TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN CAO THỊ THÚY HẰNG THỰC NGHIỆM NUÔI CÁ LÓC Channa sp TRONG VÈO ĐẶT TRONG AO ĐẤT BẰNG THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH TRÀ VINH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
CAO THỊ THÚY HẰNG
THỰC NGHIỆM NUÔI CÁ LÓC (Channa sp) TRONG
VÈO ĐẶT TRONG AO ĐẤT BẰNG THỨC ĂN CÔNG
NGHIỆP TẠI TỈNH TRÀ VINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
CAO THỊ THÚY HẰNG
THỰC NGHIỆM NUÔI CÁ LÓC (Channa sp) TRONG
VÈO ĐẶT TRONG AO ĐẤT BẰNG THỨC ĂN CÔNG
NGHIỆP TẠI TỈNH TRÀ VINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Ths NGUYỄN VĂN TRIỀU Ths NGUYỄN THANH HIỆU
2013
Trang 3TÓM TẮT
Đề tài thực nghiệm nuôi cá Lóc (Channa sp) trong vèo đặt trong ao đất bằng
thức ăn công nghiệp tại tỉnh Trà Vinh được thực hiện nhằm mục tiêu khảo sát
điều kiện môi trường nước và sự tăng trưởng, tỉ lệ sống và năng suất cá nuôi
làm cơ sở khoa học cho việc phát triển và nhân rộng mô hình nuôi cá Lóc cho
người sản xuất ở tỉnh Trà Vinh Đề tài được thực hiện từ tháng 10/2012 đến
tháng 4/2013 tại hai huyện Tiểu Cần và Cầu Kè tỉnh Trà Vinh được thực hiện
gồm 2 nội dung:
Điều tra 30 hộ nuôi cá Lóc tập trung ở hai huyện Tiểu Cần và Cầu Kè tỉnh Trà
Vinh Điều tra một số thông tin chung về nông hộ như tên chủ hộ, độ tuổi,
diện tích nuôi, mật độ thả, loại thức ăn, tỉ lệ sống, năng suất, khối lượng trung
bình, FCR Sau khi thống kê và xử lý số liệu được một số kết quả như độ tuổi
trung bình 36,5±10,17, diện tích nuôi trung bình 1.113,92±11.538,43, FCR
1,52±0,28, năng suất 7,56±4,21
Cá được nuôi trong vèo đặt trong ao đất với mật độ là 100con/m2 được bố trí
trong 3 vèo có cùng kích thước 15m2 và được cho ăn bằng thức ăn viên, nước
trong vèo được thay theo thủy triều Trong quá trình nuôi các yếu tố môi
trường ít biến động Sau 4 tháng nuôi khối lượng cá đạt từ 467,4 ±31,2 tỉ lệ
sống 43±4,58, năng suất đạt 226,7± 25,2 kg/15m2
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu em luôn nhận được sự ủng
hộ, chia sẻ những kiến thức quý báu từ thầy cô, bạn bè và gia đình, đã giúp đỡ
em hoàn thành luận văn theo đúng kế hoạch đã đề ra, em xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc!
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý Thầy, Cô trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt cho em những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian em học tập tại trường Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu luận văn mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Em xin trân trọng cảm ơn thầy Dương Nhựt Long, thầy Nguyễn Văn Triều, thầy Nguyễn Thanh Hiệu đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý giúp em hoàn thành luận văn!
Em xin cảm ơn chú Quân, anh Thảo, chị Loan và bà con nuôi cá Lóc ở 2 huyện Tiểu Cần và Cầu Kè đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài này!
Cuối cùng, em xin gởi lời chúc đến quý thầy cô, anh chị và các bạn nhiều sức khỏe và thành công trong công việc!
