Những năm gần đây nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn thuỷ sản đã có những bước tiến nhanh cả về chiều rộng và chiều sâu, cho ra những sản phẩm mới thay thế cho những nguyên liệu có tron
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
ÔNG THANH NHÃ
CLAY” THAY THẾ CHO DẦU CÁ TRONG THỨC ĂN CHO
CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2009
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
ÔNG THANH NHÃ
CLAY” THAY THẾ CHO DẦU CÁ TRONG THỨC ĂN CHO
CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts TRẦN THỊ THANH HIỀN
2009
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô Trần Thị Thanh Hiền đã hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, động viên và truyền đạt nhiều kinh nghiệm quý báo trong suốt thời gian học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin gởi lời cảm ơn chân thành anh Nguyễn Hoàng Đức Trung đã tận tình hỗ trợ, hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tác giả xin được gởi lời cám ơn đến các anh chị đi trước, các bạn cùng mảng đề tài đã giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Và sau cùng là lòng biết ơn chân thành đến gia đình và những người thân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cả về vật chất lẫn tinh thần để tác giả hoàn thành chương trình học này
Chân thành cám ơn!
Trang 4TÓM TẮT
Thí nghiệm nhằm đánh giá khả năng thay thế dầu cá bởi dầu cọ trong cột lọc dầu Spent bleaching clay (SBC) vào thức ăn cho cá tra đồng thời nghiên cứu sự tăng trưởng của cá khi sử dụng thức ăn có sự thay thế dầu cá bằng SBC và sự tồn lưu của kim loại nặng trong cơ, xương sau khi sử dụng thức ăn có SBC
Trong thí nghiệm gồm có 4 nghiệm thức thức ăn có cùng mức protein (33%)
và lipid (6%) với mức SBC 0%, 5%, 10% và 15% trong công thức thức ăn Cá tra có khối lượng trung bình khoảng 18,2 g/con được bố trí trong hệ thống 12 bể composite
sống của cá cao nhất ở SBC 10% (98,7%), thấp nhất SBC 5% (92%) khác biệt không
có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Tốc độ tăng trưởng theo ngày (DWG) cao nhất là ở nghiệm thức sử dụng thức ăn thí nghiệm SBC 5% (1,57 g/ngày), theo sau lần lượt các kết quả SBC 10% 1,53 g/ngày, SBC ĐC 1,51 (g/ngày), thấp nhất là SBC 15% 1,06 g/ngày Tốc độ tăng trưởng của cá ở các nghiệm thức SBC ĐC, 5% và 10% khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05), tăng trưởng của cá ở nghiệm thức SBC 15% thì
SBC ĐC là thấp nhất (1,13) kế đến là nghiệm thức SBC 10% (1,17) sau đó là nghiệm thức 5% SBC (1,19) sự khác biệt của 3 nghiệm thức này là không có ý nghĩa thống kê ( p>0,05) FCR ở nghiệm thức SBC 15% cao nhất (1,54) và khác biệt có ý nghĩa so với 3 nghiệm thức trên
Thành phần kim loại nặng (As, Pb và Cd) có tích lũy trong cơ, xương nhưng không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức và nhỏ hơn ở mức cho phép của Bộ Y tế (2007)
Thành phần acid béo trong cơ cá tra bị ảnh hưởng bởi việc nâng mức SBC trong thức ăn làm tăng mức acid béo n-6 PUFA, đồng thời sự giảm dần n-3 PUFA trong thức ăn và trong cơ cá theo mức tăng lượng SBC trong thức ăn cũng đã quan sát
từ kết quả phân tích
Như vậy có thể sử dụng SBC 10% trong công thức thức ăn để thay thế một phần dầu cá trong thức ăn cho cá tra
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁH HÌNH vii
CHƯƠNG 1 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu của việc nghiên cứu 2
1.3 Nôi dung của nghiên cứu 2
1.4 Thời gian thực hiện đề tài 2
CHƯƠNG 2 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Sinh học của cá tra 3
