1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Bảng thống kê các văn bản truyện và thơ lớp 9 HKI

7 898 5

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BẢNG THỐNG KÊ CÁC VĂN BẢN THƠ VÀ TRUYỆN LỚP 9 HỌC KÌ I Tên văn bản, hoàn cảnh sáng tác Tác giả năm sinh, năm mất, quê quán, đề tài và phong cách sáng tác Chuyện người con gái Nam Xương t

Trang 1

BẢNG THỐNG KÊ CÁC VĂN BẢN THƠ VÀ TRUYỆN LỚP 9 HỌC KÌ I

Tên văn bản, hoàn cảnh

sáng tác

Tác giả (năm sinh, năm mất, quê quán, đề tài và phong cách sáng tác)

Chuyện người con gái Nam

Xương (trích “Truyền kì

mạn lục”, là câu chuyện

thứ 16) – Sáng tác vào thế kỉ

XVI, là thời kì triều đình nhà

Lê bắt đầu khủng hoảng, các

tập đoàn phong kiến Lê,

Mạc, Trịnh tranh giành

quyền bính, gây ra các cuộc

nội chiến kéo dài

- Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất)

- Quê : huyện Trường Tân, nay là Thanh Miện, Hải Dương

- Đề tài : Thường là những người phụ

nữ bất hạnh, khao khát cuộc sống bình yên, hạnh phúc, nhưng các thế lực bạo tàn và lễ giáo khắc nghiệt

đã xô đẩy họ vào hoàn cảnh éo le, oan khuất Một loại nhân vật khác là những người tri thức có tâm huyết, bất mãn với thời cuộc, không chịu trói mình trong vòng danh lợi chật hẹp

Truyện truyền kì

Thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, đồng thời khẳng định

vẻ đẹp truyền thống của họ

- Là một áng “thiên cổ kì bút”, thành công về nghệ thuật dựng truyện, miêu tả nhân vật, kết hợp tự sự với trữ tình

- Viết bằng chữ Hán, kết hợp các yếu tố hiện thực và yếu tố hoang đường kì ảo với cách

kể chuyện, xây dựng nhân vật rất thành công

Hoàng Lê nhất thống chí

(Hồi 14) – Ra đời khoảng 30

năm cuối thế kỉ XVIII và

những năm đầu thế kỉ XIX,

vào thời điểm Tây Sơn diệt

Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua

- Ngô gia văn phái : một nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì Trong đó hai tác giả chính là Ngô Thì Chí (1753 – 1788) và Ngô Thì Du (1772 – 1840)

- Quê : làng Tả Thanh Oai, huyện

Thể chí Tái hiện chân thực hình

ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và

- Phản ánh với quan điểm tôn trọng sự thật lịch sử, có ý thức tự tôn dân tộc

- Sử dụng thành công nghệ thuật tương phản

Trang 2

Lê Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (nay thuộc

Hà Nội)

- Đề tài : Ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc

Hà cho vua Lê (?)

số phận bi đát của vua tôi

Lê Chiêu Thống

– đối lập để tạo nên các bức chân dung

- Kể kết hợp với miêu tả -> Sinh động

Chị em Thúy Kiều – Nằm ở

phần đầu “Gặp gỡ và đính

ước”

- Nguyễn Du (1765 – 1820)

- Tên chữ : Tố Như, hiệu là Thanh Hiên

- Quê : làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

- Đề tài : Số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, xinh đẹp, tài năng nhưng bất hạnh (?)

Truyện thơ Nôm

Trân trọng ngợi ca vẻ đẹp của chị em Thuý Kiều, dự cảm về số phận nhân vật, thể hiện cảm hứng nhân văn sâu sắc

- Sử dụng bút pháp nghệ thuật ước lệ tượng trưng, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp của con người, khắc họa rõ nét chân dung chị em Thúy Kiều

Cảnh ngày xuân – Nằm

phần đầu “Gặp gỡ và đính

ước”

Bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng

Từ ngữ bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình

Kiều ở lầu Ngưng Bích –

Nằm ở phần thứ hai “Gia

biến và lưu lạc”

-Nằm trong tác phẩm “Truyện

Kiều”, dựa theo cốt truyện

“Kim Vân Kiều truyện” của

Cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi

và tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo của Thuý Kiều

Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, miêu tả nội tâm, sử dụng ngôn ngữ độc thoại, điệp từ, điệp cấu trúc…

Trang 3

Thanh Tâm Tài Nhân, sáng

tác vào cuối thế kỉ XVIII –

đầu thế kỉ XIX, vào lúc chế

độ phong kiến Việt Nam

khủng hoảng trầm trọng, bão

táp phong trào nông dân khởi

nghĩa nổi lên khắp nơi

Lục Vân Tiên cứu Kiều

Nguyệt Nga – Nằm ở phần

đầu truyện “Lục Vân Tiên”,

sáng tác đầu những năm 50

của thế kỉ XIX, khi thực dân

Pháp xâm lược Nam Kì (?)

- Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), tục gọi là Đồ Chiểu

- Quê mẹ : làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay thuộc TP Hồ Chí Minh)

- Quê cha : xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế

- Đề tài : Những bài thơ, văn nhằm khích lệ tinh thần chiến đấu của nhân dân và truyền bá đạo lí làm người

Truyện thơ Nôm

Khắc hoạ những phẩm chất đẹp đẽ của hai nhân vật: Lục Vân Tiên tài ba dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài; Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết na, ân tình

Ngôn ngữ giản dị mộc mạc mang màu sắc Nam Bộ; xây dựng nhân vật qua hành động, cử chỉ lời nói

Đồng chí – Sáng tác vào đầu

năm 1948, sau khi tác giả

cùng đồng đội tham gia chiến

đấu trong chiến dịch Việt

Bắc (thu đông 1947) đánh

bại cuộc tiến công quy mô

lớn của giặc Pháp lên chiến

- Chính Hữu (1926 – 2007)

- Tên khai sinh : Trần Đình Đắc

- Quê : huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

- Đề tài : hầu như chỉ viết về người lính và chiến tranh

- Phong cách thơ hàm xúc, cô đọng,

Thơ tự do

Bài thơ ngợi ca tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn giữa lửa đạn chiến tranh, đồng thời khắc họa những khó khăn thiếu thốn của cuộc kháng chiến trường kì, gian khổ

- Chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, chân thực,

cô đọng, giàu sức biểu cảm

- Sử dụng bút pháp tả thực, có sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố hiện

Trang 4

khu Việt Bắc Bài thơ rút từ

tập “Đầu súng trăng treo”

(1966)

cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc

thực và lãng mạn

Bài thơ về tiểu đội xe không

kính - Viết năm 1969 khi

cuộc kháng chiến chống Mĩ

diễn ra đầy gian khổ, ác liệt

Bản thân Phạm Tiến Duật là

chiến sĩ lái xe Trường Sơn

nên ông đã viết bài thơ bằng

những trải nghiệm thực của

mình Bài thơ rút rừ tập

“Vầng trăng quầng lửa”

- Phạm Tiến Duật (1941 – 2007)

- Quê : huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ

- Đề tài : Tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ qua các hình tượng người lính và cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn

- Phong cách thơ : có giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc

Thơ tự do

Qua hình ảnh độc đáo : những chiếc xe không kính, bài thơ khắc họa hình ảnh những chiến sĩ lái

xe trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm chống Mĩ với tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan, dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm và ý chí chiến đấu giải phóng Miền Nam

- Giọng điệu ngang tàng, phóng khoáng pha chút nghịch ngợm

- Hình ảnh thơ độc đáo, ngôn từ có tính khẩu ngữ gần với văn xuôi

- Nhan đề độc đáo

Đoàn thuyền đánh cá –

Sáng tác giữa năm 1958, khi

tác giả có chuyến đi thực tế

dài ngày ở vùng mỏ Quảng

Ninh Bài thơ rút trong tập

“Trời mỗi ngày lại sáng”

(1958)

- Huy Cận (1919 – 2005), tên đầy đủ

là Cù Huy Cận

- Quê : làng Ân Phú, huyện Vụ Quang (trước thuộc huyện Hương Sơn, sau là Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh

Thơ 7 chữ

Bài thơ là sự kết hợp hài hoà giữa cảm hứng về thiên nhiên vũ trụ và cảm hứng về lao động và cuộc sống mới Qua đó, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của con người lao động được làm chủ thiên nhiên và làm chủ cuộc sống của mình

- Âm hưởng thơ vừa khoẻ khoắn sôi nổi, vừa phơi phơi bay bổng

- Cách gieo vần có nhiều biến hoá linh hoạt các vần trắc xen lẫn vần bằng, vần liền xen với vần cách

- Nhiều hình ảnh tráng

Trang 5

lệ, trớ tưởng tượng phong phỳ

Bếp lửa - Được viết năm

1963, khi tỏc giả đang là sinh

viờn học ngành Luật ở nước

ngoài (Liờn Xụ cũ) Bài thơ

được đưa vào tập “Hương

cõy- Bếp lửa” (1968) tập thơ

đầu tay của Bằng Việt – Lưu

Quang Vũ

- Bằng Việt (sinh năm 1941), tờn khai sinh là Nguyễn Việt Bằng

- Quờ : huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tõy (nay thuộc Hà Nội)

- Phong cỏch thơ : trầm lắng, suy tư, ngụn ngữ mượt mà, trong trẻo

Thơ 7+8 chữ

Gợi lại những kỉ niệm đầy xỳc động về người bà và tỡnh bà chỏu, đồng thời thể hiện lũng kớnh yờu trõn trọng và biết ơn của chỏu đối với bà và cũng là đối với gia đỡnh, quờ hương, đất nước

