1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÁC ĐỊNH tỷ lệ dầu ĐỘNG vật và dầu THỰC vật THÍCH hợp TRONG CÔNG THỨC THỨC ăn CHO cá TRA (pangasianodon hypophthalmus)GIỐNG

43 188 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2 Mục tiêu nghiên cứu Đề tài được thực hiện nhằm xác định tỉ lệ dầu động vật và dầu thực vật thích hợp trong khẩu phần ăn của cá tra Pangasianodon hypophthalmus ở giai đoạn giống nhằm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THỊ LINH ĐAN

XÁC ĐỊNH TỶ LỆ DẦU ĐỘNG VẬT VÀ DẦU THỰC VẬT THÍCH HỢP TRONG CÔNG THỨC THỨC ĂN CHO CÁ TRA

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THỊ LINH ĐAN

XÁC ĐỊNH TỶ LỆ DẦU ĐỘNG VẬT VÀ DẦU THỰC VẬT THÍCH HỢP TRONG CÔNG THỨC THỨC ĂN CHO CÁ TRA

Cán bộ hướng dẫn:

PGs Ts Trần Thị Thanh Hiền

KS Nguyễn Hoàng Đức Trung

2011

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Trần Thị Thanh Hiền,

người đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu, qua đó giúp tôi có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp Hơn thế nữa những kiến thức này còn là hành trang vững chắc cho tôi trên con đường lập nghiệp sau này

Kế đến tôi xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Hoàng Đức Trung, chị Trần Lê Cẩm Tú, chị Nguyễn Thị Thủy Tiên, chị Dương Kim

Loan… đã tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện và tiếp thêm nghị lực giúp

tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Ngoài ra, tôi xin gởi lời cảm ơn đến các bạn lớp Nuôi Trồng Thủy

Sản khóa 33, các em lớp Nuôi Trồng Thủy Sản khóa 34 đã giúp đỡ , động

viên, trao đổi kinh nghiệm giúp tôi vượt qua chặng đường khó khăn này

Để có được thành quả như ngày hôm nay là có một phần đóng góp

không nhỏ của Gia đình tôi Con xin ghi nhớ công lao sinh thành và tình thương của Ba mẹ đã nuôi dưỡng con khôn lớn nên người Cám ơn tất cả

người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ tôi trong suốt thời gian qua

Trang 4

TÓM TẮT

Thí nghiệm nhằm xác định tỉ lệ dầu động vật và dầu thực vật thích hợp trong công thức thức ăn của cá tra giống được tiến hành trên cá trung bình 8,47gam/con Cá được bố trí trong bể nhựa 80 lít, có hệ thống nước chảy tràn và sục khí trong 6 tuần với mật độ 20 con/bể Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức thức ăn có cùng hàm lượng protein 32%, lipid 8,21% và năng lượng 4,17 kcal/gam, tỉ lệ dầu cá được thay thế bởi dầu đậu nành với các mức lần lượt là 0%, 25%, 50%, 75% và 100% Mỗi nghiệm thức lập lại 3 lần

Kết quả thí nghiệm cho thấy tỉ lệ dầu trong công thức thức ăn không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống của cá Sinh trưởng của cá (WG, DWG, SGR) đạt cao nhất ở nghiệm thức 100% dầu cá (3,26 gam, 0,08g/ngày, 0,77%/ngày) khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với các nghiệm thức còn lại

Thành phần hóa học của cá chịu ảnh hưởng bởi thức ăn Hàm lượng lipid tăng khi tỉ lệ dầu cá giảm từ 100%-75% và giảm khi tỉ lệ dầu cá giảm từ

75%-0% Lipid cao nhất (2,92±0,07) ở nghiệm thức 2 (75% DC), khác biệt

có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với nghiệm thức 5 (0% DC) nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) so với các nghiệm thức còn lại Hiệu quả sử dụng lipid (LER) cao nhất ở nghiệm thức 1 (100% DC) là (11,5±0,50) khác biệt có ý nghĩa thống kê ((p<0,05) so với các nghiệm thức còn lại LER thấp nhất (6,77±0,19) ở nghiệm thức 5 (0% DC) khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) so với nghiệm thức 4 (25% DC) nhưng khác biệt có ý nghĩa thông kê (p<0,05) so với các nghiệm thức còn lại

Trang 5

MỤC LỤC

Trang LỜI CẢM TẠ i

TÓM TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH SÁCH HÌNH BẢNG v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1

