TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THỊ KIM BA SỬ DỤNG CÁC LOẠI SINH KHỐI ARTEMIA ĐỂ ƯƠNG CÁ LÓC ĐEN Channa striata, Bloch 1793 TỪ HƯƠNG LÊN GIỐNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ KIM BA
SỬ DỤNG CÁC LOẠI SINH KHỐI ARTEMIA ĐỂ ƯƠNG
CÁ LÓC ĐEN (Channa striata, Bloch 1793)
TỪ HƯƠNG LÊN GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2009
Trang 2LỜI CẢM TẠ
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Cần Thơ cùng quí thầy cô Khoa Thủy Sản và đặc biệt là Trung Tâm Ứng Dụng và Chuyển Giao Công Nghệ đã nhiệt tình chỉ dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Văn Hòa, cô Nguyễn Thị Hồng Vân, anh Trần Hữu Lễ, cô, chú và và các anh tại Trại Vĩnh Châu cùng các bạn lớp Nuôi Trồng Thủy Sản liên thông Khoá 33 đã đóng góp ý kiến và giúp đỡ em trong quá trình học tập và làm đề tài tốt nghiệp
Do lần đầu tiên làm đề tài và viết luận văn tốt nghiệp, không tránh khỏi nhiều sai sót, kính mong sự đóng góp ý kiến của quí thầy cô để bài báo cáo luận văn này được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Kim Ba
Trang 3TÓM TẮT
Thí nghiệm sử dụng sinh khối Artemia để ương cá lóc (Channa striata
Bloch,1793) từ hương lên giống được thực hiện trong các xô nhựa 60 L tại trại thực nghiệm Vĩnh Châu (Khoa Thủy Sản, Đại Học Cần Thơ), tỉnh Sóc Trăng với
5 nghiệm thức thức ăn khác nhau là: NT1 (100% Artemia sinh khối tươi sống); NT2 (100% Artemia sinh khối đông lạnh); NT3 (50% Artemia sinh khối tươi sống và 50% cá tạp); NT4 (50% Artemia sinh khối đông lạnh và 50% cá tạp);
NT5 (100% cá tạp) Mật độ ương: 1 con/lít với khối lượng cá trung bình là 0,35±0,08 g/con và chiều dài là 3,4 ± 0,3 cm Kết quả thu được sau 40 ngày ương
cho thấy ở NT3 (50% Artemia sinh khối tươi sống và 50% cá tạp) là loại thức ăn
cá lóc ưa thích Tốc độ tăng trưởng về khối lượng, chiều dài và giữa các nghiệm
thức sử dụng sinh khối Artemia khác biệt có ý nghĩa thống kê so với NT cá tạp
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng và chiều dài của cá cao ở NT1(0,53 g/ngày; 0,26 cm/ngày), NT3 (0,53 g/ngày; 0,26 cm/ngày), NT2 (0,46 g/ngày; 24 cm/ngày), NT4 (0,4 g/ngày; 0,23±0,02 cm/ngày) và cả 4 nghiệm thức này khác biệt
có ý nghĩa thống kê so với NT5 (0,18 g/ngày; 0,15 cm/ngày)
Tỷ lệ sống của cá ở NT3 (60,8%), NT4 (60%), NT1 (55%), NT2 (48,3%) cao hơn so với NT5 (38,3%) Kết quả này cho thấy Artemia sinh khối tươi sống kết hợp với
cá tạp có thể là nguồn thức ăn tốt để ương cá lóc giai đoạn từ hương lên giống
Trang 4
MỤC LỤC
Trang LỜI CẢM TẠ - i
TÓM TẮT -ii
MỤC LỤC - iv
DANH SÁCH BẢNG - vi
DANH SÁCH HÌNH - vii
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ - 1
1.1 Giới thiệu - 1
1.2 Mục tiêu của đề tài - 2
1.3 Nội dung của đề tài - 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU - 1
2.1 Một số đặc điểm sinh học của cá lóc - 3
2.1.1 Đặc điểm về hình thái phân loại - 3
2.1.2 Phân bố và tâp tính sống - 3
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng - 4
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng - 5
2.1.5 Đặc điểm sinh sản - 5
2.2 Kỹ thuật ương cá lóc giống - 5
2.2.1 Ương cá bột lên hương và hương lên giống - 5
2.2.2 Ương trong ao - 6
