thay nước 1/3 số lượng nước trong ao Sau 3-4 tháng có thể thu hoạch và năng suất mô hình thâm
canh khoảng 3 tấn/ha
2.2 Cá kèo
2.2.1 Một số ñặc ñiểm sinh học của cá kèo
Ở ðBSCL cá kèo có 2 loại là cá kèo vảy nhỏ (Pseudapocryptes elongatus) và theo Curvier (1816) chúng thuộc
Bộ: Perciformes
Họ: Gobiidae
Lớp: Actinopterygii
Giống: Pseudapocryptes
Kế ñến là cá kèo vảy to (Parapocryptes sepserrperas) (Khoa & Hương,
1993; Yên 1992) và hiện nay cá kèo ñược nuôi phổ biến là cá kèo vảy nhỏ
Cá kèo vẩy nhỏ là loài có sản lượng lớn, thịt ngon và có giá trị kinh tế cao với lại nó ñang ñược ưa chuộng ở các nước trong và ngoài khu vực (http://vienthuysan2.com/index.php?do=news&act=detail&id=107), nguồn giống
cá kèo chủ yếu là khai thác tự nhiên hiện nay chưa có sinh sản nhân tạo giống cá này (Vũ Nam Sơn, 2006), do ñó mặt dù sản lượng nhiều những nguồn giống vẫn phụ thuộc vào mùa vụ
Về ñặc ñiểm hình thái, cá kèo có mắt tròn nhỏ, vảy nhỏ, lưng màu xẫm hơi ửng vàng, bụng có màu trắng sáng bóng, mình có nhiều nhớt, chiều dài trung bình khoảng 20 cm
Cá kèo phân bố tự nhiên ở vùng nước lợ, mặn, có nhiều ở Sóc Trăng, Bạc Liêu và cũng có thể sống ở vùng nước ngọt Ngoài tự nhiên, chúng làm hang ở các bãi bùn
và sống tầng ñáy Cá kèo có tính ăn thiên về thực vật như tảo, mùn bả hữu cơ,…, ngoài tự nhiên, cá kèo con xuất hiện nhiều vào tháng 3-4 và có sản lượng cao nhất vào tháng 06 ñến tháng 08 và tháng 10 ñến tháng 01 năm sau ( ðịnh và ctv.,2002),
cá kèo thành thục cao vào tháng 1 ñến tháng 2, từ ñó mà khai thác cá kèo giống cho phù hợp Chúng có ñặc ñiểm sống ở ñộ mặn khoảng 0-40%, thích hợp nhất là nuôi 10-25%, nhiệt ñộ thích ứng khoảng 23-28oC (http://agriviet.com/vlkt/414-nuoi-ca-keo-.html)
Trang 242.2.2 Tình hình phát triển kỹ thuật nuôi cá kèo
Năm 2005 Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II, ñã tiến hành nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá kèo trên nhiều mô hình thí nghiệm khác nhau như trong
bể ximăng, bể composite lắp ñặt hệ thống tuần hoàn airlift giá thể cát của CSIRO, hay trong ao ñất với thức ăn là trùn chỉ, trùn biển, Artemia trưởng thành kết quả cho thấy, sau 8 tháng thả nuôi vỗ cá bố mẹ ñã tăng từ 22,5 g – 40,1g và trong thí nghiệm này, buồng trứng phát triển cao nhất là ñến giai ñoạn III
ðến năm 2006-2007, cá kèo ñược nuôi vỗ với các chất ñược bổ sung thêm là kháng sinh dompamin, HUFA và não thùy thể cá chép, LH-RHa
Năm 2008, Viện Nghiên Cứu tiếp tục thực hiện nuôi vỗ cũng với hệ thống tuần hoàn airlift giá thể cát của CSIRO như là hệ thống ñã thành công trong việc gia hóa tôm sú, kết quả cho thấy, sau 4 tháng nuôi, cá bố mẹ trọng lượng tăng 24,86g-37,38 g với 3 loại khác nhau cho từng thí nghiệm như Artemia trưởng thành; thức