1.1 Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu 2

1.3 Nội dung nghiên cứu 2

1.4 Thời gian thực hiện 2

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Đặc điểm sinh học của cá Tra 3

2.1.1 Hệ thống phân loại 3

2.1.2 Đặc điểm dinh dưỡng 3

2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng 5

2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cá da trơn 5

2.2.1 Nhu cầu protein và acid amin 5

2.2.2 Nhu cầu lipid 6

2.2.3 Nhu cầu carbohydrate 7

2.2.4 Nhu cầu vitamin và khoáng chất 8

2.3 Sơ lược về một số loại acid béo (fatty acid) và tình hình nghiên cứu về lipid trên động vật thủy sản 9

CHƯƠNG III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

3.1 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 12

Trang 6

3.2 Phương pháp nghiên cứu 12

3.2.1 Hệ thống thí nghiệm 12

3.2.2 Cá thí nghiệm 13

3.2.3 Thức ăn thí nghiệm 13

3.2.4 Bố trí thí nghiệm 15

3.2.5 Chăm sóc và quản lí 16

3.2.6 Phương pháp thu và xử lí mẫu 16

3.2.6.1 Các chỉ tiêu môi trường 16

3.2.6.2 Các chỉ tiêu dinh dưỡng 16

3.2.6.3 Các chỉ tiêu tính toán 17

3.3 Xử lí số liệu 19

PHẦN IV : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20

4.1 Các chỉ tiêu môi trường 20

4.2 Tỉ lệ sống 21

4.3 Tăng trưởng của cá thí nghiệm 22

4.4 Hệ số chuyển hóa thức ăn 25

4.5 Thành phần hóa học của cá trước và sau thí nghiệm 27

PHẦN V : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 29

5.1 Kết luận 29

5.2 Đề xuất 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

PHỤ LỤC 33

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DC : Dầu cá

DĐN: Dầu đậu nành

SR: Tỉ lệ sống (Survival Rate)

WG: Tăng trọng (Weight Gain)

DWG : Tăng trọng theo ngày (Daily Weight Gain)

FCR: Hệ số chuyển hóa thức ăn (Feed Conversion Ratio)

PER: Hiệu quả sử dụng protein (Protein Efficiency Ratio)

LER: Hiệu quả sử dụng lipid (Lipid Efficiency Ratio)

NPU: Chỉ số protein tích lũy (Net Protein Utilization)

Trang 8

DANH SÁCH HÌNH VÀ BẢNG

Trang Bảng 2.1 Thành phần thức ăn trong ruột cá tra ngoài tự nhiên 4

Bảng 2.2 Nhu cầu protein của cá tra theo giai đoạn phát triển 6

Bảng 3.1 Tỉ lệ các nguyên liệu trong công thức thức ăn 14

Bảng 3.2 Thành hóa học của thức ăn thí nghiệm 16

Bảng 3.3 Tỷ lệ dầu cá và dầu đậu nành trong công thức thức ăn 15

Bảng 4.1 Sự biến động các yếu tố môi trường 20

Bảng 4.2 Tỷ lệ sống của cá tra sau 6 tuần thí nghiệm 21

Bảng 4.3 Tăng trưởng của cá tra sau 6 tuần thí 22

Bảng 4.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra sau 6 tuần thí nghiệm 26

Bảng 4.5 Thành phần hóa học của cá tra trước và sau thí nghiệm 27

Hình 2.1 Hình dạng bên ngoài của cá tra 3

Hình 3.1 Hệ thống thí nghiệm 12

Hình 3.2 Cá thí nghiệm 13

Hình 4.1 Tăng trọng của cá tra sau 6 tuần thí nghiệm 23

Trang 10

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU

1.1 Giới Thiệu

Hiện nay, nghề nuôi cá nước ngọt đang phát triển mạnh mẽ ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) Riêng cá tra, basa diện tích nuôi toàn vùng năm 2010 đạt gần 5.400 ha, tổng sản lượng cá giống đạt gần 2,4 tỷ con, sản lượng cá thu hoạch đạt hơn 1,4 triệu tấn (http://www.vietfish.org) Trong ao nuôi chi phí thức ăn chiếm cao nhất trong tổng chi phí sản xuất, chiếm 81% cho thức ăn tự chế và 90% cho thức ăn viên (Lê Thanh Hùng và Huỳnh Phạm Việt Huy, 2006) Vì vậy cần nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn sẽ góp phần giảm hệ số thức ăn từ đó sẽ giảm chi phí thức ăn cho người nuôi

Trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng trên cá

da trơn như: Nhu cầu đạm cho cá tra giống cỡ 2 gam là 38% (Huỳnh Văn Hiền, 2003; trích bởi Nguyễn Thị Thủy Tiên, 2010) Mức protein thích hợp cho cá tra 10 gam là 32% (Lê Thanh Hùng, 2008) Nhu cầu protein cho cá tra (2-3 gam) từ nguồn protein là bột cá và bột đậu nành là 38% (Trần Thị Thanh Hiền

và ctv, 2004)… Bên cạnh đó cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về nhu cầu lipid: Nhu cầu lipid của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) giống là 8% (Nguyễn

Thị Thủy Tiên, 2010) Mặt khác cũng có một số nghiên cứu về việc sử dụng nhiều nguồn lipid khác nhau trong công thức thức ăn của cá tra như : Nghiên

cứu của (Asdari et al., 2010) bổ sung nguồn lipid là dầu đậu nành trong công

thức thức ăn cho cá tra cỡ 10 gam Nhưng chưa có nghiên cứu nào về tỉ lệ dầu động vật và dầu thực vật thích hợp trong thức ăn cho cá tra giống

Xuất phát từ thực tế trên, đề tài : " Xác định tỷ lệ dầu động vật và dầu thực

vật thích hợp trong công thức thức ăn cho cá tra (Pangasianodon

Trang 11

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm xác định tỉ lệ dầu động vật và dầu thực vật thích

hợp trong khẩu phần ăn của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở giai

đoạn giống nhằm góp phần hoàn thiện công thức thức ăn, giảm chi phí và giá thành sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cho người nuôi

1.3 Nội dung nghiên cứu

Ảnh hưởng của tỉ lệ dầu động vật và dầu thực vật trong công thức thức ăn với các tỉ lệ khác nhau lên tỉ lệ sống của cá tra giống

Ảnh hưởng của tỉ lệ dầu động vật và dầu thực vật trong công thức thức ăn với các tỉ lệ khác nhau lên sinh trưởng của cá tra giống

Ảnh hưởng của tỉ lệ dầu động vật và dầu thực vật trong công thức thức ăn với các tỉ lệ khác nhau lên thành phần hóa học của cá tra giống

1.4 Thời gian thực hiện

Đề tài được thực hiện tại khoa Thủy Sản-trường Đại Học Cần Thơ từ tháng 10/2010  05/2011

Trang 12

Chương II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra

2.1.1 Hệ thống phân loại

Loài cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) được mô tả lần đầu bởi Sauvage

năm 1878 ở Campuchia Trước đây, cá tra được xếp vào họ Schilbeidae và tên

khoa học là Pangasius micronemus Bleeker, 1847 (Mai Đình Yên và ctv,1992;

Trần Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993) Gần đây, một số tác giả lại xếp

cá tra vào một giống khác Pangasianodon hypophthalmus (Komarudin và

Pariselle, 2000; Tana, 2000) Theo kết quả định danh lại của Robert và Vidthayanon (1991), cá tra thuộc:

Hình 2.1 Hình dạng bên ngoài của cá tra

2.1.2 Đặc điểm dinh dưỡng

Cũng như các loài cá khác, cá tra khi hết noãn hoàng thì chuyển sang ăn thức

ăn ngoài, chúng thích ăn mồi tươi sống (chủ yếu là phiêu sinh động vật) Thức

Trang 13

ăn ưa thích của chúng là Cladocera, nhóm Rotifer cũng xuất hiện nhiều trong

dạ dày nhưng do kích thước nhỏ nên vai trò dinh dưỡng của Rotifer không cao Nếu ương trong bể, cá có thể sử dụng một số loại thức ăn khác như: Artermia, trùn chỉ, Moina, Rotifer Tuy nhiên ấu trùng Artermia và trùn chỉ cho tỉ lệ sống

cao và sinh trưởng của cá tốt nhất (Lê Thanh Hùng và ctv, 2002; trích bởi

Dương Thúy Yên, 2003)

Ngay khi vừa hết noãn hoàng cá thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau, do đó