2.3 Tình hình sử dụng thức ăn trong ương nuôi cá lóc - 6
2.4 Sơ lược của Artemia và vai trò của nó trong nuôi trồng thủy sản - 7
2.4.1 Sơ lược của Artemia - 7
2.4.2 Vai trò của Artemia làm thức ăn cho tôm, cá - 7
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 10
3.1 Vật liệu nghiên cứu - 10
3.1.1 Thời gian nghiên cứu - 10
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu - 10
3.1.3 Dụng cụ và trang thiết bị - 10
Trang 53.1.4 Nguồn cá giống - 10
3.1.5 Nguồn nước và hóa chất xử lý - 10
3.1.6 Thức ăn - 11
3.2 Phương pháp nghiên cứu - 12
3.2.1 Phương pháp xử lý nước và chuẩn bị bể ương - 12
3.2.2 Bố trí thí nghiệm - 12
3.2.3 Theo dõi chăm sóc và quản lý - 13
3.2.4 Các công thức tính toán - 14
3.3 Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu - 15
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN - 16
4.1 Các yếu tố môi trường - 16
4.2 Tỷ lệ sống của cá lóc từ hương lên giống sau 40 ngày ương - 17
4.3 Sinh trưởng của cá lóc - 18
4.3.1 Tăng trưởng về khối lượng của cá lóc - 18
4.3.2 Tăng trưởng về chiều dài của cá lóc - 21
4.4 Sự phân hóa kích cỡ cá trong quá trình ương - 23
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT - 25
5.1 Kết luận - 25
5.2 Đề xuất - 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 26
PHỤ LỤC - 28
Trang 6DANH SÁCH BẢNG Trang
Bảng 4.1: Sự biến động các chỉ tiêu môi trường - 16 Bảng 4.2: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá lóc - 18 Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá lóc - 21
Trang 7DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Cá lóc (Channa striata Bloch, 1793) - 3
Hình 3.1: Artemia sinh khối tươi sống và Artemia sinh khối đông lạnh - 11
Hình 3.2: Cá tạp được băm nhỏ - 11
Hình 3.3: Cho cá lóc ăn - 13
Hình 3.4: Siphon thức ăn và phân dư thừa - 13
Hình 4.1: Tỷ lệ sống của cá lóc sau 40 ngày - 17
Hình 4.2: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá lóc - 19
Hình 4.3: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá lóc - 21
Hình 4.4: Tỷ lệ phân hóa kích cỡ cá lóc sau 40 ngày ương ở NT1,NT2,NT5 23 Hình 4.5: Sự phân hóa kích cỡ của cá lóc sau 40 ngày ương - 24
Trang 8
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những vùng đất màu mỡ được thiên nhiên ưu đãi với sông ngòi chằng chịt đây là điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi thủy sản nước ngọt Cá lóc là đối tượng có giá trị kinh tế cao, kích thước lớn, chịu đựng được điều kiện khắc nghiệt của môi trường Cá có chất lượng thịt thơm ngon và được xem là nguyên liệu để chế biến nhiều món ăn ưa thích trong bữa ăn hàng ngày của mỗi người
Trên thế giới nghề nuôi cá lóc đã phát triển mạnh với nhiều mô hình nuôi khác nhau Phổ biến ở Thái Lan, Hồng Kông là mô hình nuôi bán thâm canh trong ao đất với thời gian nuôi từ 6-7 tháng với các loại thức ăn như bột cá, tấm, cám
Mô hình nuôi cá bè với mật độ 30-50 con/m3 cũng sử dụng cá tạp, tấm làm nguồn thức ăn chính Sau 8 tháng nuôi đạt khoảng 1,5-2,5 kg/con, mô hình này phổ biến ở Campuchia và Việt Nam Ở Đài Loan, cá lóc được nuôi ghép với cá
rô phi, cá chép (Dương Nhựt Long, 2003)