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
Trang LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH SÁCH BẢNG iv
DANH SÁCH HÌNH iv
Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.3 Nội dung đề tài 2
1.4 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 2
Phần 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá Lóc 3
2.1.1 Đặc điểm phân loại 3
2.1.2 Đặc điểm phân bố 3
2.1.3 Đặc điểm hình thái 4
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 4
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 4
2.1.6 Đặc điểm sinh sản 5
2.2 Kĩ thuật nuôi cá Lóc 5
2.2.1 Các mô hình nuôi cá Lóc ở ĐBSCL 5
2.2.2 Mật độ nuôi cá Lóc 6
2.2.3 Cách cho ăn 6
2.2.4 Chăm sóc và quản lý 6
2.2.5 Thu hoạch 7
Phần 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
3.1 Vật liệu nghiên cứu .8
3.2 Phương pháp nghiên cứu 8
3.2.1 Hiện trạng nuôi cá Lóc ở tỉnh Trà Vinh 8
3.2.1.1 Thu thấp số liệu thứ cấp 8
3.2.1.2 Thu thấp số liệu sơ cấp 8
3.2.2 Thực nghiệm nuôi cá Lóc trong vèo 8
3.2.3 Thức ăn 10
3.2.4 Quản lý chăm sóc 10
3.3 Phương pháp thu và phân tích mẫu 11
3.3.1 Phương pháp thu mẫu 11
3.3.2 Phương pháp tính toán số liệu 11
Trang 63.4 Phương pháp xử lý số liệu 13
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 14
4.1 Tình hình nuôi cá Lóc ở huyện Tiểu Cần và Cầu Kè tỉnh Trà Vinh 14
4.2 Hiện trạng nuôi cá Lóc 14
4.2.1 Thông tin chung về nông hộ 14
4.2.2 Thông tin về kỹ thuật 15
4.2.2.1 Thiết kế ao, số vụ nuôi 15
4.2.2.2 Quản lí nước và thức ăn khi nuôi cá Lóc 16
4.2.2.3 Thu hoạch, năng suất và sản lượng cá nuôi 17
4.2.3 Thuận lợi, khó khăn đối với nghề nuôi cá Lóc 17
4.3 Thực nghiệm nuôi cá Lóc trong vèo 18
4.3.1 Các yếu tố môi trường trong vèo nuôi 18
4.3.2 Tăng trưởng của cá Lóc trong quá trình nuôi 19
4.3.2.1 Tốc độ tăng trưởng chiều dài 19
4.3.2.2 Tốc độ tăng trưởng khối lượng 20
4.3.3 Tỷ lệ sống, năng suất nuôi 21
4.3.4 Hiệu quả kinh tế 22
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 23
5.1 Kết luận 23
5.2 Đề xuất 23
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1 Số hộ thả cá Lóc trong vèo tại tỉnh Trà Vinh 9
Bảng 3.2 Chế độ cho ăn trong quá trình nuôi cá Lóc 10
Bảng 4.1 Sản lượng nuôi thủy sản nước ngọt ở huyện Tiểu Cần và Cầu Kè tỉnh Trà Vinh 13
Bảng 4.2 Tuổi, số lao động và kinh nghiệm của người nuôi cá Lóc 14
Bảng 4.3 Thông tin về thiết kế ao, số vụ 15
Bảng 4.4 Thông tin về thức ăn 16
Bảng 4.5 Năng suất và sản lượng cá nuôi 17
Bảng 4.6 Các yếu tố môi trường trong vèo nuôi 18
Bảng 4.7 Tốc độ tăng trưởng chiều dài 19
Bảng 4.8 Tốc độ tăng trưởng khối lượng 20
Bảng 4.9 Tỷ lệ sống, năng suất nuôi 21
Bảng 4.10 Hiệu quả kinh tế 22
Trang 9Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Thủy sản là tặng phẩm của thiên nhiên dành cho con người Việc khai thác và bảo
vệ hợp lí nguồn tài nguyên này là hết sức cần thiết Vì vậy bên cạnh việc khai thác nguồn thủy sản từ sông, biển cần phải có những kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất,
ương nuôi để phục vụ cho nhu cầu dinh dưỡng cũng như bù đấp cho lượng thủy sản
đánh bắt mỗi năm từ tự nhiên
Sản lượng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam từ năm 1985 trở lại đây liên tục phát triển qua các năm Năm 1986, tổng sản lượng thủy sản chỉ đạt 830.500 tấn đến cuối năm 2011 sản lượng thủy sản tăng lên 5.432.900 tấn Trong đó ĐBSCL đạt 3.745.000 tấn chiếm gần 70% sản lượng cả nước (Theo Tổng cục Thống kê và Bộ Thủy sản tháng 12 năm 2011)
