1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỬ NGHIỆM ƯƠNG cá CHÌNH BÔNG (anguilla marmorata) TRONG bể với các LOẠI THỨC ăn KHÁC NHAU

31 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 488,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN DƯƠNG BÍCH TRUYỀN THỬ NGHIỆM ƯƠNG CÁ CHÌNH BÔNG Anguilla marmorata TRONG BỂ VỚI CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN

DƯƠNG BÍCH TRUYỀN

THỬ NGHIỆM ƯƠNG CÁ CHÌNH BÔNG (Anguilla marmorata)

TRONG BỂ VỚI CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Ts LÝ VĂN KHÁNH PGs.Ts TRẦN NGỌC HẢI

2012

Trang 2

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu

Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt cũng như nước lợ với diện tích 39.876 km2, trong đó có 954.350 ha mặt nước Một số đối tượng được nuôi phổ biến như tôm sú, cá tra, basa, rô phi…ngoài ra, những năm gần đây các đối tượng như cá chẽm, cá mú, cá kèo…cũng là các đối tượng mới đang được phát triển nuôi ở một số tỉnh ĐBSCL Bên cạnh những loài cá đó, cá chình cũng

là một đối tượng nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao Trong vài năm gần đây, nghề nuôi cá chình đang được phát triển mạnh tại các địa phương như Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên, Quảng Trị, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau với các hình thức nuôi phổ biến như nuôi trong ao đất, bể xi măng và nuôi lồng Đối

tượng được nuôi chủ yếu là cá chình bông (Anguilla marmorata), cá chình mun (Anguilla bicolor bicolor) được khai thác từ tự nhiên Trong đó, chình bông

được nuôi nhiều vì có giá trị kinh tế cao và tốc độ sinh trưởng nhanh

Cá chình là một đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao với chất lượng thịt thơm ngon, dinh dưỡng cao được nhiều người trong và ngoài nước ưa chuộng, có tiềm năng xuất khẩu sang các nước khác rất lớn Mặt khác, chúng có thể sống trong môi trường nước ngọt, lợ mặn và có thể nuôi thâm canh trong ao đất hoặc trong bể xi măng (Nguyễn Chung, 2008)

Các công trình nghiên cứu về cá chình ở ngoài nước rất nhiều, các tác giả không chỉ nghiên cứu sâu về hình thái, phân loại, phân bố và các nghiên cứu về bệnh xuất hiện trên cá chình Tuy nhiên, ở trong nước do cá chình là đối tượng mới được chọn nuôi trong những năm gần đây nên các nghiên cứu ở nước ta về

cá chình mới chỉ cung cấp những số liệu về thành phần loài, phân bố, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về cá chình Do đó để có định hướng cho sự phát triển đối tượng này hiệu quả và bền vững hơn thì vấn đề quản lý, chăm sóc sức khỏe cá, thông tin kỹ thuật cũng cần được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn

Trong đó vấn đề thức ăn cần chú ý nhiều do thức ăn quyết định khá lớn đến hiệu quả của mô hình ương nuôi Thức ăn cho cá hiện nay chủ yếu là cá tạp, trùn chỉ khó chủ động và dễ gây ô nhiễm (được trích dẫn bởi Trần Ngọc Hải, 2010)

Với thực tế từ các vấn đề trên, đề tài “Thử nghiệm ương cá chình bông

(Anguilla marmorata) trong bể với các loại thức ăn khác nhau” được thực

hiện

Trang 3

1.2 Mục tiêu của đề tài

Đề tài thực hiện nhằm mục tiêu tìm ra loại thức ăn thích hợp cho ương cá chình với tăng trưởng đạt hiệu quả cao Góp phần làm hoàn thiện kỹ thuật ương nuôi cá chình ở ĐBSCL

1.3 Nội dung của đề tài

Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá chình được ương trong bể

Trang 4

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học của cá chình

Hình 2.1: Hình dạng cá chình bông A marmorata

(Nguồn: http://thuysanco.wordpress.com/2012/04/04/ca-chinh-bong-marbled-eel/)

