TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN ĐẶNG THỊ THU HƯƠNG SỰ BIẾN ĐỘNG CÁC CHỈ TIÊU SINH HÓA CỦA MỘT SỐ CƠ QUAN Ở CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA TUYẾN SINH DỤC CÁ NGÁT Plotosus canius Ha
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
ĐẶNG THỊ THU HƯƠNG
SỰ BIẾN ĐỘNG CÁC CHỈ TIÊU SINH HÓA CỦA MỘT
SỐ CƠ QUAN Ở CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA
TUYẾN SINH DỤC CÁ NGÁT (Plotosus canius Hamilton,
1822)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
07/2011
Trang 2LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành ñề tài tốt nghiệp này và có kết quả như hôm nay:
Xin bày tỏ lòng biết ơn ñến Thạc sĩ Nguyễn Bạch Loan, cô Phan Thị Bích Trâm người trực tiếp hướng dẫn giúp ñỡ, ñóng góp ý kiến giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin gửi lời cảm ơn ñến:
Thầy Trần Minh Phú, Trương Quốc Phú ñã ñóng góp ý kiến và tạo ñiều kiện thuận lợi ñể luận văn em ñược hoàn thành
Quí thầy cô Khoa Thủy sản tận tâm truyền ñạt kiến thức trong thời gian em học tập tại trường
Cảm ơn sự giúp ñỡ của cô Đỗ Thị Thanh Hương và chị Trần Lê Cẩm Tú
Sau cùng là lời cảm ơn gia ñình, bạn bè và người thân ñã ñộng viên giúp ñỡ về mặt tinh thần ñể tôi hoàn thành chương trình học tập và luận văn tốt nghiệp
Trang 3TÓM TẮT
Cá ngát là loài có giá trị kinh tế ñang ñược nghiên cứu, vấn ñề quan trọng cho nghề nuôi loài cá mới này là chất lượng con giống Nghiên cứu này nhằm tìm
ra sự biến ñộng về ẩm ñộ, tro (khoáng), lipid, proteịn thô ở một số cơ qua như
cơ, gan, tuyến sinh dục (TSD) qua từng giai ñoạn phát triển của tuyến sinh dục
cá ngát Kết quả cho thấy ẩm ñộ ở cơ, gan cao nhất (cơ 83,69%; gan 80,22%) ở giai ñoạn I, thấp nhất ở giai ñoạn IV (cơ 80,88%; gan 75,75%; TSD 58,95%) Tro ở cơ, gan cao nhất (cơ 6,6%; gan6,02%) giai ñoạn I, thấp nhất giai ñoạn IV (cơ 6,19%; gan 5,38%; TSD4,85%) Lipid cơ cao nhất giai ñoạn II (6,23%), giai ñoạn IV cơ và gan thấp nhất, TSD cao nhất (cơ 0,34%; gan 5,9%; TSD 10,2%) Protein cơ, gan cao nhất ở giai ñoạn II (cơ 85,15%; gan 62,84%), ở giai ñoạn IV protein ở cơ, gan thấp nhất nhưng TSD cao nhất (cơ 73,13%; gan 50,64%; TSD 63,32%) Sự biến ñộng này khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.05)
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Mục lục .iii
Danh sách hình iv
Danh sách bảng v
Phần I Giới thiệu 1
Phần II Lược khảo tài liệu 3
2.1 Đặc ñiểm hình thái và phân loại cá ngát 3
2.2 Đặc ñiểm phân bố 5
2.3 Đặc ñiểm dinh dưỡng 6
2.4 Đặc ñiểm sinh trưởng 6
2.5 Đặc ñiểm sinh sản 7
2.6.Các nghiên cứu về biến ñổi thành phần hoá học ở cá 8
Phần III Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 11
3.1Vật liệu nghiên cứu 11
3.2 Phương pháp nghiên cứu 11
3.2.1 Thời gian và ñịa ñiểm thực hiện 11
3.2.2Thu và cố ñịnh mẫu 12
3.2.3 Phương pháp phân tích 12
