TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠKHOA THUỶ SẢN LÊ HỮU LỢI THỰC NGHIỆM NUÔI THƯƠNG PHẨM CÁ LÓC Channa striata TRONG GIAI ĐẶT TRONG AO ĐẤT BẰNG THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN LAI VUNG – TỈNH ĐỒNG TH
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
LÊ HỮU LỢI
THỰC NGHIỆM NUÔI THƯƠNG PHẨM CÁ LÓC
(Channa striata) TRONG GIAI ĐẶT TRONG AO ĐẤT
BẰNG THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN LAI VUNG – TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
LÊ HỮU LỢI
THỰC NGHIỆM NUÔI THƯƠNG PHẨM CÁ LÓC
(Channa striata) TRONG GIAI ĐẶT TRONG AO ĐẤT
BẰNG THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN LAI VUNG – TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Ths NGUYỄN VĂN TRIỀU Ths NGUYỄN THANH HIỆU
2013
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Đầu tiên tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến các quý Thầy cô khoa Thủy Sản trường Đại Học Cần Thơ, đã truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học và nghiên cứu tại trường Tôi chân thành gửi lòng biết
ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Văn Triều, thầy Nguyễn Thanh Hiệu và thầy Dương Nhựt Long đã tận tình hướng dẫn cũng như luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Đồng thời xin gởi lời cảm ơn đến thầy cố vấn học tập, các thầy cô và các anh chị Bộ môn Kỹ Thuật Nuôi Nước Ngọt đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin được gởi lời cám ơn đến những anh chị công tác tại Trạm thủy sản Huyện Lai Vung, Tỉnh Đồng Tháp và các hộ nông dân đã tạo điều kiện và chia
sẽ kinh nghiệm cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp NTTS LTK37 đã hết lòng ủng hộ, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Chân thành cảm ơn!
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nuôi cá lóc trong giai đặt trong ao đất bằng thức ăn công nghiệp được thực hiện nhằm mục tiêu khảo sát sự tăng trọng, tỉ lệ sống, năng suất và hiệu quả mô hình, làm cơ sở khoa học góp phần bổ sung dữ liệu xây dựng quy trình kỹ thuật nuôi cá lóc cho người nuôi ở huyện Lai Vung Thực nghiệm được bố trí trong 3 giai có thể tích 30 m3 (2,5 m x 6 m x 2 m) đặt trong 3 ao đất ở 3 hộ thuộc huyện Lai Vung thức ăn được sử dụng là 100% thức ăn công nghiệp hàm lượng đạm 40% Mật độ thả 66,7 con/m3 Các yếu tố môi trường nuôi cá lóc nằm trong khoảng thích hợp cho sự sinh trưởng của cá Sau 4 tháng nuôi, cá lóc có khối lượng trung bình đạt 400±18,25 g/con, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng của cá từ 3,85±0,19 g/ngày, hệ số tiêu tốn thức
ăn dao động từ 1,13 – 1,3, tỉ lệ sống đạt 71,15±2,1%, năng suất đạt 16,99±0,09 kg/m3 Nuôi cá lóc trong giai đặt trong ao đất sử dụng thức ăn công nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao, tỉ suất lợi nhuận đạt 41,24±7,7% Mô hình này thích hợp cho các hộ nghèo có ít đất sản xuất
Trang 5MỤC LỤC
Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu đề tài 1
1.3 Nội dung đề tài 2