Nuôi Trồng Thủy Sản đã trở thành thế mạnh kinh tế ở khu vực ĐBSCL trong đó nghề nuôi thủy sản nước ngọt nói chung và cá lóc nói riêng khá phát triển Do Cá Lóc sống chủ yếu ở nước ngọt với nhiều thủy vực khác nhau như ao, hồ, kênh, rạch,
kể cả những vùng nước tù đục nơi hàm lượng oxy thấp (Phạm Văn Khánh, 2004) Hiện nay cá Lóc được nuôi hầu hết ở các tỉnh ĐBSCL, kể cả các tỉnh ven biển như
Cà Mau, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bến Tre Theo báo cáo của các tỉnh ở ĐBSCL (2010) sản lượng cá Lóc năm 2009 đạt hơn 40.000 tấn tăng gấp 8 lần 2002 (Phạm Đăng Phương, 2010) và là đối tượng quan trọng trong cơ cấu đàn cá nuôi ở ĐBSCL
Các mô hình nuôi cá Lóc hiện nay ở ĐBSCL chủ yếu là nuôi lồng bè đặt trên sông
và mô hình nuôi trong bể lót bạt (Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung, 2009) trong đó
mô hình nuôi cá Lóc bằng thức ăn công nghiệp đã được thực hiện mang lại hiệu quả kinh tế cao Để góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào nuôi cá Lóc tiếp tục
phát triển thể hiện tính ổn định, hiệu quả Vì vậy, đề tài “Thực nghiệm nuôi
thương phẩm cá Lóc (Channa striata) trong vèo đặt trong ao đất bằng thức ăn
công nghiệp tại tỉnh Trà Vinh” được thực hiện
Trang 101.2 Mục tiêu đề tài
Đề tài thực hiện nhằm mục tiêu khảo sát điều kiện môi trường nước và sự tăng
trưởng, tỉ lệ sống và năng suất cá nuôi làm cơ sở khoa học cho việc phát triển và nhân rộng mô hình nuôi cá Lóc cho người sản xuất ở tỉnh Trà Vinh
1.3 Nội dung đề tài
Khảo sát hiện trạng nuôi cá Lóc trong vèo tại tỉnh Trà Vinh
Theo dõi tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ sống và năng suất cá nuôi
Đánh giá hiệu quả của mô hình nuôi cá Lóc thương phẩm trong vèo
1.4 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài
Thời gian: từ tháng 10/2012 đến tháng 4/2013
Địa điểm: huyện Tiểu Cần và Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
Trang 11Phần 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học của cá Lóc
2.1.1 Đặc điểm phân loại
Cá Lóc tuy chưa có những nghiên cứu phân loại chuyên sâu nhưng có thể phân loại loài cá này như sau
động Chúng thích nơi nước tĩnh có mực nước từ 0,5-1m Do tập tính thích rình bắt
mồi nên cá thích sống ven bờ nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh để rình và bắt mồi Ngoài ra, cá có thể sống ở nơi có hàm lượng oxy thấp nhờ có cơ quan hô hấp phụ là xoang miệng hầu pH thích hợp cho hoạt động sống của cá Lóc là từ 6,5 – 7,5 Cá
có thể sống ở vùng nước lợ nhưng chủ yếu là nước ngọt (Trương Thủ Khoa Và Trần Thị Thu Hương, 1993)
2.1.3 Đặc điểm hình thái
Trang 12Theo Trương Thủ Khoa Và Trần Thị Thu Hương (1993), ở miền Nam Việt Nam
có 4 loài cá Lóc: Channa striata (cá Lóc Đen), Channa micropeltes (cá Lóc Bông), Channa lucius (cá Dầy), và Channa gachua (cá Chành Dục)
Bốn loài cá này có nhiều đặc điểm giống nhau như thân hình ống dài, vây đuôi tròn, trên thân có nhiều vạch sắc tố và có một số đặc điểm riêng như cá Lóc Bông
có hai sọc thẫm chạy từ đầu tới đuôi, loài cá Lóc Đen thì vây đuôi và vây hậu môn
có các chấm màu đen, trong khi cá Chành Dục mút vây lưng và vây đuôi có màu đỏ (Mai Đình Yên, 1992)