để tránh hao hụt do ăn nhau trong bể ấp, cần nhanh chóng chuyển cá ra ao ương Trong quá trình ương nuôi thành cá giống trong ao, chúng ăn các loại phù du động vật có kích thước vừa cỡ miệng của chúng và các thức ăn nhân tạo Khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng

dễ chuyển đổi loại thức ăn Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các loại thức ăn bắt buộc khác như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc động vật Trong ao nuôi, cá có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn khác nhau như cám, rau, động vật đáy, phế phẩm của các nhà máy chế biến thủy sản, thức ăn chế biến dạng ẩm với hàm lượng protein thấp Nhìn chung, cá tra có tính ăn tạp thiên về động vật (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)

Bảng 2.1 Thành phần thức ăn trong ruột cá tra ngoài tự nhiên

Trang 14

2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng

Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, cá nhỏ tăng nhanh về chiều dài

Cá ương trong ao sau 2 tháng đạt chiều dài 10-2 cm (14-15 gam) Từ khoảng 2,5 kg trở đi, mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể Cỡ

cá trên 10 tuổi trong tự nhiên (ở Campuchia) tăng trọng rất ít Cá trong tự nhiên

có thể sống trên 20 năm Ðã gặp cỡ cá trong tự nhiên 18 kg hoặc có mẫu cá dài tới 1,8 m Trong ao nuôi vỗ, cá bố mẹ có thể đạt tới 25 kg (10 năm tuổi) Nuôi trong ao 1 năm cá đạt 1-1,5 kg/con (năm đầu tiên), những năm về sau cá tăng trọng nhanh hơn, có khi đạt tới 5-6 kg/năm tùy thuộc môi trường sống và sự cung cấp thức ăn cũng như loại thức ăn có hàm lượng đạm nhiều hay ít

Ðộ béo Fulton (mỡ) của cá tăng dần theo trọng lượng và nhanh nhất ở những năm đầu, qua các năm sau độ béo biến đổi không đáng kể: cá có khối lượng 11,2 gam có độ béo 0,99%, cá 560 gam có độ béo 1,6%, nhưng cá 3 tuổi nặng 3,62 kg thì có độ béo 1,62% Cá đực thường có độ béo cao hơn cá cái và độ béo thường giảm khi vào mùa sinh sản (Trần Thanh Xuân, 1994; trích bởi Hải Đăng Phương, 2006)

2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cá da trơn

2.2.1 Nhu cầu protein và acid amin

Theo kết quả nghiên cứu của Huỳnh Văn Hiền (2003; trích bởi Nguyễn Thị Thủy Tiên, 2010) nhu cầu protein cho cá tra giống cỡ nhỏ (2 gam) sinh trưởng tối đa là 38% Kết quả nghiên cứu mức protein thích hợp cho cá tra và basa (5-

6 gam) lần lượt là 27,8% và 32,2% (Lê Thanh Hùng và ctv, 2000) Những kết quả trên cho thấy cá tra giai đoạn nhỏ có nhu cầu protein cao hơn giai đoạn lớn Nhu cầu protein của đa số các loài cá da trơn bột là 40%, cá hương 30-35%, cá

110 gam trở lên là 25-30% (NRC, 1993) Nhu cầu protein trên cá basa giống cỡ nhỏ (16,4 -16,9gam) là 34,3% (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 1998)

Trang 15

Bảng 2.2: Nhu cầu protein của cá tra theo giai đoạn phát triển

Cỡ cá (gam) Hàm lượng protein (%)

(Nguồn: Glencross et al., 2007 trích bởi Trần Thị Thanh Hiền và

Nguyễn Anh Tuấn, 2009)

Nhu cầu acid amin thường được tính theo % trong protein thức ăn Nhu cầu lysine của cá tra là 5,35% trong protein thức ăn Khi hàm lượng protein của thức ăn là 38% thì nhu cầu lysine trong thức ăn là 2,03% Nhu cầu acid amin thiết yếu thay đổi theo hàm lượng protein trong thức ăn (Trần Thị Thanh Hiền

và Nguyễn Anh Tuấn, 2009)

2.2.2 Nhu cầu lipid

Lipid là một trong những thành phần sinh hóa cơ bản của động thực vật Các thành phần của thức ăn thường được nghiên cứu là protein, lipid, glucid, vitamin và khoáng chất Trong đó lipid đóng vai trò quan trọng như nguồn cung cấp năng lượng (8-9 Kcal/gam) và các acid béo cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của động vật thủy sản

Lipid trong cơ thể sinh vật có 2 chức năng chính: cung cấp, dự trữ năng lượng

và tham gia vào cấu trúc màng tế bào, giữ cho các màng cơ ổn định Ngoài ra, lipid còn tham gia vào các biến dưỡng trung gian trong cơ thể sinh vật