Đồng Bằng Sông Cửu Long có nhiều mô hình nuôi cá lóc được biết như nuôi cá lóc trong các loại bồn khác nhau, nhiều nông dân ở huyện Tam Nông (Đồng Tháp) và Phú Tân (An Giang) đã thiết kế bồn ximăng dưới sàn nhà để tận dụng diện tích hoặc làm bồn nylon mùa nước nổi để nuôi cá lóc Mô hình này vừa cho thu nhập cao, lại giải quyết được việc làm tại chỗ cho nông dân Đặc biệt là mô hình nuôi cá lóc trong mùng dưới kênh, sông được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu giúp nông dân tăng thu nhập cho gia đình (http://
Ở nước ta nghề nuôi cá lóc ngày càng phát triển và phổ biến nhất là các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ Tuy nhiên, vấn đề ương nuôi cá lóc gặp một số trở ngại như nguồn giống dựa vào tự nhiên do đó kích cỡ cá giống không đều và thường bị xây sát nên dễ mắc bệnh Bên cạnh đó, nguồn giống ngày càng cạn kiệt do khai thác quá mức nên không đáp ứng cả về số lượng lẫn chất lượng cho người nuôi trong khi nhu cầu con giống ngày càng cao Để có được cá giống tốt cần có nguồn thức ăn ngoài việc đáp ứng đầy đủ dinh dưỡng còn phải thu hút cá bắt mồi giúp cá tăng trưởng nhanh Hiện tại trong các hệ thống ương nuôi cá lóc
đa số đều sử dụng cá tạp để làm thức ăn, loại thức ăn này khó bảo quản, chất lượng dinh dưỡng khác nhau và không chủ động được do phụ thuộc vào mùa vụ
Trang 9đánh bắt tự nhiên Vì vậy, việc tìm ra loài sinh vật làm thức ăn tươi sống để thay thế cá tạp là thật sự cần thiết
Trên thế giới sinh khối Artemia ngày càng được sử dụng rộng rãi trong ương
nuôi các loài thủy sản vì chúng được sử dụng với nhiều kích cỡ khác nhau từ ấu trùng mới nở cho đến con trưởng thành phù hợp với từng giai đoạn phát triển
của ấu trùng thủy sản (Sorgeloos et al.,2001 trích bởi Nguyễn Thị Hồng Vân và ctv., 2009) Artemia được xem là nguồn thức ăn lý tưởng cho các loài ấu trùng
cá và giáp xác Trong đó sinh khối Artemia tươi sống, Artemia đông lạnh, … là
loại thức ăn rất giàu đạm ngoài ra nó còn chứa nhiều các acid béo, sắc tố cần
thiết cho ương nuôi nhiều đối tượng thủy sản (NguyễnVăn Hoà và ctv, 2007)
Ở Việt Nam sử dụng sinh khối Artemia vẫn còn ở mức thí nghiệm và thử
nghiệm làm thức ăn cho ấu trùng tôm càng xanh, cua, tôm, cá cảnh… nhưng chưa được sử dụng rộng rãi cho các đối tượng thủy sản nói chung và để ương cá lóc nói riêng do người sử dụng chưa được cung cấp đầy đủ các thông tin về sản
phẩm này Từ đó đề tài “Sử dụng các loại sinh khối Artemia để ương cá lóc đen
từ hương lên giống” được tiến hành nhằm tìm hiểu khả năng sử dụng sinh khối
Artemia trong ương giống cá lóc từ đó hướng người nuôi sử dụng những nguồn
thức ăn tại chỗ, rẻ tiền mà vẫn mang lại hiệu quả cao thay vì phải sử dụng nguồn thức ăn viên đắt tiền hoặc phụ thuộc vào cá tạp
1.2 Mục tiêu của đề tài
Tìm hiểu khả năng sử dụng các lọai sinh khối Artemia để ương cá lóc đen từ
hương lên giống
1.3 Nội dung của đề tài
Theo dõi sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá lóc
So sánh và đánh giá cách sử dụng sinh khối một cách hiệu quả nhất về dinh dưỡng và giá thành
Trang 10CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Một số đặc điểm sinh học của cá lóc
2.1.1 Đặc điểm về hình thái phân loại
Cá lóc nuôi ở ĐBSCL hiện nay thuộc:
Lớp : Osteichthys