1.4 Thời gian thực hiện đề tài 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá lóc 3
2.1.1 Đặc điểm phân loại 3
2.1.2 Đặc điểm hình thái 4
2.1.3 Đặc điểm phân bố và khả năng thích nghi 4
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 4
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 5
2.1.6 Đặc điểm sinh sản 5
2.2 Các mô hình nuôi cá lóc thương phẩm 6
2.2.1 Nuôi cá lóc trong ao đất 6
Hình: 2.2 Thu hoạch cá 8
2.2.2 Nuôi cá lóc trong giai đặt trong ao đất 8
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
3.1 Vật liệu nghiên cứu 10
3.2 Phương pháp nghiên cứu 10
3.2.1 Hiện trạng nuôi cá lóc ở huyện Lai Vung 10
3.2.2 Thực nghiệm nuôi 10
e) Phòng và trị bệnh 13
3.2.3 Phương pháp thu mẫu 13
3.2.4 Phương pháp tính và xử lý số liệu 14
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 Hiện trạng nuôi cá lóc ở huyện Lai Vung 16
4.1.1 Thông tin về tuổi, số năm kinh nghiệm, trình độ văn hoá và sử dụng lao động của hộ nuôi cá lóc 16
4.1.2 Các thông tin về kỹ thuật nuôi cá lóc 17
Trang 64.1.3 Thuận lợi và khó khăn trong nuôi cá lóc 21
4.2 Thực nghiệm nuôi 22
4.2.1 Một số yếu tố môi trường 22
4.2.2 Khối lượng trung bình, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng
23
4.2.3 Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR), tỉ lệ cá gù, tỉ lệ sống và năng suất 25
4.2.4 Hiệu quả kinh tế 25
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 27
5.1 Kết luận 27
5.2 Đề xuất 27
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1 Danh sách các hộ nuôi thực nghiệm 11
Bảng 3.1 Theo dõi khẩu phần, cỡ thức ăn và số lần cho ăn 12
Bảng 4.1 Số năm kinh nghiệm và thông tin về sử dụng lao động của hộ nuôi cá lóc 16
Bảng 4.4 Diện tích, độ sâu ao nuôi 18
Bảng 4.5 Mật độ thả nuôi và tỉ lệ thay nước 18
Bảng 4.7 Tỉ lệ các bệnh trên cá lóc 19
Bảng 4.8 Tỉ lệ sử dụng các loại thưc ăn cho cá lóc 20
Bảng 4.9 Kết quả khảo sát về tỉ lệ sống, năng suất và lợi nhuận của các hộ nuôi cá lóc tại huyện Lai Vung 21
Bảng 4.10 Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường nước ao nuôi 22
Bảng 4.11 Kết quả về khối lượng trung bình và tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng 24
Bảng 4.2 Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR), tỉ lệ gù, tỉ lệ sống và năng suất 25
Bảng 4.13 Hiệu quả kinh tế mô hình nuôi 26
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Cá lóc (Channa striata) 3
Hình 2.2 Thu hoạch cá 8
Hình 3.1 Giai nuôi cá lóc 11
Hình 3.2 Thức ăn công nghiệp 12
Hình 3.3 Cân mẫu cá lóc 13
Hình 3.4 Test môi trường ao nuôi 14
Hình 4.1 Trình độ văn hóa hộ nuôi cá lóc 17
Trang 9Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Giới thiệu
Giá trị của ngành thủy sản mang lại đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển của các nước, cung cấp sản phẩm thiết yếu cho con người cũng như đóng góp rất tích cực vào an toàn thực phẩm, tạo thêm nguồn ngoại tệ, giải quyết nhiều công ăn việc làm Sản phẩm thủy sản được xem là nguồn đạm động vật