ăn viên Luckystar ñộ ñạm 57%; thức ăn chế biến trùn chỉ kết hợp trùn biển, trong thí nghiệm này cũng ñã nhận ñịnh việ tiêm dẫn hormone LH-RHa và cho cá ăn DOM thông qua thức ăn cũng ñã không thúc ñẩy gì quá trình phát triển tuyến sinh dục của cá cái và ñực
ðầu năm 2009, Viện Nghiên Cứu tiến hành tiêm hormone HCG với não thùy cá chép cho 28 con với kích cỡ 21,08 ± 1,15 cm và trọng lượng trung bình 38,32 ± 4,37 g, kết quả cho thấy chỉ sau 13 ngày, ñã có 12 con cái thành thục và 16 con ñực không thành thục ( buồng tinh ở giai ñoạn III), với sức sinh sản 2.040.551 trứng/kg trong lựơng thân cá, ñường kính trứng trung bình 421,19±27,02 µm Cuối cùng, trong thí nghiệm này số cá ñực không thành thục, nhưng các thí nghiệm trên ñây vẫn mang lại thành công lớn cho cá cái thành thục
ðối với nuôi cá kèo, hiện nay có nhiều mô hình nuôi kết hợp với ao nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh hay quảng canh cải tiến hoặc có thể nuôi trong ruộng muối vào mùa mưa khi ñộ mặn thấp Ao nuôi cá kèo thông thường khoảng 0,2-0,5 ha (Vũ Nam Sơn, 2006) bón vôi CaCO3 với liều lượng 100-150 kg/ha và thường xuyên diệt cá tạp vào ao bằng dây thuốc cá với 1 kg rễ tươi cho 100m3nước ao hoặc sử dụng Saponin Cày, xới ñáy ao khoảng 5-7 cm ñể vi sinh vật phát triển có tác dụng gây thức ăn tụ nhiên cho cá, do cá kèo là loài ăn mùn bã hữu cơ
là nhiều sau ñó bón lót cho ao bằng phân hữu cơ với liều lượng 20-30 kg/100m2
ao Kế tiếp rãi vôi bột xuống với liều lượng 8-12 kg/100m2 ñể hạ phèn và diệt mầm bệnh xâm nhậ, làm xong, phơi ñáy 2-3 ngày, không dùng biện pháp này cho vùng bị nhiễm phèn vào mùa mưa hay do ñất phèn Cuối cùng lấy nước vào ao khoảng 0,3-0,4 m thì thả cá giống vào, sau ñó tiếp tục thêm nước vào qua lưới lọc cho tới khoảng 0,8-1 m
Vào cuối tháng 4 ñầu tháng 5 là vụ nuôi của cá kèo, do thời ñiểm này cá giống nhiều và mưa cũng bắt ñầu nên sử dụng ao nuôi tôm sú vụ 1 (tháng 7-8) hay ruộng muối ñể nuôi là thích hợp
Kích cỡ cá giống thả khoảng 3-5cm hoặc 4-6cm, cá phải khỏe mạnh, không trầy xước, màu sắc tươi, kích cỡ ñồng ñều, trước khi thả nên ương giống trong ao là tốt
Trang 25nhất ñể có kích cỡ cá ñồng ñều hơn và không có nhiễm bệnh, ñặc biệt là thích nghi tốt với ñiều kiện môi trường trong ao khi ñưa giống tự nhiên về nuôi
Mật ñộ thả nuôi cá kèo thâm canh khoảng 30-150 con/m2 (Vũ Nam Sơn, 2006) Trong quá trình nuôi cho cá ăn bằng thức ăn công nghiệp phù hợp với miệng cá với hàm lượng ñạm khoảng 25-28%, khẩu phần cho ăn 1-1,5% trọng lượng thân/ngày, cho ăn 2 lần/ngày vào sáng và chiều hoặc cho ăn thức ăn chế biến với hàm lượng ñạm 25% và sẽ giảm vào các tháng kế tiếp cho ñến tháng thu hoạch, khẩu phần ăn và cách cho ăn tương tự như thức ăn công nghiệp, ngoài ra, trong ao nuôi nên luôn luôn có thức ăn tự nhiên cho cá bằng cách bón phân hữu cơ 10-15 kg/100m2/tuần hoặc 100-150g phân vô cơ/tuần