Cá Lóc Đen có đầu lớn, đỉnh đầu rất rộng, dẹp bằng, mõm ngắn, miệng to hướng lên, rạch miệng xiên và kéo dài qua đường thẳng đứng kẻ từ bờ sau của mắt Răng bén nhọn, cá không có râu, mắt lớn, lỗ mang lớn Thân dài hình trụ, tròn ở phần trước dẹp bên ở phần sau Vẩy lược lớn phủ khắp thân và đầu Đường bên hoàn toàn gãy khúc ở khoảng vẩy 15 - 20 và thụt xuống hai hàng vẩy, phần sau của đường bên chạy liên tục khoảng giữa thân (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Sự sinh trưởng của cá Lóc nói chung không đồng đều giữa các giai đoạn phát triển
và theo xu hướng càng lớn thì tăng trọng càng nhanh Trong điểu kiện thí nghiệm thì sự tăng trọng trung bình 0,104 g/ngày (cá giống) và đạt 0,625 g/ngày (giai đoạn sau 4 tháng tuổi) Trong điều kiện nuôi cá có sức lớn trung bình 0,4 – 0,8 kg/con/năm (Phan Phương Loan, 2000) Giai đoạn còn nhỏ cá Lóc tăng trưởng chủ yếu về chiều dài, cá càng lớn thì trọng lượng tăng càng nhanh Trong tự nhiên, sức lớn của cá không đồng đều, phụ thuộc vào thức ăn sẵn có trong thủy vực Do vậy, tỷ lệ sống của cá trong tự nhiên khá thấp, trong điều kiện nuôi có thức ăn và chăm sóc tốt cá có thể lớn từ 0,5 – 0,8 kg/năm, đạt tỷ lệ sống cao và ổn định (PhạmVăn Khánh, 2000)
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Lóc là loài cá dữ có lược mang dạng hình núm Thực quản ngắn, vách dày, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn Dạ dày to hình chữ Y Dây là loài cá ăn động vật điển hình Cá Lóc mới nở không sử dụng thức ăn ngoài mà nhờ khối noãn hoàng cung cấp dinh dưỡng Sau 4 – 5 ngày cá bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài, thức ăn lúc này của cá là Luân Trùng, Moina… khi cơ thể có chiều dài 3 – 8 cm, chúng có thể rượt bắt các loại tép và cá có kích cỡ nhỏ hơn chúng Lúc này, cá mẹ không còn theo bảo vệ nữa Khi cơ thể đạt chiều dài trên 10 cm cá có tính ăn như cá trưởng thành (Phạm Văn Khánh, 2000)
Quan sát ống tiêu hóa của cá Lóc thấy: cá chiếm 63,01%, tép 35,94%, ếch nhái 1,03% và 0,02% là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ (Dương Nhựt Long, 2003)
Trang 13Cá Lóc có nhu cầu protein tương đối cao hàm lượng protein trong thức ăn phải đảm bảo từ 25-35% trở lên thì mới đạt nhu cầu của cá Giai đoạn đầu cho đến 2 tháng tuổi hàm lượng protein trong thức ăn phải đảm bảo 35%, sau đó có thể giảm dần xuống còn 28%, ở các tháng cuối còn 25% (Dương Nhựt Long, 2003)
Khả năng tiêu hóa thức ăn của cá Lóc phụ thuộc vào thành phần thức ăn Nếu thức ăn là Trùng Chỉ sau 8 giờ tiêu hóa được 35,42%, thức ăn là cá Nục sau 8 giờ tiêu hóa được 30,01%, trong khi đó thức ăn công nghiệp chỉ tiêu hóa được 18,22% sau 8 giờ (Phan Phương Loan, 2000)
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Ở nước ta cá Lóc thành thục sớm (8 - 12 tháng tuổi) Cá có thể sinh sản quanh năm
nhưng thường tập trung vào tháng 5 – 7 dương lịch hàng năm và đẻ rộ sau những cơn mưa lớn Sức sinh sản của cá Lóc tùy thuộc vào trọng lượng cá cái, cá có trọng lượng từ 1 – 1,5kg, đẻ khoảng 15.000 – 20.000 trứng/tổ, và 5.000 – 10.000 trứng/tổ
đối với cá từ 0,5 – 0,8kg (Nguyễn Văn Kiểm , 2004)
Cá có hệ số thành thục là 0,5 – 1,5% Khi đến mùa sinh sản cá đực và cá cái tự ghép
đôi, ở cùng độ tuổi cá đực thường có kích cỡ nhỏ hơn cá cái Cá thường chọn nơi có