2.1.1 Hệ thống phân loại 3
2.1.2 Tập tính dinh dưỡng 3
2.1.3 Sự tăng trưởng 4
2.2 Nhu cầu dinh dưỡng 4
2.2.1 Nhu cầu Đạm (Protein) 4
2.2.2 Nhu cầu chất bột đường (Cacbohydrate) 5
2.2.3 Nhu cầu chất béo (Lipid) 6
2.2.4 Nhu cầu năng lượng 7
2.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thức ăn trong nuôi cá tra 7
2.4 Tình hình nghiên cứu Spent Bleaching Clay 9
CHƯƠNG 3 11
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Vật liệu Thí nghiệm 11
3.2 Phương pháp nghiên cứu 11
Trang 63.2.1 Nguồn cá thí nghiệm 11
3.2.2 Bố trí thí nghiệm 11
3.2.3 Chăm sóc và quản lý 12
3.3 Thu mẫu và phân tích mẫu 12
3.3.1 Thu và phân tích mẫu cá 12
3.3.2 Mẫu thức ăn 12
3.3.3 Phương pháp phân tích 13
3.4 Tính toán và sử lý số liệu 13
3.4.1 Tính toán số liệu 13
3.4.2 Xử lý số liệu 14
CHƯƠNG 4 15
KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 15
4.1 Kết quả phân tích thành phần hóa học trong thức ăn 15
4.1.1 Thành phần hóa học của nguyên liệu SBC được phối trộn trong thức ăn 15
4.1.2 Kết quả phân tích mẫu thức ăn thí nghiệm 16
4.1.3 Thành phần kim loại nặng có trong SBC và thức ăn thí nghiệm 17
4.1.4 Thành phần acid béo có trong nguyên liệu SBC và thức ăn thí nghiệm 18
4.2 Môi trường bể thí nghiệm 20
4.3 Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm 21
4.4 Sinh trưởng của cá thí nghiệm 21
4.5 Hệ số thức ăn 24
4.6 Hiệu quả sử dụng Protein 25
4.7 Kết quả phân tích thành phần hóa học của cá thí nghiệm 26
4.7.1 Thành phần sinh hóa của cá trước và sau thí nghiệm 26
4.7.2 Nồng độ kim loại nặng (mg/kg khối lượng khô) trong cơ và xương của Cá Tra 27
Trang 74.7.3 Thành phần aicd béo trong cơ cá sau thí nghiệm 28
CHƯƠNG 5 31
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 31
5.1 Kết luận 31
5.2 Đề xuất 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
PHỤ LỤC 35
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn ở dạ dày cá tra trong tự nhiên 3
Bảng 3.2 :Tỷ lệ thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm 12
Bảng 4.1 Kết quả phân tích thành phần hóa học của Spent bleaching clay (SBC) .15
Bảng 4.2 Kết quả phân tích thức ăn thí nghiệm 16
Bảng 4.3 Khối lượng kim loại nặng (mg/kg) có trong SBC và thức ăn thí nghiệm 18
Bảng 4.4 Thành phần acid béo (% của tổng số acid béo) của SBC và thức ăn thí nghiệm 18
Bảng 4.5 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 20
Bảng 4.6 Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm 21
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của các loại thức ăn lên sinh trưởng của cá 22
Bảng 4.8 Hệ số thức ăn của cá Tra 24
Bảng 4.9 Hiệu quả sử dụng protein sau 8 tuần thí nghiệm 25
Bảng 4.10 Kết quả phân tích thành phần hóa học của cá trước và sau khi thí nghiệm 26
Bảng 4.11 Kết quả phân tích kim loại nặng (As, Pb và Cd ) trong cơ và xương của cá Tra 27
Bảng 4.12 Thành phần acid béo (% của tổng số acid béo) của cá trước khi nuôi thử nghiệm và sau khi ăn cho 8 tuần khi bổ sung SBC vào thức ăn thí nghiệm 29
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Hình dạng bên ngoài của cá 3 Hình 3.2 Hệ thống bể nuôi thí nghiệm 11 HÌnh 4.7 Tăng trưởng của cá thí nghiệm 22
Trang 10CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu
Hiện nay, ở đồng bằng sông Cửu Long người nuôi sử dụng rất nhiều loại nguyên liệu khác nhau để phối chế thức ăn và phương thức phối chế cũng đa dạng Nguồn nguyên liệu để phối chế thức ăn truyền thống thường là cám, cá tạp và được phối chế với tỷ lệ khác nhau Việc nắm bắt giá trị dinh dưỡng của từng nguồn nguyên liệu và phương thức phối chế thức ăn là cần thiết nhằm sử dụng có hiệu quả và kinh tế