Bộ :Perciformes
Họ : Channidae Giống: Channa
Loài : Channa striata (Bloch,1793)
Hình 2.1: Cá lóc (Channa striata Bloch,1793)
Ở ĐBSCL ngoài 4 loài cá Lóc đã được nhận biết là cá lóc đen (Channa striata),
cá lóc bông (Channa micropelte), cá chành dục (C.gachua), cá trâu dày (C lucius) ngoài ra còn xuất hiện thêm nhóm cá lóc môi trề ở Tam Nông – Đồng
Tháp Trong các loài trên đây cá lóc đen được nuôi phổ biến từ thập niên 60 thế
kỷ trước
Cá lóc (Channa striata) là loài cá dữ, cơ thể tròn dài Đầu rộng, dẹp đứng, tương
đối nhọn và dài giống như đầu rắn, mắt to ở phía trước, miệng rộng, hàm khỏe, răng phát triển Lược mang hình núm, thực quản ngắn, vách dày, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn, dạ dày hình chữ Y (Dương Nhựt Long, 2003)
2.1.2 Phân bố và tâp tính sống
Cá lóc phân bố ở nhiều nước vùng Đông Nam Á Cá lóc sống được hầu hết trong các loại hình thủy vực nước ngọt Có thể sống ở vùng nước lợ có độ mặn 5-7‰, nhiệt độ thích hợp từ 20-35 oC, pH =6,5-8 và có thể sống ở pH rộng hơn
Trang 11Cá lóc thích sống nơi có dòng chảy yếu hay nước tĩnh, ven bờ nơi có rong đuôi chó, cỏ, đám bèo vì nơi đây cá dễ ẩn mình để rình bắt mồi Do có khả năng hô hấp phụ nên chúng có thể sống lâu trên cạn với điều kiện chỉ cần ẩm ướt toàn thân (Phạm Văn Khánh, 2005)
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá lóc là loài ăn thịt, chúng thích sống ở môi trường giàu nguồn thức ăn như cá, tép, cua, nhái, ốc,…Khi nghiên cứu thành phần thức ăn trong dạ dày của cá lóc đánh bắt trong tự nhiên có tỉ lệ sau:
Thành phần thức ăn trong dạ dày của cá lóc đánh bắt trong tự nhiên
Bọ gạo, côn trùng, mùn bả hữu cơ 0,02
Cá mới nở sử dụng dinh dưỡng từ noãn hoàng Từ ngày thứ 4-5, khi noãn hoàng
đã hết, cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài Lúc này cá bột ăn được các loài động vật phiêu sinh vừa cỡ miệng như luân trùng, trứng nước, giáp xác Khi cá dài cỡ 5-6
cm có thể rượt bắt các loại cá tép con, thân dài trên 10 cm, cá có tập tính ăn như
cá trưởng thành (Phạm Văn Khánh, 2005)
Cá lóc sau khi nở, luân trùng Brachionus plicatilis được xem là thức ăn đầu tiên
tốt nhất của cá bột Ngoài ra có thể cho ăn nấm men, lòng đỏ trứng hay thức ăn
tổng hợp dạng bột Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước (Monia), Daphnia hay
trùng chỉ, ấu trùng muỗi đỏ Giai đoạn cá giống, sâu bọ và dòi là thức ăn ưa thích của cá Một số thí nghiệm trên cá bột cho thấy cá có khả năng sử dụng thức ăn
trứng nước kết hợp với đạm đơn bào Thức ăn Moina vẫn là thức ăn tốt nhất đối với cá bột trong 3 tuần lễ đầu Rhizopus arrhizus hay đạm đơn bào (125µm)
được sản xuất từ kỹ thuật lên men sử dụng dầu cọ làm nguồn carbon chính Giai đoạn cá lớn thường cho ăn cá tạp, phụ phế phẩm từ các nhà máy chế biến đầu tép, tôm, ếch, cá hay thức ăn chế biến và thức ăn viên Cá lớn nhanh vào xuân-hè (Dương Nhựt Long, 2003)
Trang 122.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Cá lóc có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, giai đoạn nhỏ, cá tăng chủ yếu về chiều dài Cá càng lớn thì sự gia tăng trọng lượng càng nhanh Trong tự nhiên sức lớn của cá phụ thuộc vào thức ăn sẵn có trong thủy vực nước Do vậy tỉ lệ sống trong tự nhiên khá thấp Trong điều kiện nuôi có thức ăn và chăm sóc tốt cá
