TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN ĐẶNG TẤN PHÁT NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG ENZYME BỔ SUNG VÀO THỨC ĂN LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ ĐỘ TIÊU HÓA THỨC ĂN CỦA CÁ TRA Pangasianodon hypoph
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
ĐẶNG TẤN PHÁT
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG ENZYME BỔ SUNG VÀO THỨC ĂN LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ ĐỘ TIÊU HÓA THỨC ĂN
CỦA CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) GIAI ĐOẠN GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
ĐẶNG TẤN PHÁT
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG ENZYME BỔ SUNG VÀO THỨC ĂN LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ ĐỘ TIÊU HÓA THỨC ĂN
CỦA CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) GIAI ĐOẠN GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
ThS TRẦN LÊ CẨM TÚ
2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, cho tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi được học tập nâng cao kiến thức trong thời gian qua
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo Sư - Tiến Sĩ Trần Thị Thanh Hiền và Thạc Sĩ Trần Lê Cẩm Tú đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn
và đóng góp nhiều ý kiến giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn toàn thể các anh chị cũng như các bạn trong bộ môn dinh dưỡng và chế biến thức ăn thủy sản đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin gửi lời cảm ơn đến nhóm bạn Dững, Nhiên, Hiếu, Đan, Phấn, Hận, Tâm, Trinh, Thúy, Vân, Bảo, Ngân… đã giúp đỡ tôi rất rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Và cuối lời tôi xin đặc biệt cảm ơn đến gia đình, người thân đã tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Sinh viên thực hiện
Đặng Tấn Phát
Trang 4
TÓM TẮT
Đề tài này được thực hiện nhằm đánh ảnh hưởng của việc bổ sung enzyme tiêu hóa DE610F với các mức khác nhau (nghiệm thức 1: 0%; nghiệm thức 2: 0,0167% và nghiệm thức 3: 0,0333%) vào thức ăn lên độ tiêu hóa và tăng trưởng
của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) giai đoạn giống
Thí nghiệm xác định độ tiêu hóa của thức ăn có bổ sung enzyme DE610F được tiến hành trong hệ thống bể 500 lít để thu phân, Phân thu được bằng phương pháp mổ sau 8 giờ cho cá ăn Kết quả thí nghiệm cho thấy, độ tiêu hóa thức ăn và dưỡng chất thức ăn tương đối cao (độ tiêu hóa vật chất khô khoảng 68%, độ tiêu hóa đạm dao động từ 78-79%, độ tiêu hóa năng lượng dao động trong khoảng 70-72%) và khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p >0,05) giữa các nghiệm thức
Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung enzyme DE610F lên tăng trưởng của cá tra giai đoạn giống Thí nghiệm có 3 nghiệm thức thức ăn, được bố trí với hệ thống 9 bể mỗi bể 500 lít với mật độ 30 con/bể Sau 8 tuần, tỷ lệ sống (SR) của cá ở 3 nghiệm thức dao động từ 94,44 - 98,89%, tốc độ tăng trưởng (WG) dao động trong khoảng 23,08 - 25,71(g), tốc độ tăng trưởng tuyệt (DWG đối đạt từ 0,38- 0,43(g/ngày), kết quả thí nghiệm cũng cho thấy hệ số thức ăn (FCR)
và hiệu quả sử dụng đạm (PER) dao động lần lượt trong khoảng 2,38 - 2,86 và 1,06 - 1,22 Tuy nhiên, các giá trị SR, WG, DWG, FCR và PER không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (p >0.05) Đồng thời Thành phần hóa học của cá thí nghiệm giữa các nghiệm thức không bị ảnh hưởng khi bổ sung enzyme tiêu hóa DE610F vào thức ăn của cá thí nghiệm
Trang 7
4.2 Ảnh hưởng của hàm lượng enzyme DE610F bổ sung vào thức ăn lên độ tiêu
20
4.3 Ảnh hưởng của hàm lượng enzyme DE610F bổ sung vào thức ăn lên tăng
Trang 9Bảng 4.2 Thành phần hóa học của thức ăn dành cho cá tra thí nghiệm (P
Trang 10Hình 3.1: hệ thống thí nghiệm
Trong chăn nuôi, nhà sản xuất khai thác tối đa khả năng sinh lợi, mang lại hiệu quả kinh tế của vật nuôi Để giúp vật nuôi tiêu hóa tốt thức ăn, tăng trọng nhanh, hạn chế các tác động bất lợi có trong nguyên liệu thức ăn thì xu hướng chung hiện nay người ta bổ sung thêm vào thức ăn các loại enzyme Có rất nhiều công trình nghiên cứu cho thấy vai trò tích cực của enzyme trong ngành chăn nuôi; đặc biệt