nhất trong nuôi cá (Trần Văn Nhì,2005) Nguồn nguyên liệu bao gồm hai nhóm chính:
Bột cá và dầu cá (trong tương lai sẽ giữ vai trò rất quan trọng), một số nguồn lợi khác như giáp xác, hai mảnh vỏ, chân đầu và rong biển với việc khai thác những loài cá nhỏ ở biển, sông đã vô tình làm cho nguồn lợi thủy sản bị cạn kiệt
Những năm gần đây nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn thuỷ sản đã có những bước tiến nhanh cả về chiều rộng và chiều sâu, cho ra những sản phẩm mới thay thế cho những nguyên liệu có trong tự nhiên vừa tiện dụng, rẻ tiền mà không làm cạn kiệt đi nguồn lợi thuỷ sản, đặc biệt là dầu cá theo phương thức cổ truyền là nguồn lipid chính được sử dụng trong thức ăn Nhu cầu về dầu cá trong thức ăn thủy sản gia tăng trong những năm gần đây do sự phát triển nhanh ngành công nghiệp thủy sản toàn cầu và những thuận lợi về mặt công nghệ, kỹ thuật trong phương thức sản xuất thức ăn thủy sản điều đó dẫn đến sự hợp nhất về lượng dầu trong khẩu phần đạt chất lượng cao để đề ra chế độ thích hợp
Một tiêu chí bền vững cho dầu cá trong thức ăn thủy sản là dầu từ thực vật Ng (2005) cho rằng sử dụng dầu cá chiết xuất từ những cây cọ khác nhau như là dầu cọ tươi(CPO), cải tiến olein hoặc sản phẩm chưng cất acid béo từ cây cọ trong khẩu phần
ăn cho sự tăng trưởng cá và tận dụng hiệu quả thức ăn có thể so sánh được tương đương lượng dầu cá từ cá biển
Hiện nay, thức ăn thủy sản sử dụng khoảng 70% dầu cá cung cấp cho toàn cầu
và đến năm 2010, dầu cá sử dụng trong thủy sản ước lượng đạt được 97% nguồn cung cấp trên thế giới (Tacon,2003) Dầu cá được sản xuất từ những con cá biển nhỏ và làm hạn chế nguồn lợi cá Qua thế kỷ rồi, sự sản xuất dầu cá thế giới đã đạt đến cân bằng và không được mong đợi sẽ tăng vượt những mức độ gần đây Để giữ được sự phát triển nhanh chóng của nó, nền công nghiệp nuôi trồng thủy sản không thể tiếp tục phụ thuộc vào trữ lượng có hạn của dầu cá biển cho việc cung cấp dầu cá
Dầu cá dư bám vào Spent Bleaching Clay (SBC) từ công nghiệp tinh lọc dầu
ăn có thể là nguồn tiềm năng thay thế cho dầu cá trong sản xuất thức ăn thủy sản Do
Trang 11đó chúng ta cần thử nghiệm về giá trị SBC như một tiềm năng thay thế trong khẩu phần không những cho cá rô phi đã được thí nghi trước đây mà còn cho cá tra nó góp phần làm giảm giá thành thức ăn trong nuôi trồng thủy sản ở một số nước nhiệt đới
Do đó việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sử dụng spent bleaching
clay thay thế cho dầu cá trong thức ăn của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)” là
rất cần thiết
1.2 Mục tiêu của việc nghiên cứu
Đánh giá khả năng sử dụng SBC vào thức ăn cho cá tra nhằm tận dụng nguồn nguyên liệu rẻ tiền giúp giảm giá thành thức ăn cho cá tra
1.3 Nôi dung của nghiên cứu
Nghiên cứu sự tăng trưởng của cá khi sử dụng thức ăn được thay thế dầu cá bằng SBC
Ảnh hưởng của việc sử dụng SBC lên chất lượng cá tra
1.4 Thời gian thực hiện đề tài
Thí nghiệm được bố trí trong Khoa Thủy sản, trường Đại Học Cần Thơ
Tháng 7/2008 đến tháng 1/2009
Trang 122.1.2 Tập tính dinh dưỡng
Miệng cá tra có răng sắt nhọn trên các hàm, có gai trên cung mang thưa, ngắn
do đó không có tác dụng lọc thức ăn như các loài cá ăn động vật phiêu sinh Dạ dày ngắn, lại không gấp khúc Với các đặc điểm trên thì tính ăn của cá tra thiên về ăn động vật(Trần Văn Nhì,2005)
Theo Trần Thanh Xuân (1994) nghiên cứu về thành phần thức ăn của cá tra đánh bắt trong tự nhiên đã tiềm thấy thành phần thức ăn trong dạ dày được trình diễn