cây cỏ thủy sinh để đẻ trứng Trứng cá Lóc màu vàng đậm có giọt dầu nên nổi trên mặt nước Sau khi đẻ, cá bố mẹ sẽ cùng nhau canh giữ tổ và cá con cho đến khi chúng sống độc lập (Phạm Văn Khánh, 2000)
2.2 Kĩ thuật nuôi cá Lóc
2.2.1 Các mô hình nuôi cá Lóc ở ĐBSCL
Ở ĐBSCL có các mô hình nuôi cá Lóc như: nuôi trong ao đất, nuôi trong bể lót bạt,
nuôi trong vèo đặt trong ao đất và nuôi trong vèo Nuôi cá Lóc trong ao đất diện tích
ao nuôi dao động từ 600 – 1.300m2 Ao sâu 1,5 -2 m (Dương Nhựt Long, 2003), nuôi cá Lóc trong bể lót bạt Theo Trần Minh Luân, (2010) thì bể nuôi có diện tích là
10 m2, bể cao lên khoảng 1,2 – 1,3 m ở phía trên phải có lưới chụp tránh cá nhảy ra
Theo Dương Nhựt Long và ctv, (2010) thì cho rằng diện tích bể nuôi rất đa dạng từ
10-100m2 là có thể xây dựng để nuôi cá Lóc nhưng diện tích nuôi tốt nhất và dễ quản lý nhất là 15m2 Mô hình nuôi cá Lóc trong vèo đặt trong ao đất và nuôi cá Lóc trong vèo thì diện tích vèo nuôi phụ thuộc vào khả năng đầu tư của nông hộ cũng như kinh nghiệm nuôi thông thường một vèo nuôi có diện tích từ vài m2 đến vài chục m2
Trang 142.2.2 Mật độ nuôi cá Lóc
Dựa vào nguồn thức ăn và kinh nghiệm nuôi cũng như chất lượng nước để quyết
định mật độ nuôi có thể thả với mật độ 10-30con/m2
đối với ao còn nuôi trong vèo thì cá thả nuôi cần phải có kích cỡ tương đối lớn, cỡ giống phải đạt từ 20 – 30 g/con
và mật độ nuôi có thể dao động 60 – 90 con/m2 So với mô hình nuôi trong vèo thì
mô hình nuôi trong bể lót bạt cá thả nuôi có kích cỡ nhỏ hơn từ 1,2-1,5g/con, với mật độ là 80-120 con/m2 (Dương Nhựt Long, 2003), theo Tăng Tấn Lực (2010) thì với diện tích bể lót bạt là 10m2 thì thả nuôi với mật độ thả từ 100-120 con/m2
Thả giống: thả vào lúc trời mát, bao giống được ngâm trong ao 20 – 30 phút, khi
thả mở miệng bao để cá lội nhẹ nhàng ra ao hay bể
2.2.3 Cách cho ăn
Thức ăn phải đảm bảo hàm lượng protein trên 20%, cá Lóc ngoài sử dụng thức ăn tươi sống có thể sử dụng tốt thức ăn công nghiệp Khẩu phần ăn điều chỉnh theo sức ăn của cá, thời điểm cá còn nhỏ khẩu phần có thể dao động trong khoảng từ 10 - 12% trọng lượng đàn cá Sau khi cá lớn khẩu phần ăn còn từ 5 – 8% là vừa (Dương Nhựt Long, 2003) Nên bố trí nhiều sàn ăn trong ao để cho cá ăn vì cá ăn thức ăn có thành phần nguyên liệu là thịt động vật cao nên dể gây ô nhiễm nước ao Cách cho
ăn trên sàn vừa tiết kiệm chi phí thức ăn vừa quản lý được sức ăn của cá cũng vừa
tiết kiệm được năng lượng tìm kiếm thức ăn cho cá và đề phòng ô nhiễm nguồn nước Thức ăn chế biến thường dùng 70% cá tạp, bột đậu nành hay cám gạo 25%, men tiêu hoá 5%, một ít vi lượng và chất kháng sinh, vitamin Mỗi ngày cho ăn 2 lần vào sáng và tối Số lượng cho ăn 5 - 7% trọng lượng thân (Dương Nhựt Long, 2004) Nếu sử dụng thức ăn viên để nuôi, phải tập cho cá ăn ngay từ nhỏ
2.2.4 Chăm sóc và quản lý
Khi cho cá ăn thức ăn cần cho vào sàn để tránh thức ăn thừa hay thiếu thức ăn sẽ
ảnh hưởng đến chất lượng nước cũng như đàn cá nuôi, sau khi cho ăn 20 phút, thấy
thức ăn trong ao vẫn còn tức thức ăn đã bị nhiều, cần vớt bỏ và giảm lượng thức ăn cho lần sau Nếu cho cá ăn thức ăn chế biến phải luyện ngay từ nhỏ (cỡ 2 cm) tốt nhất nuôi trong ao xi măng có nước chảy, hoặc có thể nuôi trong các giai nhỏ đặt trong ao