rẻ tiền cho người nghèo và là nguồn dinh dưỡng ít nguy hiểm cho người giàu (Lê Xuân Sinh, 2008) Tuy nhiên, hiện nay do nhu cầu ngày càng cao của con người, sản lượng khai thác thủy sản ngày càng giảm chưa đáp ứng đủ nhu cầu nên sản lượng thủy sản từ hoạt động nuôi trồng có xu hướng tăng lên
Trong 20 năm (1986-2005) đất nước đổi mới ngành thủy sản có sự tăng trưởng liên tục qua từng năm, đến năm 2006 tổng sản lượng thủy sản đạt 3.695.729 tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 1.694.276 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy hải sản đạt khoảng 3 tỷ USD, thu hút lao động khoảng 4 triệu người, ngành thủy sản đã trở thành một ngành kinh tế công – nông nghiệp có tốc độ phát triển cao, quy mô ngày càng lớn, góp phần ổn định
và phát triển đất nước (Hội nghề cá Việt Nam, 2007)
Trong phong trào nuôi cá thâm canh, đặc biệt là cá lóc đã phát triển khắp nơi bằng hình thức nuôi trong ao đất, nuôi trong giai lưới đặt trên sông, đặt trong ao Nuôi cá lóc thâm canh đang phát huy vai trò thế mạnh và mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng hầu hết là người dân nuôi theo kinh nghiệm, chưa có kỹ thuật cao dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa ổn định Nuôi cá Lóc trong giai là mô hình thủy sản mới có nhiều ưu điểm như: thiết kế giai đơn giản, dễ quản lý bệnh, dễ chăm sóc, không cần diện tích rộng Tuy nhên, hiện nay nguồn thức ăn cá tạp tự nhiên khan hiếm, chi phí thức ăn tăng cao nên cần nghiên cứu tìm ra nguồn thức ăn có thể thay thế có hiệu quả kinh tế Chính vì
vậy, đề tài “Thực nghiệm nuôi thương phẩm cá Lóc (Channa sp.) trong giai
đặt trong ao đất bằng thức ăn công nghiệp tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng
Tháp ” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu đề tài
Đề tài thực hiện nhằm mục tiêu khảo sát các yếu tố kỹ thuật và kinh tế của mô hình nuôi cá lóc trong giai bằng thức ăn công nghiệp, làm cơ sở khoa học góp phần bổ sung dữ liệu xây dựng quy trình kỹ thuật nuôi cá lóc cho người nuôi ở huyện Lai Vung – Tỉnh Đồng Tháp
Trang 101.3 Nội dung đề tài
Khảo sát hiện trạng nuôi cá lóc tại huyện Lai Vung – Tỉnh Đồng Tháp.Theo dõi một số yếu tố môi trường nước, tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ sống, năng suất cá nuôi và đánh giá hiệu quả lợi nhuận của mô hình
1.4 Thời gian thực hiện đề tài
Đề tài thực hiện từ 10/2012 đến 04/2013
Trang 11Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học của cá lóc
2.1.1 Đặc điểm phân loại
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), ở miền Nam
Việt Nam có 4 loài cá Lóc: Channa striata (cá lóc đen), Channa micropeltes (cá lóc bông), Channa lucius (cá dầy), và Channa gachua (cá chành dục).
Bốn loài cá này có nhiều đặc điểm giống nhau như thân hình ống dài, vây đuôi tròn, trên thân có nhiều vạch sắc tố và có một số đặt điểm riêng như
cá lóc bông có 2 sọc thẫm chạy từ đàu tới đuôi, loài cá lóc đen thì vây đuôi và vây hậu môn có các chấm màu đen, trong khi cá chành dục mút vây lưng và vây đuôi có màu đỏ (Mai Đình Yên, 1992)