3.3Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu 16
Phần IV Kết quả thảo luận 17
4.1 Biến ñộng ñộ ẩm theo sự phát triển tuyến sinh dục cá ngát 17
4.2 Biến ñộng hàm lượng tro theo sự phát triển tuyến sinh dục cá ngát 18
4.3 Biến ñộng hàm lượng lipid thô theo sự phát triển tuyến sinh dục cá ngát 20
4.4 Biến ñộng hàm lượng protein thô theo sự phát triển tuyến sinh dục cá ngát 25
Phần V Kết luận và ñề xuất 28
5.1 Kết luận 28
5.2 Đề xuất 28
Tài liệu tham khảo 29 Phụ lục
Trang 5DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Phân loại hình thái của Plotosus canius và Plotosus lineatus 4
Bảng 2.2 Hàm lượng protein và lipid trong cơ, gan và trứng cá trắm cỏ 9 Bảng 4.1 Biến ñổi ẩm ñộ ở một số cơ quan theo sự phát triển tuyến sinh dục
cá ngát 17 Bảng 4.2 Biến ñộng tro ở một số cơ quan theo sự phát triển tuyến sinh dục
cá ngát 19 Bảng 4.3 Thành phần acid béo (mg/100g) trong các cơ quan của cá ngát ở giai ñoạn thành thục sinh dục 22 Bảng 4 4 Biến ñổi hàm lượng protein ở một số cơ quan theo sự phát triển tuyến sinh dục cá ngát 25
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Trang 6Hình3.1.Địa ñiểm thu mẫu 12 Hình 4.1.Biến ñổi ẩm ñộ ở một số cơ quan theo quá trình thành thục tuyến sinh dục cá ngát 18 Hình 4.2 Biến ñộng tro ở một số cơ quan theo sự phát triển tuyến sinh dục
cá ngát 20 Hình 4.3.Biến ñổi hàm lượng lipid ở các cơ quan qua sự phát triển tuyến sinh
dục của Plotosus canius 21
Hình 4.4 Biến ñổi hàm lượng acid Plamitic và ở một số cơ quan qua sự phát triển
tuyến sinh dục của Plotosus caniu 24
Hình 4.5 Biến ñổi hàm lượng protein ở các cơ quan qua sự phát triển tuyến sinh
dục của Plotosus canius 26
PHẦN I GIỚI THIỆU
Trang 7Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt ñới gió mùa, có ñường bờ biển dài 3.620
km cùng hệ rừng ngập mặn ven biển và hệ thống sông ngòi lớn như sông Hồng, sông Đồng Nai, sông Cửu Long…Đồng Bằng Sông Cửu Long là nơi có sự giao thoa ngọt, mặn, lợ tạo nên vùng sinh thái ñặc trưng rất thuận lợi cho phát triển sản xuất thủy sản
Đồng Bằng Sông Cửu Long với tổng diện tích có khả năng Nuôi trồng thuỷ sản khoảng 1.100.000 ha, chiếm 55% tổng diện tích nuôi của cả nước Giá trị xuất khẩu thuỷ sản năm 2009 hơn 4,2 tỷ USD trong ñó giá trị Nuôi trồng thuỷ sản chiếm 50% Theo dự báo của Trung tâm Thuỷ Sản thế giới ñến năm 2010 nhu cầu thuỷ sản trên toàn thế giới vào khoảng 156,7 triệu tấn Nhu cầu các sản phẩm thuỷ sản trung bình ñầu người năm 2010 trên toàn thế giới là 18,4 kg/người/năm và năm 2015 là 19,1 kg/người/năm với xu hướng này Việt Nam
có lợi thế cao ñể ñáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thế giới (Vietlinh, 2010)