Sau 4-6 tháng nuôi, co thể thu hoạch với kích cỡ 40-50 con/kg, nuôi quãng canh cho năng suất khoảng 500-700 kg/ha, còn nuôi thâm canh cho năng suất khoảng 6-
8 tấn/ha
2.2.3 Thực trạng của mô hình nuôi luân canh tôm sú-cá kèo ở Sóc Trăng
Trước năm 2003, cá kèo chỉ ñược nuôi tự phát ở các tỉnh ven biển như Sóc Trăng
và năm này, khoa thủy sản trường ðHCT cũng ñã ứng dụng thành công mô hình nuôi cá kèo thương phẩm xã An Thạnh Nam-huyện Cù Lao Dung-Sóc Trăng, từ thành công của mô hình ñã ñánh dấu bước phát triển mới về NTTS ở vùng ven biển
Khi tôm sú ñược ưa chuộng, mô hình nuôi tôm sú thâm canh ñược phát triển nhiều
ở các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Tiền Giang, Kiên Giang, sau ñó mô hình này có nhiều rũi ro cao khi trong ao vật chất dinh dưỡng quá nhiều và do kỹ thuật còn hạn chế của người dân làm tôm nổi ñầu hàng loạt vì thiếu oxy trong ao, từ ñó mô hình kết hợp tôm sú-cá kèo cũng ñược ứng dụng vào thêm ñể giảm rũi ro
Song, thực tế với nhu cầu của thị trường khan hiếm nguồn cá kèo và chất lượng thưong phẩm của chúng ñã làm cho cá kèo ñược nuôi trở lại, chủ yếu nuôi ở chân ruộng muối và ao tôm sú vào mùa mưa Do nuôi tôm sú vụ 2 thường thất bại, chủ yếu là khi mưa xuống làm cho ñất bị phèn bị rửa trôi dẫn ñến pH xuống thấp làm cho năng suất vụ nuôi giảm và thất bại, cá kèo chủ yếu là ăn rong tảo, phù du trong nước nên tiết kiệm ñược chi phí cho ăn nhưng cũng nên bón phân hữu cơ ñịnh kỳ ñể duy trì thức ăn tự nhiên cho cá, ngoài ra khi nuôi trong ao tôm sú ngoài mang lại năng suất cao mà còn cải tạo ñộ phì nhiêu của ñất cho vụ nuôi tôm sú thâm canh ñang bị lão hoá ðặc biệt mô hình nuôi luân canh này mang lại hiệu quả kinh tế cao do cá kèo ít bị bệnh và nuôi ñơn giản thích hợp với trình ñộ người dân
và ở Sóc Trăng mô hình này có thể ñem lại năng suất khoảng 6-7 tấn/ha
Trang 26Hiện nay, cá kèo ñược nuôi nhiều nhất là Sóc Trăng và Bạc Liêu với khoảng 800
ha, ñặc biệt khó khăn khi nuôi là nguồn giống còn hạn chế, do chủ yếu là ngoài tự nhiên với giá con giống từ 40.000-50.000 ñồng/ly và hiện nay giá cá kèo khoảng 125.000-130.000 ñồng/kg ñồng nhưng thị trường vẫn tiêu thụ Với những ñặc tính của cá kèo về tiết kiệm ñược chi phí thức ăn, cách nuôi ñơn giản với giá lại cao, thị trường tiêu thụ mạnh thêm vào ñó nuôi tôm sú thâm canh trở nên quá rũi ro, từ
ñó ñã thu hút người nuôi cá kèo vào mùa mưa trong ao tôm sú ñược áp dụng mạnh
mẽ làm cho mô hình này phát triển nhanh chóng trong những năm gần ñây ở các tỉnh ven biển như Sóc Trăng, Bạc Liêu
Trang 27CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu ñược tiến hành từ tháng 11/2009 ñến 05/2010 và ñược thực hiện tại huyện Vĩnh Châu-Sóc Trăng
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu số liệu thứ cấp
Các số liệu và thông tin về diện tích mùa vụ, năng suất, sản lượng, khu vực nuôi