Cá lóc nuôi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long hiện nay thuộc:
Trang 122.1.2 Đặc điểm hình thái
Cá lóc có đầu lớn, đỉnh đầu rất rộng và dẹp bằng, mõm ngắn, miệng to hướng lên, rạch miệng xiên và kéo dài qua đường thẳng đứng kể từ bờ sau của mắt Răng bén nhọn, cá không có râu, mắt lớn, lỗ mang lớn Thân dài, hình trụ, tròn ở phần trước và dẹp bên ở phần sau Vảy lược lớn, phủ khắp thân và đầu Đường bên hoàn toàn gãy khúc ở hai nơi khoảng vảy 15 – 20 và thụt xuống 2 hàng vảy, phần sau của đường bên chạy liên tục khoảng giữa thân (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Cũng theo tác giả trên, lúc cá sống có màu xanh đen, nâu đen đến đen ở phần lưng và nhạt dần xuống bụng, bụng cá có màu trắng sữa Đối với cá nhỏ
ở hai bên hông có từ 10 – 14 sọc đen lợt vắt xéo ngang thân, các sọc này lợt dần và mất hẳn ở cá lớn Vi lưng, vi hậu môn, vi đuôi có các đốm đen vắt ngang qua các tia vi (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
2.1.3 Đặc điểm phân bố và khả năng thích nghi
Cá lóc sống ở nước ngọt, có thể sống được ở nước lợ với nồng độ muối nhỏ hơn 15‰, chúng sống ở sông suối, ao đìa và đồng ruộng Vùng phân bố rộng từ Trung Quốc đến Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Miến Điện,
Ấn Độ, Philippin (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, ngoài bốn loài cá lóc đã được phát hiện
từ lâu là: cá lóc thường (Ophicephalus striatus Bloch, 1972), cá lóc bông (Ophicephalus micropeltes Cuvier và Valenciennes), cá chành dục (Ophicephalus gachua Hanmilton) và cá dày (Ophicephalus lucius Cuvier và Valenciennes) thì còn có cá lóc môi trề (Channa sp), nó được tìm ra ở tỉnh
Đồng Tháp và vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long vào năm 1997 Loài cá này
có tốc độ tăng trưởng rất nhanh nên người dân rất thích nuôi Hiện nay cá lóc môi trề được nuôi nhiều hơn cả cá lóc thường và cá lóc bông và có sinh khối lúc thu hoạch nuôi nhiều nhất trong các loài cá lóc Một số nơi còn nuôi cá lai giữa cá lóc thường và cá lóc môi trề (Phạm Văn Khánh và Lý Thị Thanh Loan, 2004)
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá lóc là loài cá dữ, có dạng hình thon dài Lược mang dạng hình núm Thực quản ngắn, vách dày, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn, dạ dày to
và là loài có tính ăn động vật điển hình (Dương Nhựt Long, 2003)
Cá mới nở còn sử dụng dinh dưỡng từ khối noãn hoàng Từ ngày thứ 4 –
5, khi noãn hoàng đã hết, cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài Lúc này cá bột ăn
Trang 13được các loài động vật phù du vừa cỡ miệng của chúng như luân trùng, trứng nước Khi cá dài cỡ 5 – 6 cm chúng đã có thể rượt bắt các loài tép và cá có kích cỡ nhỏ hơn chúng Khi cơ thể đạt chiều dài trên 10 cm, cá đã có tập tính
ăn như cá trưởng thành (Phạm Văn Khánh, 2003)
Ở nhiệt độ 20 – 35 0C, sau 3 ngày trứng sẽ nở thành cá bột, cá bột khoảng 3 ngày sau cá tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu ăn được thức ăn tự nhiên