là đối với chất xơ, phytate có trong cám gạo và ảnh hưởng tích cực đối với môi trường
Trong thức ăn thủy sản, những nguyên liệu có nguồn gốc thực vật có độ tiêu hóa thấp, do sự hiện diện của nhiều chất kháng dưỡng mà cá không thể sử dụng được như phytate và những hợp chất polysaccharic không tan như cellulose, hemicelluloses, pectin… Những hợp chất này có tên gọi chung là NSP (non-sugarpolysaccharic) Những NSP này là thành phần của màng tế bào thực vật, ngăn cản sự tiêu hóa vật chất dinh dưỡng trong tế bào Trong tự nhiên, các loài nấm và vi khuẩn sản xuất ra các enzyme (men) thủy phân các hợp chất NSP trong thức ăn Sự nuôi cấy các vi sinh vật này, tạo ra hỗn hợp các enzyme có khả năng thủy phân NSP, làm gia tăng độ tiêu hóa protein và năng lượng của thức ăn Hỗn hợp men tiêu hóa chứa các men: cellulase, hemicellulases, pectinase, và phytase
Có thể dùng enzyme để sản xuất thức ăn cho động vật nhằm tăng giá trị dinh dưỡng của thức ăn thô, tăng hệ số sử dụng thức ăn Các enzyme được sử dụng với mục đích này thường là enzyme thủy phân như protease, glucanase Chúng thủy
Trang 11phân các phân tử lớn thành dạng dể hấp thụ hơn, nên thường làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn lên khoảng 10%, tăng khối lượng đàn gia súc trung bình 10 -15% Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi chuẩn bị thức ăn cho các loài động vật còn non vì hệ thống tiêu hóa của chúng chưa thật sự thích hợp với việc ăn loại thức ăn thô
Trong nuôi trồng thủy sản, Cá tra là một đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao
và được nuôi nhiều nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Là loài cá nuôi chủ yếu bằng hình thức nuôi thâm canh trong ao đất Cá có tốc độ tăng trưởng nhanh, ăn tạp, sinh trưởng tốt trong điều kiện ao tù, nước đọng,… Nhờ vào những đặc điểm
ưu việt trên cũng như đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người nuôi và thu nhiều ngoại tệ cho nước nhà Năm 2011, Cá Tra được chính phủ đưa vào danh sách các sản phẩm chiến lược trong phát triển kinh tế của nước ta Do đó, diện tích và sản lượng nuôi không ngừng tăng lên Tuy nhiên, trong những năm gần đây bên cạnh những thuận lợi hiện có, nghề nuôi cá tra cũng gặp nhiều khó khăn, thử thách Giá
cá nguyên liệu giảm, giá thành thức ăn tăng gây thua lỗ cho người nuôi Thức ăn là khâu quan trọng quyết định hiệu quả kinh tế trong mô hình nuôi cá Tra Hầu hết các hệ thống nuôi thủy sản, chi phí thức ăn chiếm khoảng 77,7% giá thành sản, với protein là thành phần thức ăn có chi phí đắt nhất Việc sử dụng thức ăn công nghiệp với hàm lượng đạm cá cao thì chi phí thức ăn sẽ tăng nên hiện nay sử dụng đạm thực vật thay thế đạm bột cá là xu hướng chung của toàn cầu nhằm phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững Tuy nhiên các nguồn protein thực vật thì chứa nhiều
xơ và chất kháng dinh dưỡng như phytate, gos- sipol, chất ức chế tripsin, lectins
Vì vậy vai trò của việc bổ sung enzyme vào thức ăn trong khẩu phần của cá tra ngày càng quan trọng nhưng đến nay vẫn rất hiếm tài liệu công bố về việc bổ sung enzyme vào thức ăn của cá tra và ảnh hưởng của nó đến sự tăng trưởng của
cá tra
Nhận biết tầm quan trọng đó cho nên đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của
enzyme DE610F lên tăng trưởng và độ tiêu hóa thức ăn của cá Tra” được thực
hiện
1.2 Mục tiêu đề tài
- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung enzyme DE610F vào thức ăn cho cá tra
(Pangasianodon hypophthalmus) nhằm xác định hàm lượng enzyme thích hợp bổ
sung vào công thức thức ăn góp phần hoàn thiện xây dựng công thức thức ăn, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn trong nuôi cá tra thâm canh
Trang 121.3 Nội dung đề tài
- Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng enzyme DE610F bổ sung vào thức ăn lên
độ tiêu hóa thức ăn của cá tra
- Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng enzyme DE610F bổ sung vào thức ăn lên tăng trưởng của cá tra
- Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng enzyme DE610F bổ sung vào thức ăn lên thành phần hóa học của cá tra
CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học
2.1.1 Hệ thống phân loại
Tên loài Pangasianodon hypophthalmus được Rainboth, sử dụng lần đầu
vào năm 1996 để chỉ định cho loài cá Tra và sau đó được nhiều tác giả khác sử dụng phổ biến đến nay Cá tra là một trong số 11 loài thuộc họ cá
tra (Pangasiidae) đã được xác định ở sông Cửu long
Bộ: Siluriformes
Họ: Pangasiidae
Giống: Pangasianodon
Loài: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)
Hình 2.1 Cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus)
2.1.2 Hình thái, sinh lý
Trang 13Cá tra là cá da trơn (không vẩy), thân dài, lưng xám đen, bụng hơi bạc, miệng rộng, có 2 đôi râu dài Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước hơi lợ (nồng độ muối 7-10 ), có thể chịu đựng được nước phèn với pH >5, dễ chết ở nhiệt độ thấp dưới 15 oc, nhưng chịu nóng tới 39oC Cá tra có
số lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các lòai cá khác Cá có cơ quan hô hấp phụ và còn có thể hô hấp bằng bóng khí và da nên chịu đựng được môi trường nước thiếu oxy hòa tan Tiêu hao oxy và ngưỡng oxy của cá tra thấp hơn 3 lần so với cá mè trắng (trích Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
2.1.3 Đặc điểm dinh dƣỡng
Cá Tra có khả năng sống tốt trong điều kiện ao tù nước đọng, nhiều chất hữu cơ, oxy hòa tan thấp và có thể nuôi với mật độ cao Cá Tra là loài cá ăn tạp Trong tự nhiên ăn được mùn bã hữu cơ, rể cây thủy sinh, rau quả, tôm tép, cua, côn trùng, ốc và cá Cá nuôi trong ao sử dụng được các loại thức ăn khác nhau như
cá tạp, thức ăn viên, cám, tấm, rau muống… Thức ăn có nguồn gốc động vật sẽ giúp cá lớn nhanh Sau 24 – 36 giờ hết noãn hoàng, cá Tra bột thích ăn mồi tươi sống và ăn liên tục như luân trùng, trứng nước và các loại động vật nhỏ sống trôi nổi trong nước Đến ngày thứ 8 thì cá ăn được lăng quăng, ấu trùng mỗi đỏ, trùng chỉ và mùn bã hữu cơ Cá băt đầu xuống đáy tìm thức ăn từ ngày thứ 11 Kể từ ngày thứ 25 cá chuyển sang ăn tạp và tính ăn giống cá trưởng thành (Dương Nhựt Long, 2004) Theo Trần Thanh Xuân (2006) tỉ lệ thành phần thức ăn có trong dạ dày cá Tra đánh bắt ngoài tự nhiên được thể hiện trong bảng 2.1
Bảng 2.1: Thành phần thức ăn có trong dạ dày cá Tra ngoài tự nhiên
Ở giai đoạn nhỏ (giai đoạn cá bột và đầu giai đoạn cá hương) cá Tra có những biểu hiện của cá dữ, chúng ăn thịt cá bột và nhiều loài cá khác ngay cả đồng loại (Nguyễn Văn Kiểm, 2004) Cá Tra có khả năng sử dụng nhiều loại thức ăn có
Trang 14hàm lượng protein khác nhau nhưng trong điều kiện thiếu thức ăn thì cá có thể sử dụng các loại thức ăn bắt buộc như mùn bã hữu cở, thức ăn có nguồn gốc động vật (Trần Thanh Xuân, 1994; trích bởi Hải Đăng Phương, 2006) Trong ao, bè ngoài khả năng sử dụng cá tạp, cám, tấm thì cá Tra có thể tận dụng được các phụ phẩm nhà máy chế biến thủy sản, thức ăn tự chế vời hàm lượng protein thấp
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Cá Tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, cá nhỏ tăng nhanh về chiều dài Cá ương trong ao sau 2 tháng đạt chiều dài 8-10 cm (14-15 gam) Từ khoảng 2,5 kg trở đi, mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể Cỡ cá trên 10 tuổi trong tự nhiên (ở Campuchia) tăng trọng rất ít Ðã gặp cỡ cá trong tự nhiên 18 kg hoặc có mẫu cá dài tới 1,8 m Trong ao nuôi, sau 1 năm nuôi cá đạt trọng lượng 1-1,5kg/con, trong những năm sau cá lớn rất nhanh Cá nuôi trong ao
có thể đạt 25kg ở cá 10 năm tuổi (Dương Nhựt Long, 2004) Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của cá còn phụ thuộc rất lớn vào mật độ nuôi cũng như chất lượng và khẩu phần thức ăn cá sử dụng Ðộ béo Fulton (mỡ) của cá tăng dần theo trọng lượng và nhanh nhất ở những năm đầu, qua các năm sau độ béo biến đổi không đáng kể: cá
có khối lượng 11,2 gam có độ béo 0,99%, cá 560 gam có độ béo 1,6%, nhưng cá 3 tuổi nặng 3,62 kg thì có độ béo 1,62% Cá đực thường có độ béo cao hơn cá cái và
độ béo thường giảm khi vào mùa sinh sản (Trần Thanh Xuân, 1994; trích bởi Hải Đăng Phương, 2006)