Năng lượng thức ăn không được sử dụng ngay mà thường được dự trữ dưới dạng glycogen và mỡ Trong động vật thủy sản khả năng dự trữ glycogen rất thấp nên mỡ là dạng dự trữ năng lượng chính (Lê Thanh Hùng, 2008)

Lipid được dự trữ trong gan, cơ và các dạng mô mỡ bao quanh thành ruột, hay tạo lớp mỡ rất lớn như cá basa chiếm 25% thể trọng khi cá ăn thức ăn có quá nhiều năng lượng (Lê Thanh Hùng, 2008)

Trang 16

Nhu cầu lipid của động vật thủy sản được xác định dựa vào nhu cầu về năng lượng, acid béo cần thiết, phospholipid và cholesterol cũng như đặc điểm sống

và dự trữ lipid của loài Mức sử dụng lipid tối đa trong thức ăn cho cá tra là 8% lipid (Trần Thị Thanh Hiền, 2009)

4-Mức sử dụng tối đa lipid trong thức ăn cho cá nheo Mỹ 10%, cá trê phi 10% Các loài cá da trơn có thể sử dụng mức lipid trong thức ăn khá lớn Cá nheo Mỹ vẫn tăng trưởng tốt ở mức lipid 15% hoặc lớn hơn nhưng sẽ ảnh đến chất lượng thịt cá do có sự tích lũy mỡ (Wilson và Moreau, 1996; trích bởi Lê Thanh Hùng, 2008)

7-Đối với cá nước ngọt hàm lượng lipid thay đổi theo loài, nhưng mức đề nghị từ 6-10% Đối với các loài cá biển, đặc biệt là những loài ôn đới lipid trong thức

ăn chiếm 15 - 20% (Trần Thị Thanh Hiền, 2008)

Nhu cầu lipid cho cá rô đồng giống là 6% (Trần Lê Cẩm Tú, 2004) Nhu cầu lipid của cá tra giống là 8% (Nguyễn Thị Thủy Tiên, 2010) Theo Nguyễn Thanh Phương (1998) cá basa cho ăn 7,7% lipid tăng trưởng tốt nhất và cá giảm tăng trưởng khi lipid từ 11,3-20,8%

Lipid bổ sung vào thức ăn thường là dầu động vật (dầu mực, dầu cá ) và dầu thực vật (dầu đậu nành) Đối với các loài thủy sản nước lợ việc bổ sung thường xuyên là rất cần thiết đặc biệt là PUFA và HUFA (EPA và DHA), một số loài cần các acid béo thuộc nhóm n-3, còn giáp xác thì cần sterol (Phạm Minh Thành, 2001)

Theo xu hướng hiện nay, nhà sản xuất thức ăn thường sử dụng nhiều tinh bột và lipid để cung cấp năng lượng thay thế cho protein Do cá có khả năng sự dụng hạn chế tinh bột nên lipid được xem là nguồn năng lượng chính của một số loài

cá da trơn (Trần Văn Nhì, 2005)

2.2.3 Nhu cầu Carbohydrate

Carbohydrate là nguồn năng lượng rẻ tiền nên tỉ lệ của nó trong thức ăn thích hợp sẽ giảm được giá thành thức ăn nhưng vẫn đảm bảo được sự sinh trưởng của cá như tinh bột Carbohydrate chiếm tỉ lệ trên 75% ở thực vật, trong khi ở động vật hiện diện với số lượng nhỏ và tồn tại dưới dạng glycogen (Lê Thanh Hùng, 2008) Nhu cầu carbohydrate của cá rô đồng giai đoạn giống cho tăng trưởng cao nhất ở mức 40-45% (Trần Lê Cẩm Tú, 2004)

Trang 17

Theo Wilson và Moreau (1996) đề nghị cá nheo Mỹ sử dụng hiệu quả carbohydrate trong thức ăn là 20-30% (trích bởi Nguyễn Thanh Phương, 1998)

Thức ăn chứa 26% carbohydrate cho sinh trưởng tốt nhất ở cá Pangasius

carbohydrate tốt hơn (40-46,2%), mức carbohydrate và lipid thích hợp là 35,5%

và 7,7% (Nguyễn Thanh Phương, 1998)