2.1.2 Đặc điểm hình thái và phân bố

Vũ Trung Tạng và ctv (2005) cho rằng cá chình là thuộc bộ thân dài có đốt

sống lên đến 260 đốt Vẩy tròn nhưng thường không có xương Xương cánh mắt bướm thành đuôi Đai vây ngực không có xương, xương sau thái dương không gắn với hộp sọ mà gắn với xương đốt sống Ở những dạng cá hiện đại không có vây bụng Xương gian hàm gắn với xương mesoetmoid (ở một vài loài lại gắn với xương mũi) và mang răng như xương hàm (trích Nguyễn Thị Bích Vân, 2009)

Trang 5

Theo Nguyễn Chung (2008), thân cá chình dài, phần trước hình ống phần sau hơi dẹp Đầu cá dài và nhọn, mắt bé Miệng ở phía trước rộng và to, há hốc

và kết thúc gần rìa của mắt Hàm dưới và hàm trên có răng nhỏ xếp thành hàng dài Lỗ mang nhỏ nằm ở phía dưới góc vây ngực Mũi hình tròn có 2 lỗ, lỗ mũi trước có hình ống ở gần rìa đầu của mõm trước và nằm ở phía trước miệng, lỗ mũi sau là 1 dạng mở đơn giản nằm từ trước tới giữa mắt Vảy cá rất nhỏ, xếp như hình chiếc chiếu và dấu dưới da Có vây ngực và vây bụng, vây lưng và vây hậu môn tiếp tục kéo dài tới quanh đuôi Cá chình bông có màu xám tro ở mặt lưng, màu vàng nhạt ở mặt bụng, vây lưng màu sẫm, rìa vây lưng vây hậu môn cùng với vây đuôi có màu đen

Chình bông trưởng thành có màu vàng với màu nâu xanh đến đen trên lưng và bụng màu trắng, con nhỏ có màu hơi xám đến vàng Chiều dài thân gấp 7 lần chiều dài đầu, gấp 3,5 lần chiều dài trước vây lưng và 2 lần chiều dài vây hậu môn Do tập tính sống ở hang hốc và đáy sông hồ nên mắt nhỏ, và các cơ quan khứu giác, cơ quan đường bên phát triển Đường bên dọc giữa thân, vây ngực nhỏ gần như hình tròn, không có vây bụng Vây lưng, vây hậu môn, vây đuôi đính liền nhau đều và tương đối phát triển, khoảng cách từ khởi điểm vây lưng đến vây hậu môn lớn hơn từ đó đến khe mang, hậu môn ở nửa trước của thân (http://thuysanco.wordpress.com/2012/04/04/ca-chinh-bong-marbled-eel/)

Cá chình bông phân bố rất rộng từ vùng nhiệt đới đến ôn đới của vùng Ấn

Độ Dương - Thái Bình Dương, từ Đông Châu Phi đến quần đảo Polynesia, từ Bắc tới Nam Nhật Bản Ở châu Phi cá chình có nhiều ở đảo Mozambique và hạ nguồn sông Zambezi Ở Úc không thấy cá chình bông xuất hiện (Nguyễn Chung, 2008)

Ở Việt Nam, cá chình bông tập trung sinh sống trên sông Bồ, sông Hương

và đầm Cầu Hai tỉnh Thừa Thiên - Huế; trên sông Trà Khúc vùng Ba Tơ - Quảng Ngãi; trên sông Con, sông Ba - tỉnh Phú Yên, trên sông Ngàn Phố - Hà Tĩnh, trong hồ Đắc Uy - tỉnh Kon Tum, trong đầm Châu Trúc - Bình Định và trên sông Thạch Hãn, sông Hiền Lương, khu ngã ba lòng huyện Triệu Phong, Đakrong, khe Sanh, Tà Rụt huyện Đakrong tỉnh Quảng Trị (Nguyễn Chung, 2008)

2.1.3 Môi trường

Theo Nguyễn Chung (2008), cá chình là loài cá có tính thích ứng rộng với

độ mặn, cá có thể sống được ở nước mặn, nước lợ và nước ngọt Cá thích bóng tối, sợ ánh sáng nên ban ngày chui rúc trong hang, dưới đáy ao, nơi có ánh sáng yếu, tối bò ra kiếm mồi, da và ruột cá có khả năng hô hấp dưới 150C mà chỉ cần giữ cho da cá ẩm ướt là có thể sống được khá lâu