có thể lớn từ 0,5 - 0,8 kg/năm, và đạt được tỉ lệ sống cao và ổn định (Phạm Văn Khánh, 2005)
2.1.5 Đặc điểm sinh sản
Cá dễ thành thục và thành thục sớm từ 10-12 tháng tuổi Cá lóc đẻ gần như quanh năm nếu nơi ở thuận lợi Mùa vụ sinh sản trong tự nhiên tập trung vào tháng 4-5 Cá thường đẻ vào sáng sớm sau những trận mưa rào, hệ số thành thục trung bình 0,5 - 1,5%, số trứng của buồng trứng cá cái có thể đạt 5000 - 20000 trứng
Cá đực và cá cái tự ghép đôi khi thành thục, cá đực có kích thước nhỏ hơn cá cái cùng lứa Cá thường chọn nơi cây cỏ thủy sinh kín đáo nhưng thoáng để đẻ trứng
và thụ tinh, sau khi đẻ trứng thì cá đực và cá cái cùng bảo vệ trứng Trứng cá lóc màu vàng sậm, có chứa hạt dầu nên nổi trên mặt nước Cả 2 canh giữ tổ cho đến khi cá con có tập tính sống độc lập (Phạm Văn Khánh, 2005)
2.2 Kỹ thuật ương cá lóc giống
Đặc điểm của ấu trùng cá lóc, ấu trùng mới nở có chiều dài khoảng 6,0 - 6,5 mm,
cá có tập tính sống thành đàn được mẹ bảo vệ rất nghiêm ngặt Cá kiếm mồi sau khi nở 5 - 6 ngày, ăn thức ăn là động vật phù du cỡ nhỏ Khi cá khoảng 15 - 20 ngày có thể ăn cá tôm nhỏ (Nguyễn Văn Kiễm, 2005)
Để cá giống sau khi thu hoạch từ giai đoạn ương chuyển sang nuôi thịt đạt tỷ lệ sống cao thì việc ương cá bột trải qua 2 giai đoạn sau:
2.2.1 Ương cá bột lên hương và ương hương lên giống
Bể có diện tích 4 - 10 m2, mực nước sâu 0,5 - 0,6 mật độ khoảng 1000-1500 con/m2
Thức ăn là trứng nước, trùn chỉ, cá tôm băm nhỏ Từ ngày thứ 10 cho cá ăn cá tạp xay nhuyễn
Sau 15 ngày, chuyển cá sang ương bằng giai đặt trong ao Giai có diện tích 2 - 4
m2, với mật độ 1000 con/m2 Thức ăn là cá xay (250g/1000) và bổ sung Vitamin
A, C, D, E (2g/100 kg thức ăn)
Trang 13Cho cá ăn theo nhu cầu, tránh thức ăn dư thừa, thường xuyên theo dõi, chăm sóc
- 150 con/m2 (cá phải đều cỡ, khoẻ mạnh)
Trong 10 ngày đầu, ngoài thức ăn tự nhiên, cho cá ăn thêm lòng đỏ trứng (10 trứng/10000 bột), Moina (200 - 300g/10000 bột)
Từ ngày thứ 10 cho ăn cá xay nhuyễn và tạt đều ao Khi cá 1 tháng tuổi cho ăn thêm tép và cá vụn xay nhuyễn Cá được 1,5 tháng cho ăn bằng tép vụn và cá nhỏ Tập cho cá ăn thức ăn chế biến với hàm lượng đạm 25 - 30% và trộn thêm Vitamin giúp cá tăng cường sức đề kháng
Nên cho cá ăn trên sàn để điều chỉnh lượng thức ăn thích hợp Cần cho cá ăn no, đều, đủ
Sau 2 tháng ương cỡ cá giống khoảng 8 - 12 cm có thể chuyển nuôi cá thịt
(Phạm Văn Khánh, 2005)
2.3 Tình hình sử dụng thức ăn trong ương nuôi cá lóc
Một vài nghiên cứu về thức ăn cá lóc đen được nghiên cứu trong điều kiện phòng thí nghiệm, cá bột cá lóc đen có chiều dài 6-7 mm, độ mở của miệng là 0,55 mm
sẽ chọn thức ăn là ấu trùng Artemia và chưa ăn thức ăn chế biến Cá bắt đầu ăn
thức ăn chế biến khi được 12 mm chiều dài và cỡ miệng mở rộng đến 1 mm Trong phòng thí nghiệm và trên ruộng, thức ăn của cá thay đổi khi kích cỡ cá tăng Đối với cá dài 15-20 mm thì nhóm giáp xác râu ngành và giáp xác chân chèo chiếm 96,5% khẩu phần Cá 30-40 mm, cá ăn động vật nổi giảm đáng kể trong khi chúng tăng ăn động vật đáy Thức ăn chuyển từ động vật nổi sang động vật không xương sống đáy không phải do việc giảm động vật nổi có sẵn trong môi trường mà nó liên quan đến sự thay đổi cấu trúc lược mang của cá Mật độ động vật không xương sống đáy thấp trong những thí nghiệm trên ruộng làm giảm tỉ lệ sinh trưởng ở cá khi cá thay đổi thức ăn từ động vật nổi sang động vật