Thay nước theo thủy triều hoặc ít nhất 1 lần/tuần (lúc nhỏ), 2 lần/tuần (lúc lớn) Khi thấy nước ao bị đục hay có màu xanh đậm cần tăng cường thay nước Lượng nước thay từ 30 – 60% tuỳ theo diễn biến màu nước
Thường xuyên thăm ao, kiểm tra cống bọng, bờ, lưới bao nhất là vào những ngày triều cường hay có mưa để đề phòng cá ra ngoài Cũng đề phòng trộm câu cá vào ban đêm (cá Lóc háu ăn nên rất dể câu)
Trang 15Nếu trong ao có thả bèo, lục bình nên định kỳ vớt bỏ các bèo, lục bình già, tránh ô nhiễm nước ao và phòng bệnh cho cá
Khi trời quá nóng hay lạnh cần châm thêm nước vào ao sau cho mực nước ít nhất 1,5 m để cá có thể xuống sâu tránh nóng, tránh rét
Trong quá trình nuôi thường xuyên kiểm tra hệ thống công trình nuôi và hoạt động hằng ngày của đàn cá Theo dõi sự biến động chất lượng nước trong ao nuôi để có biện pháp điều chỉnh thích hợp cho đàn cá nuôi
Hoạt động chăm sóc vèo nuôi cũng như ao và bể lót bạt phải được thực hiện thường xuyên bao gồm các công việc như: kiểm tra vèo, tình hình sức khỏe của đàn cá nuôi
mà có biện pháp khắc phục cũng như xử lý kịp thời (Dương Nhựt Long, 2003)
2.2.5 Thu hoạch
Đối với mô hình nuôi ao thì trước khi thu hoạch có thể hạ mực nước ao để dể dàng
trong việc đánh bắt, sau chu kỳ nuôi ít nhất 6 tháng, thường 7-8 tháng trọng lượng
cá lúc này có thể dao động từ 1,2-1,5 kg/con (Dương Nhựt Long, 2003) Trong điều kiện nuôi cá có sức lớn trung bình 0,4-0,8 kg/con/năm (Phan Phương Loan,2000), trong điều kiện nuôi có thức ăn và được chăm sóc tốt cá có thể lớn từ 0,5-0,8kg/năm, đạt tỷ lệ sống cao và ổn định (Phạm Văn Khánh, 2000) Trước khi thu hoạch 1-2 ngày không nên cho cá ăn nhằm hạn chế cá chết trong quá trình vận chuyển Theo thực nghiệm của Phan Trọng Hiếu nuôi cá Lóc trong bể lót bạt với diện tích 15m2 thì tỷ lệ sống đạt 42-54% FCR 3,7-3,8 và năng suất 13-18kg/m2 thức
ăn cung cấp hoàn toàn bằng cá tạp
Trang 16Phần 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cá Lóc đầu nhím
Nguồn cá giống: được mua từ trại cá giống ở Hậu Giang
Nguồn nước: nguồn nước sử dụng được lấy trực tiếp từ sông ở tỉnh Trà Vinh
Dụng cụ cân mẫu: cân điên tử, cân đồng hồ 1kg
Dụng cụ kiểm tra môi trường: Test pH, Test PO43-, Test N-NH4+, Test Oxy, nhiệt
kế
Các dụng cụ phụ trợ khác: xô, vợt, thau …
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Hiện trạng nuôi cá Lóc ở tỉnh Trà Vinh
3.2.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu từ báo cáo của các chi cục thủy sản, trung tâm khuyến nông
khuyến ngư của tỉnh Trà Vinh, báo cáo chuyên ngành có liên quan đến tình hình nuôi cá Lóc Đồng thời số liệu cũng được thu thập từ một số trang web, tạp chí
chuyên ngành và các quyết định của bộ Nông Nghiệp và Phát Triển nông thôn 3.2.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Điều tra hiện trạng nuôi cá Lóc thông qua phỏng vấn trực tiếp nông hộ nuôi cá Lóc
trong vèo bằng phiếu phỏng vấn chuẩn bị trước( phụ lục A) Số hộ nuôi được phỏng vấn là 30 hộ
Địa điểm thu được chọn là hai huyện Cầu Kè và Tiểu Cần của tỉnh Trà Vinh
3.2.2 Thực nghiệm nuôi cá Lóc trong vèo
Thực nghiệm nuôi cá Lóc trong vèo được bố trí nuôi ở 3 hộ dân với mật độ 1.500 con/vèo, vèo được thiết kế với diện tích 15m2/vèo, đặt cách bờ 2-3m Khoảng cách từ đáy vèo đến đáy ao là 0,5m