cá kèo sẽ ñược thu thập từ các báo cáo của Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn, Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư và cấp huyện của tỉnh Sóc Trăng
Trang 283.2.2 Phương pháp thu số liệu sơ cấp
Các số liệu ñiều tra về kinh tế-kỹ thuật của 3 mô hình ñã ñược thu thập thông qua việc phỏng vấn 58 hộ ở huyện Vĩnh Châu-Sóc Trăng
Biểu mẫu ñiều tra sẽ ñược biên soạn dựa trên bảng thiết kế sơ ñồ giản lượt (Schema diagram) và phỏng vấn thử cũng như hiệu chỉnh bảng câu hỏi trước khi tiến hành phỏng vấn Nôi dung câu hỏi phỏng vấn ñược rút gọn với thời gian khoảng 45-50 phút
Ngoài ra, các thông tin và số liệu có liên quan ñến tình hình phát triển các mô hình nuôi thủy sản sẽ ñược phỏng vấn thông qua 3 cán bộ cấp tỉnh, huyện và cán bộ ñịa phương thông qua phiếu phỏng vấn liệt kê
3.2.3 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
Các số liệu sau khi ñược ñiều tra sẽ ñược kiểm tra trên biểu mẫu sau ñó nhập vào máy tính ñể xử lý tính toán các giá trị như: giá trị trung bình, ñộ lệch chuẩn, so sánh các giá trị trung bình (ANOVA) ,…trên phần mềm excel của Ms 2003 và cũng dùng phần mềm SPSS ñể chạy phương trình tương quan tuyến tính
Trang 29CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình phát triển chung của 3 mô hình:
Theo báo cáo của Trung Tâm Khuyến Ngư tỉnh Sóc Trăng, trong năm qua diện tích nuôi tôm sú của Tỉnh ñạt 47134 ha với số lượng giống là 4702,4 triệu con trong 37853 hộ nuôi
Với Huyện Vĩnh Châu thì diện tích thả nuôi 2009 là 25481 ha và là huyện nuôi tôm sú nhiều nhất của tỉnh (Bảng 4.1), trong ñó diện tích nuôi thâm canh-bán thâm canh của huyện là 14750 ha và năng suất bình quân ñạt 1,48 tấn/ha với tổng sản lượng là 37327 tấn Theo báo cáo của Huyện thì nguồn giống chủ yếu là Miền Trung, Vũng Tàu, Cà Mau, Bạc Liêu
Bảng 4.1 Diện tích nuôi tôm sú của các Huyện năm 2009
ha ñạt 5 tấn, nguồn giống chủ yếu của Huyện là từ biển Vĩnh Châu và Nhà Bạc liêu
Trang 30Mát-4.2 Khía cạnh kỹ thuật nuôi của 3 mô hình:
4.2.1 Công trình nuôi của 3 mô hình:
Nhìn chung, mô hình nuôi cá kèo luân canh và chuyên canh ñều sử dụng 100% ao nuôi tôm sú trước ñó Tổng diện tích về vụ 1 và vụ 2 của mô hình TSCC lần lượt
là 268.500 m2 và 147.000 m2, trong ñó số ao bình quân của nông hộ là 2-3 ao Tổng diện tích bình quân theo mỗi hộ là 8.950 m2 và 4.900 m2 và mỗi ao cũng có diện tích bình quân theo 2 vụ là 4.283 m2và 3.900 m2 (Bảng 4.2)
Mô hình TSCKLC thì vụ 1 và vụ 2 cũng có tổng diện tích bình quân lần lượt là
207500 m2 và 103.500m2với diện tích bình quân ao nuôi của mỗi hộ theo từng vụ
Bảng 4.3 Thông tin về công trình nuôi về vụ 2 của 3 mô hình
4.2.2 Chuẩn bị ao nuôi và cải tạo ao
ðối với mô hình tôm sú ña số các hộ ñều sên vét sau mỗi vụ nuôi và dùng CaCO3
ñể cải tạo ao, mô hình TSCC có 86,7% số hộ dùng CaCO3 với liều lượng 33,3±15,8 kg/1000m2, với tỉ lệ này thì TSLC có 75% (35,6±19,2kg/1000m2 )