bên ngoài Sau khi nở, luân trùng (Brachionus plicatilis) được xem là thức ăn
đầu tiên tốt nhất của cá bột Ngoài ra có thể cho cá ăn nấm men, lòng đỏ trứng hay thức ăn tổng hợp dạng bột Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước (Moina), Daphnia hay trùn chỉ, ấu trùng muỗi đỏ Giai đoạn cá giống, sâu gạo và dòi là thức ăn ưa thích của cá Một số thí nghiệm trên cá bột cho thấy cá có khả năng
sử dụng thức ăn trứng nước kết hợp với đạm đơn bào Thức ăn Moina vẫn là thức ăn tốt nhất đối với cá bột trong 3 tuần lễ đầu Rhizopus arrhizus hay đạm đơn bào (125μm) được sản xuất từ kỹ thuật lên men sử dụng dầu cọ làm nguồn carbon chính Giai đoạn cá lớn thường cho ăn cá tạp, phụ phế phẩm từ các nhà máy chế biến đầu tép, tôm, ếch, cá hay thức ăn chế biến và thức ăn viên Cá lớn nhanh vào mùa xuân – hè (Dương Nhựt Long, 2003)
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Giai đoạn nhỏ, cá tăng trưởng chủ yếu về chiều dài Cá càng lớn thì sự tăng trọng cũng nhanh hơn Trong tự nhiên, sức lớn của cá không đều, phụ thuộc vào điều kiện thức ăn và chăm sóc tốt cá có thể lớn từ 0,5 – 0,8 kg/năm
và đạt được tỉ lệ sống cao và ổn định (Phạm Văn Khánh, 2003) Trong điều kiện nuôi cá lóc thương phẩm trong ao đất sau 6 tháng nuôi trong lượng có thể
từ 0,8 – 1kg/con, trong giai có thể từ 1,2 – 1,5kg/con (Dương Nhựt Long) Tốc
độ lớn tương đối nhanh, ở nhiệt độ nước 20 – 30 0C cá lớn nhanh nhất, dưới 15
0C hầu như cá ngừng lớn Cá 1 năm tuổi thân dài 15,8 cm, nặng 137 g; cá 2 năm tuổi thân dài 38 – 45 cm, nặng 600 – 1.400 g; cá 3 năm tuổi thân dài 45 –
59 cm, nặng 1.200 – 2.000 g; cá lóc có thể sống trên 10 năm thân dài 67 – 85
cm, nặng 7 – 8 kg (Hội nghề cá Việt Nam, 2007)
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Cá lóc dễ thành thục và thành thục sớm lúc 10 – 12 tháng tuổi Mùa vụ thành thục trong tự nhiên từ tháng 3 – 4 và kéo dài tới tháng 9 – 10 Chúng đẻ
rộ vào những tháng đầu mùa mưa lớn, tập trung nhất từ tháng 5 đến tháng 7
Hệ số thành thục trung bình từ 0,5 – 1,5%, số trứng của buồng trứng cá cái có thể đạt 5.000 đến 20.000 trứng Cá đực và cá cái tự ghép đôi khi thành thục, cá đực thường có kích thước nhỏ hơn cá cái cùng lứa tuổi Cá thường chọn nơi
Trang 14cây cỏ thuỷ sinh kín đáo nhưng thoáng để đẻ trứng và thụ tinh Trứng cá lóc màu vàng sậm, có chứa hạt dầu nên nổi được trên mặt nước Sau khi đẻ, cá đực và cái đều canh giữ tổ trứng và cá con cho đến khi cá con bắt đầu có tập tính sinh sống độc lập (Phạm Văn Khánh, 2003).
Ở nước ta cá Lóc đen thành thục sớm (8 – 12 tháng tuổi) cá có thể sinh sản quanh năm nhưng thường tạp trung và tháng 5 – 7 dương lịch hàng năm và
đẻ rộ sau những cơn mưa lớn Sức sinh sản cá Lóc tùy thuộc vào trọng lượng
cá cái, cá có trọng lượng từ 1 – 1,5 kg đẻ khoảng 15000 – 20000 trứng/tổ, và
5000 – 10000 trứng/tổ đối với cá từ 0,5 – 0,8 kg (Nguyễn Văn Kiểm, 2004)
Cá lóc 1 tuổi bắt đầu tham gia đẻ trứng, mùa vụ sinh sản thường từ tháng 4 – 8, tập trung nhiều vào các tháng 4 – 5 Cá thường đẻ trứng vào sáng sớm sau những trận mưa một hai ngày, nơi yên tĩnh, có nhiều cây cỏ thủy sinh Ở nhiệt