Trang 6

* Nhiệt độ

Cá chình là loài cá có phạm vi thích ứng nhiệt rộng, đối với nhiệt độ từ 1

- 380C cá đều có thể sống được, nhưng trên 120C cá mới bắt mồi, nhiệt độ sinh trưởng là 13 - 300C, thích hợp nhất là 25 - 270C (Nguyễn Chung, 2008)

* Đạm

Nitrogen trong nước tồn tại dưới 4 dạng chính: NH3, NH4+, NO2-, NO3- Trong đó, NH3 và nitritelà yếu tố nguy hiểm gây độc đối với động vật thủy sản Khi hàm lượng NH3 trong nước gia tăng, sự bài tiết NH3 ở sinh vật sẽ bị giảm đi, khi đó lượng NH3 trong máu và mô tăng Kết quả làm tăng pH máu và tác động xấu đến phản ứng xúc tác enzyme, tính bền của màng tế bào, tăng nhu cầu oxy trong các mô, làm tổn thương mang và giảm khả năng vận chuyển oxy của máu Đối với nitrite, khi nitrite được cá hấp thụ nó sẽ phản ứng với hemoglobin để tạo thành methemoglobin không có khả năng kết hợp với oxy Khi đó độc tính của nitrite dẫn đến làm giảm hoạt động của hemoglobin hoặc thiếu máu chức năng Lượng NO2- cho phép đối với các ao nuôi từ 0,01 - 1,7 mg/l và với NH3 là dưới 0,2 mg/l (Trương Quốc Phú, 2006)

Đạm NH4+ trong nước cần thiết cho sự phát triển của các sinh vật là thức

ăn tự nhiên trong thủy vực Nhưng nếu NH4+ quá cao sẽ làm cho thực vật phù du phát triển, nếu thực vật phù du phát triển quá mức sẽ gây hại cho tôm cá và hàm lượng thích hợp dao động trong khoảng 0,2 - 2 mg/l (Nguyễn Văn Thường, 2006)

NO3- trong thủy vực là dạng đạm mà thực vật hấp thu dễ nhất và không độc đối với thủy sinh vật, hàm lượng NO3- thích hợp cho các ao nuôi dao động từ 0,1

- 1 mg/l (Nguyễn Văn Thường, 2006)

Trang 7

2.1.4 Dinh dưỡng và sinh trưởng

Theo Nguyễn Chung (2008), cá chình là loài cá ăn thịt Ở giai đoạn cá giống thức ăn chủ yếu của cá là luân trùng, tảo, giun ít tơ, ấu trùng, côn trùng Khi cá nặng khoảng 5 g bắt đầu đuổi bắt mồi như cá con, tôm con, xác các động vật chết Khi nhiệt độ nước trên 120C bắt đầu bắt mồi, nhiệt độ khoảng 24 - 300C

cá ăn khoẻ và ăn nhiều Lượng thức ăn chiếm 10 – 12 % trọng lượng cơ thể

Trong điều kiện nuôi cá có thể sử dụng tốt thức ăn nhân tạo, tuy nhiên thức ăn nhân tạo nuôi cá chình cần có hàm lượng protein cao (trên 40% protein) Khi cho cá ăn thức ăn nhân tạo có 52 % protein, 24 % Carbonhydrat, 10 % nước,

4 % chất béo và 10 % tro thì hệ số FCR là 1,4 Trong khi đối với thức ăn là cá tươi thì FCR là 7 (theo Atsushi usui, 1991 trích bởi Trần Công Lanh (2007))

Nếu thức ăn tốt sau 1 năm nuôi kể từ lúc vớt ngoài tự nhiên có thể đạt cỡ

4 - 6 con/kg.Cá sinh trưởng chậm, nhất là cỡ từ 300 g trở nên tốc độ sinh trưởng chỉ bằng 1/10 tốc độ sinh trưởng của giai đoạn cá có trọng lượng 70 – 100 g Khi còn nhỏ tốc độ sinh trưởng của cá trong đàn tương đương nhau nhưng khi đạt chiều dài hơn 40 cm con đực lớn chậm hơn con cái (http://agriviet.com/nd/895-sinh-hoc-va-ky-thuat-nuoi-ca-chinh/)