2.2 Enzyme (men tiêu hóa)
2.2.1 Enzyme là gì?
Enzyme là chất xúc tác sinh học có bản chất là protein.Trong cuộc sống sinh vật xảy ra rất nhiều phản ứng hóa học, với một hiệu suất rất cao, mặc dù ở điều kiện bình thường về nhiệt độ, áp suất, pH Sở dĩ như vậy vì nó có sự hiện diện của chất xúc tác sinh học được gọi chung là enzyme Như vậy, enzyme là các protein xúc tác các phản ứng hóa học Trong các phản ứng này, các phân
tử lúc bắt đầu của quá trình được gọi là cơ chất (substrate), enzyme sẽ biến đổi chúng thành các phân tử khác nhau Tất cả các quá trình trong tế bào đều cần
Trang 15enzyme Enzyme có tính chọn lọc rất cao đối với cơ chất của nó Hầu hết phản ứng được xúc tác bởi enzyme đều có tốc độ cao hơn nhiều so với khi không được xúc tác Có trên 4.000 phản ứng sinh hóa được xúc tác bởi enzyme Hoạt tính của enzyme chịu tác động bởi nhiều yếu tố Chất ức chế là các phân tử làm giảm hoạt tính của enzyme, trong khi yếu tố hoạt hóa là những phân tử làm tăng hoạt tính
của enzyme ( www.vi.wikipedia.org/wiki/Enzyme )
2.2.2 Tính chất của enzyme
Enzyme có bản chất là protein nên có tất cả thuộc tính lý hóa của protein
Đa số enzyme có dạng hình cầu và không đi qua màng bán thấm do có kích thước lớn
Tan trong nước và các dung môi hữu cơ phân cực khác, không tan các dung môi không phân cực
Không bền dưới tác dụng của nhiệt độ, nhiệt độ cao thì enzyme bị biến tính Môt trường axít hay bazơ cũng làm enzym mất khả năng hoạt động
Enzyme có tính lưỡng tính: tùy vào pH của môi trường mà tồn tại ở dạng: cation, anion hay trung hòa điện
Enzyme chia làm hai nhóm: enzyme một cấu tử (chỉ chứa protein) như pepsin, amylase và các enzyme hai cấu tử (trong phân tử còn có nhóm không phải protein) (www.vi.wikipedia.org/wiki/Enzyme )
2.3 Một số enzyme thường gặp
2.3.1 Amylase
Amylase là các enzyme xúc tác thủy phân tinh bột và các polyoza tương tự như dextrin, glycogen,… Các enzyme chủ yếu trong nhóm này là: α – amylase, β – amylase và gluco- amylase Các enzyme Amylase từ các nguồn khác nhau thì thường khác nhau về tính chất, cơ chế tác dụng cũng như sản phẩm cuối cùng của
sự thủy phân Men tiêu hóa ở các loài cá tôm, thường tiêu hóa tinh bột không hoàn toàn Khi bổ sung amylase, độ tiêu hóa tinh bột gia tăng, năng lượng thức ăn được giải phóng (Lê Thanh Hùng, 2008)
Trang 162.3.2 Cellulase
Thành phần chính, tạo nên chất xơ và cấu tạo vách tế bào thực vật, có trong bánh dầu đậu nành, cám gạo,… Cellulose nắm giữ và ngăn chặn sự tiếp xúc của các protein, tinh bột với các men tiêu hóa Các loài cá và tôm, không có men tiêu hóa cellulose Do đó, bổ sung cellulase, giúp thủy phân các cellulose Các dưỡng chất trong thức ăn tiếp xúc với hệ thống men tiêu hóa, sẽ gia tăng độ tiêu hóa năng lượng và protein (Lê Thanh Hùng, 2008)
2.3.3 Beta glucanase
Beta glucan: là dạng NSP không tan hay tan trong nước Men hiện diện trong hạt ngủ cốc, là một dạng chất xơ, làm giảm độ tiêu hóa thức ăn cũng như gia tăng độ giữ nước trong dạ dày Các loài thủy sản thường không có đủ men tiêu hóa beta glucan Vì thế, việc bổ sung men tiêu hóa này sẽ giúp gia tăng độ tiêu hóa trong thức ăn thực vật, do giải phóng protein và tinh bột bị gắn chặt vào vách tế bào (Lê Thanh Hùng, 2008)
2.3.4 Pectinase