Trang 13Khi phân tích thức ăn trong ruột cá đánh bắt ngoài tự nhiên, cho thấy thành phần thức ăn khá đa dạng, trong đó cá tra ăn tạp thiên về động vật Cũng như các loài
cá khác sau khi hết noãn hoàn thì chúng sử dụng thức ăn ngoài Chủ yếu là phiêu sinh động vật Trong tự nhiên chúng ăn được cả mùn bã hữu cơ, rễ cây thủy sinh, rau quả ,tôm tép, cua, côn trùng, ốc và cá Tuy nhiên thức ăn có nguồn gốc từ động vật sẽ giúp
cá lớn nhanh hơn (Dương Nhựt Long,2003) Thức ăn ưa thích của chúng là nhóm Rotifer, nhóm Cladocera xuất hiện nhiều trong dạ dày nhưng vai trò dinh dưỡng không cao Khi nuôi trong bể thì chúng được sử dụng nhiều loại thức ăn :Artemia,
moina, trùn chỉ, thức ăn chế biến, thức ăn công nghiệp… Theo Hùng và ctv (1998) thì
cho ăn trùn chỉ và Artemia sẽ cho tỷ lệ sống và tăng trưởng tốt nhất (Trích bởi Lưu Thanh Tùng,2008)
Ngay khi vừa hết noãn hoàng cá thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau Cá con
20 ngày tuổi sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến (Lê Xuân Sinh và ctv,2000 trích bởi
Trần văn Nhì,2005) Khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dễ chuyển đổi loại thức ăn
2.1.3 Sự tăng trưởng
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài Cá tra bột hết noãn hoàn có chiều trung bình 1,1 cm Sau 14 ngày ương đạt 2,0 -2,3cm và trọng lượng là 0,52g Cá 5 tuần tuổi đạt 1,28 -1,5 g Sau 1 năm cá đạt 0,7 -1,5 kg và đến 3-4 tuổi đạt 3-4 kg (Trần Văn Nhì, 2005) Trong ao nuôi vỗ, cá bố mẹ cho đẻ đạt tới 25 kg ở cá 10 năm tuổi Nuôi trong ao 1 năm cá đạt 1-1,5 kg/con (năm đầu tiên), những năm về sau cá tăng trọng nhanh hơn, có khi đạt tới 5-6 kg/năm tùy thuộc môi trường sống và sự cung cấp thức ăn cũng như loại thức ăn có hàm lượng đạm nhiều hay ít
2.2 Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn cho cá tra
2.2.1 Nhu cầu Đạm(Protein)
Đạm là chất dinh dưỡng đặc biệt chú ý trong thức ăn Nhiệm vụ chính của chất đạm là xây dụng cấu tạo cơ thể động vật Chất đạm trong thức ăn cung cấp các amino acid nhờ qúa trình tiêu hóa và thủy phân Trong ống tiêu hóa các amino acid được hấp thu vào máu đi đến các mô các cơ quan trong cơ thể để tổng hợp nên chất đạm trong cơ thể, giúp cơ thể phục vụ cho quá trình sinh trưởng, sinh sản và duy trì chi cơ thể (Trần Thị Thanh Hiền,2003) Trong thức ăn nếu hàm lượng Protein không
đủ để cung cấp cho nhu cầu cơ thể sinh vật thì sinh vật sẽ chậm lớn, ngừng tăng trưởng dẫn đến giảm trọng lượng Những nếu có hàm lượng đạm cao thì sẽ ảnh hưởng
Trang 14đến sự tiêu hóa của đạm và các chất khác (Thành,2001 trích bởi Huỳnh Hữu Hiền,2003)
Nhu cầu đạm tối ưu của các loài cá da trơn từ 25-45%, thông thường 30-35% Theo Trần Thị Thanh Hiền (2003) kết quả này khác nhau giữa các loài, phụ thuộc nhiều vào yếu tố môi trường, thức ăn thí nghiệm, mức độ thức ăn, trạng thái sinh lý
Ngoài ra nhu cầu đạm cũng khác nhau ở từng giai đoạn những cá nhỏ thì nhu cầu đạm cao hơn đối với loài cả trưởng thành Theo Dương Nhựt Long (2003) cho rằng thức ăn để ương nuôi cá tra ở giai đoạn 1 tháng tuổi thì cần phải có lượng đạm khoảng 28 -32% Còn thức ăn cho cá nuôi thịt có hàm lượng đạm thích hợp dao động 18-28% Bên cạnh đó hàm lượng đạm trong thức ăn thuỷ sản cho từng loài cũng khác
với cá rô phi, 38-40% đối với cá hồi vân (Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1
http://www.ria1.org, cập nhật 10/02/2006)
2.2.2 Nhu cầu chất bột đường (Cacbohydrate)