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, ở Việt Nam trong 50 năm qua (1951- 2000), nhiệt ñộ trung bình năm ñã tăng khoảng 0,70C, mực nước biển ñã dâng lên khoảng 20cm Việt Nam là một trong năm nước sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến ñổi khí hậu và nước biển dâng, trong ñó vùng ñồng bằng sông Hồng và Sông Cửu Long bị ngập chìm nặng nhất Nguy cơ nguồn nước sông bị suy giảm về lưu lượng, dẫn ñến việc giảm năng lực Nuôi Trồng Thủy sản nước ngọt ở trên ñất liền các vùng ñồng bằng sông Cửu Long và Sông Hồng Do biến ñổi khí hậu, hiện tượng xâm mặn làm cho việc Nuôi trồng thủy sản trên sông Tiền ngày càng gặp khó khăn (Congan, 2010)
Vì vậy, việc lựa chọn những ñối tượng thủy sản nước lợ, mặn hoặc có khả năng sống ở cả hai thủy vực ngọt lợ Các ñối tượng như cá chình, cá nâu
(Scatophagus argus), cá ngát (Plotosus canius)…là ñối tượng có giá trị kinh tế,
ñang ñược quan tâm của người nuôi và các nhà nghiên cứu, ñã có những bước tiến thành công trong sản xuất giống nhân tạo Tuy nhiên, ñể phát triển mạnh
mô hình ñối tượng này cần rất nhiều yếu tố từ khâu nuôi vỗ cá bố mẹ, sản xuất
giống ñến ương nuôi Nên ñề tài “Sự biến ñộng các chỉ tiêu sinh hóa của một
số cơ quan ở các giai ñoạn phát triển của tuyến sinh dục cá ngát (Plotosus
canius Hamilton, 1822)”, ñược thực hiện
Mục tiêu ñề tài
Thu thập thông tin về các biến ñộng các thành phần hóa học trong quá trình phát triển của tuyến sinh dục ñể bổ sung vào cơ sở dữ liệu về sinh học sinh sản của cá ngát
Nội dung ñề tài
Trang 8Đề tài gồm những nội dung phân tích một số chỉ tiêu sinh hóa ở cơ, gan, tuyến sinh dục qua các giai ñoạn phát triển tuyến sinh dục cá ngát như:
Trang 9PHẦN II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Đặc ñiểm hình thái và phân loại
Theo Itis (2008) có thể ñịnh danh cá ngát theo hệ thống phân loại như sau: Giới: Animalia
Ngành: Chordata Bateson, 1885 - Choradata
Ngành phụ: Vertebrata - vertebrado
Tổng lớp: Ostrichthyes Huxley, 1880 - bony fish
Lớp: Actinopterygii - ray-finned fishes, spiny rayed fishes
Lớp phụ: Neopterygii - neopterygians
Tổng bộ: Ostariophysi
Bộ: Siluriformes – Catfishes
Họ: Plotosidae Bleeker, 1858 – eeltail catfishes
Giồng: Plotosus La Cepede, 1803
Loài: Plotosus canius Hamilton, 1822 – Gray eel catfish
Trên thế giới, họ Plotosidae ñã xác ñịnh ñược 10 giống (Itis, 2008)
Trong giống Plotosus có 8 loài ñã ñược công nhận (Itis, 2008) như sau:
Plotosus abbreviatus Boulenger, 1895
Plotosus brevibarbus Bessednov, 1967
Plotosus canius Hamilton, 1822 – gray - eel catfish
Trang 10Plotosus fisadoha Ng and Sparks, 2002
Plotosus limbatus Valenciennes in Cuvier and Valenciennes, 1840 – eel
-catfish
Plotosus lineatus (Thunberg, 1787) - striped eel catfish, striped eel - catfish Plotosus nkunga Gomon and Taylor, 1982
Plotosus papuensis Weber, 1910
Ngoài ra còn xuất hiện thêm một loài mới ở Nhật Bản là Plotosus japonicus
(Yoshino và Kishimoto, 2008) Prokofiev (2008), cũng ñã phân loại ñược một
loài mới từ loài Plotosus lineatus ở vịnh Nha Trang và ñặt tên là Plotosus nhatrangensis