2.1.5 Tập tính sinh sản

Tuổi thành thục của cá cái là 4 - 5 tuổi, cá đực 3 - 4 tuổi Cá bố mẹ thành thục khi thấy vây ngực, vây lưng, bụng có màu đen ánh bạc, có con phía bụng có màu đỏ hồng nhạt, gốc vây ngực có màu vàng ánh kim tức màu "áo cưới" (Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ, 2003)

Cá chình sống ở nước ngọt, di cư ra biển sinh sản Sống ở nước ngọt, tuyến sinh dục của cá không thể thành thục Hàng năm cứ đến mùa thu là cá chình tập kết, kết đàn từ sông suối, hồ đầm kéo nhau ra biển Trong quá trình di chuyển tuyến sinh dục chín dần, cuối cùng đến bãi đẻ ở ngoài biển sâu đẻ trứng

Sức sinh sản của cá chình bông mẹ Anguilla marmorata nặng 1,5 - 2 kg có thể

đẻ 1.500.000-2.000.000 trứng (Nguyễn Chung, 2008)

2.2 Một số bệnh thường gặp trong ương nuôi cá chình

Theo Nguyễn Chung (2008) có một số nghiên cứu về bệnh trên cá chình như sau: Bệnh xuất huyết do nhiễm khuẩn Aromonas cá bị xuất huyết ở vây, đuôi, từng mảng trên thân màu đỏ, hậu môn viêm đỏ lồi ra ngoài Cách phòng: cá

bị bệnh vớt bỏ ngay con bệnh, cá giống dùng thuốc Oxytetracylin hay nhóm Sulphamid 0,2 - 0,5 mg/l tắm cho cá trong 1 giờ, mỗi ngày 1 lần và thay nước mới trong 3 ngày Cá thịt dùng thuốc Oxytetracylin hay nhóm Sulphamid 100 -

Trang 8

200 gr/100 kg thức ăn và bổ sung thêm vitamin C vào thức ăn cho cá Bệnh do nhóm vi khuẩn Steptococcus cá mắc bệnh bơi lội không định hướng xoay vòng tròn, than sẫm màu, bơi trên tầng mặt, mắt lồi, xuất huyết ở mắt và gốc vây Cách phòng: quản lý môi trường nuôi tốt, xử lý môi trường bằng hóa chất diệt khuẩn

Ngoài ra, theo một số nghiên cứu khác về bệnh trên cá chình của Chu Văn Công (2008) có một số bệnh như sau: Bệnh nhiễm trùng máu (còn gọi là bệnh đốm đỏ hay bệnh xuất huyết, hội chứng lở loét, bệnh trắng đuôi), thuốc phòng: Ciprogen for fish và Enro-Ampitrim for fish, Bioflum for fish; Nhóm bệnh do ký sinh trùng: Bệnh trùng bánh xe, trùng quả dưa, bệnh sán lá 16 móc dùng Formalin liều lượng 25 - 30 mg/l và nhóm bệnh do nấm dùng KMnO4 với liều lượng 1 - 2 mg/l (Nguyễn Thị Bích Vân, 2009)

2.3 Hệ thống lọc tuần hoàn

2.3.1 Khái quát về hệ thống lọc tuần hoàn

Hiện nay, hệ thống tuần hoàn nước được xem là công nghệ nuôi trồng thủy sản tiên tiến Nó phù hợp ở những nơi khó khăn về đất và nước, những nơi

có chất lượng nước kém hay nhiệt độ ngoài vùng tối ưu của loài thủy sản do hệ thống tuần hoàn nước chiếm diện tích nhỏ, sử dụng ít nước hơn hệ thống thủy sản truyền thống và có thể tạo điều kiện môi trường tốt cho các loài cá phát triển Những nơi nuôi thâm canh cần hệ thống tuần hoàn hơn so với hệ thống mở như

ao, hồ Hệ thống tuần hoàn là một hệ thống xử lý nước thay thế một nguồn nước thô để tạo lại một chất lượng nước phù hợp với nuôi trồng thủy sản Và là hệ thống tái sử dụng nước bằng xử lý cơ học, sinh học và hóa học (Dương Tuấn

* Khuyết điểm

Bên cạnh đó, hệ thống tuần hoàn nước cũng có những nhược điểm: chi phí đầu tư cao, tốn kém chi phí vận hành và duy trì hoạt động cũng như đòi hỏi công nhân sản xuất phải được đào tạo (Dương Tuấn Thịnh, 2011)