Khả năng tiêu thụ carbohydrate tùy thuộc vào tập tính dinh dưỡng của từng loài Khả năng sử dụng carbohydrate trên ba loài cá tra, cá basa, cá hú ở giai đoạn giống cho thấy hàm lượng carbohydrate tối ưu của cá hú (cỡ 5,1 gam) là 35%, cá tra (cỡ 2,9 gam) là 35-45%, cá basa (cỡ 5,13 gam) là 20-45% (Trần

Thị Thanh Hiền và ctv, 2004)

2.2.4 Nhu cầu Vitamin và khoáng chất

Vitamin đóng vai trò quan trọng trong thành phần dinh dưỡng của động vật thủy sản Vitamin chỉ chiếm một lượng nhỏ trong thành phần thức ăn (1-2%) nhưng nó có vai trò quyết định trong quá trình trao đổi chất của cơ thể và chi phí có thể chiếm 15% trong khẩu phần thức ăn (Trần Thị Thanh Hiền, 2004) Trong số rất nhiều vitamin thì vitamin C được đánh giá là cần thiết cho tôm cá Nếu thiếu vitamin C thì cá dễ mắc một số bệnh như: cá Trê phi thiếu vitamin C

sẽ bị xuất huyết đầu, ăn mòn vây, mõm và mang (Eya, 1996), cá chép thiếu vitamin C sẽ bị cong thân, ăn mòn vây đuôi, biến dạng mang và uốn cong mõm (Sato, 1978; Dabrowksi, 1988), (trích bởi Trần Thị Thanh Hiền, 2004)

Theo Robinson (1989) nhu cầu vitamin A của cá nheo Mỹ là 450-900 UI/kg thức ăn Theo Butthep và ctv (1985) (được trích bởi Tacon, 1991) là 1000-2000 mg/kg (trích bởi Lê Thanh Hùng, 2008)

Chất khoáng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của động vật thủy sản: xây dựng cơ thể, tham gia vào quá tình o đổi chất, dùy trì chức năng sinh lí (Trần Thị Thanh Hiền, 2004) Hiện nay người ta đã xác định được 11 nguyên tố cần thiết cho cá da trơn gồm 4 nguyên tố đa lượng (Ca, P, Mg, K) và 7 nguyên

tố vi lượng (Fe, Pb, Cu, Mn, I, Co, Se)

Cá nheo Mỹ có thể hấp thu Ca từ môi trường nước đáp ứng đủ cho nhu cầu của

cơ thể (Robinson; 1989 trích bởi Dương Thúy Yên, 2000)

Trang 18

2.3 Sơ lược về một số một số loại acid béo (fattty acid) và tình hình nghiên cứu về lipid cho trên động vật thủy sản

Acid béo là thành phần chính trong lipid Mỗi acid béo được đặc trưng bởi chiều dài chuỗi cacbon, số nối đôi và vị trí nối đôi trên chuỗi cacbon Acid béo tồn tại rất ít ở dạng tự do hoặc acylate, phần lớn là trạng thái ester hóa (Trần Thị Thanh Hiền, 2004)

Lipid của động vật thủy sản chứa nhiều acid béo cao phân tử không no (đặc biệt

là n-3, n-6) hơn động vật trên cạn Nhóm acid béo không no, mạch cacbon từ

18 cacbon trở lên và có ít nhất 2 nối đôi gọi là PUFA (poly unsaturated fatty acid) Nhóm acid béo không no, mạch cacbon từ 20 cacbon trở lên và có ít nhất

3 nối đôi như: 20:3n-3, 22:4n-3, 22:3n-6 gọi là HUPA (highly unsaturated fatty acid)

Các acid béo thiết yếu (essential fatty acid - EFA) có vai trò rất quan trọng trong trong biến dưỡng, nếu thiếu sẽ dẫn đến giảm tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ sống của ấu trùng của các loài thủy sản trong ương nuôi (Lê Thanh Hùng, 2008)

Nhìn chung động vật thủy sản cần acid béo n-3 PUFA (như nhu cầu acid béo 18:3n-3 là 1-2%) Yêu cầu đối với các acid béo mạch dài hơn (HUFA) như 20:n-3, 22:5n-3, 22:6n-3 thấp hơn Cá nước ngọt thường chứa nhiều acid béo

C18 và C16, ngược lại cá biển chứa nhiều acid béo, chuỗi cacbon nhiều hơn C20

và C22 Động vật thủy sản nước ngọt chứa nhiều acid béo n-6 hơn động vật thủy sản biển Tỉ lệ n-6:n-3 là 0,37 ở cá nước ngọt và 0,16 ở cá biển Tỉ lệ acid béo trong cá thay đổi rất lớn theo tỉ lệ n-6:n-3 trong thức ăn Khi cho cá ăn thức ăn chứa nhiều n-6 như mỡ bò, dầu thực vật tỉ lệ n-6:n-3 tăng lên, ngược lại khi cho