Theo Nguyễn Hữu Phụng và Nguyễn Nhật Thi (1994), cá ngát (Plotosus canius) còn có các ñồng danh như sau:
+ Plotosus canius Hamilton, 1822
+ Plotosus hordus Bleeker, 1846
+ Plotosus multiradiatus Bleeker, 1846
+ Plotosus unicolor Cuvier và Valenciennes, 1840
+ Plotosus viviparous Bleeker, 1846
Giống Plotosus ở Việt Nam có 2 loại Plotosus canius và Plotosus lineatus
Phân biệt 2 loại này dựa trên các ñặc ñiểm hình thái sau:
Bảng 2.1: Đặc ñiểm hình thái phân loại của loài Plotosus canius và Plotosus
lineatus
Đặc ñiểm hình
thái
Râu mũi Kéo dài ñến sau mắt rất
xa
Kéo dài ñến sau mắt
Dãy răng hàm dưới 3 – 5 hàng 2 – 3 hàng
Vây lưng thứ 2 Có 130 – 140 tia Có 80 – 100 tia
Trang 11Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), Plotosus canius ñược
mô tả như sau:
Dài chuẩn/Dài ñầu = 5,2 (4,8 – 5,5)
Dài chuẩn/Cao thân = 6,5 (5,9 – 7,6)
Dài ñầu/Khoảng cách 2 mắt = 2,9 (2,6 – 3,3)
Dài ñầu/Đường kính mắt = 10,9 (9,5 – 11,9)
Đầu to, rộng, dẹp bằng Miệng dưới, nằm trên mặt phẳng nằm ngang, không co duỗi ñược Môi dày, mềm, có viên rua Răng hình hạt, cứng chắc Răng vòm miệng xếp thành một ñám có dạng hình lưỡi liềm, răng xếp thành 4 hàng ngang, các hang sau thô hơn các hang trước Có 4 ñôi râu to: Một ñôi râu mũi, một ñôi râu mép, nhưng hơi lệch về phía hàm trên và hai ñôi râu hàm dưới Mắt
cá nhỏ, hoàn toàn nằm ở mặt lưng của ñầu, gần chót mõm hơn gần ñiểm cuối nắp mang Phần trán giữa hai mắt rộng Mấu xương chẩm nhỏ, hình tam giác ñều Hai màng mang dính nhau một phần và dính với eo mang
Thân dài, phần trước tròn, phần sau dẹp bên, mỏng và mềm mại Đường bên hoàn toàn, chạy từ mép trên lỗ mang ñến ñiểm giữa của vi ñuôi Cá có hai vi lưng, gốc vi lưng thứ nhất ngắn, có gai ñộc, gốc vi lưng thứ hai và vi hậu môn dài, nối liền với vi ñuôi nhỏ Vi ngực có gai ñộc Gai ñộc trước của vi ngực và
vi lưng rất nhọn, cạnh trước và sau có răng cưa sắc Cơ ở gốc vi lưng phát triển
Plotosus canius phân bố từ vùng biển Ấn Độ ñến Thái Bình Dương, ở phía tây
và nam Ấn Độ, qua khỏi Sri Lanka về phía ñông dọc theo bờ biển Bangladesh
và Myanmar xuyên qua quần ñảo Nam Dương và Úc châu, từ Philippines kéo dài tận ñến Papua - New Guinea Cá Ngát thường ñược tìm thấy ở cửa sông, và
bờ biển Đôi khi, chúng cũng vào sâu tận ở vùng gần như hoàn toàn nước ngọt của những con sông cái (Fishbase, 2010) Ngoài ra, theo Trương Thủ Khoa và
Trang 12Trần Thị Thu Hương (1993) thì cá ngát sống chủ yếu ở nước lợ nhưng cũng xuất hiện ở nước ngọt Cá thường sống trong hang, phân bố chủ yếu ở Malaysia, Ấn Độ, Myanma, các quần ñảo giữa Ấn Độ - Châu Úc và Việt Nam Theo Nguyễn Bạch Loan (2004), ở vùng hạ lưu sông Mekong (Việt Nam), cá ngát là phân bố rộng Chúng hiện diện ở dọc theo tuyến sông Tiền và sông Hậu, kênh lớn nước ngọt (nơi có nồng ñộ muối %0) thuộc tỉnh Đồng Tháp, An Giang và Cần Thơ, ñến các thủy vực nước lợ như vùng cửa sông, biển ven bờ (nơi có nồng ñộ muối 14,5 %0) Thuộc tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng (Cửa Đại, cửa Hàm Luông, cửa Trấn Đề) Môi trường sống chủ yếu của cá là vùng cửa sông