đáy (Qin Jian Guang và ctv, 1997 trích dẫn bởi Phan Hồng Cương)
Cá bột có khả năng sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến và thời gian thích hợp để
cá sử dụng thức ăn chế biến là từ ngày thứ 4 sau thí nghiệm hay ngày thứ 7 sau
Trang 14khi nở Ở giai đoạn cá hương, thức ăn chế biến cho tăng trưởng và tỷ lệ sống cao hơn so với các loại thức ăn khác, đồng thời cá hệ số thức ăn thấp nhất Cá lóc bông cỡ nhỏ cho tốc độ tăng trưởng cao hơn và tỷ lệ sống thấp hơn so với cá lớn khi cho ăn cùng thức ăn cùng mức đạm Mức tăng trưởng tối ưu và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhất của cá lóc bông cỡ nhỏ là 50,8% và cá lớn là 46,5%, phù hợp với nhu cầu chất đạm của các loại cá ăn động vật khác (Lan, 2005 trích bởi Phan Hồng Cương, 2008)
2.4 Sơ lược về Artemia và vai trò của nó trong nuôi trồng thủy sản
2.4.1 Sơ lược về Artemia
Artemia là một loài giáp xác nhỏ, có biên độ muối rộng, có khả năng phân bố rộng rãi từ châu Á tới châu Mỹ Latin Artemia là loài ăn lọc không chọn lựa,
chúng có thể sử dụng mùn bã hữu cơ, tảo đơn bào và vi khuẩn có kích thước
trong khoảng < 50µm (Sorgeloos ctv.,1986), vòng đời ngắn so với các loài giáp
xác khác Ở điền kiện tối ưu, chúng có thể phát triển thành con trưởng thành sau
7-8 ngày nuôi và bắt đầu tham gia sinh sản Artemia có sức sinh sản cao từ 1500-
2500 phôi trong vòng đời (Sorgeloos,1980b; Jumalon ctv.,1982) và quần thể Artemia luôn luôn có 2 phương thức sinh sản là đẻ trứng và đẻ con (Browne ctv ,1984 trích dẫn bởi Nguyễn Thị Hồng Vân ctv, 2009)
2.4.2 Vai trò của Artemia làm thức ăn cho tôm, cá
Artemia là một loại thức ăn tươi sống có giá trị dinh dưỡng cao cho việc ương
nuôi các giống loài cá, tôm, nhuyễn thể Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng
minh rằng Artemia là nguồn tức ăn tươi sống lý tưởng cho các loài ấu trùng và giáp xác Ngoài ra Artemia tiền trưởng thành và trưởng thành có giá trị dinh dưỡng cao hơn Artemia mới nở từ trứng (Sorgeloos, 1980) và được sử dụng làm thức ăn phổ biến trong các trại giống, trại ương (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007)
* Trong ương giáp xác
+ Sản xuất giống tôm càng xanh: Artemia được sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng tôm càng xanh từ giai đoạn đầu với Artemia mới nở Ngoài ra, trong ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh, ngoài Artemia còn bổ sung thêm các nguồn thức ăn
nhân tạo khác để tăng cường dinh dưỡng Theo Trần Thị Thanh Hiền (2004) khi nghiên cứu về dinh dưỡng cho ấu trùng tôm càng xanh cho biết: Ấu trùng tôm
càng xanh cho ăn lượng Brachionus plicatilis giới hạn có tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng thấp hơn có ý nghĩa so với ấu trùng cho ăn Artemia (Lovett và ctv,
1988), trích dẫn bởi Trần Nguyễn Hải Nam (2001)
