1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát một số yếu tố kỹ THUẬT và KINH tế của mô HÌNH NUÔI ARTEMIA ở bạc LIÊU

49 233 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 522,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Artemia được du nhập vào Việt nam từ đầu thập niên 80 dưới dạng thức ăn cho tôm càng xanh, sau đó được thử nghiệm và thả nuôi trên ruộng muối Vĩnh Châu, Bạc Liêu, và hiện nay Artemia đã

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN - -

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN

Ts Nguyễn Thị Ngọc Anh

2012

Trang 3

TÓM TẮT

Khảo sát tình hình nuôi Artemia được tiến hành bằng cách phỏng vấn và thu thập số liệu một cách ngẫu nhiên 37 hộ nuôi Artemia tại 2 xã Xiêm Cáng (17 hộ) và Vĩnh Hậu (20 hộ) thuộc tỉnh Bạc Liêu Các số liệu về sản xuất Artemia được ghi

nhận từ năm 2007-2011 với mục đích nhằm đánh giá được hiện trạng kỹ thuật và

hiệu quả kinh tế của nghề nuôi Artemia Qua đó, làm cơ sở cho các nghiên cứu và quy hoạch phát triển bền vững nghề nuôi Artemia trong tương lai

Theo kết quả khảo sát đa số các hộ nuôi Artemia ở Bạc Liêu bắt đầu thả

giống vào tháng 12 hoặc tháng 1 âl và kết thúc vào tháng 5- 6 âl năm sau Tùy theo điều kiện thời tiết trong năm, mưa kết thúc trễ hay mưa bắt đầu sớm mà có thể kéo

dài thời vụ sản xuất Hình thức nuôi chủ yếu tại địa bàn khảo sát là nuôi Artemia đơn (73,2%) với 1 hoặc 2 chu kỳ Diện tích nuôi Artemia và diện tích ao nuôi trung

bình trên mỗi hộ dao động lần lượt là 1,2-1,9 ha và 0,28-0,31 ha Mật độ thả giống

từ 3,5-3,7 lon/ha/chu kỳ Phân gà được sử dụng phổ biến trong hộ nuôi với lượng dao động từ 0,95-1,29 tấn/ha/vụ, lượng phân vô cơ tổng cộng (Ure, NPK, DAP và Lân) trung bình 110-200 kg/ha/vụ, cám gạo được sử dụng làm thức ăn bổ sung từ 28-70 kg/ha/vụ Năng suất trung bình của trứng bào xác từ năm 2007-2009 tương đối ổn định (64,1-66,5 kg/ha/vụ) Riêng năm 2010-2011 năng suất trứng tăng nhưng không đều (62,1-77,1 kg/ha/vụ) Phân tích tương quan Pearson biểu thị năng suất

trứng bào xác Artemia có mối tương quan thuận có ý nghĩa (p<0,05) với kinh

nghiệm nuôi của người dân và lượng cám gạo sử dụng cung cấp nguồn thức ăn bổ

sung cho Artemia Về hiệu quả kinh tế, chi phí sản xuất trung bình là 17,475,52 triệu đồng/ha, người nuôi Artemia thu nhập 45,5019,17 triệu đồng/ha/vụ và lợi

nhuận 27,8817,62 triệu đồng/ha/vụ, tương đương với tỷ suất lợi nhuận 1,761,06

Bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, kinh nghiệm nuôi lâu năm…vẫn còn tồn tại một số khó khăn cần khắc phục như kỹ thuật nuôi còn hạn chế, thiếu nước sản xuất…

Kết quả nghiên cứu này cho ta thấy nghề nuôi Artemia ở Bạc Liêu trong

những năm tới có khuynh hướng phát triển rất mạnh do nhu cầu tiêu thụ trứng bào xác ngày càng tăng dẫn tới giá trứng tăng cao và điều kiện tự nhiên trong khu vực

rất thuận lợi cho hoạt động sản xuất Artemia

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN 1 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Nội dung nghiên cứu 2

PHẦN 2 3

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Khái niệm Artemia 3

2.2 Đặc điểm sinh học của Artemia 3

2.3 Vai trò của Artemia 7

2.4 Tình hình nuôi Artemia trên thế giới và Việt Nam 8

2.5 Vị trí địa lý Bạc Liêu 9

2.6 Tổng quan nghề nuôi Artemia ở Bạc Liêu 10

PHẦN 3 14

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 14

3.2 Phương pháp thu số liệu 14

3.3 Các biến chủ yếu trong nghiên cứu 14

3.4 Phương pháp phân tích số liệu 15

PHẦN 4 16

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16

4.1 Thông tin chung 16

4.2 Tổng diện tích nuôi và sản lượng Artemia qua các năm 18

4.3 Thông tin kỹ thuật 18

4.4 Giá bán trứng bào xác Artemia tươi qua các năm 27

4.5 Hạch toán kinh tế 28

4.6 Thuận lợi và khó khăn trong nuôi Artemia 31

4.7 Nhận định về nghề nuôi Artemia trong thời gian tới 32

PHẦN 5 34

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 34

5.1 Kết luận 34

5.2 Đề xuất 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.

Trang 5

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 4.1: Thông tin chung của hộ nuôi Artemia ở Bạc Liêu 17

Bảng 4.2: Diện tích và sản lượng nuôi Artemia ở các xã thuộc tỉnh Bạc Liêu 2007-2011 18

Bảng 4.3: Thông tin về thiết kế hệ thống nuôi Artemia ở Bạc Liêu 19

Bảng 4.4 : Mô hình sản xuất Artemia ở các xã nghiên cứu thuộc tỉnh Bạc Liêu 20

Bảng 4.5: Tỷ lệ số hộ có sử dụng vôi, saponin và dây thuốc cá trong cải tạo ao nuôi Artemia 21

Bảng 4.6: Liều lượng vôi, thuốc cá (kg/ha/vụ) sử dụng cải tạo ao nuôi Artemia 21

Bảng 4.7: Mật độ thả và số chu kỳ thả giống trong hộ nuôi Artemia 22

Bảng 4.8: Thông tin về sử dụng phân bón và thức ăn trong hệ thống nuôi Artemia ở Bạc Liêu 23

Bảng 4.9: Thông tin về cách quản lý ao trong hệ thống nuôi Artemia ở Bạc Liêu 24

Bảng 4.10: Thông tin về năng suất và sản lượng trứng bào xác Artemia ở Bạc Liêu 25

Bảng 4.11: Kết quả phân tích tương quan Pearson về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng bào xác Artemia 26

Bảng 4.12: Biến động về giá bán trứng bào xác tươi Artemia (ngàn đồng/kg) của nông hộ ở Bạc Liêu từ 2007 – 2011 27

Bảng 4.13 Thông tin về tổng chi phí, thu nhập và lợi nhuận trên 1 ha nuôi Artemia trên địa bàn hai xã Xiêm Cáng và Vĩnh Hậu thuộc tỉnh Bạc Liêu 28

Hình 4.1 Cơ cấu chi phí sản xuất Artemia theo địa bàn nghiên cứu 29

Bảng 4.14 Những thuận lợi trong nuôi Artemia 31

Bảng 4.15 Những khó khăn trong nuôi Artemia 31

Bảng 4.16 Kế hoạch nuôi Artemia trong thời gian tới 32

DANH SÁCH HÌNH Hình 2.1 Artemia trưởng thành 3

Hình 2.2 Vòng đời của Artemia 5

Hình 2.3 Bản đồ hành chính tỉnh Bạc Liêu 10

Hình 2.4 Mặt cắt ngang bờ ao nuôi 11

Hình 4.1 Cơ cấu chi phí sản xuất Artemia theo địa bàn nghiên cứu 29

Trang 6

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu

Trong những năm gần đây, nuôi trồng thuỷ sản đang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân Đặc biệt ngành nuôi hải sản đang ngày càng có vai trò quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu thực phẩm của con người, nhất là đối với các sản phẩm có nguồn gốc từ biển Với đà gia tăng dân

số hiện nay, cũng như nhu cầu đối với thực phẩm chất lượng cao, con người buộc phải chú ý đến nguồn lợi hải sản Ngoài việc khai thác giống tự nhiên, việc sản xuất giống nhân tạo là vấn đề cần thiết để cung cấp con giống cho ngành nuôi trồng hải sản Trong quá trình sản xuất giống nhân tạo hiện nay thì việc giải quyết thức ăn tươi sống là khâu then chốt quyết định đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng Nhìn nhận từ vai trò quan trọng đó thì nhiều loại thức ăn tươi sống được quan tâm

nghiên cứu và sản xuất, đặc biệt trong đó phải kể đến Artemia là loại thức ăn tươi sống không thể thiếu trong sản xuất giống các loài thủy sản nước lợ (Sorgeloos, et

al., 1998)

Artemia là một loài giáp xác nhỏ có khả năng chịu đựng những điều kiện

khắc nghiệt của môi trường (nhiệt độ, độ mặn, oxy ), đặc biệt là chúng sống ở độ mặn rất cao (đến 250 phần ngàn như ở ruộng muối, hồ nước mặn) nơi mà các sinh

vật không tồn tại được (Sorgeloos, 1980) Artemia được du nhập vào Việt nam từ

đầu thập niên 80 dưới dạng thức ăn cho tôm càng xanh, sau đó được thử nghiệm và

thả nuôi trên ruộng muối Vĩnh Châu, Bạc Liêu, và hiện nay Artemia đã trở thành

một đối tượng nuôi phổ biến kết hợp với nghề làm muối của diêm dân vùng ven biển

Sóc Trăng - Bạc Liêu (Brands, et al., 1995) Diện tích nuôi năm 2001 hơn 1000

hecta với sản lượng nuôi bình đạt 50kg trứng tươi/ha và hiệu quả kinh tế của nghề

sản xuất Artemia rất đáng quan tâm khi mang lại lợi nhuận cao gấp 4-5 lần so với

nghề sản xuất muối truyền thống Sau hơn hai mươi năm triển khai ra sản xuất nghề

nuôi Artemia đã được nhân rộng ra hơn một ngàn hecta giải quyết công ăn việc làm

cho hàng trăm hộ sản xuất muối khu vực ven biển Sóc Trăng, Bạc Liêu (Nguyễn

Văn Hòa và ctv., 2007) Tuy nhiên, xét trên phạm vi các vùng ven biển tỉnh Bạc

Liêu mà điển hình là xã Xiêm Cáng, Vĩnh Hậu sau nhiều năm gắn bó với nghề nuôi

Artemia đã mang lại hiệu quả khá cao cho người dân trong vùng thì nghề nuôi đối

tượng này cũng gặp những vấn đề khó khăn, tiêu biểu như là Artemia sinh trưởng

chậm, tỉ lệ sống thấp, năng suất trứng đạt rất thấp hoặc không thu được trứng trong

vụ nuôi Nguyên nhân các hiện tượng này có thể do kỹ thuật quản lý ao chưa tốt,

Trang 7

thời tiết bất lợi hơn cho sản xuất… Vì thế để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng của nghề nuôi cũng như những thuận lợi và khó khăn của các người nuôi trong vùng, đề tài

“Khảo sát một số yếu tố kỹ thuật và kinh tế của mô hình nuôi Artemia ở Bạc

Liêu” được thực hiện

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của nuôi Artemia ở Bạc Liêu

nhằm góp phần hoàn thiện quy trình nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế của nghề

nuôi Artemia ở đại bàn nghiên cứu

1.3 Nội dung nghiên cứu

Khảo sát về kỹ thuật nuôi và hiệu quả kinh tế của nghề nuôi Artemia ở Bạc

Liêu

Trang 8

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Khái niệm Artemia

Artemia là tên Latinh của một loài giáp xác nhỏ chuyên sống ở những vùng

nước mặn có biên độ muối rộng (từ vài ‰ đến 250‰ như ở ruộng muối) Trong tự

nhiên người ta thấy có sự hiện diện của quần thể Artemia ở những đầm, hồ nước

mặn

Hình 2.1 Artemia trưởng thành

Artemia được biết đến vào những năm đầu thập niên 30 khi chúng được xác

định là một loại thức ăn tươi sống có giá trị dinh dưỡng cao cho việc ương nuôi các giống loài thủy sản như tôm, cá, nhuyễn thể

Ở Việt Nam Artemia được du nhập từ đầu thập niên 80 dưới dạng trứng bào

xác đề làm thức ăn cho tôm càng xanh Sau đó nguồn trứng này được sử dụng làm giống nuôi thử nghiệm trong phòng và thả nuôi trên ruộng muối ở Vĩnh Châu, Bạc Liêu, Cam Ranh, Phan Thiết… và hiện nay nó trở thành một đối tượng nuôi phổ biến kết hợp với nghề làm muối của diêm dân vùng ven biển Sóc Trăng - Bạc Liêu

(Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007)

2.2 Đặc điểm sinh học của Artemia

2.2.1 Hệ thống phân loại

Theo Leach (1819) Artemia thuộc nhóm giáp xác, có hệ thống phân loại như sau (trích dẫn từ Sorgeloss et al., 1986):

Ngành: Arthropoda

Trang 9

2.2.2 Vòng đời của Artemia

Theo Sorgeloss et al (1986), Artemia là loài ăn lọc không lựa chọn, chúng

có thể ăn mùn bã hữu cơ, tảo đơn bào và vi khuẩn có kích thước nhỏ hơn 50µm Mặt

khác, Artemia là loài giáp xác có vòng đời ngắn hơn so với các loại giáp xác khác Trong phòng thí nghiệm Artemia có tuổi thọ lên tới 2 tháng, còn ngoài tự nhiên tùy

theo chế độ dinh dưỡng và điều kiện môi trường sống (nhiệt độ, độ mặn) mà chúng

có tuổi thọ từ 40-60 ngày (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007)

Ngoài tự nhiên, vào thời điểm trong năm khi điều kiện sống không thích hợp,

Artemia đẻ trứng bào xác (trứng nghỉ) và trứng sẽ nổi trên mặt nước, sau đó được

sóng gió thổi dạt vào bờ Các trứng nghỉ này ngưng hoạt động trao đổi chất và ngưng phát triển khi ở tình trạng được giữ khô Nếu cho vào nước biển hoặc khi điều kiện tự nhiên thuận lợi (nhiệt độ ấm áp, mưa nhiều độ mặn giảm ), trứng bào xác có hình cầu lõm sẽ hút nước, phồng to Lúc này, bên trong trứng, sự trao đổi chất bắt đầu Sau khoảng 20 giờ, màng nở bên ngoài nứt ra và phôi xuất hiện Trong khi phôi đang treo bên dưới vỏ trứng (giai đoạn dù) sự phát triển của ấu trùng được tiếp tục và tiếp tục một thời gian ngắn sau đó màng nở bị phá vỡ (giai đoạn nở) ấu

thể Artemia được phóng thích ra ngoài

Trang 10

Hình 2.2 Vòng đời của Artemia (Sorgeloss et al., 1986)

Ấu trùng mới nở (instar I, có chiều dài 400-500 µm) có màu vàng cam, có 1 mắt nauplii (ấu thể) màu đỏ ở phần đầu và ba đổi phụ bộ (anten 1 có chức năng cảm giác, anten 2 có chức năng bơi lội và lọc thức ăn và bộ phận hàm dưới để nhận thức ăn) Mặt bụng ấu trùng được bao phủ bằng mảnh môi trên lớn (để nhận thức ăn: chuyển các hạt từ tơ lọc thức ăn vào miệng) Ấu trùng giai đoạn I không tiêu hóa được thức ăn, vì bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh Lúc này, chúng sống dựa vào noãn hoàng

Sau khoảng 8 giờ từ lúc nở, ấu trùng lột xác trở thành ấu trùng giai đoạn 2 (instar II) Lúc này, chúng có thể lọc và tiêu hóa các hạt thức ăn cỡ nhỏ (tế bào tảo,

vi khuẩn, chất vẩn hữu cơ) có kích thước từ 1 đến 50µm (1/1000 mm) nhờ vào đôi anten 2 vì lúc này bộ máy tiêu hóa đã bắt đầu hoạt động Ấu trùng tăng trưởng và trải qua 15 lần lột xác trước khi đạt giai đoạn trưởng thành Các đôi phụ bộ xuất hiện

ở vùng ngực và dần dần biến thành chân ngực Mắt kép xuất hiện ở hai bên mắt

Từ giai đoạn 10 trở đi, các thay đổi về hình thái và chuyên hóa chức năng của các cơ quan trong cơ thể bắt đầu Anten mất dần chức năng và có sự khác biệt ở cá thể đực cái Ở con đực, anten phát triển thành càng bám, trong khi ở con cái anten bị thoái hóa thành phần phụ cảm giác

Artemia trưởng thành dài 10-12 mm, có mắt kép có cuống ở hai bên, râu cảm

giác, ống tiêu hóa thẳng và 11 đôi chân ngực (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007)

2.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng

Trang 11

Theo Nguyễn Văn Hòa và ctv (2007) Artemia là loài ăn lọc không chọn lựa,

sử dụng mùn bã hữu cơ, tảo đơn bào, vi khuẩn… có kích thước nhỏ hơn 50µm Các

sinh cảnh tự nhiên có hiện diện Artemia cho thấy sự có mặt của chuỗi thức ăn đơn

giản và rất ít thành phần giống loài tảo

Trong nuôi Artemia trên ruộng muối nông dân thường phối hợp sử dụng phân

chuồng (chủ yếu là phân gà) kết hợp với phân vô cơ (Ure, DAP ) để gây màu trực tiếp hoặc gián tiếp trước khi cấp nước tảo vào trong ao nuôi Phân gà được bón trực tiếp vào ao nuôi, ngoài việc cung cấp dinh dưỡng cho tảo phát triển, phân còn là

nguồn thức ăn trực tiếp cho Artemia Ngoài ra, khi lượng nước tảo cung cấp vào ao

hằng ngày thiếu hụt, nông dân còn sử dụng cám gạo, bột đậu nành hoặc các loại phụ

phẩm nông nghiệp khác để duy trì quần thể Artemia

2.2.4 Đặc điểm sinh sản

Artemia có tính đa dạng trong hình thức sinh sản (đơn tính, hữu tính – sinh

con và đẻ trứng nghỉ) được xem là khả năng thích ứng cao để duy trì và phát triển quần thể

Đới với quần thể Artemia lưỡng tính, khi trưởng thành con đực dùng đôi càng

ôm phần bụng của con cái gọi là “hiện tượng bắt cặp” để thụ tinh cho hoạt động sinh sản và hiện tượng này kéo dài suốt vòng đời của chúng Quá trình giao cấu xảy

ra trong tư thế bắt cặp, con đực sẽ cong mình và dùng một trong hai gai sinh dục chuyển sản phẩm sinh dục vào buồng trứng của con cái và trứng sẽ được thụ tinh

Trứng phát triển trong hai buồng trứng dạng ống ở phần bụng Khi chín, trứng có dạng hình cầu và duy chuyển qua hai ống dẫn để vào tử cung Thông thường trứng thụ tinh phát triễn thành ấu trùng bơi lội tự do (phương thức đẻ con = ovoviviparous) và được con mẹ sinh ra ngoài môi trường Trong điều kiện bất lợi, các phôi chỉ phát triển đến giai đoạn phôi vị (gastrula), lúc này chúng sẽ được bao bọc bằng một lớp vỏ dày (được tiết ra từ tuyến vỏ trong tử cung) biến thành trứng nghỉ hay còn gọi là trứng “tiềm sinh” (diapause) và được con cái phóng thích ra ngoài (oviparous)

Artemia trưởng thành trong vòng 2 đến 3 tuần và tham gia sinh sản với sức

sinh sản tối đa 300 ấu thể hoặc trứng bào xác trong vòng 4 ngày Trong vòng đời con cái có thể tham gia cả hai phương thức sinh sản (đẻ con hoặc đẻ trứng) và trung

bình mỗi con đẻ khoảng 1500-2000 phôi (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007)

2.2.5 Đặc điểm phân bố

Trang 12

Quần thể Artemia được tìm thấy ở khoảng 500 hồ tự nhiên và nhân tạo trên

thế giới, rải rác khắp các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới Chúng có thể phân

bố dọc theo ven biển hay cả những hồ nước mặn trong nội địa Các quần thể

Artemia có thể phân bố ở nhiều vùng địa lý khác nhau với nhiệt độ (6-35oC) Do đó,

thức ăn và nhiệt độ ảnh hưởng đến tính phong phú của quần thể Artemia, chúng

Các quần thể Artemia phân bố không liên tục mà thành từng vùng Mặc dù,

có nhiều nơi có nước mặn cao nhưng không phải nơi nào cũng có Artemia phân bố

Artemia có khả năng sống rất tốt trong nước biển bình thường Tuy nhiên, chúng

không thể phát tán ngang qua các biển do có quá nhiều loài cạnh tranh và địch hại

Vì thế, Artemia phân bố chủ yếu ở vùng nước có độ mặn cao (trên 70‰) để hạn chế

2.3 Vai trò của Artemia

2.3.1 Vai trò của Artemia trong nuôi trồng thủy sản

Seale (1933) và Rollefson (1939), được trích dẫn bởi Đỗ Văn Hoàng, 1998,

khám phá ra ấu trùng Nauplii của Artemia có kích thước 0,4 mm là một loại thức ăn

lý tưởng cho sự tăng trưởng của ấu trùng tôm cá Đặc biệt, trứng bào xác Artemia có

thể bảo quản nhiều năm trong điều kiện khô mà không sụt giảm chất lượng sản

phẩm, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng trứng bào xác Artemia trong ương nuôi thủy hải sản Trong nuôi thương phẩm, Artemia cũng được quan tâm nhiều do

có kích thước lớn và nặng hơn nhiều lần so với ấu trùng mới nở Hơn nữa, Artemia

trưởng thành còn chứa hầu hết các loại axit amin thiết yếu

2.3.2 Vai trò của Artemia trên ruộng muối

Trang 13

Trong các ruộng muối việc đưa quần thể Artemia vào như là một công cụ

quản lý các chất hữu cơ phân huỷ trong môi trường và kiểm soát sự nở hoa quá mức của tảo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết tinh và nâng cao chất lượng muối

Thu cùng một lúc 2 sản phẩm: trứng bào xác Artemia và muối góp phần tăng

thu nhập cho người dân mà không làm thay đổi cơ cấu của nghề làm muối, dễ

chuyển từ làm muối sang Artemia và ngược lại

2.4 Tình hình nuôi Artemia trên thế giới và Việt Nam

2.4.1 Trên thế giới

Artemia đã được thế giới biết đến từ hàng thế kỷ nay nhưng mãi đến những

năm 1930 công dụng làm thức ăn cho ấu trùng tôm cá của chúng mới được biết đến (FAO, 1996)

Năm 1940 hầu hết trứng bào xác của Artemia đã bắt đầu có mặt trên thị

trường được thu vớt từ các hồ muối tự nhiên và các xí nghiệp làm muối ở ven bờ Năm 1951, một ngành công nghiệp mới được sáng lập, những người ở bang Utah

của Mỹ đã tiên phong trong việc sản xuất trứng bào xác Artemia với sản lượng ban

đầu thu được 16 tấn thành phẩm Những năm 1960 việc cung cấp thương mại đã lan rộng từ một số nơi ở Bắc Mỹ Đến đầu những năm 70 cùng với việc mở rộng sản

xuất nuôi trồng thủy sản nên nhu cầu Artemia đã tăng nhanh chóng vượt quá mức

cung dẫn đến giá thành tăng cao (FAO, 1996)

Trong nhưng năm 1980 đến nay đã phát hiện nhiều khu vực chuyên cung cấp

trứng bào xác Artemia cho thị trường như: Great salt Lake (Mỹ) chiến khoảng 90%

và phần còn lại (khoảng 10%) từ Trung Quốc, Siberi vịnh San Francisco (Mỹ), vùng Vĩnh Châu – Bạc Liêu (Việt Nam), Colombia và vùng đông bắc Brazil, Canada, Úc

2.4.2 Ở Việt Nam

Vào năm 1982, Artemia lần đầu tiên được thả nuôi tại Nha Trang nhưng

không thành công (Vũ Đỗ Quỳnh và Nguyễn Ngọc Lâm, 1987) Năm 1984 Khoa

Thủy sản Tường Đại học Cần Thơ đã nhập nội và nghiên cứu đối tượng Artemia San

Francisco Bay (Mỹ) để phục vụ cho nuôi trồng thủy sản Đến năm 1986 trung tâm

nghiên cứu Artemia được thành lập và nghiên cứu về đặc điểm sinh học cũng như quy trình nuôi Artemia thu trứng bào xác và thu sinh khối trên ruộng muối tại Bạc

Liêu và Vĩnh Châu (Sóc Trăng) đến năm 1988 mới đạt được những kết quả ban đầu

Quy trình nuôi Artemia thu trứng bào xác dần đi vào ổn định và từng bước

được chuyển giao kỹ thuật lại cho người dân làm muối ở các khu vực hợp tác xã

Trang 14

thuộc vùng Vĩnh Châu (Sóc Trăng) và nông trường Đông Hải (Bạc Liêu) với số nông hộ khoảng hơn 100 xã viên, diện tích khoảng hơn 500 ha đất làm muối và

có chất lượng cao cho thị trường trong và ngoài nước (Nguyễn Văn Hòa và ctv.,

2007)

2.5 Vị trí địa lý Bạc Liêu

Bạc Liêu là một tỉnh thuộc duyên hải vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam có diện tích tự nhiên 2.520,6 km² Phía bắc giáp tỉnh Hậu Giang, phía đông bắc giáp tỉnh Sóc Trăng, tây bắc giáp Kiên Giang, tây và tây nam giáp Cà Mau, đông và đông nam giáp biển với 56 km bờ biển Tỉnh lỵ hiện nay là Thành phố Bạc Liêu Phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh là đất bằng nằm ở độ cao trên dưới 1,2 m so với mặt biển, còn lại là những giồng cát và một số khu vực trũng ngập nước quanh năm Địa hình có xu hướng thấp dần từ đông bắc xuống tây nam và khu vực nội đồng thấp hơn vùng gần bờ biển Trên địa bàn tỉnh có nhiều kênh rạch lớn như kênh Quản Lộ-Phụng Hiệp, kênh Cạnh Đền, kênh Phó Sinh, kênh Giá Rai Hệ thống sông ngòi, kênh rạch của Bạc Liêu nối với biển bằng cửa Gành Hào, cửa Nhà Mát và cửa Cái Cùng Ngoài phần đất liền còn có vùng biển rộng 40.000 km² Biển Bạc Liêu có tiềm năng hải sản tương đối lớn với 661 loài cá và 33 loài tôm, cho phép đánh bắt mỗi năm 24-30 vạn tấn cá và khoảng 1 vạn tấn tôm (http://tpbl.baclieu.gov.vn)

Trang 15

Ruộng muối Bạc Liêu nằm trong nhóm đất mặn (saline soil) bao gồm 95.698

ha phân bố tập trung ở các xã ven biển vùng nam Quốc Lộ 1 A, chạy dài từ Bạc Liêu, Vĩnh Lợi, Giá Rai và kéo dài đến phần huyện Phước Long, ngoại trừ đất mặn được trồng sú, vẹt và đước ở ven biển còn lại là đất mặn ít và trung bình với địa hình

tương đối cao, thành phần cơ giới nặng (sét nhiều trên 50%) (Nguyễn Văn Hòa và

ctv., 2007)

Hình 2.3 Bản đồ hành chính tỉnh Bạc Liêu (nguồn: dulichmoingay.com)

2.6 Tổng quan nghề nuôi Artemia ở Bạc Liêu

2.6.1 Quá trình di nhập

Ở Việt Nam Artemia được du nhập từ đầu thập niên 80 dưới dạng trứng bào

xác để làm thức ăn cho tôm càng xanh Sau đó nguồn trứng này được sử dụng làm giống nuôi thử nghiệm trong phòng và thả nuôi trên ruộng muối ở Vĩnh Châu, Bạc

Liêu, Cam Ranh, Phan Thiết…(Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007)

Mặc dù là đối tượng rất mới so với các nghề nông nghiệp khác ở vùng ĐBSCL, nhưng với sự nổ lực của Trường ĐHCT, việc nghiên cứu ứng dụng sản

xuất Artemia ở vùng ĐBSCL được thực hiện một cách liên tục và có hệ thống Cùng

với sự giúp đở, hợp tác về tài chính, kiến thức, kinh nghiệm của các đơn vị nghiên

cứu truyền thống về Artemia trên thế giới, đến khoảng năm 1990 thì ĐHCT đã xây dựng và triển khai ứng dụng “quy trình kỹ thuật sản xuất trứng và sinh khối Artemia

trên ruộng muối” Thành công trong nghiên cứu và mở rộng ở nhiều vùng như ruộng

muối huyện Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu Nghề nuôi Artemia đã trở thành

Trang 16

quen thuộc và đạt hiệu quả kinh tế ngày càng cao (Nguyễn Kim Quang và ctv.,

1993)

2.6.2 Kỹ thuật nuôi Artemia thu trứng bào xác trên ruộng muối

Theo Nguyễn Văn Hòa và ctv (2007), có nhiều hình thức nuôi Artemia đang được áp dụng như mô hình nuôi Artemia nước tĩnh, mô hình nuôi nước chảy và các

mô hình nuôi kết hợp (Artemia – muối; Tôm, cá – Artemia – muối; Gia cầm –

Artemia – Muối) Ngày nay, các hộ nuôi Artemia ở Bạc Liêu thường áp dụng hình

thức nuôi Artemia đơn canh Trong hệ thống này, các ao nuôi Artemia và các khu vực sản xuất muối được thiết kế riêng lẻ Nuôi Artemia thu trứng bào xác trên ruộng muối cần được thực hiện các công việc sau:

- Chọn địa điểm và cải tạo ao nuôi

Ao nuôi nên được thiết kế có diện tích từ 0,5-1 ha và ở địa điểm thích hợp, bố trí hệ thống ao cho hợp lý, dễ quản lý và phù hợp với hướng gió, đồng thời cần phải xây dựng bờ ao, hệ thống cống, lưới lọc cẩn thận tránh các địch hại có thể xâm nhập Mực nước trong ao nên được duy trì ít nhất 20-25 cm tính từ mặt trảng và 40-

50 cm trong các mương bao để tránh nhiệt độ tăng cao vào những ngày nắng nóng, ngoài ra để hạn chế lab-lab phát triển quá mức

Trước khi thả giống, ao cần được sên vét lớp bùn đáy và phơi đáy ao trong

vòng 2-3 ngày để kích thích sự hoạt động của các vi khuẩn hiếu khí trong lớp bùn đáy ao nhằm phân hủy các hợp chất hữu cơ, giải phóng các chất dinh dưỡng đồng

thông qua lưới lọc mịn, cho bốc hơi từ từ và chỉ cấy thả Artemia khi độ mặn trong

ao nuôi đạt 80‰ trở lên (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007)

Hình 2.4 Mặt cắt ngang bờ ao nuôi (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007)

Trang 17

Trước khi thả giống, cần đảm bảo các yếu tố môi trường ao nuôi luôn nằm trong khoảng thích hợp, độ mặn không nên thấp hơn 80‰ Việc chọn giống và cho

nở cũng là một trong những khâu rất quan trọng Hiện nay, có rất nhiều nguồn

Artemia từ nhiều vùng địa lý khác nhau như SFB (San Francisco Bay), GSL (Great

Salt Lake) của Mỹ, các dòng xuất xứ từ Iran, Trung Quốc, Nga, … do đó khi du

nhập dòng Artemia từ nước ngoài nên xem xét cẩn thận Ở Việt Nam, dòng Artemia

SFB (Mỹ) sau thời gian du nhập đã gần như trở thành loài bản địa của nước ta, với

ưu thế kích thước trứng và ấu trùng nhỏ (tương ứng là 220-230 m và 400-420 m), hàm lượng acid béo không no (HUFA) cao nên rất có giá trị trên thị trường

Điều kiện ấp nở và cách cho nở được áp dụng theo phương pháp của

Sorgeloos et al (1986), đặc biệt lưu ý đến các yêu cầu sau:

- Ánh sáng: Chiếu sáng bằng đèn huỳnh quang với cường độ 2000 lux (đặt cách mặt nước khoảng 20 cm)

- Theo dõi và chăm sóc

Đây là hoạt động thường xuyên trong quá trình nuôi Artemia nhằm giúp cho

việc quản lý và điều chỉnh kịp thời Hằng ngày cần kiểm tra nhiệt độ, độ mặn 2 lần vào 7 giờ sáng và 2 giờ chiều, đo mực nước, độ trong và tình trạng sức khỏe của

quần thể Artemia để có biện pháp xử lý ao kịp thời

Theo Sorgeloos et al (1986), quần thể Artemia trong ruộng muối thường hiện

diện đầy đủ các thành phần: Nauplii, Juveniles, Preadults và Adults và tùy theo điều kiện môi trường nuôi mà các thành phần này có tỷ lệ khác nhau, theo đó ao nuôi sản xuất lên tục là ao nuôi với sự hiện diện đầy đủ các thành phần trên Vì vậy, trước khi thả giống cần phải tạo sẵn thức ăn trong ao nuôi nuôi bằng cách bón phân gây màu

Trang 18

nước, thức ăn tốt nhất cho Artemia là các loài vi tảo (ở ruộng muối Vĩnh Châu thường xuất hiện nhiều tảo Chaetoceros sp.) Ngoài ra, nên bón các loại phân vô cơ

và hữu cơ thêm cho ao nuôi trong trường hợp nguồn nước xanh không đủ đáp ứng

- Thu hoạch

Tùy theo điều kiện thời tiết, biện pháo quản lý ao và sự phát triển của quần

thể Artemia trong ao nuôi mà việc thu trứng bào xác được thực hiện sớm 13-14 ngày

hoặc muộn nhất từ 20 ngày trở lên Trứng có thể được vớt bằng vợt hoặc lưới phiêu sinh có kích thước mắt lưới 0,1-0,15mm) mục đích là để loại bỏ các rác thải, rong tảo có lẫn vào trứng Các lưới được lọc theo trình tự sau:

- Lưới I có kích thước mắt lưới 1 mm: dùng để lọc rác thô

- Lưới II có kích thước mắt lưới 0,4 mm: lọc rác có kích thước nhỏ hơn Sau đó trứng được rửa sạch và bảo quản trong nước muối bão hòa 250-300‰, hàng ngày cần khuấy đều cho trứng tiếp xúc với nước mặn và định kỳ thay nước (cần duy trì độ mặn trong quá trình bảo quản) Trứng bào xác qua sơ chế như trên có dự trữ lâu dài vài tháng trong điều kiện nhiệt độ thấp và ổn định (Nguyễn

Văn Hòa và ctv., 2007)

Trang 19

PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm điều tra được chọn tại xã Xiêm Cáng thuộc TP Bạc Liêu và xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình, Bạc Liêu

Thời gian thực hiện từ tháng 2/2012 đến tháng 3/2012

3.2 Phương pháp thu số liệu

3.2.1 Số liệu thứ cấp

Được thu từ số liệu thống kê của sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu, internet, các tạp chí thủy sản, sách

3.2.2 Số liệu sơ cấp

Số liệu được thu thập từ thực tế sản xuất và kết quả điều tra mô tả các quy trình nuôi

Artemia phổ biến thông qua phỏng vấn trực tiếp các hộ nuôi Artemia sử dụng Bảng

câu hỏi được soạn sẵn

Số hộ nuôi Artemia được phỏng vấn:

- Xiêm Cáng: 17 hộ

- Vĩnh Hậu: 20 hộ

3.3 Các biến chủ yếu trong nghiên cứu

Các biến liên quan đến kỹ thuật

 Quản lý (cải tạo/xử lý ao, tần suất và tỷ lệ thay nước)

 Con giống (nguồn giống, mật độ thả, chất lượng, giá)

 Một số trở ngại thường gặp

 Thức ăn

 Thuốc hóa chất sử dụng

 Thu hoạch

Trang 20

Các biến liên quan đến thông tin kinh tế của hộ nuôi Artemia

 Nguồn vốn

 Chi phí

 Giá đầu vào, đầu ra

 Thu nhập từ Artemia và muối

 Lợi nhuận

 Tiêu thụ sản phẩm sau khi thu hoạch

3.4 Phương pháp phân tích số liệu

Phần mềm Microsoft Excel được sử dụng để mã hóa và xử lý số liệu Phần mềm SPSS được sử dụng cho thống kê mô tả, so sánh Sử dụng các chỉ số như giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần suất, tỉ lệ phần trăm được dùng để mô tả thông tin chung về chủ hộ (tuổi tác, trình độ văn hóa, kinh nghiệm nuôi,…), mô hình kỹ thuật nuôi (diện tích nuôi, sử dụng phân bón, thức ăn bổ sung,…) và đặc điểm kinh tế-xã hội của nông hộ Sau đó, tiến hành so sánh giữa các xã nuôi và phân tích các chỉ số để rút ra nhận xét

Trang 21

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thông tin chung

Bảng 4.1 thể hiện thông tin chung của các hộ nuôi Artemia được phỏng vấn

Độ tuổi: Độ tuổi của các hộ nuôi ở xã Xiêm Cáng và xã Vĩnh Hậu thuộc tỉnh Bạc Liêu biến động từ 33 đến 58 tuổi và độ tuổi trung bình của hai xã vào khoảng

46 tuổi, độ tuổi này cho thấy các hộ nuôi có nhiều kinh nghiệm trong nghề

Giới tính: Phần lớn lao động chính nuôi Artemia ở tỉnh Bạc Liêu là do nam

giới thực hiện với tỷ lệ là 92,5% Trong đó, xã Xiêm Cáng có tỷ lệ nam giới tham gia nghề nuôi chiếm tỷ lệ cao nhất (100%), xã Vĩnh Hậu tỷ lệ nam giới chiếm từ

80% trở lên Nguyên nhân là do đặc tính của nghề nuôi Artemia cũng như nghề nuôi

trồng thủy sản nói chung là công việc nặng nhọc chỉ thích hợp cho lao động nam

Trình độ văn hóa: Hộ nuôi Artemia có trình độ học vấn thấp, đặc biệt là xã

Xiêm Cáng với tỷ lệ mù chữ chiếm đến 5,9%, trong khi xã Vĩnh Hậu là 0% Tỷ lệ trung bình số hộ mù chữ là 2,9%, tỷ lệ đạt trình độ đạt cấp I chiếm 54,7%, cấp II chiếm 29,3% và trình độ đạt cấp III trở lên khoảng 10,4%

Hình thức sở hữu đất: Số hộ nuôi Artemia sử dụng đất nhà và đất thuê

chiếm tỷ lệ trung bình lần lược là 53,4 % và 46,6 % Trong đó, các hộ nuôi Artemia ở

xã Xiêm Cáng có tỷ lệ đất thuê cao (>85%), ngược lại xã Vĩnh Hậu lại chiếm tỷ lệ đất nhà cao hơn đất thuê (95%) Nguyên nhân có sự khác biệt này do các hộ nuôi ở Vĩnh Hậu sở hữu đất nhà nhiều, trong khi đó trên địa bàn xã Xiêm Cáng phần lớn là đất do các hợp tác xã quản lý

Kinh nghiệm nuôi: Số năm kinh nghiệm của cá hộ nuôi Artemia gần như

nhau trung bình khoảng 8 năm Số năm kinh nghiệm ở Bạc Liêu ít hơn so với các hộ

nuôi Artemia ở Vĩnh Châu, Sóc Trăng Do triển khai nuôi Artemia ở Bạc Liêu được thực hiện chủ yếu từ năm 2000 trở đi trong khi ở Vĩnh Châu Artemia đã được nuôi

vào những năm 1990

Lao động gia đình và lao động thuê mướn: Số người trong gia đình trực tiếp

tham gia nuôi Artemia dao động từ 1 đến 3 người, con số này tùy thuộc vào số người

trong gia đình Tuy nhiên, tùy theo diện tích nuôi, hầu hết các địa bàn khảo sát trung bình có 2 người tham gia quản lý ao nuôi trong suốt mùa vụ sản xuất Ngoài lao động nhà ra các hộ dân còn thuê mướn thêm lao động, số lượng các lao động được thuê tùy thuộc vào tài chính và diện tích nuôi của hộ nuôi Ở xã Xiêm Cáng trung bình thường

Trang 22

thuê 1 lao động làm cùng với chủ, trong khi đó ở xã Vĩnh Hậu vì diện tích nuôi nhỏ và

để tiết kiệm chi phí sản xuất nên các hộ nuôi thường không thuê lao động

Bảng 4.1: Thông tin chung của hộ nuôi Artemia ở Bạc Liêu

*Ghi chú:Nguồn kỹ thuật nuôi là thống kê nhiều lựa chọn

(n=17)

Vĩnh Hậu (n=20)

Trung bình tổng (n=37)

7 Nguồn kỹ thuật nuôi (%)

Trang 23

4.2 Tổng diện tích nuôi và sản lượng Artemia qua các năm

Bảng 4.2 là số liệu thu thập từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc

Liêu từ năm 2007 đến 2011 về tổng diện tích nuôi và sản lượng Artemia ở 2 xã Xiêm Cáng và Vĩnh Hậu thuộc tỉnh Bạc Liêu Diện tích và sản lượng nuôi Artemia ở

Bạc Liêu tương đối ổn định và tăng đều qua các năm, tập trung chủ yếu ở xã Xiêm Cáng trong hai năm 2009-2011 diện tích tăng 55 ha, sản lượng tăng 4 tấn Xã Vĩnh Hậu có diện tích nuôi nhỏ và không thay đổi qua các năm là do các hộ dân chuyển

một phần từ nuôi Artemia sang nuôi tôm sú thâm canh hoặc làm muối

Bảng 4.2: Diện tích và sản lượng nuôi Artemia ở các xã thuộc tỉnh Bạc Liêu

2007-2011

*Ghi chú: Nguồn thông tin được thu thập từ sở NN&PTNT tỉnh Bạc Liêu

4.3 Thông tin kỹ thuật

Tổng (n=37)

Trang 24

Tổng diện tích canh tác: Các hộ nuôi trên địa bàn nghiên cứu có tổng diện

tích đất trung bình là 3,25 ha/hộ Diện tích canh tác ở xã Xiêm Cáng trung bình là 3,75 ha/hộ, lớn hơn so với xã Vĩnh Hậu với diện tích trung bình 2,74 ha/hộ

Diện tích nuôi: Diện tích nuôi trung bình của các nông hộ ở các xã là 1,51

ha/hộ, dao động từ 0,54 đến 2,48 ha/hộ Xã Xiêm Cáng có diện tích nuôi trung bình 1,91 ha/hộ, xã Vĩnh Hậu có diện tích nuôi trung bình 1,2 ha/hộ

Diện tích ao nuôi: Diện tích ao nuôi Artemia dao động từ 0,17 đến 0,39 ha

và diện tích ao nuôi trung bình là 0,29 ha Xã Xiêm Cáng có diện tích ao nuôi trung bình 0.31 ha, xã Vĩnh Hậu có diện tích ao nuôi trung bình 0,28 ha

Số ao nuôi: Số ao nuôi dao động từ 4 đến 6 ao, trung bình là 5 ao Ta thấy

được số ao nuôi giữa hai xã khá đồng đều, thực tế thì số lượng ao nuôi được các hộ nuôi chia theo diện tích nuôi, hộ nào có diện tích lớn thì chia nhiều ao và ngược lại

Mức nước ao nuôi: Mức nước ao nuôi được tính từ mặt trảng dao động từ

0,2 đến 0,4 m, trung bình là 0,28 m Kết quả này cho thấy độ sâu mặt trảng giữa các

hộ nuôi không có sự chênh lệch nhau lớn

Diện tích khu bón phân: Thông thường trong mỗi hệ thống ao nuôi Artemia

của nông hộ đều có khu bón phân và tổng diện tích khu bón phân thường chiếm khoảng 20 - 30% tổng diện tích Khu bón phân chủ yếu là để gây màu tảo làm thức

ăn cung cấp cho Artemia

Tỷ lệ số hộ có khu bón phân: Do đã có kinh nghiệm trong nghề nuôi, các hộ dân

hiểu được tầm quan trọng của khu bón phân nên hầu hết đều có khu bón phân, ở xã Xiêm Cáng tỷ lệ số hộ có khu bón phân là 94%, ở xã Vĩnh Hậu là 90%

Bảng 4.3: Thông tin về thiết kế hệ thống nuôi Artemia ở Bạc Liêu

(n=17)

Vĩnh Hậu (n=20)

Trung bình tổng (n=37)

Ngày đăng: 09/04/2018, 19:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w