và những ñoạn sông có pH dao ñộng từ 7,39 – 7,98 và lưu tốc nước biến ñộng
từ 0,11 – 0,2 m/s (Nguyễn Văn Thảo, 2009)
2.3 Đặc ñiểm dinh dưỡng
Cá da trơn cũng như các loài cá khác có sự thay ñổi tính ăn theo từng giai ñoạn phát triển trong chu kỳ sống Giai ñoạn cá mới nở dinh dưỡng bằng noãn hoàng, ñến giai ñoạn cá bột ăn ñộng vật phù du, giai ñoạn cá hương thì bắt ñầu
ăn thức ăn của loài (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)
Theo Nguyễn Bạch Loan (2004), ñặc ñiểm hình thái cấu tạo các cơ quan tiêu
hoá của cá ngát Plotosus canius hoàn toàn phù hợp cho các loài cá ăn thiên về
ñộng vật
Phần lớn giống Plotosus ăn ñộng vật giáp xác, ñộng vật thân mềm, P.lineatus trưởng thành tìm kiếm ñộng vật giáp xác, ñộng vật thân mềm P.nkunga thức
ăn chủ yếu là sinh vật ñáy không xương sống, bằng cách sử dụng râu của mình
ñể cảm thấy xung quanh trong bùn cho cua và cá nhỏ (Wikipedia, 2010) Qua kết quả phân tích thức ăn trong ruột cá Ngát ghi nhận ñược 3 loại thức ăn
là nhuyễn thể, giáp xác và cá con (Rainboth, 1996) Nhưng theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Diễm Trinh (2009), thì thành phần thức ăn trong ống tiêu hoá phong phú hơn Thành phần thức ăn trong ống tiêu hoá cá con (cá cỡ dưới 2g) gồm 6 loại: thực vật thuỷ sinh, ñộng vật thuỷ sinh, mùn bã hữu cơ, nhuyễn thể, giáp xác, giun nhiều tơ Ở cá lớn thành phần thức ăn gồm: thực vật thuỷ sinh, ñộng vật thuỷ sinh, giun nhiều tơ, nhuyễn thể, giáp xác, cá con
2.4 Đặc ñiểm sinh trưởng
P canius ñạt ñến kích thước lớn nhất, lên tới 150 cm ở Thái Lan P.limbatus phát triển ñến 41 cm P.lineatus có thể dài 32 cm P.nkunga lên tới khoảng 51
cm P.papuensis ñược ghi lại ñể ñạt ñược 55 cm, theo ngư dân ñịa phương có thể ñạt 100 cm (Wikipedia, 2010) Theo Rainboth (1996), cá ngát Plotosus
Trang 13canius có thể ñạt chiều dài 90cm Trong ñó, cá ngát Plotosus canius là loài cá
có kích cỡ tương ñối lớn
2.5 Đặc ñiểm sinh sản
Theo Nguyễn Bạch Loan (2004), cá ngát Plotosus canius mùa sinh sản là mùa
mưa, cá thường ñẻ rộ vào tháng 5, 6 và 7 hàng năm Vào mùa ñẻ trứng, cá sinh sản ở những nơi có nước lợ, ven biển và cả ở phần giáp giới nước ngọt (Fishbase, 2010)
Theo Nguyễn Văn Viết Anh (2009), ñã mô tả tuyến sinh dục cá cái và cá ñực qua các giai ñoạn như sau:
Đặc ñiểm hình thái tuyến sinh dục của cá cái
Giai ñoạn I: Noãn sào là hai dãy băng nhỏ, màu trắng trong, dài khoảng 1/3 chiều dài xoang bụng Chưa thấy các mạch máu phân bố trên bê mặt noãn sào Mắt thường không nhìn thấy ñược hạt trứng