Trang 15+ Trong ương nuôi tôm biển: Artemia là thức ăn quan trọng trong việc ương nuôi ấu trùng và hậu ấu trùng tôm biển Artemia bắt đầu cho ăn khi ấu trùng đạt giai đoạn Mysic 1 hay cả giai đoạn Zoea 2 – 3
Ngoài ấu trùng Artemia là thức ăn rất tốt và không thể thiếu trong ương nuôi
đa số các loài thủy sản thì Artemia sinh khối cũng là một nguồn dinh dưỡng có
giá trị cao Theo Lavens và Sorgeloos,1996 trích dẫn bởi Trần Nguyễn Hải Nam
(2001), thì hàm lượng đạm của Artemia sinh khối được đánh giá là cao hơn so
với ấu trùng Nauplii mới nở (giai đoạn Instar I) và đặc biệt giàu hơn về acid
amin thiết yếu Đặc biệt, sử dụng Artemia với kích cỡ thích hợp sẽ đảm bảo sự
cân bằng năng lượng tốt hơn trong việc lấy thức ăn và sự đồng hoá, bằng cách đó
cải thiện sự sống của các loài tôm cá Ngoài ra, sinh khối Artemia có lớp vỏ giáp
rất mỏng nên hoàn toàn không gây khó khăn gì cho hệ tiêu hóa của tôm cá
(Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007)
Nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh việc sử dụng Artemia sinh khối để nuôi
vỗ tôm, cá bố mẹ đã kích thích sự thành thục của buồng trứng, gia tăng số lần đẻ
và cải thiện chất lượng ấu trùng (Browdy và ctv., 1989; Naessens và ctv., 1997; trích dẫn bởi Trần Nguyễn Hải Nam (2001) Sinh khối Artemia còn được sử
dụng làm thành phần hoặc chất kích thích trong thức ăn chế biến của ấu trùng
tôm cá (Leger và ctv, 1986) Khá phổ biến là việc sử dụng hoàn toàn sinh khối đông lạnh Artemia để thay thế cho ấu trùng Artemia mới nở trong sản xuất giống
tôm he (Nguyễn Thị Hồng Vân, 2008)
* Trong ương nuôi cá
+ Cá nước ngọt: những loài cá được ương trên bể như cá tra, cá basa, cá lăng,
…thì việc sử dụng thức ăn là Artemia là rất quan trọng Trong nghề nuôi cá cảnh,
cả ấu trùng Artemia và Artemia sinh khối đều được sử dụng cho mục đích sản
xuất giống hay nuôi ( Trần Thị Thanh Hiền, 2000)
+ Trong sản xuất giống cá biển: Artemia thường được bắt đầu cho ăn một tuần sau khi cho ăn bằng Rotifera Kết quả được nâng cao rất có ý nghĩa khi Artemia
được giàu hóa HUFA (Trần Thị Thanh Hiền, 2000)
Sinh khối Artemia ngày càng trở thành nguồn thức ăn được lựa chọn để thay thế cho nhiều loại thức ăn tươi sống khác như: Moina, trùng chỉ, giun đỏ, …trong
ương nuôi cá giai đoạn giống Ngoài tiết kiệm chi phí nó còn đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng và giảm khả năng tiêu hao năng lượng cho việc bắt mồi của đối tượng nuôi, góp phần cải thiện tốc độ tăng trưởng của chúng Khi sử dụng sinh
khối Artemia thay cho Moina để ương cá chép 3 đuôi (Carassius auratus) thì tỷ
lệ sống của cá đã tăng 12% so với cá ăn Moina (Lim ctv., 2003) trích dẫn bởi Nguyễn Thị Hồng Vân và ctv.,2009) Theo Nguyễn Phước Vinh (2008) khi sử
Trang 16dụng Artemia sinh khối tươi sống trong ương nuôi cá La Hán (Cichlasoma bifasciatum) thấy rõ các chỉ tiêu về tăng trưởng, khả năng lên màu, châu, gù của
cá khá tốt so với sử dụng thức ăn truyền thống
Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sinh khối Artemia có giá trị dinh dưỡng cao (50
– 60% đạm theo trọng lượng khô), giàu acid béo mạch cao không no (HUFA) và
acid amin thiết yếu (Sorgeloos ctv., 1980; Bengston ctv., 1991; Lim ctv., 2001)