Trang 9

2.4 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của thức ăn

Thức ăn có vai trò quan trọng quyết định đến năng suất, sản lượng và hiệu quả của nghề nuôi thủy sản Vì vậy, thức ăn là yếu tố luôn được quan tâm hàng đầu, nếu chọn lựa được loại thức ăn tốt và thích hợp với đối tượng nuôi sẽ làm giảm được chi phí, nâng cao hiệu quả cho người nuôi Trong cùng điều kiện nuôi dưỡng như môi trường, đối tượng nuôi và áp dụng các biện pháp kỹ thuật như nhau thì thức ăn có vai trò quyết định đến tốc độ tăng trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009)

Phạm Ngọc Nhàn (2009), thử nghiệm ảnh hưởng của các loại thức ăn lên

lươn đồng (Monopterus albus) trong giai đoạn giống lớn Thí nghiệm được thực

hiện với 4 nghiệm thức thức ăn: (1) thức ăn công nghiệp (thức ăn Cargill 35% đạm dành cho cá tra), (2) thức ăn tươi sống (tép, cá tạp, hến theo tỷ lệ 2:1:1), (3) thức ăn tươi sống kết hợp thức ăn công nghiệp với tỷ lệ 1:1, (4) thức ăn tự chế Kết quả thí nghiệm cho thấy, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối, tương đối về chiều dài, khối lượng của lươn đồng trong giai đoạn giống lớn khi sử dụng các loại thức ăn khác nhau có khuynh hướng giảm theo sự phát triển của cơ thể Tỉ lệ sống của lươn đồng khi cho ăn thức ăn tươi sống (90,67 %) cao hơn so với cho

ăn thức ăn tươi sống kết hợp thức ăn công nghiệp (85,33 %), cho thức ăn công nghiệp (80,44 %) và cho ăn thức ăn tự chế (80,89 %) FCR của lươn đồng ở nghiệm thức cho ăn thức ăn tươi sống (0,49) thấp hơn so với cho ăn thức ăn tươi sống kết hợp thức ăn công nghiệp (1,24), thức ăn công nghiệp (2,14) và thức ăn

tự chế (5,55)

Phan Minh Thùy (2008), ương lươn đồng (Monopterus albus) từ bột lên

giống bằng các loại thức ăn khác nhau Thí nghiệm được bố trí với 4 nghiệm thức thức ăn: (1) thức ăn trùn chỉ, (2) cá biển xay, (3) thức ăn chế biến, (4) thức

ăn chế biến kết hợp trùn chỉ Kết quả cho thấy, lươn được cho ăn trùn chỉ có tỷ lệ sống cao 97,9 % và tăng trưởng nhanh nhất, trong khi đó lươn được cho ăn thức

ăn chế biến thì ngược lại, tỷ lệ sống thấp 81,6 % Đồng thời, lươn tăng trưởng chiều dài (0,15±0,008 cm/ngày) nhanh hơn về khối lượng (3,2±0,03 %/ngày) khi ương từ giai đoạn từ bột lên giống Mức độ phân hóa sinh trưởng của lươn 60 ngày tuổi rõ ràng và phức tạp hơn lươn 30 ngày tuổi

Ngô Thị Kim Sang (2010), thử nghiệm ương cá leo (Wallago attu Bloch

and Schneider, 1801) bằng các loại thức ăn khác nhau Thí nghiệm được bố trí với 3 nghiệm thức thức ăn: (1) cho cá ăn thức ăn tự chế biến với hàm lượng đạm

40 %, (2) cho cá ăn cá cơm, (3) cho cá ăn thức ăn tự chế biến, hàm lượng đạm

50 % Kết quả cho thấy, khi sử dụng thức ăn tự chế biến có hàm lượng đạm cao (50 %) giúp cá leo tăng trưởng nhanh hơn khi sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm

Trang 10

thấp (40 %) Ương cá leo sử dụng thức ăn là cá cơm cho kết quả với tỷ lệ sống cao nhất 80 % sau 30 ngày ương, kế đến là thức ăn tự chế biến 50 % CP với tỷ lệ sống 71,3 % và thấp nhất là thức ăn tự chế biến 40 % CP với tỷ lệ sống 64,7 % Ương cá leo bằng thức ăn là cá tạp thì cá đạt tăng trưởng và tỷ lệ sống cao hơn sử dụng thức ăn tự chế biến