Giai ñoạn II: Noãn sào bắt ñầu phát triển và dài hơn, chiếm ½ chiều dài xoang bụng Trên bề mặt noãn sào có nhiều mạch máu nhỏ phân bố nên noãn sào có màu hồng Có thể quan sát ñược các hạt trứng bằng kính lúp
Giai ñoạn III: (Giai ñoạn thành thục) Kích thước noãn sào tăng lên rất nhanh
có thể chiếm 2/3 thể tích xoang bụng Bằng mắt thường có thể nhìn thấy ñược các hạt trứng có màu trắng ñục ñến vàng nhạt Noãn sào có màu vàng
Giai ñoạn IV: Noãn sào có màu vàng ñến vàng cam và ñạt kích thước to nhất (chiếm hầu hết thể tích xoang bụng) Mạch máu phân bố trên bề mặt noãn sào nhiều và to hơn Các hạt trứng to và ñều, dễ tách rời từng hạt
Giai ñoạn V: Buồng trứng ñang trong tình trạng chuẩn bị sinh sản, thể tích buồng trứng chiếm hầu hết xoang bụng, ñại ña số tế bào trứng ñã chín, rụng và
có màu vàng cam Buồng trứng mềm, bề mặt buồng trứng có màu ñỏ bầm do hiện tượng xuất huyết Hạt trứng nằm rời không còn thấy các tấm trứng, trứng
có màu vàng cam ñậm
Giai ñoạn VI: Toàn bộ buồng trứng ñã ñẻ xong trở nên mềm nhão, teo nhỏ lại Trong long buồng trứng chứa ñầy các nang và một số trứng ñã rụng nhưng không ñược ñẻ ra cùng với các tế bào trứng ở giai ñoạn ñầu của quá trình tạo trứng Buồng trứng ñang trong quá trình thoái hóa Kết thúc sự thoái hóa buồng trứng trở về giai ñoạn II
Trang 14Tuyến sinh dục của cá ñực qua các giai ñoạn:
Giai ñoạn I: Buồng tinh là hai sợi chỉ nhỏ và mảnh do mô liên kết chưa phát triển, chúng nắm sát và dọc hai bên xương sống Màu trắng trong do mạch máu chưa phát triển, ở giai ñoạn này buồng tinh ñã phân thùy
Giai ñoạn II: Buồng trứng ở giai ñoạn này là hai dãy mỏng có màu trắng hơi ñục, bề mặt tinh sào trơn và rìa mép có sự phân thùy rất rõ, kích thước lớn hơn nhiều giai ñoạn I Mạch máu tăng về số lượng do vậy buồng tinh có màu trắng hơi hồng Chiều dài chiếm khoảng ½ xoang buồng trứng
Giai ñoạn III: Chiều dài buồng tinh lớn hơn giai ñoạn II nhiều, chiều dài buồng tinh chiếm khoảng hơn ½ xoang bụng Bề mặt của buồng tinh nhám, có màu ñỏ hồng, phân thùy rất to và buồng tinh dầy lên rất nhiều do mô liên kết phát triển mạnh Buồng tinh có nhiều mạch máu nhỏ nhưng to hơn ở giai ñoạn II, có thể
có một ít các tế bào phình to ở gốc của buồng tinh
Giai ñoạn IV: Chiều dài buồng tinh chiếm hơn ½ chiều dài xoang bụng Buồng tinh màu trắng sữa hơi hồng và dày len rất nhiều, phân thùy sâu hơn và có nhiều tế bào phình to màu vàng trong và dày, bề mặt buồng tinh nhám, có nhiều mạch máu to rõ
Giai ñoạn V: Buồng tinh ñang trong tình trạng sinh sản, chiều dài buồng tinh chiếm hơn ½ chiều dài xoang bụng, có ñại ña số tế bào phình to, màu vàng trong Buồng tinh nhiều nước và mềm, bề mặt buồng tinh có màu trắng ñục và nhiều mạch máu to
2.6 Một số nghiên cứu về biến ñổi thành phần hoá học ở cá