độ 20 – 350C, sau 3 ngày trứng sẽ nở thành cá bột, cá bột khoảng 3 ngày sau cá tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu ăn được thức ăn tự nhiên bên ngoài (Dương Nhựt Long, 2003)
2.2 Các mô hình nuôi cá lóc thương phẩm
Ao được tát cạn, nạo vét bùn đáy, diệt tạp, rải vôi CaO 7 – 10 kg/100 m2, phơi nắng 2 – 3 ngày Lấy nước vào ao qua lưới lọc Sau 3 – 5 ngày thì tiến hành thả cá giống (Dương Nhựt Long, 2003)
2.2.1.2 Con giống và mật độ nuôi
Theo Dương Nhựt Long (2003) thì để hạn chế tỉ lệ hao hụt nên thả cá có kích cỡ 8 – 10 cm để dễ chăm sóc và quản lý Ngoại hình cá cân đối, vây, vảy đầy đủ, không xây xát, bơi lội nhanh nhẹn, không có dấu hiệu bệnh lý Mật độ thả từ 15 – 30 con/m2
Trang 15ăn là cá, tép, cá biển, cua, ốc,… 4 tháng đầu thì xay nhuyễn các nguyên liệu trên và trộn thêm bột gòn (5%), vitamin C, và đưa xuống sàn ăn, khẩu phần ăn
từ 12 – 15% Từ tháng thứ 5 trở đi cho cá ăn thức ăn được bằm nhỏ, khẩu phần ăn từ 10 – 12% Những tháng gần thu hoạch, giảm khẩu phần ăn 8 – 10%, nếu dùng tép vụn thì để nguyên con, cá lớn thì cắt hoặc bằm nhỏ vừa cỡ miệng cá Hệ số thức ăn với các thành phần trên dao động từ 3,2 – 4 Có thể chế biến thức ăn hổn hợp bằng các loài cá, tép, cá biển, ốc,… xay nhuyễn và trộn với thức ăn có gốc thực vật như cám, bột bắp, bột mì,… cung cấp cho cá
Tỉ lệ phối chế thức ăn gốc động vật/thức ăn gốc thực vật 2/1 đến 3/1, cho hệ số thức ăn từ 4 – 5 Thức ăn được cho ăn mỗi ngày 2 – 3 lần
Theo Ngô Trọng Lư (2002), khi cho cá lóc ăn bằng thức ăn chế biến thì phối hợp 70% cá tạp nghiền nát, 20% bột đậu khô lạc 5% men, còn lại là các vitamin, muối khoáng, thuốc kháng sinh Cho ăn 2 lần/ngày, sáng và chiều Số lượng cho ăn bằng 5 - 7% trọng lượng cá, mùa cá sinh trưởng nhanh không cho ăn quá 10% trọng lượng cá
Ngoài ra, theo Dương Nhựt Long (2003) thì phẩu phần ăn của cá lóc có thể dao động trong khoảng từ 10 – 12% trọng lượng đàn cá Sau khi cá lớn khẩu phần ăn còn từ 5 – 8% là vừa Cách cho cá ăn: lúc cá nhỏ cho ăn bằng cách xay nhuyễn, cho tới khi cá lớn thức ăn được cắt nhỏ hoặc có thể cung cấp trực tiếp vào giai nuôi
2.2.1.4 Quản lý chăm sóc
Theo Phạm Văn Khánh (2003), hàng ngày bơm bổ sung thêm nước mới cho ao, cứ 10 ngày thay nước 1 lần từ 1/3 – 1/2 thể tích nước ao Định kỳ 1 tháng/lần dùng vôi bột, liều lượng 6 – 8 kg/100 m2, hoà nước và tạt đều khắp ao
Theo Võ Thành Cơn (2011), môi trường nước nuôi cá lóc rất dễ nhiễm bẩn nên cần được thay nước thường xuyên Lúc cá còn nhỏ số lần thay nước
sẽ ít hơn so với cá lớn Định kỳ xử lý vôi cho nguồn nước trong bể nuôi từ 7 –
10 ngày/lần với 2 – 3kg vôi/100m3
2.2.1.5 Thu hoạch
Theo Dương Nhựt Long (2003) thì sau thời gian nuôi từ 6 – 8 tháng, cá
có thể đạt cỡ trung bình 400 – 600 g/con Cá được thu hoạch một lần, dùng lưới kéo thu từng phần, không nên kéo dồn một lúc sẽ làm cá xây xát và chết Theo Võ Thành Cơn (2011) thì nuôi cá lóc khoảng 4 tháng cá đạt trọng lượng trung bình từ 2 – 3 con/kg thì thu hoạch, cũng có thể để cá lớn hơn