Phức hệ pectic polysaccharide có ở bánh dầu đậu nành và các protein gốc thực vật khác Pectin làm tăng độ nhớt của ống tiêu hóa, làm giảm khả năng hấp thụ dưỡng chất và mao trạng ruột Pectinase thủy phân pectin và giúp gia tăng độ tiêu hóa (Lê Thanh Hùng, 2008)
2.3.5 Phytase
Trong tự nhiên, khoảng 60 - 75% phospho có trong hạt ngũ cốc được liên kết hữu cơ dưới dạng phytate, đây là dạng rất khó hấp thu Giá trị sinh học của phốt pho ở hạt ngũ cốc rất biến động từ dưới 15% ở bắp cho tới khoảng 50% ở lúa
mì Trong khẩu phần bắp - khô dầu đậu nành có hai phần ba lượng phospho bị liên kết dưới dạng axít phytic
Phospho dự trữ trong thực vật ở dưới dạng axit phytic, axit phytic không có thể phân giải trong đường ruột của động vật dạ dày đơn Enzyme phytase phân giải axit phytic cho ra 6 phân tử phosphat, enzyme này đã được đưa vào sử dụng
từ giữa năm 1990 Bổ sung phytase vào khẩu phần có thể làm giảm lượng phospho
vô cơ và từ đây giảm lượng phospho thải tiết ở phân Giảm thấp lượng phospho
Trang 17phế thải là một lợi thế đặc biệt của các cơ sở chăn nuôi thâm canh vì nó là một chất gây ô nhiễm Ngoài việc giải phóng dây nối P, phytate còn có vai trò cải thiện giá trị năng lượng trao đổi của các loại thức ăn giàu protein Bổ sung phytase cho phép giải phóng P thực vật mà động vật không lợi dụng được Phytase cũng có thể giải phóng những chất khoáng và protein liên kết với phytate tạo ra những phức gọi là phức phytate Bổ sung phytase giảm được nguồn P vô cơ và từ đó giảm được P thải tiết của động vật (Vũ Duy Giảng,2004)
Đối với cá cũng như các loài động vật dạ dày đơn, P phytate là một chất kháng dinh dưỡng Enzyme phytase có tác dụng giải phóng P phytate, cải thiện tỷ
lệ tiếu hoá của P Theo Jackson et al., (1996) thì: “phytase bổ sung vào thức ăn kích thích sự thèm ăn làm cho cá ăn nhiều hơn vì vậy mà tăng trưởng của cá được cải thiện (trích Trần Thị Bé, 2010)
2.3.6 Protease
Protease là các enzyme xúc tác sự thủy phân liên kết peptid (CO-NH) trong phân tử protein và các cơ chất tương tự Nhiều protease cũng có khả năng thủy phân liên kết este và vận chuyển amino acid (CO-OH) Protease thủy phân các protein gắn vào phytate Ngoài ra protease còn giúp tăng sự thủy phân protein thực vật, làm tăng sự tiêu hóa protein thức ăn (Lê Thanh Hùng, 2008)
2.4 Tình hình nghiên cứu độ tiêu hóa
Có nhiều nghiên cứu về xác định độ tiêu hóa của nguyên liệu làm thức ăn
cho cá như Mohanta và ctv (2006) trích bởi Hải Đăng Phương (2006) thực hiện nghiên cứu trên cá mè vinh giai đoạn giống (Puntius gonionotus) với các nguồn
nguyên liệu khác nhau gồm bột cá, bột đậu nành, khô dầu đậu phộng, khô dầu hướng dương, khô dầu mè, cám gạo, bột bắp, đậu xanh đãi vỏ và đậu đen đãi vỏ Kết luận độ tiêu hóa đạm dao động từ 81,88 - 95,60%, độ tiêu hóa chất béo từ 87,29 - 94,48% và giá trị độ tiêu hóa năng lượng thay đổi trong khoảng 73,88 - 89,97% Nghiên cứu độ tiêu hóa được thực hiện trên nhiều loài cá với các nguồn nguyên liệu khác nhau
Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hiền và ctv (2006) đánh giá các phương pháp thu phân khác nhau và khả năng tiêu hóa các nguồn nguyên liệu trong thức
ăn cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) cỡ 100 g/con Nhằm xác định độ tiêu
hóa vật chất khô, năng lượng, nitrogen của nghiệm thức đối chứng khi phân được thu sau 2 giờ và khoảng từ 2 – 24 giờ Ảnh hưởng của thời gian thu phân không có
Trang 18ý nghĩa đến độ tiêu hóa của cá Độ tiêu hóa thức ăn chịu ảnh hưởng bởi phương pháp thu phân Phương pháp mổ có độ tiêu hóa thấp hơn phương pháp lắng Thí nghiệm xác định độ tiêu hóa protein và năng lượng của các nguyên liệu bằng việc
so sánh khả năng tiêu hóa nghiệm thức đối chứng và 8 nghiệm thức nguyên liệu thí nghiệm (gồm 70% nghiệm thức đối chứng và 30% nguyên liệu thí nghiệm: cá vụn, cám gạo ly trích, cám gạo ướt nguyên béo, gạo gẫy, mì lát, bột đậu nành và bột cá) Kết quả phân tích hàm lượng protein trong bột cá và cá vụn khác biệt có ý ngĩa (p<0.05) ở mức protein (677 và 731g/kg vật chất khô) và cao hơn có ý nghĩa
so với bột đậu nành (457g/kg vật chất khô), hàm lượng protein của cám gạo ly trích (165g/kg vật chất khô) cao hơn protein của cám gạo ướt và cám gạo khô (134
và 141g/kg vật chất khô) Độ tiêu hóa vật chất khô thấp nhất ở bột đậu nành (81,9%), cao nhất ở bột cá và cá vụn (87,7%) và khác biệt có ý nghĩa (P<0.05) với nghiệm thức đối chứng Độ tiêu hóa vật chất khô cao nhất có ý nghĩa ở gạo gẫy và
mì lát (83,2 – 90,7%) cao hơn cám gạo ở mức khoảng (57% và 82%) Ở nhóm cám gạo, cám gạo ly trích có độ tiêu hóa cao hơn có ý nghĩa so với các nguyên liệu còn lại (82%) Độ tiêu hóa năng lượng ở bột cá và cá vụn cao hơn có ý nghĩa
so vớ bột đậu nành Độ tiêu hóa protein cao ở tất cả các nguồn nguyên liệu cung cấp protein (94,4% - 96,1%) và khác biệt không có ý nghĩa Tuy nhiên độ tiêu hóa protein ở mì lát là thấp nhất (35,8%) trong các nguyên liệu thí nghiệm Protein tiêu hóa tương tự ở các nguyên liệu còn lại (65.1% và 70.4%) và khác biệt không có ý nghĩa (P<0.05) Kết quả cho thấy độ tiêu hóa protein và năng của cá Tra chịu ảnh hưởng bởi thành phần thức ăn, nguồn nguyên liệu
Nghiên cứu Ko¨pru¨cu và O¨ zdemir (2005) về khả năng tiêu hóa của cá rô
phi vằn (Oreochromis niloticus) đối với một số nguồn nguyên liệu như bột cá, bột
ngũ cốc, bột đậu nành, bột rận nước, bột vỏ tôm Kết quả cho thấy độ tiêu hóa vật chất khô của bột cá, bột ngũ cốc, bột đậu nành cao hơn có ý nghĩa (p<0,05) so với bột rận nước và bột vỏ tôm, nhưng không có sự khác biệt giữa bột rận nước và bột
vỏ tôm Độ tiêu hóa protein của bột cá, bột ngũ cốc, bột đậu nành (90,5%, 89,0%, 87,4%) cao hơn có ý nghĩa (p<0,05) so với bột rận nước và bột vỏ tôm Độ tiêu hóa protein của bột rận nước (75,8%) cao hơn có ý nghĩa so với bột vỏ tôm (71,0%) Độ tiêu hóa năng lượng khác biệt có ý nghĩa giữa các nghiệm thức, cao nhất là bột cá (92,1%) và thấp nhất ở bột vỏ tôm (54,8%) Độ tiêu lipid của bột cá cao hơn và có ý nghĩa so với bột đậu nành, bột rận nước và bột vỏ tôm nhưng không có sự khác biệt giữa bột ngũ cốc với bột cá và bột đậu nành
Trang 19Tương tự, Ribeiro, F et al., (2011) cũng nghiên cứu khả năng tiêu hóa
protein và lipid trên cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) cở 310 ± 9,68 g Thí
nghiệm gồm 5 nghiệm thức gồm bột bắp, cám mì, bột đậu nành, gluten bột bắp và bột cá Xác định độ tiêu hóa theo phương pháp gián tiếp bằng cách sử dụng 0,5% Cr2O3 cho mổi nghiệm thức Phân được thu bằng cách vớt sau mổi 4 giờ Kết quả,
độ tiêu hóa protein thô và acid amin lần lượt của bột bắp là 83,57 và 82,45%; cám
mì 82,87 and 81,47%; bột đậu nành 91,12 and 89,41%; gluten bột bắp 0,07 and 87,78% và bột cá 83,53 và 81,65% Độ tiêu hóa thực của protein và trung bình acid amin của bột bắp và lúa mì tương đương nhau (90,02 và 89,60%; 89,62 và 89,14%) Bột đậu nành và gluten bột bắp có độ tiêu hóa protein cao nhất (93,58%
năng tiêu hóa của cá giò (Rachycentron canadum) đối với các nguồn nguyên liệu
như bột cá Peru, bột đậu nành rang và ly trích, bột đậu nành ly trích, bột gia cầm, bột thịt xương, bột đậu phộng, bột hạt cải dầu và gluten bột bắp Thí nghiệm gồm nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức nguyên liệu thí nghiệm (70% nghiệm thức đối chứng và 30% nguyên liệu thí nghiệm) chứa 0,5% Cr2O3 Kích cở cá 10g/con với mật độ 20 con/bể 8 (300L/bể) Kết quả thí nghiệm cho thấy độ tiêu hóa vật chất khô, protein thô, lipid thô và năng lượng tổng cao nhất ở bột cá Peru và bột bắp Nguyên liệu có nguồn gốc động vật và bột bắp có độ tiêu hóa vật chất khô là 60,42 – 87,56% và từ 58,52 – 70,51% cho bột đậu nành, bột đậu phộng và bột cải dầu Độ tiêu hóa protein và lipid của nguyên liệu có nguồn gốc động vật lần lượt là 87,21 – 96,27% và 91,59 – 96,86%;88.97 – 94,42% và 92,38 – 96,93 cho nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật Kết quả trên cho thấy cá giò có khả năng tiêu hóa protein và lipid tốt với nguyên liệu có nguồn gốc từ động và thực vật
2.5 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung enzyme vào thức ăn lên
cá nuôi
Thí nghiệm bổ sung phytase vào thức ăn cá basa được tiến hành tại Đại Học Nông Lâm Trong thí nghiệm, cá được cho ăn 4 khẩu phần (đối chứng, bổ sung 1% DCP, bổ sung 1500 FYT và 2500 FYT/kg phytase đã thương mại hóa tên RONOZYMERP của công ty DSM) Lô ăn thức ăn bổ sung phytase, cho tăng trọng tốt nhất, cao hơn đối chứng và cao hơn cả lô bổ sung DCP Điều này cho thấy bổ sung phytase giúp nâng cao tăng trưởng (Lê Thanh Hùng, 2008)
Nghiên cứu của Carter et al 1992 với α-amylase trên cá hồi Atlantic
(Salmon salar) không thấy có ảnh hưởng đến thu nhận và hiệu quả chuyển hoá
Trang 20thức ăn Tương tự Renitz (1983) cũng thấy rằng bổ sung enzyme phân giải protein trong khẩu phần cá hồi rainbow trout không cải thiện được sinh trưởng và hiệu quả chuyển hoá thức ăn Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu trên cá hồi của
Gorskova và Yu-Dvinen (1984) và của Carter et al (1994) thì lại thấy có những cải thiện về thành tích của cá khi bổ sung enzyme Nghiên cứu của Ye et al Bổ
sung vào khẩu phần cá chép một premix multien- zyme với liều 5 – 10 g/kg đã làm cho tốc độ sinh trưởng của cá tăng hơn 12,3 - 27,5% so với đối chứng (Trích Vũ Duy Giảng, 2004)
Nghiên cứu của Trần Thị Bé (2010) về khả năng thay thế đạm bột cá bằng
đạm bột đậu nành bổ sung phytase vào thức ăn cho cá lóc giống (Channa striata)
cho thấy khả năng sử dụng tốt thức ăn khi thay thế đạm bột cá bằng đạm bột đậu nành đến 40% không có bổ sung phytase và 50% có bổ sung phytase
2.6 Enzyme DE610F
Enzyme DE610F có tên thương mại là AQUAZYME (Enzyme tiêu hóa) Loại enzyme này có công dụng là thủy phân các loại đạm, phân hủy độc chất, giúp đẩy nhanh quá trình tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất, giúp cá tôm tăng trọng nhanh AQUAZYME gồm các enzyme như: protease, esterase, amylase và chất mang vừa
đủ
Trang 21CHƯƠNG III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 8/2012 đến tháng 11/2012 tại Khoa Thủy Sản- Trường đại học Cần Thơ
3.2 Vật liệu nghiên cứu
Cá thí nghiệm là cá tra được mua từ trại sản xuất giống nhân tạo, cá có kích
cở từ 90- 110 g/con Chọn cá khỏe mạnh, không xây sát, không nhiễm bệnh, không dị hình, dị tật…
Trang 223.3.2 Hệ thống thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí trong hệ thống gồm 18 bể composite (500 L/bể) có sục khí liên tục Nguồn nước cấp cho hệ thống từ nước máy và được trữ trong bồn chứa có sục khí
Hình 3.1: Hệ thống thí nghiệm
3.3.3 Chăm sóc quản lý
Cá được mua về trữ trong bể composite (8 m3) để cá khỏe và làm quen với điều kiện thí nghiệm trong 2 tuần đầu Sau đó bố trí cá vào hệ thống bể thí nghiệm, tập cho cá ăn thức ăn thí nghiệm trong 2 tuần Tiến hành thu mẫu sau 8 tuần sau (đối với thí nghiệm 1) và 10 ngày sau (đối với thí nghiệm 2)
Các bể thí nghiệm được bố trí sục khí, thay nước 2 lần/tuần, thay 20 - 30% thể tích bể, siphon đáy bể, theo dỏi các yếu tố môi trường như nhiệt độ, oxy, pH,
Trang 233.3.4 Bố trí thí nghiệm:
3.3.4.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng enzyme DE610F
bổ sung vào thức ăn lên độ tiêu hóa thức ăn của cá tra
Bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẩu nhiên với 3 nghiệm thức thức ăn có cùng mức đạm, chất béo và năng lượng Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Nghiệm thức 1: nghiệm thức đối chứng + 1% Cr2O3/ khối lượng thức ăn
Nghiệm thức 2: nghiệm thức đối chứng + 0,0167% + 1% Cr2O3/ khối lượng thức
ăn
Nghiệm thức 3: nghiệm thức đối chứng + 0,0333% + 1% Cr2O3/ khối lượng thức
ăn
Mật độ bố trí: Tất cả các bể đều được bố trí với mật độ như nhau 30 con/bể
Thời gian thí nghiệm là 10 ngày
Phương pháp thu mẫu:
Cho cá ăn thức ăn thí nghiệm sau 10 ngày thì tiến hành thu mẫu Đến ngày thu mẫu, sau khi cho cá ăn 8 tiếng thì tiến hành thu mẫu phân bằng phương pháp
mổ Thu mẫu phân ở đoạn ruột cuối (chia đoạn ruột của cá ra 3 phần, ta thu mẫu ở đoạn ruột cuối đến hậu môn của cá) Mẫu phân được chứa trong cốc bạc (đã được sấy khô) sau đó đem mẫu phân thu được sấy khô ở tủ sấy 60oC trong 24 giờ, mẫu phân khô được đem ra để nguội sau đó được nghiền mịn và phân tích
3.3.4.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng enzyme DE610F
bổ sung vào thức ăn lên tăng trưởng của cá tra
Bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức thức ăn có cùng mức đạm, chất béo và năng lượng Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Nghiệm thức 1: nghiệm thức đối chứng
Nghiệm thức 2: nghiệm thức đối chứng + 0,0167%
Nghiệm thức 3: nghiệm thức đối chứng + 0,0333%
Mật độ bố trí: Tất cả các bể đều được bố trí với mật độ như nhau 30 con/bể
Trang 24Thời gian thí nghiệm là 8 tuần
Bảng 3.1 Công thức thức ăn thí nghiệm
Thành phần hóa học của thức ăn
Xác định thành phần dinh dưỡng trong thức ăn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá mức độ tiêu tốn thức ăn, qua đó để có thể chọn ra loại thức ăn
có hiệu quả nhất Thành phần hóa học của thức ăn được thể hiện qua bảng 4.2:
Bảng 4.2 Thành phần hóa học của thức ăn dành cho cá tra thí nghiệm (P
hypophthalmus) giai đoạn giống