Trong thời gian thành thục và thải sản phẩm sinh dục, cơ thể cá có rất nhiều biến ñổi về sinh lý, sinh hoá (Dương Tuấn, 1981) Theo Trần Thị Thanh Hiền (2009), thành phần hoá học của cá cái chịu ảnh hưởng lớn bởi quá trình phát triển của tuyến sinh dục và sinh sản Cá ñực thường có hàm lượng nước, protein và muối vô cơ nhiều hơn cá cái, nhưng hàm lượng lipid trong cá cái cao hơn con ñực Giai ñoạn thành thục và sinh sản là giai ñoạn biến ñổi làm biến ñổi rất lớn ñến thành phần hoá học của ñộng vật thuỷ sản Thời kỳ sinh sản và ñặc biệt là loài di cư sinh sản hàm lượng lipid và tro giảm ñáng kể Theo Dương Tuấn (1981), giữa các tế bào sinh dục và các tế bào ở các cơ quan trong
cơ thể cũng có sự khác biệt tương ñối lớn về thành phần hoá học Tế bào sinh dục có hàm lượng nước, protein và chất khoáng tương ñối thấp, nhưng hàm lượng mỡ lại rất cao
Theo Nguyễn Duy Hoan (1996), ñã có nghiên cứu về sự biến ñổi hàm lượng protein và lipid trong cơ, gan và TSD của cá trắm cỏ qua sự phát triển của TSD
Trang 15ở những vùng và năm khác nhau Kết quả ñó thể hiện ở bảng 2.1 (trích dẫn bởi Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)
Bảng 2.2 Hàm lượng protein và lipid trong cơ, gan và trứng cá trắm cỏ
Hàm lượng protein (%)
Hàm lượng lipid Số
cá xác ñịnh
là 8% thì hàm lượng protein trong cơ giảm 1% Thành phần nước trong buồng trứng cũng thay ñổi, hàm lượng nước giảm theo sự phát triển của tuyến sinh dục và ñạt thấp nhất ở giai ñoạn IV (Đỗ Thị Thanh Hương và Trần Thị Thanh
Trang 16tuyến sinh dục là protein và lipid Trong quá trình huy ñộng hai thành phần dinh dưỡng này từ các tổ chức vào tuyến sinh dục thể hiện khá rõ khi tế bào trứng ñang trong quá trình sinh trưởng (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)
Trang 17PHẦN III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
Bình hút ẩm, phía dưới có chất hút ẩm (Silicagel,…)
Cốc cân sứ hoặc ñĩa nhôm, ñũa thủy tinh
Chén nung bằng sứ hoặc kim loại kền, bạch kim
Hệ thống Soxhlet (gồm: bình cầu, trụ chiết và ống sinh hàn, bếp ñiện )
Máy phân tích ñạm bán tự ñộng Kjeldah 250ml
Máy chưng cất ñạm
Bình tam giác, buret, ñũa thủy tinh, bình ñịnh mức,…
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Thời gian và ñịa ñiểm thực hiện
Nghiên cứu ñược thực hiện từ tháng 1 ñến tháng 6/2011 Mẫu ñược thu ñịnh kì các ñiểm ở Kênh Ba (Long Phú, Sóc Trăng) Các mẫu thu về ñược phân tích tại phòng thí nghiệm Dinh dưỡng, Bộ môn Dinh dưỡng và chế biến thủy sản, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ Bên cạnh ñó mẫu phân tích Fatty acid ñược gửi phân tích tại Trung tâm Phân tích thí nghiệm Tp.HCM
Trang 18Hình 3.1: Địa ñiểm thu mẫu (nguồn www.ctu.edu.vn)
3.2.2 Phương pháp thu và bảo quản mẫu
Mẫu cá ngát ñược thu mua từ các phương tiện của ngư dân ñánh bắt tại ñịa phương Mẫu ñược giữ sống chuyển về phòng thí nghiệm các mẫu cơ, gan, TSD ñược lấy ra và bảo quản ở nhiệt ñộ - 800C Do TSD ở giai ñoạn I, II quá
nhỏ khối lượng không ñủ ñể phân tích các chỉ tiêu sinh hóa
3.2.2 Phương pháp phân tích mẫu