Trang 17đó, An Giang và Đồng Tháp là hai tỉnh có hệ thống sông lớn đặc trưng với mô hình nuôi cá Lóc trong lồng bè ở môi trường nước chảy Tỉnh Đồng Tháp là nơi có điều kiện thiên nhiên ưu đãi, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, nguồn nước dồi dào cùng với hệ thống thủy lợi nội đồng tương đối hoàn chỉnh, có diện tích sông và kênh rạch lớn là 20.000 ha là nơi thích hợp cho nghề nuôi thủy sản phát triển (Lê Văn Liêm, 2007) Theo chi cục thủy sản tỉnh Đồng Tháp (2008) tổng sản lượng cá Lóc thu hoạch đạt 4,98 nghìn tấn, có 1.975 hộ nuôi với diện tích nuôi ao là 195,4 ha và 1.392 cái vèo nuôi ao, 160 cái lồng bè với tổng thể tích nuôi là 128,33 nghìn m3 Đối với tỉnh An Giang thì có sản lượng nuôi cá Lóc tương đối ổn định Năm 2005, sản lượng nuôi cá Lóc đạt 10,6 nghìn tấn, sản xuất được 46 triệu con giống (Sở Thủy Sản An Giang, 2005), còn về năm 2006 thì sản lượng nuôi cá Lóc là 10.659 tấn, 439
hộ sản xuất giống và sản xuất được 44 triệu con giống (Sở Thủy Sản An Giang, 2006) Hiện cá Lóc được nuôi ở hầu hết các tỉnh ĐBSCL như: Vĩnh Long, Trà Vinh, Cà Mau, Sóc Trăng,… Sản lượng nuôi cá Lóc năm 2009 đạt hơn 40.000 tấn, tăng gấp 8 lần so với năm 2002, trong đó cá Lóc bông chiếm khoảng 20%
Hiện nay, ở ĐBSCL có 5 mô hình nuôi cá Lóc chủ yếu bao gồm nuôi trong ao đất, nuôi trong bể lót bạt, vèo ao, vèo sông và lồng bè Trong đó mô hình nuôi trong bể lót bạt có mật độ thả nuôi cao nhất trung bình khoảng 236,5 con/m3, kế đến là nuôi lồng bè 147,6 con/m3, mô hình nuôi trong vèo ao 109,0 con/m3 và thấp nhất là nuôi trong ao đất 45,9 con/m3 Còn về diện tích thì mô hình nuôi trong ao đất có diện tích nuôi lớn nhất với 1.500 m2/hộ, thấp nhất là mô hình nuôi bể lót bạt 93,1 m2 và nuôi vèo sông 34,5 m2 (Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung, 2009)
Trang 18Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu nghiên cứu
- Cân điện tử, cân đồng hồ
- Giai nuôi: 3 giai lưới có thể tích 30m3 (2,5m x 6m x 2m)
- Thức ăn công nghiệp AFIEX – An Giang
- Khung nhựa PVC, vợt thu mẫu, máy ảnh, bút, thước, phiếu điều tra
- Nguồn nước nguồn nước sử dụng được lấy trực tiếp từ sông.
- Đối tượng thí nghiệm: cá lóc
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Hiện trạng nuôi cá lóc ở huyện Lai Vung
Số liệu thứ cấp được thu thập từ trạm Khuyến Nông – Khuyến Ngư huyện Lai Vung Đồng thời còn thu thập số liệu qua các tạp chí thủy sản, báo cáo chuyên ngành, sách, báo, báo mạng có liên quan đến tình hình nuôi cá lóc tại huyện Lai Vung
Số liệu sơ cấp được thu thập từ việc phỏng vấn trực tiếp 14 hộ nuôi cá lóc thông qua các câu hỏi điều tra đã chuẩn bị trước, nhằm khảo sát tình hình nuôi cá lóc tại huyện Lai Vung
3.2.2 Thực nghiệm nuôi
3.2.2.1 Bố trí thực nghiệm
Thực nghiệm nuôi thương phẩm cá lóc trong giai được bố trí 3 giai đặt trong 3 ao đất ở 3 hộ thuộc huyện Lai Vung – tỉnh Đồng Tháp
Trang 19Bảng 3.1 Danh sách các hộ nuôi thực nghiệm