và giàu các acid amin thiết yếu như: acid glutamic (12% tổng lượng acid amin), acid aspatuc (11,2%), lysine (8,9%),…các enzim phân giải đạm, khoáng và các
nguyên tố vi lượng khá cao (Léger ctv., 1986; Lavens & Sorgeloos, 1996) Hàm
lượng carotenoid cao và nhiều sắc tố (cantaxantin, ) đã được tìm thấy trong
Artemia trưởng thành (Lavens & Sorgeloos, 1996; Lim ctv., 2001) Theo hai tác giả này thì trong Artemia có chứa hàm lượng muối sunphate acid ascorbic 2 (AAS) một dạng của vitamin C, hàm lượng này cao ở Artemia trưởng thành Đây
là một chất rất cần thiết cho tôm cá tăng cường sức đề kháng (trích dẫn bởi Lâm Hoàng Anh, 2007)
Ngoài ra, sinh khối Artemia còn được sử dụng để ương ấu trùng cá biển có kích
cỡ miệng lớn như cá tầm, cá hồi, cá Halibut thì loại Artemia lớn hơn (con non,
tiền trưởng thành hoặc trưởng thành) tỏ ra có hiệu quả hơn cả về mặc kinh tế lẫn
khả năng sử dụng của vật ăn mồi xét về mặt tiêu hao năng lượng (Olsen ctv.,1999 trích dẫn bởi Nguyễn Thị Hồng Vân, 2008) Kết quả thí nghiệm sử dụng Artemia sinh khối tươi sống và đông lạnh ương cá chẽm (Lates calcarifer) của Trần Hữu Lễ và ctv., (2008) cho kết quả cá đạt tăng trưởng và tỷ lệ sống cao
hơn thức ăn cá tạp rất nhiều
Trong Artemia tươi sống có 2 thành phần chủ yếu là protein và lipid, thành phần protein khá ổn định đạt khoảng 50 - 56 % Sinh khối Artemia được sử dụng như
là một khẩu phần thức ăn trong quá trình ương nuôi không chỉ vì chúng có hàm lượng dinh dưỡng cao mà còn rất có ích về mặt năng lượng (Nguyễn Văn Hòa và
ctv., 2007) Sử dụng sinh khối Artemia là sự chọn lựa ít tốn tiền hơn so với dùng
nauplii mới nở, kỹ thuật sản xuất đơn giản và có hiệu quả đã được phát triển
Sinh khối Artemia đông lạnh có thể được dùng làm nguyên liệu bổ sung hoặc
thay thế giun nhiều tơ trong khẩu phần ăn nuôi vỗ thành thục tôm thẻ chân trắng
bố mẹ (Browdy ctv., 1989 trích bởi Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007)
Tóm lại thức ăn sinh khối Artemia dạng tươi và khô đều có tác dụng làm tăng tỉ
lệ sống và sinh trưởng ấu trùng tôm, cá nuôi (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007) Hiện tại công ty Duyên Hải Bạc Liêu đã và đang sử dụng sinh khối Artemia đông
lạnh nhập từ Mỹ để phối chế thức ăn trong nuôi vỗ thành thục tôm thẻ chân trắng
bố mẹ
Trang 17CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 2/2009 đến tháng 5/2009
Thời gian thí nghiệm từ ngày 3/4/09 đến 12/5/09 (40 ngày)
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện tại Trại thưc nghiệm Vĩnh Châu, Khoa Thủy Sản, Đại Học Cần Thơ (ấp Biển Dưới, xã Vĩnh Phước, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng)
3.1.3 Dụng cụ và trang thiết bị
Hệ thống bể ương gồm: 15 bể nhựa ( 60 L)
Hệ thống sục khí, đá bọt, ống dẫn
Bể xử lý nước: 2 bể 4 m3
Máy đo pH, oxy, nhiệt kế,…
Máy bơm nước
Cân điện tử, cân đồng hồ, thước đo, tủ lạnh, vợt, đèn pin, …
3.1.4 Nguồn cá giống
Cá lóc thí nghiệm có khối lượng ban đầu là 0,35 ± 0,08 g và chiều dài 3,4 ± 0,3
cm Cá hương 20 ngày tuổi được cung cấp tại trường Đại Học Cần Thơ
3.1.5 Nguồn nước và hóa chất xử lý
Hóa chất xử lý nước: Chlorine, EDTA
Nguồn nước: nước ngọt lấy từ nước giếng
Một số dụng cụ và trang thiết bị khác