Trang 31Trước khi thả giống, hầu hết các ao nuôi ñều ñược diệt tạp bằng dây thuốc cá và saponine, sau ñó xử lý nước bằng clorine (1 kg/1000m3) và bón phân ñể gây màu nước (ure, DAP)
ðối với mô hình nuôi cá kèo thì có 90% số hộ nuôi luân canh và 63,5% số hộ chuyên canh sên vét 2 lần/năm và 37,5% số hộ chỉ sên vét 1 lần/năm
Mô hình CKCC thì có 75% số hộ dùng CaCO3 ñể cải tạo ao (24,1±8,9 kg/1000m2), trước khi thả cá giống thì ña số các hộ cũng diệt cá tạp và xử lý nước
và gây màu nước cũng như nuôi tôm sú
4.2.3 Mùa vụ nuôi
Mùa vụ nuôi của mô hình tôm sú TSCC thường kéo dài 4-5 tháng (Nguyễn Thị Thúy, 2007) ða số các hộ ở vụ 1 (mùa khô) (98 %) thả vào tháng 2 (Âl) và vụ 2 (mùa khô) (86,7%) thả giống vào tháng 8 (Âl)
ðối với các hộ nuôi cá kèo thì vụ 1 thả vào tháng 4 hoặc 5 (Âl) và vụ 2 vào tháng
8 hoặc 9 (Âl) (Nguyễn Bùi Nhật Ái, 2007)
Mùa vụ nuôi thường kéo dài 3-4 tháng Tuy nhiên, tùy theo thời gian và thời ñiểm khan hiếm nguồn cá thương phẩm ngoài tự nhiên mà người nuôi có thể kéo dài mùa vụ 4-5 tháng
Trang 32Hình 4.1 Phần trăm (%) nông hộ ñánh giá chất lượng tôm giống TSCC và TSLC
ða số các hộ ở vụ 1 TSCC thả nuôi với mật ñộ bình quân 18±3 con/m2 cao hơn so với kết quả của Võ Văn Bé (2007) và Kim văn Hợi (2007) là 17 con/m2 và vụ 2 là
Trang 3317±3 con/m2 Mật ñộ nuôi ở vụ 2 thấp hơn vụ 1, lý do ảnh hưởng bởi thời tiết làm
do người nuôi ñầu tư ít hơn vụ 1 (Nguyễn thị Thúy, 2007)
ðối với mô hình TSCKLC thì vụ 1 tôm sú ñược nuôi với mật ñộ bình quân là 19±3 con/m2 và vụ 2 cá kèo 76±19 con/m2
Do nguồn giống của tôm sú khá dồi dào do ñã ñược sinh sản nhân tạo, do ñó mà hầu hết các hộ nuôi tôm sú thường thả giống là 1 lần/vụ
Còn CKCC thì mật ñộ thả giống ở vụ 1 là 91±10 con/m2, vụ 2 là 93±7 con/m2 và nguồn giống chủ yếu từ Biển Vĩnh Châu và Nhà Mát-Bạc Liêu, CKLC thì số hộ mua giống từ Biển Vĩnh Châu chiếm 75% và từ Nhà Mát-Bạc Liêu là 25% Còn với CKCC thì vụ 1 (vụ 2) số nông hộ mua giống từ Biển Vĩnh Châu chiếm 62,5% (75%) và Nhà Mát chiếm 37,5% (25%) (Bảng 4.5) Do cá kèo phụ thuộc tự nhiên, tùy theo từng hộ mua ñược giống ít hay nhiều mà các nông hộ thả nuôi cá kèo có
4.2.5 Thức ăn và cách cho ăn:
Qua kết quả cho thấy cả 3 mô hình nghiên cứu thì 100% số hộ sử dụng thức ăn công nghiệp với thời gian ban ñầu là thức ăn dạng chìm, với tôm sú thì thức ăn này ñược sử dụng trong tháng ñầu tiên khi tôm con nhỏ ít di chuyển, với cá kèo thì
Trang 34bắt ñầu thả, với cá kèo sau ñó là dạng nổi với hệ số chuyển ñổi thức ăn của vụ 1 TSCC là 1,5 cao hơn với vụ 1 TSLC và CKCC là 1,4 (Kim Văn Hợi, 2007)
Còn vụ 2 với hệ số chuyển ñổi thức ăn tương ứng theo 3 mô hình lần lượt là 1,4, 1,5 và 1,5 (Bảng 4.6)
Bảng 4.6 Hệ số chuyển hóa thức ăn về vụ 1 và vụ 2 của 3 mô hình
Bảng 4.7 Thành phần (%) ñạm của các loại thức ăn