Nguyễn Văn Trung (2009), thử nghiệm ương cá ngát (Plotosus canius) với các loại thức ăn khác nhau Thí nghiệm được bố trí với 3 nghiệm thức thức ăn: (1) TANT (thức ăn nhân tạo), (2) cá tạp và (3) TANT kết hợp cá tạp trong thời gian nuôi 4 tháng Kết quả thí nghiệm cho thấy, cá được cho ăn cá tạp có tăng trưởng nhanh nhất, kế đến là nghiệm thức cho cá ăn TANT kết hợp cá tạp và thấp nhất là nghiệm thức sử dụng TANT Đồng thời, ở tất cả các nghiệm thức đều có một số cá thể phân đàn nhưng không đáng kể

Tôn Nữ Mỹ Hương (2010), thử nghiệm ương nuôi cá lăng nha (Mystus

wyckioides Fang and Chaux, 1949) Thí nghiệm được bố trí gồm 2 đợt thí nghiệm

với 3 nghiệm thức thức ăn là trùn chỉ, thức ăn công nghiệp và cá biển luộc chín Kết quả cho thấy, ở cả 2 đợt thí nghiệm thì tốc độ sinh trưởng về khối lượng và chiều dài của cá ở nghiệm thức 1 (cho ăn trùn chỉ) nhanh nhất, kế đến là tốc độ sinh trưởng của cá ở nghiệm thức 2 (cho ăn thức ăn công nghiệp) và tăng trưởng chậm nhất là cá ở nghiệm thức 3 (cho ăn cá biển luộc)

2.5 Tổng quan tình hình nuôi cá chình trên thế giới và Việt Nam

2.5.1 Thế giới

Sản lượng nuôi trồng thủy sản của thế giới có xu hướng tăng dần theo thời gian với sản lượng chủ yếu từ các quốc gia châu Á chiếm 91,2 % tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của thế giới (FAO, 2005 và 2006) Trong đó, sản lượng nuôi thủy sản nội địa chiếm 61,1 % tổng sản lượng nuôi thủy sản thế giới, nuôi thủy sản biển chiếm 38,9 % giá trị nuôi trồng thủy sản và đạt khoảng 78,8 tỷ USD Theo báo cáo của FAO (2006), châu Á chiếm 9 vị trí trong 10 quốc gia dẫn đầu

về nuôi trồng thủy sản gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Indonesia, Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc, Bangladesh, Chile và Mỹ

Sản lượng cá chình trên thế giới phần lớn sản phẩm được sản xuất từ các nước Châu Á, trong đó Trung Quốc, Nhật Bản , Đài Loan là những nước sản xuất chủ yếu Thị trường tiêu thụ cá chủ yếu là Nhật chiếm 60% tổng sản lượng (Wray, 1995) Đây là loài cá nước ngọt được ưa thích nhất ở Nhật (Nguyễn Thị Bích Vân, 2009)

Nghề nuôi cá chình phát triển mạnh trên thế giới hiện có 4 nước là Nhật

Bản, Đài Loan, Trung Quốc và Hàn Quốc (Usui, 1991) Trong khi đó theo Lee et

Trang 11

al (2003) được trích bởi Trương Minh Út (2009) thì chi phí con giống chiếm

khoảng 21,3-26,5 % tổng chi phí sản xuất tại Đài Loan, Trung Quốc và Nhật Bản (Nguyễn Thị Bích Vân, 2009)

Cá chình được bắt đầu nuôi ở Nhật Bản từ 1894 và hiện nay đang được nuôi với quy mô lớn (khoảng 37.000 tấn/năm) với hai hình thức phổ biến là

“nuôi nước tĩnh” và “nuôi nước chảy” Các nước như Đài Loan, Hàn Quốc cũng đang áp dụng mô hình nuôi cá chình của Nhật Bản Năm 2000, sản lượng cá chình nuôi ở Trung Quốc đạt khoảng 16.000 tấn Còn ở Đài Loan bắt đầu nuôi thực nghiệm cá chình từ năm 1926 đến năm 1972 xuất sang Nhật Bản trị giá 30 triệu USD, diện tích nuôi là 1.058 ha, còn nuôi cá chình làm mồi câu cá mập sản xuất 30.000 tấn/năm Trung Quốc bắt đầu nuôi từ những năm của thập kỷ 70, đã đưa năng suất lên 15 tấn/ha, đạt 155.000 tấn, năm 2000 đạt 200.000 tấn Ở Châu