ăn thức ăn chứa nhiều chứa nhiều n-3 như dầu động vật biển tỉ lệ n-6:n-3 giảm (Trần Thị Thanh Hiền, 2009)

Theo nghiên cứu của Castell (1979; trích bởi Lê Thanh Hùng, 2008) phân tích thành phần acid béo của hơn 30 loài cá nước ngọt và biển đã đưa ra kết luận: tỉ

lệ n-6:n-3 là 0,34 ở cá nước ngọt và 0,15 ở cá biển

Mỗi loài cá có nhu cầu acid béo khác nhau tùy thuộc điều kiện môi trường và

cấu tạo cơ thể Cá da trơn Mỹ (Ictaluric punctalus) có nhu cầu acid béo khoảng 1%, cá rô phi (O.niloticus) có nhu cầu 1% của 18:2n-6 Các loài cá biển như vền (Chysophrys major) có nhu cầu 0,5% acid béo 20:5n-3 và 22:6n-3 (Lê

Thanh Hùng, 2008)

Trang 19

Cá trê có khả năng sử dụng cao các nguồn lipid từ dầu thực vật và mỡ động vật,

cá có thể sử dụng 10% lipid trong thức ăn Cá rô phi khi bổ sung 5% lipid từ dầu bắp hay dầu olive sẽ mang lại hiệu quả sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn cao hơn khi bổ sung 5% lipid từ dầu gan cá thu Ở cá hồi người ta thường sử dụng lipid để thay thế tinh bột do khả năng sử dụng tinh bột của cá hạn chế, cá có thể sử dụng hiệu quả dầu cá, dầu mực 15-20%, và một tỉ lệ nhỏ dầu đậu nành để bổ sung n-6 acid béo thiết yếu và là nguồn cung cấp phospholipid (như lecithin) (Lê Thanh Hùng, 2008)

Nguyên liệu chế biến thức ăn thủy sản thường có sẵn lipid chỉ bổ sung thêm khoảng 2-3% dầu, tùy từng đối tượng mà có thể bổ sung dầu thực vật hay dầu động vật hoặc cả hai Ngoài việc cung cấp acid béo, việc bổ sung dầu còn có tác dụng tạo mùi cho thức ăn (Trần Thị Thanh Hiền, 2004)

Một số nghiên cứu về nhu cầu lipid: Theo Nguyễn Thanh Phương (1998) cá basa có trọng lượng 16,4-16,9 gam tăng trưởng nhanh nhất ở mức lipid 7,7% và

tăng chậm nhất ở mức lipid 20,8% Theo nghiên cứu của Ji-Teng Wang et al., (2005) thì tăng trọng của cá bớp (Rachycentron canadum) ở mức lipid 5% cao

hơn mức 25% (trích bởi Nguyễn Thị Thủy Tiên, 2010) Cá rô đồng tăng trưởng tốt nhất ở mức lipid 6% và thấp nhất ở mức 3% (đạm 32% và carbohydrate 45%) (Trần Lê Cẩm Tú, 2004) Nghiên cứu xác định nhu cầu lipid của cá tra

(Pangasianodon hypophthalmus) giống của Nguyễn Thị Thủy Tiên (2010)

được tiến hành với 6 nghiệm thức 2%, 4%, 6%, 8%, 10%, 12% cho kết quả cá tăng trọng tối ưu ở mức lipid 8%

Thí nghiệm của Shapawi et al., (2008) trên cá humpback grouper, Cromileptes

10% và mức protein 50% Trong đó hàm lượng lipid được cung cấp từ các nguồn khác nhau: dầu cọ (crude palm oil-CPO), dầu palm olein (RBDPO), dầu đậu nành (soybean oil-SBO), dầu cải (canola oil-CNO) và dầu cá Tuyết (cod liver oil-CLO) Kết thúc thí nghiệm cá tăng trọng cao nhất ở nghiệm thức chứa dầu cá Tuyết (25 gam) Kết quả phân tích thành phần hóa học trong cơ và gan

cá sau thí nghiệm cho thấy nghiệm thức thức ăn chứa dầu cá Tuyết thành phần các acid béo n-3 (HUFA) cao hơn và tỉ lệ các acid béo C18:2n-6 sẽ thấp hơn so với thức ăn chứa chứa lipid có nguồn gốc thực vật và tỉ lệ (n-3:n-6) là 3