Trong ñó tổng lượng thức ăn trên ao của vụ 1 TSCC là 4095±3887 kg và vụ 2 là 900±448 kg Mô hình TSLC thì tổng lượng thức ăn trên ao là 4494±3168 kg, trong khi ở cá kèo luân canh với diện tích ao 4200 m2 thì tổng lượng thức ăn là 4832±2191 kg
Và ở mô hình CKCC thì 1 ao có diện tích 4000 m2 thì tổng lượng thức ăn trong
Trang 35quả này thì cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Bùi Nhật Ái, 2007 là 4083±2685 kg ðiều này có lẽ người nuôi ñã bắt ñầu cho cá ăn nhiều hơn nhầm ñể thu năng suất cao hơn, do cho cá kèo ăn càng nhiều thì chúng sẽ mau lớn hơn ðối với tôm sú thì số lần cho ăn 4 lần/ngày, còn cá kèo thì 2-3lần/ngày, khi ñược 2 tháng tuổi thì có thể cho cá ăn 2 lần/ngày Ở cả 3 mô hình khi cho ăn ñều rải trên gió và có sàn kiểm tra thức ăn 100% và thường cho ăn lúc trời mát Sau 2-3 giờ thì kiểm tra sàn ăn
4.2.6 Quản lý ao nuôi:
Theo kết quả khảo sát thì nhìn chung ña số người nuôi ñiều bón vôi ñể ñiều chỉnh
ñộ pH và thường ñiều chỉnh ñộ pH dao ñộng từ 6,5-8,5, ñiều này tương ñương với
ñộ pH thích hợp 7,5-8,5 của Nguyễn Thanh Phương và ctv (2004) và người nuôi
ña số thường bón vôi ñịnh kỳ với 7-15 ngày/lần
Còn TSLC (CKCC) với số hộ thay nước 15% (100%) (Hình 4.2), số hộ dùng máy bơm ñể cấp nước vào là 43% (60%) và qua thủy triều 57% (40%) Tần suất thay nước lần lượt ñối với tôm sú 2-3 lần/tháng và cá kèo là 2-4 lần/tháng
Trang 36Hình 4.2 Phần trăm (%) số hộ thay nước về vụ 1 của 3 mô hình
*) ðộ mặn
Về ñộ mặn, vụ 1 nơi ñây có ñộ mặn lần lượt là 15,1±4,3‰, 14,6±3.1‰ và 14±3,4‰ (Hình 4.3) mà theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2004) thì ñộ mặn này là phù hợp vì nằm trong khoảng 15-25‰ thích hợp cho nuôi tôm sú Trong vụ
1 TSCC thì số hộ quan tâm ñến chất lượng nước ao nuôi chiếm tới 96% và tỉ lệ này ở TSLC và CKCC là 92% và 88 % (Bảng 4.7)
Bảng 4.8 Các thông số về chất lượng nước về vụ 1 của 3 mô hình nghiên cứu
Trang 37Hình 4.4 Phần trăm (%) thay nước về vụ 2 của 3 mô hình
Vụ 2 nơi ñây có ñộ mặn theo 3 mô hình là 5,26±1,46‰, 5,35±1,18 ‰ và 5,1±2,1‰ (Hình 4.5) số hộ quan tâm ñến chất lượng nước ao nuôi của TSCC chiếm tới 100% và CKLC và CKCC là 95% và 87,5% (Bảng 4.8)
Bảng 4.9 Các thông số về chất lượng nước về vụ 2 của 3 mô hình nghiên cứu
Trang 38Hình 4.5 ðộ mặn về vụ 2 của 3 mô hình
Nhìn chung, các hộ chỉ thay nước từ khi con giống bắt ñầu lớn và ăn thức ăn nhiều hơn làm cho nước bẩn cũng như sự bài tiết của chúng (Nguyễn Thị Thanh Hiền và ctv) qua khảo sát thì ña số các hộ thay nước từ tháng 2-3 trở ñi
Số hộ quan tâm ñến chất lượng nước của vụ 2 cao hơn vụ 1 có lẽ là do vào mùa mưa, ñất bị rữa phèn và chất lượng nước ảnh hưởng ñến các yếu tố như oxy hòa tan, pH,….nhiều hơn so với vụ 1 (Trương Quốc Phú, 2006)
4.2.7 Thu hoạch và cách thu hoạch