Cá giống bố trí là cá khỏe được mua từ cơ sở sản xuất giống ở Hậu Giang, có kích thước tương đối đồng đều, có màu đồng nhất, không bị dị hình, dị tật, không có dấu hiệu bệnh và có trọng lượng 2-3g/con Thời gian nuôi thực nghiệm khoảng 4-5 tháng
Trang 17Hình 3.1 Cá Lóc giống
Bảng 3.1 Số hộ thả cá Lóc trong vèo tại tỉnh Trà Vinh
Trần Văn Vốn Ấp Định Hòa, xã Long Thới,
huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh
huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh
2000m2 2,5 m
Trang 183.2.3 Thức ăn
Thức ăn cung cấp cho cá Lóc làthức ăn công nghiệp AFIEX An Giang dành riêng cho cá có vẩy, hàm lượng đạm là 40% Tùy vào giai đoạn phát triển của đàn cá mà quyết định kích cỡ thức ăn từ 1,5-6 mm
Bảng 3.2 Chế độ cho ăn trong quá trình nuôi cá Lóc
Định kỳ bổ sung Vitamin C 2 lần/tuần, men tiêu hóa vào mỗi buổi chiều để nâng
cao sức đề kháng và giúp cá tiêu hóa được tốt hơn
Định kỳ 7 - 10 ngày dùng thuốc diệt ký sinh trùng và men vi sinh để xử lý môi
trường nước, treo túi vôi và túi muối trong vèo ngay đầu nguồn nước để phòng bệnh cho cá
Trang 193.3 Phương pháp thu và phân tích mẫu
3.3.1 Phương pháp thu mẫu
+ Các chỉ tiêu môi trường : pH, Oxy, NH4+/NH3, P-PO43-, được đo bằng test đo nhanh trực tiếp tại chổ và ghi chép số liệu, định kỳ thu mẫu 4 tuần /lần
+ Chỉ tiêu tăng trưởng
Thu mẫu cá trong vèo bằng cách dùng vợt vớt cá ngẫu nhiên, số cá bắt cho mỗi lần
cân tối thiểu là 20 con/vèo Định kỳ thu mẫu 4 tuần /lần, tiến hành cân, đo để xác
định khối lượng và chiều dài
3.3.2 Phương pháp tính toán số liệu
►Tốc độ tăng trưởng khối lượng theo ngày:
►Tốc độ tăng trưởng chiều dài theo ngày:
Trong đó:
W1: khối lượng cuối (g)
W0: khối lượng ban đầu (g)
L1: chiều dài cuối (cm)
L0: chiều dài đầu (cm)
∆t : thời gian giữa 2 lần cân (ngày)
+ Tỷ lệ sống, năng suất nuôi, hiệu quả kinh tế
L1 – L0 tDLG (cm/ngày) =
Số cá thu hoạch
Số cá thả ban đầu
Trang 20►Năng suất nuôi
►Hệ số tiêu tốn thức ăn (Feed Conversion Ratio – FCR)
►Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí
Năng suất nuôi (kg/m2) =
Tổng khối lượng thức ăn sử dụng (g)
Khối lượng cá tăng trọng FCR =
Trang 21Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Tình hình nuôi thủy sản nước ngọt ở huyện Tiểu Cần và Cầu Kè tỉnh Trà Vinh
Bảng 4.1 Sản lượng nuôi thủy sản nước ngọt ở huyện Tiểu Cần và Cầu Kè tỉnh Trà Vinh
cá Lóc, với diện tích 2,66 ha, tập trung ở các xã Ngãi Hùng, Hùng Hòa, Tân Hòa, Tập Ngãi Phong trào nuôi cá Lóc còn mang tính tự phát, rãi rác đơn lẻ và chưa có
sự quy hoạch, quản lý vùng nuôi trong định hướng phát triển Nguồn vốn tự có trong dân còn hạn chế, không đủ cung cấp suốt vụ nuôi, chưa có sự trợ giúp của các
đơn vị tín dụng nhà nước
Theo báo cáo của Phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Cầu Kè trong năm 2012, tổng diện tích nuôi thủy sản là 673,04 ha, giảm 10,05 ha so với năm 2011, số lượng giống thả nuôi 36,73 triệu con cá các loại Cụ thể: nuôi theo hình thức quảng canh kết hợp trong ao, mương vườn, thả nuôi 645,5 ha, số lượng cá thả nuôi là 21,874 triệu con cá các loại như cá chép, điêu hồng, cá Lóc, rô phi Tập trung hầu hết ở các xã trong huyện, lợi nhuận khoảng 2.800 đồng/kg, tuy giá trị lợi nhuận không cao so với hình thức nuôi khác nhưng đã góp phần tăng thu nhập trong gia đình
Trang 224.2 Hiện trạng nuôi cá Lóc
4.2.1 Thông tin chung về nông hộ