Cacbohydrat đươc xem là nguồn nguyên liệu cung cấp năng lượng rẻ tiền nhất cho động vật thủy sản Chiếm chủ yếu trên 75% ở thực vật Cacbohydrat chủ yếu cung cấp năng lượng cho cơ thể,khi thừa sẽ thích lũy mỡ dưới dạng glycogen, khi đủ
sẽ tiết kiệm dược Protein (Thành,2001 trích bởi Huỳnh Hữu Hiền,2003) Mặc dù không phải là chất dinh dưỡng thiết yếu đối với cá nhưng bổ sung carbonhydrate giúp giảm giá thành thức ăn và tăng cường khả năng kết dính trong quá trình đùn ép viên
Ở động vật chỉ chiếm số lượng nhỏ và tồn tai ở dạng glycogen (Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1,http://www.ria1.org, cập nhật 10/02/2006)
Theo Galing và Winson nhận thấy cá nheo giảm tăng trưởng khi không có bổ sung dextrin có cùng mức năng lượng và mức đạm Ở mức dextrin 25% trong thức ăn
cá vẫn sinh trưởng tốt Ngoài ra Winson và ctv (1988) còn cho thấy cá Nheo Mỹ sử
dụng chất bột đường cao phân tử nhu tinh bột, dextrin hiệu quả hơn so với đường đơn, đường đôi (glucose,sucrose, ) do quá trình biến dưỡng cá thì chậm mà tốc độ tiêu hóa đường đơn, đường đôi lại nhanh (Trích bởi Lưu Thanh Tùng,2008)
Khả năng sử dụng Cacbohydrat của ĐVTS khác nhau Tính ăn có tính quyết định đến khả năng sử dụng cacbohydrat của cá Những loài cá ăn tạp, thực vật có khả năng sử dụng cacbohydrat tốt hơn loài ăn động vật Còn ở cá biển trung bình khoảng 20% còn cá nước ngọt thì cao hơn (Hiền,Tuấn và Tú,2004)
Theo Hùng và ctv (2006) thì cá Basa có khả năng sử dụng Cacbohydrat trong
thức ăn cao đến 40% trong khi cá Tra chỉ có 20% Kết quả này cũng phù hợp cá
Trang 15Basa(P bocourti) có khả năng sử dụng cacbohydrat tốt hơn có thể đến 40-46,2% (Phương,1998; trích bởi Trần Thị Thanh Hiền,2003) Điều này làm cho cá Basa tích lũy mỡ nhiều hơn cá Tra Wilson và Morcau(1996) đề nghị cá nheo Mỹ có thể sử dụng hiệu quả Cacbohydrat trong thức ăn từ 20-30% và đây có thể xem là mức Cacbohydrat thích hợp với các lào cá khác(Trích bởi Huỳnh Hữu Hiền,2003)
Theo nghiên cứu của Huỳnh Hữu Hiền (2003) thì lượng mỡ trong cơ thể cá tỷ
lệ thuận với mức Cacbohydrat trong thức ăn mà cá sử dụng Nghĩa là cá ăn thức ăn có hàm lượng cacbohydrat cao thì tích lũy mỡ sẽ cao
2.2.3 Nhu cầu chất béo (Lipid)
Chất béo là một trong những thành phần sinh hóa cơ bản của động vật Chất béo đóng vai trò quan trọng cho nguồn cung cấp năng lượng, có khả năng thay thế một phần protein trong thức ăn cho thuỷ sản, sinh trưởng phát triển của dộng vật,ngoài ra
có vai trò trong việc vận chuyển Vitamin trong dầu và sterol Giá trị của chất béo được chú ý chính là thành phần các acid béo của chất béo Năng lượng không được sử dụng ngay mà được dữ trữ dưới dạng glycogen và mỡ Cá da trơn có khả năng dự trữ năng lượng thấp nên mỡ là dạng dữ trữ chính Kết quả nghiên cứu về nhu cầu chất béo trong thức ăn có hàm lượng chất béo ở cá từ 6-10% (Hiền,Tuấn và Tú,2004)
Chất béo được dự trữ trong gan, cơ và dạng bao quanh thành ruột hay tạo thành những lớp mỡ lớn như cá Basa chiếm 25%thể trọng cá khi cá ăn thức ăn có quá nhiều năng lượng (Mertrampf, 1992 trích bởi Nguyễn Hữu Yến Nhi,2006) Theo Wilson và Morcau(1996) cá trơn Mỹ sử dụng chất béo ở mức tối u;cá trê phi lai từ 7-10% còn các loài khác thì sử dụng ở mức cao hơn Chẳng hạn như Cá Hồi cầu vòng được cho
ăn với các khẩu phần có hàm lượng chất béo là 5 -20% và các hàm lượng Protein là 16-48%.tỷ lệ tối u giữa Protein và chất béo là 35% Protein và 18% chất béo.(Takeuchi
và ctv,1978,b trích bởi Silva, 2006) Còn Cá Nheo Mỹ vẫn tăng trưởng tốt ở mức chất
béo 15% hoặc có thể hơn Tuy nhiên nếu hàm lượng chất béo trong thức ăn nhiều qúa