ðối với tôm thì chủ yếu phương pháp thu là bằng lưới kéo, ban ñầu là thu tôm lớn, sau ñó tháo cạn nước ao và bắt phần tôm còn lại Thời gian nuôi của ña số mô hình tôm sú là 4-5 tháng, có khi kéo dài ñến 6 tháng khi hộ nuôi chờ giá tăng của thị trường, cụ thể là vụ 1 (vụ 2) của TSCC là 151 (125 ngày), với kết quả của Võ Văn
Bé (2007) là 150 ngày khi nuôi vụ 1 và Kim văn Hợi (2007) là 146 (147ngày), tướng ứng với kích cỡ con/kg bình quân khi thu hoạch là 38.8 và 47,9 con/kg và năng suất/ha cũng ñạt ñược theo 2 vụ là 2.495 kg/ha/vụ cao hơn kết quả của Võ Văn Bé (2007) là 2.602 (kg/ha/vụ) và Kim văn Hợi (2007) là 2640 (kg/ha/vụ) và
vụ 2 là 1213 kg thấp hơn 1828 (kg/ha/vụ) của Võ Văn Bé và 1760 (kg/ha/vụ) của Kim Văn Hợi (Bảng 4.9)
Mô hình TSCKLC thì vụ 1 TSLC có số ngày nuôi bình quân là 149 ngày và kích
cỡ bình quân thu ñược ở cuối vụ là 38,5 con/kg, theo ñó vụ 2 CKLC là 122 ngày
và 42,5 con/kg và năng suất trên 1 ha của vụ nuôi tôm sú là 3.019 kg và cá kèo là 6.033 kg
Và mô hình CKCC thì vụ 1 và vụ 2 thời gian nuôi bình quân của mỗi hộ theo từng mùa vụ là 120 và 122 ngày với kích cỡ bình quân con/kg là 39,4 và 42,4 con/kg, ñến cuối vụ nuôi năng suất thu ñược trên ha bình quân của mỗi hộ theo từng mùa
vụ là 8.157 và 8.208 kg (Bảng 4.10)
Trang 39Nhìn chung, thời gian nuôi của Tôm sú trong mô hình TSCC và TSLC thì không quá chênh lệch, nhưng khối lượng con/kg của TSLC lớn hơn TSCC Do ñó ngoài
sự chênh lệch của hệ số chuyển ñổi thức ăn của 2 vụ nuôi này (Bảng 4.6) thì tác dụng của ao nuôi cá kèo luân canh ở vụ 2 có tác dụng lớn cho vụ 1 về sự chênh lệch khối lượng này
Ở vụ 2, do vụ này ña số các hộ nuôi tôm sú tận hưởng diện tích ñất nhà ñể nuôi ñể tăng thu nhập nên số hộ nuôi cũng ít hơn so với vụ 1, nhưng vì vụ 2 tôm sú bị ảnh hưởng bởi thời tiết cũng như là bệnh xảy ra nhiều nên có một số hộ nuôi thu thu hoạch sớm và theo khảo sát có 1 hộ bị mất trắng do tôm chết ñột ngột
4.2.8 Một số bệnh thường gặp ñối với tôm sú và cá kèo
ðối với tôm sú thì vụ 1 thường xuất hiện nhiều bệnh như ñóng rong, ñốm trắng, phân trắng, phát sáng, mềm thân,…, trong ñó bệnh xuất hiện thường khi tôm ñược
2 tháng tuổi trở ñi, khi ñó do ảnh hưởng của nguồn nước cũng như là ô nhiễm của thức ăn dư thừa mà người nuôi không xử lý, khi ñó rất dễ xuất hiện bệnh Khi xuất hiện bệnh thì ña số người nuôi thường dùng những thuốc ñặc trị dùng cho tôm sú nên giá chi phí cũng tăng cao
ðiều này cũng khác biệt so với nuôi cá kèo là khi cá xuất hiện thì do chưa có thuốc ñặc trị dùng riêng cho cá kèo nên khi cá mắc bệnh thì thường dùng thuốc Tây ñể chữa, cụ thể các bệnh thường gặp như bệnh tuột nhớt, chướng bụng và các bệnh ñuờng ruột do các ăn không tiêu hóa ñược lượng thức ăn
Trang 40Bảng 4.10 Các thông số kỹ thuật nuôi về vụ 1 của 3 mô hình nghiên cứu
saponin Kích cỡ thu hoạch (con/kg) 38.8±10.5 38.5±11.2 39.4±2.2
Bảng 4.11 Các thông số kỹ thuật nuôi về vụ 2 của 3 mô hình nghiên cứu
saponin Kích cỡ thu hoạch (con/kg) 47.9±20.1 42.5±5.5 42.4±6.3