Họ và tên chủ hộ Địa chỉ Diện tích ao Diện tích giaiNguyễn Hữu Duyên Ấp Long Định 200m2 15m2
Nguyễn Vũ Khương Ấp Tân Khánh 700m2 15m2
Nguyễn Văn Bé Ấp Thới Mỹ II 600m2 15m2
3.2.2.2 Phương pháp kỹ thuật nuôi
a) Con giống
Cá lóc giống được mua từ trại cá giống ở Hậu Giang Cá giống được tập cho ăn bằng thức ăn công nghiệp tại trại cá giống Sau khi cá ăn được hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp thì tiến hành bố trí thực nghiệm Cá giống có
cỡ từ 2 – 3 g/con, hoạt động nhanh nhẹn, không bị xây xát, dị tật, dị hình, và không có dấu hiệu bệnh lý
b) Chuẩn bị giai
Giai được đặt trong ao đất cách bờ ao từ 2 – 3 m, thiết kế của 3 giai cùng được làm bằng lưới có thể tích 30 m3 (2,5 m x 6 m x 2 m) Từ mặt trên trở lên 1-1,5m dùng lưới cước may nối các phần dưới và căng thẳng các góc, cố định các góc trên và dưới tạo thành một cái mùng lật ngược Khoảng cách từ đáy lưới đến đáy ao là 0,5m, không nên để sát đáy ao vì chất thải và thức ăn thừa
sẽ tích tụ gây ô nhiễm nước
Hình 3.1 Giai nuôi cá lóc
Trang 20c) Mật độ thả
Mật độ thả là 1.500 con/giai Trước khi thả, bao cá được ngâm dưới ao từ
15 – 20 phút để cân bằng nhiệt độ giữa nước trong bao cá và nước trong ao, sau đó mở miệng bao cho cá tự bơi ra ngoài
Hình 3.2 Thức ăn công nghiệp
Quản lý môi trường nước trong các ao nuôi: Định kỳ vệ sinh giai 2 tuần/lần Một tháng sau khi thả giống thì thay 20% lượng nước ao nuôi cá Từ
Trang 21tháng thứ hai đến tháng thứ ba thì cách 15 ngày thay nước một lần, mỗi lần thay khoảng 30% lượng nước trong ao Từ tháng thứ tư trở đi thay nước mỗi tuần từ 30–50% nước trong ao.
e) Phòng và trị bệnh
Phòng và trị bệnh cho cá: Hằng ngày theo dõi khả năng bắt mồi của cá
để đều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, tránh tình trạng thiếu hoặc thừa thức
ăn Thức ăn không bị móc, hợp vệ sinh Khi cá bệnh dùng kháng sinh trị và kết hợp với xử lý môi trường như: muối ăn, BKC, Fresh Water…
3.2.3 Phương pháp thu mẫu
Thu mẫu cá: Trước khi bố trí thí nghiệm, dùng cân điện tử cân trọng lượng ngẫu nhiên 20 con cá giống, cân từng con để xác định khối lượng cá ban đầu Trong thời gian nuôi, thu mẫu định kỳ 30 ngày/lần, dùng vợt thu mẫu cá sau đó chọn ngẫu nhiên 20 con đem cân từng con Dùng cân điện tử cân (cá dưới 100 g) và cân đồng hồ (cá trên 100 g) để cân khối lượng cá
Hình 3.3 Cân mẫu cá lóc
Các chỉ tiêu môi trường nước ao nuôi gồm: nhiệt độ, O2, N – NH4+, pH, P – PO43- được kiểm tra định kỳ 30 ngày/lần vào buổi sáng Trong đó, các chỉ tiêu O2, N – NH4+, pH, P – PO43-được kiểm tra theo phương pháp so màu bằng
bộ Test Sera, nhiệt độ nước được đo bằng nhiệt kế thủy ngân
Trang 22Hình 3.4 Test môi trường ao nuôi
∆
−
/Trong đó:
W1 : khối lượng cuối (g)
W0: khối lượng ban đầu (g)
∆t : thời gian giữa 2 lần cân (ngày)
- Tỉ lệ sống của cá được tính dựa trên số lượng cá thể lúc thu hoạch so với số lượng cá thể thả nuôi ban đầu
- Năng suất nuôi: được tính bằng tổng khối lượng cá thu hoạch của từng giai nuôi
Năng suất nuôi (kg/m3) = Khối lượng cá thu hoạch / Thể tích giai nuôi