Qua kết quả khảo sát cho thấy, độ tuổi trung bình của người nuôi ở Trà Vinh là 36,5±10,2 tuổi, người nuôi có độ tuổi thuộc nhóm từ 25-40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất Tóm lại, tỷ lệ lao động trẻ cao sẽ giúp cho hộ nuôi tiết kiệm chi phí thuê mướn lao động, ngược lại với tỷ lệ lao động trung và cao niên cao thì chi phí thuê mướn lao động của hộ nuôi sẽ tăng lên nhưng kinh nghiệm nuôi mà họ tích lũy được nhiều hơn so với nhóm tuổi lao động trẻ
Ở huyện Tiểu Cần trong số những người nuôi cá Lóc được khảo sát thì tỉ lệ người
nuôi bị mù chữ khá cao (27,59%) nằm trong nhóm lao động cao niên 56-70 tuổi Hộ nuôi được học cấp 1 chiếm (34,48%), cấp 2 là(24,14%) trong đó cấp 3 chiếm tỉ lệ thấp nhất là (10,34%) So với huyện Tiểu Cần thì huyện Cầu Kè số hộ nuôi có trình
độ học vấn cao hơn, không có hộ mù chữ trình độ trên phổ thông chiếm tỉ lệ cao
Lao động tham gia
Lao động là một nhân tố không thể thiếu trong quá trình nuôi Kết quả điều tra cho thấy, để tiết kiệm chi phí sản xuất phần lớn người nuôi sử dụng lao động gia đình trung bình từ 1-2 người/vụ Bên cạnh đó, việc quản lý ao nuôi, chăm sóc cá Lóc tương đối đơn giản nên nhu cầu lao động không nhiều Do vậy, phần lớn hộ nuôi
Trang 23không thuê lao động thường xuyên Tuy nhiên, một số ít hộ nuôi cá Lóc với quy mô
lớn phải thuê thêm từ 1-3 người/vụ lao động thường xuyên
Phong trào nuôi cá Lóc mới phát triển gần đây ở huyện Cầu Kè nên nguồn kiến thức
từ tập huấn ngắn hạn được chú trọng (42,84%) Thông qua các phương tiện thông
tin đại chúng nên người nuôi có thể tự tìm tòi và học hỏi kinh nghiệm từ những
người nuôi trước
4.2.2 Thông tin về kỹ thuật
4.2.2.1 Thiết kế ao, số vụ nuôi
Kết quả phân tích cho thấy, phần lớn số lượng ao nuôi của nông hộ dao động từ 1
đến 2 ao, trong đó tỷ lệ số hộ có 1 ao là 100% ở huyện Cầu Kè Việc chọn số ao ít
để nuôi cá Lóc của người nuôi là để hạn chế chi phí xây dựng ao Tuy nhiên việc
này đem lại cho người nuôi một bất lợi là hiệu quả cho ăn không cao và khó kiểm soát trong quá trình quản lý sức khỏe cho cá Diện tích mỗi ao nuôi từ 250-12500 m2
Bảng 4.3 Thông tin về thiết kế ao, số vụ
Phần lớn người dân ở huyện Tiểu Cần có nguồn thu nhập chính từ việc nuôi cá Lóc
nên các hộ nuôi sản xuất với những vụ nuôi liên tiếp nhau, mỗi năm 2 vụ (Bảng 4.3)
còn ở huyện Cầu Kè do nghề nuôi cá Lóc mới phát triển gần đây nên nuôi cá Lóc
chưa phải là thu nhập chính do vậy có hộ chỉ nuôi 1 vụ Thời gian nuôi trung bình
khoảng 4 -5 tháng/vụ rồi xuất bán 100% cho thương lái thu mua cá Lóc tại ao
Cá Lóc đầu nhím là loài cá rất được ưa chuộng trên thị trường, vì vậy 100% các hộ
nuôi chọn cá Lóc đầu nhím làm đối tượng sản xuất Số lượng con giống trung bình
của mỗi hộ 33.122±14.322 con, mật độ thả trung bình 32,4±13,9con/m2 Giá cá
giống dao động từ 250-450 đồng/con Việc lựa chọn con giống là một trong những
khâu quan trọng quyết định tỷ lệ sống và khả năng kháng bệnh của cá Chính vì vậy,
người nuôi thường chọn những trại giống có uy tín và nguồn giống có chất lượng
cao Theo báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Trà Vinh (2012), trong toàn tỉnh ngoài
trung tâm giống thủy sản chỉ có thêm một cơ sở tư nhân sản xuất giống cá Lóc với
quy mô nhỏ Do vậy, số lượng sản xuất ra hàng năm là rất ít dẫn đến thiếu hụt