Âu, hàng năm có khoảng 25.000 tấn cá chình được tiêu thụ Khoảng 70 % sản lượng cá chình là của châu Á và được coi là thị trường cá chình quan trọng nhất trên thế giới Tuy nhiên, sản lượng cá chình vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ (Nguyễn Thị Bích Vân, 2009)

Hầu hết sản lượng cá chình ở châu Âu là từ việc nuôi trong hệ thống bể sử dụng nước quay vòng Trong điều kiện nuôi cá chình thâm canh trong bể thì yêu cầu về chọn địa điểm đặt bể không bị khống chế nhưng tốt nhất nên dùng hệ thống nước quay vòng qua lọc sinh học để đảm bảo chất lượng nước (Neumer, 1983; Forteath, 1990) Ương giống cá chình tốt nhất là thực hiện trong bể sau đó mới chuyển ra nuôi thương phẩm trong bể hoặc trong ao Thông thường cá được nuôi thương phẩm trong bể có dung tích 1.000-20.000 lít với hệ thống nước chảy quay vòng (Hart and O’Sullivan, 1993) Đặc biệt yêu cầu đối với việc sử dụng nước quay vòng thì nhất thiết phải qua lọc để loại bỏ những yếu tố gây độc cho

cá nhằm duy trì chất lượng nước tốt Mật độ nuôi trung bình trong bể là 80 kg/m3(Gooley, 1998) (Nguyễn Thị Bích Vân, 2009)

2.5.2 Việt Nam

Việt Nam là nước có truyền thống nuôi trồng thủy sản lâu đời, tình hình nuôi trồng thủy sản của Việt Nam trong những năm qua phát triển rất mạnh Theo thống kê sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2010 đạt trên 2,8 triệu tấn, tăng hơn 160 nghìn tấn so với năm 2009 (tăng 9 %)

Theo Chu Văn Công (2005) ở Việt Nam cá chình được nghiên cứu từ những năm đầu thập kỉ 30, tuy nhiên các công trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc công bố thành phần loài, đặc điểm phân loại của chúng

Trang 12

Ở nước ta cá chình được nuôi rải rác ở khắp nơi với quy mô nhỏ Cá chình được nuôi ở các tỉnh như Phú Yên, Bình Định, An Giang, Bạc Liêu, Cà

Mau Với loài nuôi phổ biến nhất là loài cá chình bông (A marmorata) chiếm 80-90% sản lượng, cá chình mun (A bicolor bicolor) chiếm 10 – 20 % Viện

nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 3 đã áp dụng phương pháp nuôi cá chình bông trong nước ngọt và nước lợ, bằng cách thả cá con kích cở từ 10-15 cm vào khu vực ao đã được xử lý nguồn nước Cá chình được cho ăn bằng các loại cá tạp và sau 8 tháng nuôi cá đạt 90 g/con Hiện nay, mô hình nuôi cá chình bông đang được nhân rộng trong dân do nuôi cá chình bông ít tốn kém, lại có giá trị kinh tế cao (trích Nguyễn Thị Bích Vân, 2009)

Năm 2001, tại Phú Yên, cá chình được nuôi trong lồng trên sông, thời kỳ cao điểm có trên 200 lồng, bao gồm cá chình Bông, cá chình Mun Tuy nhiên do nắng hạn kéo dài cá bị chết hàng loạt làm thiệt hại lớn về kinh tế nên đến tháng

12 năm 2001 Phú Yên chỉ còn khoảng 20 – 30 lồng nuôi Tại Bình Ðịnh, cá chình được nuôi trong ao đất, nuôi trong bể xi măng ở Đập Đá, Tây Sơn, Phù

Mỹ, Bồng Sơn, Vĩnh Thạnh, An Lão với 3 loại cá chình: chình Bông và chình Mun, chình Nhọn (sống nhiều ở Đầm Trà Ổ thuộc huyện Phù Mỹ) Tại An Lão, người dân nuôi cá chình trong ao đất với mật độ 6 con/m2, cỡ giống thả ban đầu