- Hỡnh tượng thơ sỏng tạo “Bếp lửa” mang nhiều ý nghĩa biểu tượng

- Giọng điệu và thể thơ phự hợp với cảm xỳc hồi tưởng và suy ngẫm

Ánh trăng - Đợc viết năm

1978 tại TP Hồ Chớ Minh, 3

năm sau ngày giải phóng

miền Nam thống nhất đất

n-ớc In trong tập thơ cùng tên

của tác giả (1984)

- Nguyễn Duy (sinh năm 1948), tờn khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ

- Quờ : làng Quảng Xỏ, nay thuộc phường Đụng Vệ, thành phố Thanh Húa

- Phong cỏch thơ : dung dị, hồn nhiờn, trong sỏng

Thơ năm chữ

Nh một lời nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian lao của cuộc

đời ngời lính gắn bó với thiên nhiên đất nớc Qua

đó, gợi nhắc con ngời có thái độ ân nghĩa thuỷ chung với thiên nhiên với quá khứ

- Nh một câu chuyện riêng

có sự kết hợp hài hoà giữa

tự sự và trữ tình

- Giọng điệu tâm tình, tự nhiên, hài hoà, sâu lắng

- Nhịp thơ trôi chảy, nhẹ nhàng, thiết tha cảm xúc khi trầm lắng suy t

- Kết cấu giọng điệu tạo nên sự chân thành, có sức truyền cảm sâu sắc

Làng – Được viết vào năm

1948, thời kỡ đầu của cuộc

khỏng chiến chống thực dõn

Phỏp Tỏc phẩm được rỳt từ

tập truyện cựng tờn của Kim

- Kim Lõn (1920 – 2007), tờn khai sinh là Nguyễn Văn Tài

- Quờ : huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

- Đề tài : ễng gắn bú và am hiểu sõu sắc cuộc sống ở nụng thụn Kim

Truyện ngắn

Qua tõm trạng đau xút, tủi

hổ của ụng Hai ở nơi tản

cư khi nghe tin đồn làng mỡnh theo giặc, truyện thể hiện tỡnh yờu làng quờ sõu

- Cốt truyện tõm lớ, miờu

tả diễn biến tõm lớ nhõn vật tinh tế

- Xõy dựng tỡnh huống truyện đặc sắc

Trang 6

Lân (1948) Lân hầu như chỉ viết về cuộc sống

người dân ở làng quê và cảnh ngộ của họ

sắc thống nhất với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân

- Ngôn ngữ mang đậm chất khẩu ngữ như lời

ăn tiếng nói của người nông dân

- Ngôn ngữ kể chuyện linh hoạt : Đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm

Lặng lẽ Sa Pa - Sáng tác

năm 1970, là kết quả của

chuyến thực tế ở Lào Cai của

tác giả, khi miền Bắc tiến lên

xây dựng CNXH, xây dựng

cuộc sống mới Rút từ tập

truyện “Giữa trong xanh”

(1972)

- Nguyễn Thành Long (1925 – 1991)

- Quê : huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Ninh

- Phong cách văn xuôi nhẹ nhàng, tình cảm, giàu chất thơ và ánh lên

vẻ đẹp của con người

Truyện ngắn

Cuộc gặp gỡ tình cờ của ông hoạ sĩ, cô kĩ sư mới ra trường với người thanh niên làm việc một mình tại trạm khí tượng trên núi cao Sa Pa Qua đó, truyện

ca ngợi những người lao động thầm lặng, có cách sống đẹp, cống hiến sức mình cho đất nước

Truyện xây dựng tình huống hợp lí, cách kể chuyện hợp lí, tự nhiên; miêu tả nhân vật từ nhiều điểm nhìn; ngôn ngữ chân thực giàu chất thơ và chất hoạ; có sự kết hợp giữa tự

sự, trữ tình với bình luận

Chiếc lược ngà - Sáng tác

năm 1966, khi tác giả đang

hoạt động ở chiến trường

Nam Bộ, tác phẩm được đưa

vào tập truyện cùng tên của

tác giả

- Nguyễn Quang Sáng (sinh năm 1932)

- Quê : huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đề tài : Cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến

Truyện ngắn

Câu chuyện éo le và cảm động về tình cảm của hai cha con: ông Sáu và bé Thu trong lần ông về thăm nhà và ở khu căn cứ Qua

đó truyện ca ngợi tình cha

Nghệ thuật miêu tả tâm lí, tính cách nhân vật, đặc biệt là nhân vật trẻ em; xây dựng tình huống truyện bất ngờ mà tự nhiên

Trang 7

cũng như sau hòa bình con thắm thiết trong hoàn

cảnh chiến tranh

Ngày đăng: 09/04/2018, 20:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w