Thí nghiệm trên cá Jundia´ (Rhamdia quelen Quoy and Gaimard, 1824), (họ cá

trê), trọng lượng (1±0,2 gam) với hàm lượng đạm 37%, lipid 10% và năng lượng (19 KJ/gam) Thí nghiệm với 5 nghiệm thức có 5% lipid giống nhau 5%

Trang 20

còn lại được bổ sung từ các nguồn lipid khác nhau là dầu cá (FO), dầu bắp (CO) và dầu hạt lanh (LO) Kết thúc thí nghiệm cá tăng trọng cao nhất ở nghiệm thức chứa 100% dầu bắp Hàm lượng HUFA cao nhất ở nghiệm thức chứa dầu cá (9,9%), kế đến là nghiệm thức chứa dầu hạt lanh (5,3%) và thấp

nhất ở nghiệm thức chứa dầu bắp (3,6%) (Vargas et al., 2008)

Thí nghiệm trên cá tra trọng lượng (10-0,7 gam) với cùng hàm lượng lipid được bổ sung vào công thức thức ăn từ các nguồn khác nhau: dầu cá (FO), dầu đậu nành (SBO), dầu cọ (CPO) hoặc dầu hạt lanh (LO) Kết quả cá tăng trọng cao nhất (27,18 gam) ở nghiệm thức chứa dầu đậu nành Thành phần các acid béo trong gan và cơ cá chịu ảnh hưởng bởi thức ăn, hàm lượng PUFA chiếm 34,5% ở nghiệm thức chứa dầu đậu nành, 34,3 % ở nghiệm thức chứa dầu hạt lanh, 23,8% ở nghiệm thức chứa dầu cá và 15,7% ở nghiệm nghiệm thức dầu

cọ (Asdari et al., 2011)

Theo nghiên cứu của Raso and Anderson (2003) trên cá chẽm trắng (Lates

và dầu hạt lanh Kết quả cho thấy sự tăng trưởng của cá bị ảnh hưởng khi thay thế dầu cá bởi dầu cải và dầu hạt lanh, khi thay thế bằng dầu đậu nành thì ảnh hưởng không đáng kể Do dầu đậu nành chứa 55% LOA (linoleic acids ,C18:2n-6)

sẽ thay đổi tỉ lệ n-3:n-6, còn dầu cải và dầu hạt lanh chứa ít acid béo n-6, nhiều acid béo n-3 hơn dầu đậu nành nên không cung cấp đủ acid béo cho sự sinh trưởng của cá

Nghiên cứu của J Gordon Bell et al., (2002) về khả năng thay thế dầu cá bởi

dầu cọ trong thức ăn của cá hồi Đại Dương (trọng lượng 55 gam) Thí nghiệm với 4 nghiệm thức có cùng mức protein là 47% và lipid là 28% Nhưng tỷ lệ dầu cá được thay thế bởi dầu cọ với các mức lần luợt là 0%, 25%, 50%, 100%

Kết quả cho thấy cá tăng trọng cao nhất ở nghiệm thức 25% dầu cọ (363 gam)

Trang 21

CHƯƠNG III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

Đối tượng thí nghiệm: cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) được chọn từ đàn cá giống sinh sản nhân tạo, cá có khối lượng trung bình khoảng 8,47 gam/con, chọn con giống đồng cỡ, khỏe mạnh, không bị bệnh tật, xây xát Nguyên liệu làm thức ăn cho cá: bột cá Kiên Giang, bột đậu nành, bột mì tinh, dầu cá biển, dầu thực vật, vitamin, khoáng và chất kết dính

Hóa chất: petroleum ether, chloroform, chlorine, formol, H2O2, H2SO4, NaOH, dung dịch boric Bể composite 2m3 (1 cái), bể nhựa 80 L (15 cái)

Hệ thống máy bơm, sục khí và lưới che chắn cho bể Dụng cụ kiểm tra môi trường: máy đo oxy, pH, nhiệt kế

Dụng cụ trong phòng thí nghiệm: tủ nung, tủ sấy, tủ đông, hệ thống đun lọc xơ,

bộ máy phân tích đạm Kjedahl, hệ thống phân tích lipid Gerhardt, cân điện

Ngày đăng: 09/04/2018, 20:32

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w