sẽ làm mỡ tích lũy nhiều trong thịt cá, ảnh hưởng chất lượng cá, hơn nữa còn ảnh hưởng đên độ bền chặc của viên thức ăn, khó bảo quản (Trích bởi Lưu Thanh Tùng,2008)
Theo nghiên cứu của Phương (1998) cho thấy basa tăng trưởng nhanh nhất ở mức chất béo 7,7% và tốc độ tăng trưởng chậm ở mức tăng lên 13,3%và 20,8% Stieney và Anderewws(1972); Yungst và Stieney(1979) đã làm thí nghiệm trên cá nheo khẳng định trong khẩu phần ăn có chứa mỡ động vật hoặc dầu cá sẽ cho kết quả rằng tăng trưởng cao hơn nhiều so với khẩu phần có chứa dầu thực vật (Trích bởi Huỳnh Hữu Hiền,2003)
Trang 16Xu hướng chung hiện nay là sử dụng nhiều hơn chất béo trong khẩu phần thức
ăn cho cá do có thể hạ giá thành và nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn Xong nếu sử dụng nhiều chất béo hơn so với nhu cầu của cá sẽ dẫn đến hiện tượng tích mỡ trong gan, ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ và sinh trưởng của cá
2.2.4 Nhu cầu năng lượng
Năng lượng thì rất cần thiết cho mọi hoạt động sống của sinh vật Năng Lượng được cung cấp từ thức ăn từ các cơ quan dự trữ năng lượng của cơ thể Động vật thủy sản là một trong những động vật chuyển hóa năng lượng trong thức ăn để xây dựng
hiệu quá nhất (Trần thị Thanh Hiền và ctv,2004) Động vật thủy sản là loài động vật
biến nhiệt có thể thải trực tiếp Amoniac ra môi trường ngoài (85% tổng số N2 thải ra ngoài) ít sử dụng năng lượng để duy trì thân nhiệt cho sự duy trì thăng bằng cơ thể và vận động không phải tốn năng lượng để chuyển hóa Amoniac thành Ure hay Acid uric,
Năng Lượng lấy từ thức ăn bị mất khoảng 1/3 do quá trình bài tiết, 1/3 năng lượng dùng cho các hoạt động của cơ thể và 1/3 còn lại dùng cho sinh trưởng Các giá trị này thay đổi theo mức độ cho ăn và độ tiêu hóa thức ăn của cá (Smith,1989 trích bởi Huỳnh Hữu Hiền,2003)
Theo Dương thúy Yên (2000) tỷ lệ P/E của một số loài cá da trơn khác cũng tương đương với cá nheo Mỹ từ 20-30mg/Kj Trong khi đó thì nhu cầu năng lương thô trong thức ăn trơn là 2750 -3100Kcal/kg (Trần Thị Thanh Hiền, 2004)
2.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thức ăn trong nuôi cá tra
Cá da trơn là loài nuôi phổ biến ở châu Á Nhiều quốc gia đã chọn cá da trơn làm đối tượng quan trọng trong chiến lược phát triển nuôi trồng thủy sản và không chỉ tạo sản phẩm tiêu dùng trong nước mà còn hướng tới xuất khẩu Ở Việt Nam,cá da trơn tiêu biểu là cá tra, cá ba sa đã trở thành đối tượng nuôi quan trọng Xu hướng nuôi cá da trơn trên thế giới hiện nay là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và phát triển nghề nuôi bền vững Tuy nhiên giá cá tra xuất khẩu hiện nay không tăng nhiều, thậm chí còn chựng lại trong khi giá thành sản xuất luôn tăng lên, khiến cho lợi nhuận của người nuôi ngày càng thấp đi, thậm chí là lỗ mà chủ yếu hiện nay, do giá nguyên liệu thức ăn tăng, nhiều công ty đã tăng giá thức ăn khiến chi phí thức ăn chiếm khoảng 70% chi phí sản xuất (Nguyễn Thanh Phương,2006 trích từ http://www.baocantho.com.vn)
Thức ăn thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong nuôi trồng thuỷ sản Cải thiện chất lượng thức ăn là biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất Thức ăn là
Trang 17nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho qúa trình trao đổi chất, do đó không có thức ăn thì không xảy ra quá trình trao đổi chất dẫn đến động vật sẽ chết Thức ăn tốt giúp nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện sức khoẻ và tạo được sản phẩm chăn nuôi có giá trị cao
Trong các mô hình VAC,VACR hoặc nuôi ao hồ nhỏ, thức ăn chủ yếu ngoài tự nhiên, có sẵn, mức đầu tư thấp Trong khi cá nuôi, mô hình cá tra bè và nuôi ao thâm canh, hơn 90% là sử dựng thức ăn tự chế Một số đối tượng cá đồng như Lóc đen, người dân sử dụng chủ yếu 100% cá tạp (Trần Thị Thanh Hiền, 2004) Do đó còn tùy vào mô hình và địa phương mà việc sử dụng thức ăn cũng khác nhau
Thức ăn tự chế được sử dụng phổ biến ở Long xuyên và Châu Đốc khi đó khu vực Cần thơ – Vĩnh Long thì hầu hết dùng thức ăn công nghiệp ở cả 2 hình thức nuôi
ao 76.1% va trong bè là 100% Mặt dù người ta sử dụng thức ăn tự chế là chính nhưng trong khoảng 1 tháng cuối vụ thì người ta sử dụng thức ăn Công nghiệp nhằm cải thiện chất lượng thịt cá (Lê Thanh Hùng và ctv,2006) Ứng với mô hình khác nhau thì
việc sử dụng thức ăn cũng có sự khác biệt Theo Lê Thanh Hùng và ctv (2006)
khoảng 76.1% ao nuôi ở Cần Thơ – Vĩnh Long thì sử dụng chủ yếu thức ăn công nghiệp ở loại hình ao nuôi cao hơn kết quả báo cáo của Trần Thị Thanh Hiền (2003) với khoảng 46% nông hộ nuôi ao ở Cần Thơ đã sử dụng thức ăn Công nghiệp Điều này chứng tỏ thức ăn công nghiệp ngày càng được chấp nhận và dần dần được thay thế thức ăn tự chế khi mà thức ăn tự chế còn nhiều hạn chế như dễ gây ô nhiễm môi trường, khó quản lý dịch bệnh, sản phẩm không đáp ứng tốt cho xuất khẩu )
Bên cạnh đó thức ăn tự chế vẫn đóng góp 1 vai trò hết sức là quan trọng trong nuôi trồng thủy sản Đặc biệt là cá tra, basa trong bè và góp phần làm giảm giá thành sản xuất Theo Nguyễn Thanh Phương (1998) những người nuôi cá tra, basa ở An Giang trước đây người ta thường dùng những nguyên liệu rẽ tiền để phối trộn làm thức ăn cho cá, các loại phụ phẩm trong nông nghiệp và nguồn cá tạp sẵn có tại chổ với giá rất rẻ như cám, tấm, cá linh, khoai mì, bắp Ngoài ra người nuôi còn biết dùng các các nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật để đưa vào trong khẩu phần thức
ăn bí đỏ, khoai lan, khoai ngọt Nhưng rất ít được sử dụng (trích bởi Lưu Thanh Tùng,2008)
Với tiến bộ khoa học kĩ thuật ngày càng tiên tiến và sự hiểu biết của người nuôi về chế độ dinh dưỡng cũng như về giá trị dinh dưỡng của các nguyên liệu làm thức ăn ngày càng được nâng cao chẳng hạn như người nuôi có thể dùng bột cá, bột đậu nành, bột thịt xương làm nguồn cung cấp đạm trong thức ăn Nguồn nguyên liệu chế biến theo cổ truyền thường là Tấm, Cám, Mì lát… Ngoài ra còn được bổ sung thêm vitamin, khoáng làm dễ tiêu và tăng khả năng hấp thụ thức ăn Để đảm bảo dinh
Trang 18dưỡng cho cá phát triển tốt, đạt chất lượng cao, người nuôi cần nắm vững nhu cầu dinh dưỡng của cá trong từng giai đoạn phát triển rất quan trọng
2.4 Tình hình nghiên cứu Spent Bleaching Clay
Spent Bleaching Clay (SBC) là một sản phẩm từ việc tinh lọc dầu Thực Vật Trong suốt quá trình tinh lọc, chất lọc được dùng để loại các tạp chất và chất nhuộm Quá trình lọc được tiến hành ở nhiệt độ cao gồm dầu và cột lọc, các phân tử nhuộm và các tạp chất bám vào bề mặt cột lọc Cột lọc dùng trong tinh lọc dầu phần lớn là Bentonites, nó là Alumino Silicates được dùng tẩy dầu và chất béo SBC chứa khoảng 20-75% dầu từ quá trình tinh lọc SBC được sản xuât từ việc cải tiến dầu thực vật Nó là một tiềm năng là 1 nguồn nguyên liệu cho Công nghiệp sản xuất thức ăn thủy sản
SBC gần đây được đánh giá như một sản phẩm thải và thường bị loại bỏ (Wong, 1983) hoặc đốt cháy trong các lò đốt rác để sản xuất ra năng lượng Nhưng nó lại là một tiềm năng như là một nguồn nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất thức ăn
thủy sản Một vài thí nghiệm với cá rô phi (Oreochromis niloticus) cho rằng dầu cá
biển có thể thay thế hoàn toàn bởi SBC mà không ảnh hưởng tới tăng trưởng, chất lượng file và sức khỏe cá Giới hạn của SBC như 1 nghiệm thức ăn bao gồm hàm lượng tro cao và làm tăng vật chất lơ lững trong hệ thống nuôi (Ng & Chik, 2006) Không những được nghiên cứu trên Động Vật Thủy sản mà SBC đã được nhà khoa
học Blair et al( (1986) tiến hành sử dụng SBC tác động vào việc tăng thêm lợi ích từ
những nguyên liệu rẽ cho gia cầm, ông đã dùng 7,5% dầu cải tinh chế có thể đồng nhất trong khẩu phần thức ăn của gà giò kết quả cho thấy không ảnh hưởng tiêu cực lên sự phát triển cũng như sức khỏe của gà giò và đem lại lợi ích trong việc cải thiện viên thức ăn cứng (trích Ng & Chik, 2006)
Trong thực tế nhiều nhà sản xuất nghiên cứu ra các loại nguyên liệu là phế phẩm từ các nhà máy, xí nghiệp có thể cho ra những sản phẩm mới thay thế cho những nguyên liệu có trong tự nhiên vừa tiện dụng, rẻ tiền mà không làm cạn kiệt đi nguồn lợi thuỷ sản, đặc biệt là dầu cá được sản xuất từ những con cá biển nhỏ và làm hạn chế nguồn lợi cá và quan trọng hơn nữa là làm giảm chi phí sản xuất cũng như đảm bảo về mặt dưỡng chất
Các nhà nghiên cứu ngành thủy sản có thể giải quyết tốt vấn đề giá nguyên liệu thô tăng cao hiện nay và trong tương lai Do đó có thể dùng nguyên liệu có khả năng thay thế nguyên liệu giá đắt bằng nguyên liệu giá rẻ mà vẫn đảm bảo chất lượng thức ăn thủy sản Có rất nhiều cách thay thế thành phần thức ăn nuôi trồng thuỷ sản, nhưng với ngân sách eo hẹp cho hoạt động nghiên cứu và phát triển thì khả năng phát triển thức ăn cho một số loài thuỷ sản vẫn rất hạn chế Khi các hoạt động nghiên cứu
Trang 19và phát triển có những kết quả khả quan hơn sẽ có nhiều khả năng thay thế bột cá, dầu
cá và các nguyên liệu giá đắt khác Một nguồn tiềm năng khác của dầu cọ dùng trong khẩu phần ăn của cá là sử dụng phần dầu dư ra được thấm hút qua những cột đất sét
được tẩy đã sử dụng Spent Bleaching Clay (SBC)
Dầu cá dư bám vào SBC từ công nghiệp tinh lọc dầu ăn có thể là nguồn tiềm năng thay thế cho dầu cá trong sản xuất thức ăn thủy sản Do đó chúng ta cần thử nghiệm về giá trị SBC như một tiềm năng thay thế trong khẩu phần không những cho
cá rô phi mà còn cho cá cá tra nó góp phần làm giảm giá thành thức ăn trong nuôi trồng thủy sản ở một số nước nhiệt đới Ngoài ra để cho ra nhiều loại thức ăn cân bằng dinh dưỡng và có khả năng nâng cao sức khoẻ của thuỷ sản nuôi cần được nghiên cứu để áp dụng vào trong thực tế
Trang 20CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu Thí nghiệm
- Thí nghiệm sẽ được bố trí trên 12 bể (1m3/bể)
- Hệ thống sục khí
- Heater điều chỉnh nhiệt độ
- Máy đo Oxy, pH, nhiệt độ
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Nguồn cá thí nghiệm
- Cá tra giống sẽ được thu mua từ trại sản xuất giống cá tại Cần Thơ
- Trọng lượng ban đầu khoảng 10-20g
- Cá được chọn đồng cỡ, không nhiễm bệnh, khỏe mạnh, loại bỏ những con lờ
Trang 21Bảng 3.2 :Tỷ lệ thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm
Dàn bể bố trí thiết kế hệ thống nước chảy tràn Nước dơ sẽ được xiphong, hút cặn hoặc thay nước
Sẽ được theo dõi hàng ngày
Kiểm tra các các yếu tố môi trường như: nhiệt độ 1 lần /ngày ( 8h sáng và
chiều 15h), Oxy, pH đo 1 lần /tuần)
3.3 Thu mẫu và phân tích mẫu
3.3.1 Thu và phân tích mẫu cá
Cá trước và sau khi thí nghiệm (8 tuần) được cân trọng lượng
Thu mẫu cá sinh hóa trước thí nghiệm