300 g/con, sau thời gian nuôi 10 tháng, cá đạt kích cỡ thương phẩm 1 kg/con (http://thuysanco.wordpress.com/2012/04/04/ca-chinh-bong-marbled-eel/)

Trang 13

PHẦN III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Máy đo pH, nhiệt kế

Hệ thống máy bơm, sục khí, sàn ăn, cân đồng hồ, cân điện tử, xô nhựa, thau nhựa, thước nhựa,

3.3.2 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức thức ăn: (i) Thức ăn nhân tạo (TANT), (ii) Cá tạp, (iii) Thức ăn nhân tạo + cá tạp Mỗi nghiệm thức lặp lại 2 lần Mật độ cá thí nghiệm là 20 con/m3

Cá chình được ương hoàn toàn trong nước ngọt và được bố trí trong bể composite (2 m3/bể), sục khí liên tục, hệ thống được bố trí lọc tuần hoàn, mỗi bể

có ống thoát nước ở trung tâm Hệ thống bể ương được che tối (hình 3.1)

Thời gian thí nghiệm: 8 tháng

Trang 14

Hình 3.1 Hệ thống bể thí nghiệm và cá chình ương 3.3.3 Thức ăn thí nghiệm

Thức ăn nhân tạo có dạng bột mịn, có hàm lượng protein 50 % được phối chế từ các nguyên liệu gồm: bột cá, bột đậu nành, mì tinh, cám, dầu, vitamin, gelatin (Bảng 3.1) Khi cho cá ăn, hòa thức ăn với nước thành dạng dẻo và trung bình 1 kg thức ăn cần 0,9 lít nước

Bảng 3.1: Tỉ lệ thành phần nguyên liệu làm thức ăn cho cá chình

Thành phần nguyên

liệu

Tỷ lệ tính theo khối lượng khô (%)

Tỷ lệ tính theo nguyên liệu thực tế (g)

3.3.4 Chăm sóc và quản lý

 Cho ăn: Cho cá ăn bằng sàn ăn 2 lần/ngày (7h, 17h) Cho ăn theo nhu cầu của cá khoảng 5 – 7 % trọng lượng thân Lượng thức ăn được điều chỉnh theo nhu cầu ăn của cá

Trang 15

 Quản lý môi trường: môi trường nước được quản lý ổn định Siphon bể hàng ngày, bổ sung lượng nước hụt vào bể và thay nước 1 lần/tháng (30 – 40 %) Các yếu tố môi trường nước như nhiệt độ, pH được theo dõi định kỳ và thu 2 tuần/lần (8h sáng và 14h chiều) bằng cách đo trực tiếp bằng máy đo pH và nhiệt

độ Yếu tố đạm tổng số (TAN) và N-NO2- được thu 4 tuần/lần vào buổi sáng bằng bộ test NH4+/NH3 và N-NO2-

 Thu mẫu: Mẫu cá được thu để xác định khối lượng, tốc độ tăng trưởng,

tỉ lệ sống, sinh khối và sự phân đàn của cá Mẫu cá được thu 2 tháng/lần bằng cách vớt và cân toàn bộ cá trong bể Sau 8 tháng ương thì xác định khối lượng từng cá thể

Các chỉ tiêu theo dõi:

- Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (g/ngày) = (Wc – Wđ)/t

- Tốc độ tăng trưởng tương đối (%/ngày) = 100 x (lnWc – lnWđ)/t Trong đó: Wđ: khối lượng cá ban đầu (g)

Wc: khối lượng cá cuối (g)

t: thời gian thí nghiệm (ngày)

- Tỉ lệ sống (%) = 100 x (số cá thể cuối/số cá thể ban đầu)

- Sinh khối (g/m3) = khối lượng cá (g)/1 m3 nước

- FCR = khối lượng thức ăn/tăng trọng của cá

- Sự phân đàn của cá sau 8 tháng nuôi:

CV= độ lệch chuẩn/khối lượng trung bình của cá sau 8 tháng

3.4 Xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm Excel 2003 và SPSS version 13 Các số liệu thu thập được tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và phân tích thống kê (One-way Anova với phép thử Duncan) để tìm ra sự khác biệt giữa các trung bình các nghiệm thức ở mức ý nghĩa p < 0,05

Ngày đăng: 09/04/2018, 20:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm