TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN DƯ HỮU TRỌNG KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TRONG AO NUÔI TÔM SÚ Penaeus monodon GIAI ĐOẠN THU HOẠCH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TR
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN
DƯ HỮU TRỌNG
KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG
TRONG AO NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon)
GIAI ĐOẠN THU HOẠCH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN
DƯ HỮU TRỌNG
KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG
TRONG AO NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon)
GIAI ĐOẠN THU HOẠCH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Cán bộ hướng dẫn PGS TS NGUYỄN THANH PHƯƠNG ThS NGUYỄN THỊ KIM HÀ
2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “ Khảo sát một số yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm sú (Penaeus
monodon) giai đoạn thu hoạch " được sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn
Thanh Phương và ThS Nguyễn Thị Kim Hà, được thực hiện bởi sinh viên Dư Hữu Trọng (Mssv: 3092859) đã được chỉnh sữa theo hội đồng báo cáo vào ngày 11/12/2012
hiện
Dư Hữu Trọng
Trang 4Nhân đây, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến tập thể lớp Nuôi Trồng Thủy Sản A2-K35, anh Huỳnh Hàn Châu và anh Lê Huỳnh Minh Tuấn luôn sẵn lòng giúp đỡ tôi trong lúc học tập và hoàn thành đề tài
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi, gánh vác công việc, hỗ trợ về vật chất cũng như tinh thần trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Xin cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ và chia sẽ với tôi để có được sự thành công hôm nay
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5TÓM TẮT
Trong nuôi tôm thâm canh hiện nay thì vấn đề quản lý môi trường nước tốt được xem là rất quan trọng quyết định đến sự thành công của một vụ nuôi Làm sao đảm bảo sự tối ưu các yếu tố có lợi và tối thiểu các yếu tố có hại trong suốt vụ nuôi đặt biệt cho đến giai đoạn thu hoạch nhằm nâng cao năng suất kinh
tế Đề tài “Khảo sát một số yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm sú (Penaeus
monodon) giai đoạn thu hoạch” nhằm khảo sát sự biến động một số chỉ tiêu môi
trường trong ao nuôi tôm sú thâm canh giai đoạn thu hoạch nhằm quản lý môi trường tốt hơn cải thiện hiệu quả năng suất và kinh tế Quá trình thu mẫu được tiến hành ở 3 ao thuộc địa bàn huyện Trần Đề - tỉnh Sóc Trăng Diện tích bình quân mỗi ao là 3.370 m2 Thả tôm sú giống post 15, mật độ thả nuôi trung bình
33 con/m2 Tôm được cho ăn bằng thức ăn công nghiệp (39% CP) Trong quá trình nuôi tiến hành thu 5 đợt thu mẫu (đợt 1: ao nuôi chưa thả tôm, đợt 2: ao tôm 45 ngày tuổi, đợt 3: ao tôm 75 ngày tuổi, đợt 4: ao tôm 105 ngày tuổi, đợt 5:
135 ngày tuổi) đối với 2 chỉ tiêu COD và BOD, còn các chỉ tiêu: oxy hòa tan, nhiệt độ, pH, NH3, H2S, NO2, độ kiềm, độ mặn chỉ thu mẫu ở đợt 1 (chưa thả tôm) và đợt 5 (giai đoạn thu hoạch) Kết quả qua 2 đợt thu mẫu cho thấy nhiệt
độ, oxy, pH biến động theo ngày đêm và giảm tương đối ít Hàm lượng NH3,
H2S, NO2 tăng dần Độ mặn tương đối ổn định Độ kiềm giảm qua 2 đợt thu mẫu COD và BOD biến động tăng dần qua các đợt thu mẫu Hạch toán kinh tế trung bình của 3 ao nuôi tôm sú: Thời gian nuôi khoảng 5,5 tháng, năng suất bình quân 2,6 tấn/ao, thu hoạch 308,5 triệu đồng, chi phí 235,7 triệu đồng, lợi nhuận 72,8 triệu đồng, tỉ suất lợi nhuận khoảng 28,9%
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH HÌNH vi
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Nội dung của đề tài 2
1.4 Thời gian thực hiện 2
Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học tôm sú 3
2.1.1 Hệ thống phân loại 3
2.1.2 Cấu tạo 3
2.1.3 Phân bố 4
2.1.4 Chu kỳ sống 4
2.2 Tập tính bắt mồi và nhu cầu dinh dưỡng 6
2.2.1 Tập tính bắt mồi 6
2.2.2 Nhu cầu dinh dưỡng 6
2.3 Lột xác và tăng trưởng 7
2.4 Thu hoạch 7
2.5 Điều kiện môi trường 7
2.5.1 Nhiệt độ 8
2.5.2 pH 8
2.5.3 O2 9
2.5.4 Độ mặn 10
2.5.5 Độ kiềm 10
2.5.6 NO2 11
2.5.7 NH3 11
2.5.8 H2S 11
2.5.9 COD 12
2.5.10 BOD 12
2.6 Một số nghiên cứu về môi trường nước trong ao tôm 12
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 14
3.2 Vật liệu nghiên cứu 14
Trang 73.3 Phương pháp thu mẫu 15
3.4 Phương pháp phân tích 16
3.5 Phương phá xử lý số liệu 17
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18
4.1 So sánh các yếu tố thủy lý hóa trong ao nuôi tôm sú ở đợt 1 (giai đoạn trước lúc thả tôm) và đợt 5 (giai đoạn thu hoạch) 18
4.1.1 Nhiệt độ 18
4.1.2 pH 19
4.1.3 Oxy hòa tan (DO) 20
4.1.4 Độ mặn 22
4.1.5 Độ kiềm 23
4.1.6 Ammonia (NH3) 23
4.1.7 Nitrite (NO2) 24
4.1.8 Hydrogen Sulfide (H2S) 26
4.2 Biến động COD, BOD qua các đợt thu mẫu 27
4.2.1 COD 27
4.2.2 BOD 28
4.3 Hạch toán kinh tế mô hình nuôi 29
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 33
5.1 Kết Luận 33
5.2 Đề xuất 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Tôm sú (Penaeus monodon) 3
Hình 2.2: Chu kỳ sống của tôm biển – Dạng II (Dall và ctv, 1990) .5
Hình 3.1: Máy đo YSI 556 MPS 15
Hình 4.1: Biến động nhiệt độ trong ngày và qua 2 đợt thu mẫu 18
Hình 4.2: Biến động pH trong ngày và qua 2 đợt thu mẫu 19
Hình 4.3: Biến động hàm lượng oxy trong ngày và qua 2 đợt thu mẫu 21
Hình 4.4: Biến động độ mặn qua đợt thu mẫu đầu tiên và đợt cuối 22
Hình 4.5: Biến động độ kiềm qua đợt thu mẫu đầu tiên và đợt cuối 23
Hình 4.6: Biến động NO2 trong ngày và qua 2 đợt thu mẫu 24
Hình 4.7: Biến động NH3 trong ngày và qua 2 đợt thu mẫu 25
Hình 4.8: Biến động H2S trong ngày và qua 2 đợt thu mẫu 26
Hình 4.9: Biến động COD qua các đợt thu mẫu 27
Hình 4.10: Biến động BOD qua các đợt thu mẫu 28
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1 : Chu kỳ lột xác của tôm (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc
Hải, 2004) .7 Bảng 2.2: Giải pháp tốt nhất để quản lý nhiệt độ trong ao (Dự án VIE/97/030, 2004) 8 Bảng 2.3: Bảng tương quan giữa lượng vôi bón để cải tạo ao và pH đất (Công ty
CP, 2002) .9 Bảng 2.4: Hướng dẫn sử dụng máy quạt nước (Characchakool, 1999) 9 Bảng 3.1: phương pháp thu mẫu một số chỉ tiêu chất lương nước thu tại
các ao tôm .16 Bảng 3.2: Phương pháp phân tích mẫu một số chỉ tiêu chất lượng nước thu
tại các ao nuôi tôm 17 Bảng 4.1: Hạch toán kinh tế trung bình của 3 ao nuôi 31
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
KT-XH: kinh tế - xã hội
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Nằm trong khu vực Châu Á, Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển thủy sản Các loại thủy sản mới đây rất đa dạng và phong phú nhất là nghề nuôi tôm sú NTTS đang ngày càng phát triển và dần trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn, góp phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế nước ta đặc biệt là nghề nuôi tôm sú Tính đến năm 2011 thì sản lượng xuất khẩu tôm nước
ta với giá trị đạt tới con số đầy khích lệ là 2,396 tỉ USD Năm 2011 Việt Nam xuất khẩu tôm sang 91 thị trường thế giới, thu về gần 2,4 tỷ USD, tăng 13,7% so với năm 2010 (Tổng cục hải quan, 2011) Để đáp ứng nhu cầu con giống cho nghề nuôi tôm sú thịt trong những năm gần đây, việc sản xuất giống tôm sú cũng
phát triển rất nhanh chóng Tôm biển nói chung và tôm sú (Penaeus monodon)
nói riêng là đối tượng nuôi quan trọng của Việt Nam, đặt biệt là ĐBSCL
Một số năm gần đây, phong trào chuyển từ trồng lúa sang nuôi tôm ở vùng ngập mặn phát triển Nhờ việc chuyển dịch này mà nhiều hộ nông dân giàu lên, nhiều địa phương giảm bớt đói nghèo, góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động tham gia trong NTTS, giải quyết các vấn đề KT-XH Vì vậy, lợi ích từ việc nuôi trồng tôm sú là rất lớn, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển được sự quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới Trong nuôi tôm thâm canh hiện nay thì vấn đề quản lý môi trường nước tốt được xem là rất quan trọng quyết định đến sự thành công của một vụ nuôi Làm sao đảm bảo sự tối ưu các yếu tố có lợi và tối thiểu các yếu tố có hại trong suốt vụ nuôi đặt biệt cho đến giai đoạn thu hoạch nhằm nâng cao năng suất kinh
tế Trong suốt quá trình nuôi thì lượng thức ăn dư thừa, hàm lượng chất hữu cơ lắng tụ, dư lượng kháng sinh làm ảnh hưởng đến con người, môi trường nuôi và đặt biệt là sự sinh trưởng của tôm, cũng như hàm lương khí độc tăng lên do sự phân hủy vật chất hữu cơ như: SO2, NH3, H2S,…và nhiều mầm bệnh sẵn sàng bùng phát khi gặp điều kiện thuận lợi
Nhận thức được tầm quan trọng của các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tình trạng sinh lý của tôm nên đề tài “Khảo sát một số yếu tố môi trường trong ao
nuôi tôm sú (Penaeus monodon) giai đoạn thu hoạch” được thực hiện
Trang 121.2 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu là khảo sát sự biến động một số chỉ tiêu môi trường trong ao nuôi tôm sú thâm canh giai đoạn thu hoạch nhằm mục đích quản lý môi trường tốt hơn cải thiện hiệu quả năng suất và kinh tế
1.3 Nội dung của đề tài
Các chỉ tiêu khảo sát như: oxy hòa tan, pH, nhiệt độ, độ mặn, độ kiềm,
NH3, NO2, H2S, COD và BOD
Hạch toán kinh tế của mô hình nuôi
1.4 Thời gian thực hiện
Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 3/2012 đến tháng 7/2012
Trang 13CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học tôm sú
2.1.1 Hệ thống phân loại
Theo Holthuis (1980) và Barnes (1987) được trích dẫn bởi Nguyễn Thanh
Phương và ctv, (2004) thì tôm sú có hệ thống phân loại như sau:
Ngành: Arthropoda
Ngành phụ: Crustraca
Lớp: Malacostraca Lớp phụ: Eumalacostraca Bộ: Decapoda
Họ chung: Penaeidea Giống: Penaeus
Loài: Pennaeus monodon
Hình 2.1: Tôm sú (Penaeus monodon)
2.1.2 Cấu tạo
Nhìn từ bên ngoài, tôm gồm các bộ phận sau:
Chủy: dạng như lưỡi kiếm, cứng, có răng cưa Với tôm sú, phía trên chủy có 7-8 răng và dưới chủy có 3 răng
Mũi khứu giác và râu: cơ quan nhận biết và giữ thăng bằng cho tôm
Trang 14 Cặp chân hàm: lấy thức ăn và bơi lội
5 cặp chân ngực: lấy thức ăn và bò
Con đực: cơ quan sinh dục chính của con đực nằm ở phía trong phần đầu ngực, bên ngoài có cơ quan giao phối phụ nằm ở nhánh ngoài đôi chân ngực thứ 2, lỗ sinh dục đực mở ra hốc háng đôi chân ngực thứ 5 Tinh trùng thuộc dạng chứa trong túi
Con cái: Buồng trứng nằm dọc theo mặt lưng phía trên, hai ống dẫn trứng
mở ra ở khớp háng đôi chân ngực thứ 3 Bộ phận chứa túi tinh gồm 2 tấm phồng lên ở đôi chân ngực thứ 4 và thứ 5 dưới bụng tôm
(www.vietlinh.com.vn)
2.1.3 Phân bố
Phân bố tự nhiên của loài này là khu vực Ấn-Tây-Thái Bình Dương, trải
từ bờ đông châu Phi, bán đảo Ả Rập, đến tận Đông Nam Á và biển Nhật Bản Ở đông Úc cũng có loài này, và một lượng nhỏ tôm sú cũng đi vào Địa Trung Hải qua kênh đào Suez Ngoài ra còn có ở Hawaii và bờ biển Đại Tây Dương của Mỹ Ở Việt Nam tôm phân bố ở Vịnh Bắc Bộ, ven biển Nam Trung
Bộ và vùng biển Tây Nam Bộ (Ông Trang, Bảy Háp, sông Ông Đốc và Khánh Hội, Kim Quy, Hòn Chông Hà Tiên) (Nguyễn Văn Thường, 1999)
2.1.4 Chu kỳ sống
Tôm sú thuờng từ 8 - 10 tháng đã có thể tham gia sinh sản Chúng đẻ quanh năm nhưng chủ yếu tập trung ở 2 thời kỳ chính là tháng 3-4 và tháng 7-10 hàng năm (Phạm Văn Tình, 2004)
Vòng đời của tôm sú được chia ra làm các giai đoạn: phôi, ấu trùng, hậu
ấu trùng, tôm giống, tôm tiền trưởng thành và trưởng thành (Nguyễn Thanh
Phương và ctv, 2004)
Trang 15- Giai đoạn phôi: giai đoạn này bắt đầu từ khi trứng thụ tinh và phân cắt thành 2, 4, 8, 16, 32, 64 tế bào, phôi đầu, phôi nang, phôi vị đến nở Thời gian hoàn tất giai đoạn này khoảng 12 đến 15 giờ tùy thuộc điều kiện nhiệt độ nước
- Nauplius: chia làm 6 giai đoạn phụ (N1- N6) kéo dài 2 đến 3 ngày, dinh dưỡng bằng noãn hoàng
- Zoae: chia làm 3 giai đoạn phụ (Z1-Z3) kéo dài 4 - 5 ngày, dinh dưỡng chủ yếu bằng tảo khuê
- Mysis: chia làm 3 giai đoạn phụ (M1-M3) kéo dài 3 - 4 ngày, tôm ăn chủ yếu là phiêu sinh động vật như ấu trùng Artemia, Branchionus plicatilis
Hầu hết giai đoạn ấu trùng mất khoảng 9 - 10 ngày, sau đó biến thái sang giai đoạn hậu ấu trùng (Postlarvae) Giai đoạn này tôm bám thành bể, sống đáy,
có hình dạng giống như tôm trưởng thành Ngoài động vật phù du tôm ăn cả mùn
bã hữu cơ, sinh vật đáy: Oligochaeta, Polychaeta, Bivalvia, 5 - 6 tuần sau trở thành tôm giống.Tôm giống 6 - 8 tháng sau đạt tiêu chuẩn tôm trưởng thành và
có thể tham gia sinh sản (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004)
Hình 2.2: Chu kỳ sống của tôm biển – Dạng II (Dall et al, 1990)
VÙNG CỬA SÔNG VÙNG VEN BỜ VÙNG KHƠI
Trang 162.2 Tập tính bắt mồi và nhu cầu dinh dưỡng
2.2.1 Tập tính bắt mồi
Tôm sú được xem như là loài ăn tạp (Dall, 1998), loài ăn tạp cơ hội (Ruello, 1973), loài ăn chất vẩn (Dall, 1968), loài ăn thịt (Hunter và Feller, 1987) hay là loài địch hại của nhau (Marte, 1980; Leber; Wassenberg và Hill, 1987) (trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004) Thức ăn của tôm bao gồm: giáp xác, nhuyễn thể, côn trùng, giun nhiều tơ, tảo và các mảnh thực vật hữu cơ khác v v… Tuy nhiên, tập tính ăn của chúng thay đổi theo giai đoạn Giai đoạn tôm bột và giống chúng ăn vi tảo, chất vẩn, giun, Copepode, Moina,
… Đến khi tôm lớn, thì chúng chuyển sang ăn các loài động vật không xương sống như ruốc, giáp xác chân đều, giun nhiều tơ, nhuyển thể, chất vẩn hay cả cá nhỏ Tôm ăn nhiều nhuyễn thể trong suốt quá trình thành thục trong mùa sinh sản, trong những tháng khác tôm ăn nhiều cá hơn
Tôm sú ăn suốt ngày đêm (nhiều nhất vào ban đêm lúc thủy triều lên cao) Tôm giảm ăn khi lột xác Các yếu tố môi trường như nhiệt độ quá cao hay quá thấp, oxy thấp cũng làm tôm giảm ăn Các yếu tố khác thay đổi bất thường gây sốc cho tôm Bên cạnh đó tôm có hiện tượng ăn lẫn nhau khi thiếu thức ăn, thức
ăn thiếu dinh dưỡng hay mật độ cao Tôm khỏe mạnh tấn công tôm yếu, tôm lớn
ăn tôm yếu, tôm vỏ cứng ăn tôm vỏ mềm Tôm nhờ vào các cơ quan xúc giác nằm ở đầu mút của râu, phụ bộ miệng và càng để phát hiện và bắt mồi Càng cắt thức ăn nhỏ và đưa vào miệng thích hợp khi nuốt Những thức ăn không được tiêu hóa sẽ được thải ra cùng với phân (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004)
2.2.2 Nhu cầu dinh dưỡng
Nhu cầu chất đạm và a-xít a-min: có vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ thể, cung cấp năng lượng và các a-xít a-min thiết yếu Tôm giống có nhu cầu chất đạm khoảng 40%, đối với tôm thịt thì khoảng 35-40%
Nhu cầu chất béo: hàm lượng thích hợp cho tôm khoảng 6-7.5% Nguồn gốc từ dầu cá, dầu mực,…
Nhu cầu chất bột đường (carbohydrate): hàm lượng khoảng 10-20% Nhu cầu vitamin và khoáng: một số vitamin như A, B, C, D và khoáng như canxi, phosphorus tốt cho tôm trong việc hấp thu, tăng đề kháng và làm vỏ cứng vỏ
Trang 172.3 Lột xác và tăng trưởng
Tôm sú có lớp vỏ chitin bao bọc bên ngoài cơ thể, tôm muốn gia tăng kích thước và sinh trưởng thì phải tiến hành lột xác Quá trình này phụ thuộc vào điều kiện dinh dưỡng, môi trường nước và giai đoạn phát triển của cá thể
Bảng 2.1 : Chu kỳ lột xác của tôm (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004)
Postlarvae 2-3 3-5 5-10 10-15 15-20 20-40 Tôm cái (tôm đực) 50-70
Hằng ngày 8-9 9-10 10-11 11-12 12-13 14-15 18-21 (23-30)
2.4 Thu hoạch
4,5-6 tháng
Kích cỡ: 25-50
Phương pháp: kéo lưới
Xử lý: cấp đông 1 tôm-1 nước đá
Năng suất: 4-6 tấn/ha
2.5 Điều kiện môi trường
Theo Boy and Fast (1992) thì các yếu tố lý, hóa, sinh của nước và đất bao gồm nhiều yếu tố Trong đó, có một số yếu tố quan trọng như sau: pH nước từ 7-
9, độ mặn 25-30%0, nhiệt độ 25-35oC, D.O 3,5mg/L đến bão hòa, H2S gây độc ở bất cứ nồng độ nào (nếu có), NH3 < 0,1mg/L, nồng độ NO2 từ 4-5mg/L sẽ gây bất lợi cho tôm, CO2 < 20mg/L chưa ảnh hưởng đến tôm khi oxy đầy đủ
Trang 182.5.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong NTTS Nhiệt độ phù hợp cho tôm và tảo thực vật có lợi là 280C-330C Nhiệt độ không nên thay đổi quá 50C/ngày (Boyd et al., 2002a) Nếu nhiệt độ >330C hoặc <250C tôm
giảm ăn từ 30-50% (Nguyễn Anh Tuấn và ctv., 2003) Nhiệt độ thấp tôm giảm
ăn hoặc ngưng ăn, chậm hoặc không lớn Nhiệt độ cao > 35 oC, nhóm tảo lam gây hại cho tôm sẽ phát triển
Bảng 2.2: Giải pháp tốt nhất để quản lý nhiệt độ trong ao (Dự án VIE/97/030,
Ao không đủ độ sâu (<1m)
Thiết kế ao đủ độ sâu, thiết
kế ao chứa để bổ sung nước khi cần
Mưa, nắng kéo dài giảm lượng thức ăn
Mùa vụ
nuôi thả
Không thả không đúng mùa vụ
Thả đúng mùa vụ theo qui định của cơ quan thuỷ sản
Cố gắng duy trì màu nước
ổn định
2.5.2 pH
Hàm lượng ion H+ trong nước được đo bởi chỉ số pH (pH = -lg[H+] pH là một trong những yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sống của sinh vật Mức pH từ 6,5-9 đối với tôm là thích hợp (Trương Quốc Phú, 2006)
Thông thường pH tối ưu từ 7,8-8,2 (Chanratchakool et al, 1998) pH trong ao
phụ thuộc vào các yếu tố thổ nhưỡng, lượng vôi bón, mật độ tảo và chế độ thay nước Nếu pH dao động quá 0,5 đơn vị trong một này thì hoạt động sống của tôm
sẽ bị ảnh hưởng bất lợi Khi pH thấp gây trở ngại cho việc lột xác và làm tôm mềm vỏ đồng thời làm tăng khí độc H2S
Cải tạo ao thật tốt từ ban đầu Chú ý dọn sạch các chất hữu cơ và bón đủ vôi để cải thiện pH, lượng vôi (kg/ha) bón tuỳ theo pH đất ở bảng sau:
Trang 19Bảng 2.3: Bảng tương quan giữa lượng vôi bón để cải tạo ao và pH đất (Công ty
Dolomite CaMg(CO3)2
không vượt 15ppm (Whetstone et al, 2002)
Trong ao nuôi tôm thâm canh thì sự biến động oxy trong ao tăng dần theo thời gian nuôi Oxy sẽ tăng cao vào ban ngày vào lúc giữa trưa và giảm thấp vào ban đêm Cần cung cấp oxy đầy đủ cho tôm duy trì môi trường tốt trong suốt vụ nuôi Muốn quản lý tốt oxy buộc phải duy trì được màu nước (duy trì tảo) và sử dụng linh hoạt máy sục khí
Bảng 2.4: Hướng dẫn sử dụng máy quạt nước (Characchakool, 1998)
Mục đích sử dụng Ngày tuổi
1-20 Trong quá trình ánh sáng thấp
(trời u ám)/trong khi trời mưa/sau khi thêm nước
8-12 giờ về đêm, liên tục trong 2-3 ngày
1-2 giờ trước lúc cho
ăn
80 đến lúc thu tôm Suốt ngày, trừ lức cho ăn
Trang 20(Constantinov, 1967 trích bởi Nguyễn Văn Thường, 2005)
Độ mặn thích hợp nhất cho tôm từ 15-25 ‰ mặcdù tôm có thể sống và sinh trưởng trong giới hạn độ mặn từ 0-37 ‰ Sự thay đổi độ mặn không quá 5
‰ hàng ngày, sự thay đổi nhanh có thể gây “sốc” tôm Độ mặn thấp làm tôm mềm vỏ và có mùi, trong khi độ mặn cao thì làm tôm chậm lớn, tôm dễ bị nhiều bệnh Tuy nhiên, có thể tăng độ mặn ao nuôi trước khi thu hoạch làm tôm có vỏ cứng, tăng thêm khối lượng cơ thể (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004)
2.5.5 Độ kiềm
Độ kiềm của nước được hiểu là khả năng thu nhận acid (H+) của nước do
sự có mặt của các bazơ trong đó Khi đưa acid vào nước, pH của nước giảm, mức
độ giảm pH của nước (cùng lượng acid đưa vào) phụ thuộc vào loài và nồng độ bazơ trong nước Bazơ chủ yếu trong nước là các thành phần: nhóm OH-, bicarbonate (HCO3-), carbonate (CO32-), phosphate, silicat (HSiO3-) (Lê Văn Cát
và ctv, 2006)
Theo Vũ Thế Trụ (1999) độ kiềm thích hợp nhất cho sự phát triển của tôm
sú là 80-150ppm Mức qui định phù hợp: Tôm mới thả : 80-100 ppm (không nên thấp hơn 50 ppm), từ 45 ngày tuổi trở lên: 100-130 ppm; 90 ngày tuổi trở lên: 130-160 ppm (Dự án VIE97030, 2004)
Trong nước tự nhiên độ kiềm từ 5-500 mg CaCO3/l, nhưng trong nước biển thường khá cao > 116 mg CaCO3/l Ao nuôi tôm có độ kiềm thấp thường do
độ mặn nước ao thấp, đất phèn, thay nước ít và phiêu sinh vật phát triển quá dày,
ao nhiều ốc, hà, giun,…Ao có độ kiềm thấp (<30 mg/l) thường gây ra hiện tượng mềm vỏ hay không lột vỏ được, làm pH thay đổi và khó khống chế và pH tăng khi tảo phát triển (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004)
Một số biện pháp khắc phục khi độ kiềm thấp: bón vôi, cải tạo ao tốt từ đầu vụ nuôi, Vào thời kỳ con nước, cần xử lý nước thật tốt ở ao chứa, bón vôi, gây màu tăng độ kiềm sau đó kích sang ao nuôi để tôm lột xác hoàn toàn
Trang 212.5.6 NO 2
Trong thủy vực NO2 là sản phẩm trung gian của quá trình nitrite hóa hay phản nitrate hóa Quá trình oxy hóa từ amomonium đến nitrate nhờ vào 2 giống chuyển hóa đạm là Nitrosomonas sp (ammonia thành nitrite) và Nitrobacter sp (nitrite -> NO3) Quá trình phản nitrate hóa do 1 vi khuẩn yếm khí khử NO3thành N2 thông qua các sản phẩm trung gian là NO2-, N2O, NO Hai quá trình này trong tự nhiên thường diễn ra cân bằng với nhau NO2- là dạng đạm C1o độc tính đối với thủy sinh vật, ở các thủy vực nước lợ có hàm lượng Ca2+ và Cl- có khuynh hướng làm giảm độc tính của NO2
NO2 kết hợp với Hb tạo thành Methemoglobin là máu có màu nâu và mất khả năng kết hợp với oxy, hiện tượng này được gọi là bệnh thiếu máu hay máu màu nâu Độ độc của NO2 phụ thuộc vào độ mặn, độ mặn càng cao độc tính càng giảm Hàm lượng NO2 thích hợp là nhỏ hơn 0,1 mg/L (Trương Quốc Phú, 2006)
1977 nhiều tác giả đã khẳng định khả năng hạn chế độc tính nitrite của Cl- Risso và Thurston là tác giả đầu tiên của nghiên cứu LC50 – 96h của NO2 trên 6 nồng độ Cl- từ đó tạo đường hồi quy tuyến tính giữa độ độc và nồng độ Cl- cho
cá hồi Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy cung cấp thêm NaCl vào môi trường để giảm độc tính qua đường hô hấp
2.5.7 NH 3
Trong ao nuôi tôm thì đạm tồn tại ở 2 dạng như ammonia (NH3) và đạm amon (NH4+) NH3 sinh ra từ quá trình phân hủy chất chất hữu cơ có chứa N, sản phẩm bài tiết hay phân bón NH3 hòa tan trong nước tạo thành NH4+ Nồng độ của NH3 tăng khi nhiệt độ và pH tăng Hàm lượng NH3 thích hợp cho cá, tôm là nhỏ hơn 0,1 mg/L NH4+ không độc nhưng hàm lượng quá cao (>2 mg/L) dẫn đến tảo phát triển gây biến động pH, DO và CO2 (Trương Quốc Phú, 2006)
Sự tồn tại của khí NH3 trong hệ thống nuôi trồng thủy sản hoàn toàn bất lợi cho đời sống của vật nuôi Có thể ức chế quá trình đào thải NH3 và ứ đọng
NH3 trong cơ thể dẫn đến gây độc sinh vật nuôi Trường hợp nặng có thể gây chết, nhẹ có thể gây sốc, làm tăng lượng NH3 trong máu, ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan tuần hoàn, hô hấp, gan tụy và thần kinh
Một số biện pháp giảm NH3: thay nước, điều chỉnh lượng thức ăn thích hợp tránh dư thừa, kiểm soát pH thích hợp (tảo)
2.5.8 H 2 S
H2S được sinh ra do quá trình phân hủy vật chất hữu cơ yếm khí, phản sulfat hóa yếm khí và thường được diễn ra ở đáy thủy vực H2S là chất khí cực độc đối với thủy sinh vật, làm mất khả năng vận chuyển O2 của Hemoglobin làm
Trang 22cá chết ngạt Hàm lượng H2S phụ thuộc vào pH và nhiệt độ nước, H2S tăng khi nhiệt độ giảm và pH giảm Theo Boyd (1998) thì H2S ở bất kỳ nồng độ nào thì đều có thể gây độc cho tôm, trong ao không mong muốn là tồn tại
Để tránh hiện tượng tôm cá bị sốc hay chết do H2S, trong nuôi trồng thủy sản có một số biện pháp sau:
Tăng cường hoạt động đảo nước, sục khí để H2S có thể thoát ra ngoài
Khi nuôi tôm cá tại những rừng ngập mặn, cần vét hết chất thải, bùn sau mỗi chu kỳ nuôi, đầm nén kỹ đáy ao
Khi có dấu hiệu tôm cá bị ngộ độc do H2S, có thể thay nước khẩn cấp để cứu đàn vật nuôi, sau đó tìm cách khử nguồn gốc sinh ra loại khí độc này
2.5.9 COD
COD là lượng oxy tiêu hao cho sự phân hủy hữu cơ Chỉ số COD được sử dụng rộng rãi để đo gián tiếp khối lượng các hợp chất hữu cơ có trong nước Phần lớn các ứng dụng của COD xác định khối lượng của các chất ô nhiễm hữu
cơ tìm thấy trong nước bề mặt (ví dụ trong các con sông hay hồ), làm cho COD
là một phép đo hữu ích về chất lượng nước Nó được biểu diễn theo đơn vị đo là miligam trên lít (mg/L), chỉ ra khối lượng ôxy cần tiêu hao trên một lít dung dịch Hàm lượng COD thích hợp cho ao nuôi thủy sản là từ 15-20 ppm, giới hạn tối đa cho phép là nhỏ hơn 35 ppm (Trương Quốc Phú, 2006) Càng về cuối
vụ thì hàm lượng vật chất hữu cơ cang lớn thì COD càng cao
2.5.10 BOD
BOD là lượng oxy tiêu hao cho quá trình hô hấp của vi sinh vật trong điều kiện nhất định BOD là một chỉ số và đồng thời là một thủ tục được sử dụng để xác định xem các sinh vật sử dụng hết oxy trong nước nhanh hay chậm như thế nào Nó được sử dụng trong quản lý và khảo sát chất lượng nước cũng như trong sinh thái học hay khoa học môi trường
Giá trị BOD thích hợp cho ao nuôi thủy sản biến thiên trong khoảng nhỏ hơn 10 ppm (Trương Quốc Phú, 2006)
2.6 Một số nghiên cứu về môi trường nước trong ao tôm
Theo nghiên cứu được thực hiện bởi Nguyễn Văn Vượng (2003) cho kết quả nuôi tôm trong môi trường có độ mặn thấp (0 - 3‰) sinh trưởng nhanh hơn nhưng có tỉ lệ sống thấp hơn so với nuôi ở độ mặn cao (15 - 25‰) Ở độ mặn 0 - 3‰ tôm đạt trọng lượng 33,3 g và tỉ lệ sống là 48,9% so với độ mặn tương ứng
Trang 23là 31,8 g và 64,9% Trong quá trình nuôi, ở cả hai mô hình đều xuất hiện những bệnh thông thường giống nhau
Theo kết quả nghiên cứu trên tôm càng xanh của của Trịnh Văn Chiết (2002), thì ở nồng độ 0,67±0,08 mg/l, dao động từ 0,09 – 0,67 mg/l vẫn phù hợp cho sự phát triển của tôm càng xanh
Theo kết quả nghiên cứu của Đoàn Xuân Diệp (2012) cho thấy sự thay đổi
độ mặn ảnh hưởng đến thời gian sử dụng thức ăn, tồn lưu thức ăn, độ tiêu hóa và tiêu hao oxy cơ sở của tôm sú Khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu để thích ứng với môi trường nhằm duy trì sự sống ở nước có độ mặn 0‰., vì thế không thể nuôi tôm sú trong môi trường nước ngọt hoàn toàn Hàm lượng oxy hòa tan thấp (30% bảo hòa) thì thơi gian sử dụng thức ăn giảm Tôm sú sống ở hàm lượng oxy hòa tan thấp (30%) thì chu kì lột xác, sinh trưởng, tỉ lệ sống và khả năng tiêu hao oxy bị ảnh hưởng có nghĩa so với ở hàm lượng oxy hòa tan 100% và 60% bảo hòa Nuôi tôm ở hàm lượng oxy hòa tan 60% bảo hòa cho sinh trưởng và tỉ
từ việc bón phân gây màu, thức ăn dư thừa của tôm
Nghiên cứu được thực hiện bởi Lâm Thạnh Phú (2010), cho kết quả các yếu tố môi trường thủy lý hóa biến động trong giới hạn cho phép và hầu hết đều thuận lợi cho tôm nuôi sinh trưởng và phát triển trong các hệ thống nuôi tôm sú khác nhau (sông, tôm lúa, thâm canh và bán thâm canh)
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Huỳnh Minh Tuấn (2012), cho thấy trong môi trường ao nuôi tôm sú có sự biến động nhiệt độ, oxy, pH, H2S, NO2, NH3, giữa các tầng nước (cách đáy 0,1 m, 0,6 m, 1,1 m) tại các thời điểm thu mẫu trong ngày (3h, 6h, 9h, 12h, 15h, 18h, 21h, 24h) trung bình ở các đợt thu mẫu (Đợt 1: ao chưa thả tôm, đợt 2: ao tôm 45 ngày tuổi, đợt 3: ao tôm 75 ngày tuổi, đợt 4: ao tôm 105 ngày tuổi) là rất ít và không có nghĩa thống kê (p > 0,05) Oxy
và pH biến động theo ngày đêm rõ rệt và có nghĩa thống kê (p > 0,05) Nhiệt độ,
độ mặn biến động qua các đợt thu mẫu nằm trong khoảng thích hợp cho ao nuôi tôm
Trang 24CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 3/2012 đến 7/2012 Khảo sát ở 3 ao
nuôi tôm sú (Penaeus monodon) thâm canh thuộc địa bàn huyện Trần Đề, tỉnh
Sóc Trăng
Quá trình thu mẫu trong ao nuôi tôm sú được tiến hành 5 đợt:
Đợt 1: ao đã cải tạo nhưng chưa thả tôm (chưa thả tôm, mực nước 1,2 m, thời tiết nắng nóng)
Đợt 2: ao tôm được 45 ngày tuổi (cỡ tôm khoảng 200 – 220 con/kg)
Đợt 3: ao tôm được 75 ngày tuổi (cỡ tôm khoảng 80 – 85 con/kg)
Đợt 4: ao tôm được 105 ngày tuổi (cỡ tôm khoảng 60 – 65 con/kg)
Đợt 5 (giai đoạn thu hoạch): ao tôm được 135 ngày tuổi (cỡ tôm khoảng 33 – 35 con/kg, mực nước 1,4 – 1,5 m, thời tiết mưa nhiều) Thông tin về 3 ao thu mẫu:
Ao 1: diện tích 4500 m2, ao sâu 1,8 – 1,9 m, mực nước 1,2 m, mật
độ thả 26 con/m2, cỡ giống thả là post 15
Ao 2: diện tích 2600 m2, ao sâu 1,8 – 1,9 m, mực nước 1,2 m, mật
độ thả 38 con/m2, cỡ giống thả là post 15
Ao 3: diện tích 3000 m2, ao sâu 1,8 – 1,9 m, mực nước 1,2 m, mật
độ thả 33 con/m2, cỡ giống thả là post 15 Hai chỉ tiêu COD và BOD thu mẫu ở cả 5 đợt còn các chỉ tiêu oxy hòa tan, nhiệt độ, pH, độ kiềm, độ mặn, NH3, H2S, NO2 chỉ thu mẫu ở đợt 1 (giai đoạn chuẩn bị thả tôm) và đợt 5 (giai đoạn thu hoạch)
3.2 Vật liệu nghiên cứu
Máy đo YSI 556 MPS
Bộ test môi trường Sera
Chai nút mài trắng và nâu 125ml
Chai nhựa 1L
Ống nhựa PVC
Trang 25 Các hóa chất cố định và phân tích mẫu
Khúc xạ kế
Các dụng cụ và thiết bị khác cần thiết cho quá trình thu và phân tích mẫu
Hình 3.1: Máy đo YSI 556 MPS
3.3 Phương pháp thu mẫu
Các chỉ tiêu môi trường:
Tiến hành thu mẫu: mỗi đợt thu 3 ao tôm Mỗi ao thu ở 4 điểm (mỗi điểm
ở một bờ ao) và thu ở 3 tầng nước (cách đáy ao 0,1m; 0,6m; 1,1m) Thu trong vòng 24 tiếng (8 lần thu với các thời gian thu cụ thể là 3h, 6h, 9h, 12h, 15h, 18h, 21h và 24h)
Trang 26Bảng 3.1: Phương pháp thu mẫu một số chỉ tiêu chất lượng nước thu tại các ao tôm
STT Chỉ tiêu thu Dụng cụ thu Cố định mẫu
1 Oxy, nhiệt
độ, pH Máy đo YSI 556 MPS
3 Độ kiềm Bộ test môi trường Sera
Đo tại hiện trường
4 NO2, NH3,
H2S Chai nút mài nâu 125ml
5 BOD, COD Chai nhựa 1L
Trữ lạnh (40C) đem về phân tích tại phòng thí nghiệm
Cách thu và cố định mẫu: đối với COD và BOD thì dùng chai nhựa 1L thu mẫu rồi đem trữ lạnh 40C Đối với NO2, NH3 và H2S thì: dùng 3 chai mài nâu buộc cố định vào ống nước ở 3 vạch (cách đáy ao 0,1m; 0,6m; 1,1m), dùng miếng xốp đậy nắp lọ lại và nối với dây gân rồi đưa xuống ao điều chỉnh độ sâu thích hợp cần để thu mẫu Thu mẫu nước vào chai nâu 125ml và trữ lạnh 40C
Hạch toán kinh tế: thu thập số liệu qua việc phỏng vấn trực tiếp hộ nuôi tôm sú về các thông tin của 3 ao nuôi bằng bảng câu hỏi như:
Thông tin chung: thời gian nuôi, diện tích ao, số lượng ao, mật độ, …
Thông tin về kỹ thuật: mật độ thả, chế độ thay nước, lượng thức ăn, loại thuốc hóa chất, chế độ chạy quạt, tỉ lệ sống, năng suất,…
Thông tin kinh tế: chi phí con giống, thức ăn, thuốc hóa chất, tiền điện, nước, công nhân, thu nhập, lợi nhuận,…
3.4 Phương pháp phân tích mẫu
Một số chỉ tiêu được trữ lạnh (40C) được đem về phân tích ở phòng thí nghiệm Sinh Lý khoa Thủy Sản trường Đại học Cần Thơ theo phương pháp được trình bày ở bảng sau: