1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát các yếu tố kỹ THUẬT và HIỆU QUẢ KINH tế của mô HÌNH NUÔI cá mú TRONG LỒNG ở NAM DU KIÊN hải KIÊN GIANG

40 253 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN PHẠM VĂN MẪN KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ KỸ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ MÚ TRONG LỒNG Ở NAM DU-KIÊN HẢI- KIÊN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

PHẠM VĂN MẪN

KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ KỸ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ

CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ MÚ TRONG LỒNG

Ở NAM DU-KIÊN HẢI- KIÊN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

PHẠM VĂN MẪN

KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ KỸ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ

CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ MÚ TRONG LỒNG

Ở NAM DU-KIÊN HẢI- KIÊN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Ts LÝ VĂN KHÁNH PGs Ts TRẦN NGỌC HẢI

2013

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Lý Văn Khánh, thầy Lê Quốc Việt và thầy Trần Ngọc Hải đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp này Tôi xin chân thành cám ơn tất cả quý thầy cô đang công tác tại khoa Thủy Sản trường ĐHCT, các bạn lớp NTTS K35 đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện đề tài

Xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của các anh cán bộ ở Trung tâm Khuyến nông-khuyến ngư tỉnh Kiên Giang, trạm khuyến nông – khuyến ngư của huyện Kiên Hải cùng bà con nông dân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu để thực hiện đề tài

Vì thời gian có hạn, kiến thức còn nhiều hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những sai sót, mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Khảo sát các yếu tố kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá

mú trong lồng ở Nam Du, Kiên Hải, Kiên Giang” được thực hiện nhằm mục tiêu cung cấp những thông tin làm cơ sở cho việc cải tiến công tác quản lý cũng như các hoạt động nuôi, đề xuất những giải pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả của mô hình nuôi tại địa bàn nghiên cứu Đề tài đã phỏng vấn trực tiếp 13 hộ nuôi cá mú trong lồng theo mẫu soạn sẵn với những nội dung

và kết cấu mô hình, khía cạnh kỹ thuật, hiệu quả kinh tế và nhận thức của người dân về mô hình này Qua kết quả điều tra cho thấy nghề nuôi cá mú đang phát triển, thể tích lồng nuôi trung bình là 85,840,6 m3, mật độ trung bình là 7,806,10 con/m3, tất cả các hộ dân đều sử dụng thức ăn cá tạp, nguồn thức ăn không ổn định Thời gian nuôi trung bình là 10,41,83 tháng, cá đạt kích cỡ trung bình 1,010,20 kg/con Giá bán ra trung bình là 291.250130.142 đồng/kg Tổng chi phí cho mô hình nuôi cá mú lồng là 291,5187,7 triệu đồng/100m3/vụ Tổng thu nhập trung bình là 420,9182,3 triệu đồng/100 m3/vụ Lợi nhuận trung bình của mô hình 166,8111,3 triệu đồng/100 m3/vụ Trong mô hình nuôi cá mú lồng còn gặp nhiều khó khăn như

sự ô nhiễm nguồn nước ngày càng tăng, ảnh hưởng của thời tiết khí hậu, dịch bệnh, kiến thức về kỹ thuật nuôi, vốn, nguồn cung cấp thức ăn cá tạp, nguồn giống không chủ động được, giá cá thu hoạch bấp bênh, đầu ra sản phẩm không ổn định là những vấn đề quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất Qua đó một số giải pháp cơ bản được đề xuất như được hỗ trợ vay vốn, tập huấn kỹ thuật nuôi, tìm đầu ra ổn định khi cá thu hoạch

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM TẠ i

TÓM TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH SÁCH HÌNH v

DANH SÁCH BẢNG vi

DANH MỤC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT vii

Phần I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Nội dung của đề tài 2

Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Đặc điểm sinh học của cá mú 3

2.1.1 Phân bố 3

2.1.2 Phân loại và hình thái 3

2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng 4

2.1.4 Đặc điểm sinh sản 5

2.2 Tình hình và nghiên cứu trong nuôi cá mú lồng 5

2.3 Tổng quan về Nam Du- Kiên Hải- Kiên Giang 7

2.3.1 Sơ lược về Nam Du- Kiên Hải- Kiên Giang 7

2.3.2 Tình hình nuôi cá lồng ở Nam Du- Kiên Hải- Kiên Giang 8

PHẦN III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

3.1 Vật liệu nghiên cứu 10

3.2 Phương pháp nghiên cứu 10

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 10

3.2.2 Xử lý số liệu 11

Phần IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 12

4.1 Thông tin chung về hộ nuôi cá mú lồng 12

4.2 Thông tin kỹ thuật về nuôi cá mú lồng 13

Trang 6

4.2.2 Vị trí đặt lồng 14

4.2.3 Con giống 14

4.2.4 Đặc điểm kỹ thuật 15

4.2.5 Chăm sóc và quản lý 16

4.2.5.1 Cho ăn 16

4.2.5.2 Chăm sóc 17

4.2.5.3 Quản lý môi trường 17

4.2.5.4 Phòng và trị bệnh 17

4.3 Tỷ lệ sống và năng suất của mô hình nuôi 18

4.4 Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá mú lồng 18

4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế mô hình nuôi cá mú lồng 19

4.5.1 Các yếu tố môi trường 19

4.5.2 Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế 20

4.6 Những thuận lợi và khó khăn trong mô hình nuôi cá mú lồng 21

4.6.1 Những thuận lợi 21

4.6.2 Những khó khăn 21

Phần V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 22

5.1 Kết luận 22

5.2 Đề xuất 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

PHỤ LỤC 25

Trang 7

DANH SÁCH HÌNH

Trang

Hình 2.1 Một số loài cá mú 4

Hình 3.1 Địa điểm điều tra 11

Hình 4.1 Con giống cá mú 16

Hình 4.2 Cơ cấu chi phí 20

Trang 8

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Thông tin về nông hộ 14

Bảng 4.2 Các chỉ tiêu của lồng nuôi 15

Bảng 4.3 Khoảng cách và vị trí nơi đặt lồng 15

Bảng 4.4 Đặc điểm kỹ thuật trong nuôi cá mú lồng 17

Bảng 4.5 Thức ăn cho cá 18

Bảng 4.6 Năng suất và tỷ lệ sống của cá lúc thu hoạch 19

Bảng 4.7 Chi phí, thu nhập, lợi nhuận của mô hình 20

Bảng 4.8 Các yếu tố ảnh hưởng hiệu quả kinh tế 21

Trang 9

DANH MỤC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Trang 10

và rong biển ; trong đó đối tượng chính là các loài cá biển (cá mú, cá giò, cá vược, cá hồng mỹ, ) và các loài nhuyễn thể (ngao, hầu, sò, ốc hương, tu hài…)

Nghề nuôi cá lồng ở Việt Nam xuất hiện đầu tiên ở Châu Đốc Về sau nhờ có cải tiến bổ sung nên nghề nuôi cá lồng, cá bè đã trở thành một nghề hoàn chỉnh và đã trở thành một trong những trung tâm phát triển nuôi cá lồng,

bè lớn trong khu vực Trong đó, nghề nuôi cá mú lồng đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển ngành nuôi trồng thủy sản cũng như kinh tế của cả nước Đây là mô hình nuôi cho hiệu quả kinh tế cao, kỹ thuật đơn giản, đầu ra ổn định, tính rủi ro thấp; góp phần làm tăng nguồn thực phẩm phục vụ khách du lịch và xuất khẩu, giúp ngư dân vươn lên làm giàu Tuy nhiên vốn đầu tư nuôi khá cao, chưa chủ động được nguồn giống thả nuôi, do vậy, nhiều người chưa dám thả nuôi loài cá này Trong tương lai khi Việt Nam chủ động được trong việc cung cấp con giống cá mú nhân tạo, có kế hoạch phát triển, nhân rộng mô hình nuôi thì nghề nuôi cá mú càng có cơ hội để phát triển hơn Để tìm hiểu và hoàn thiện hơn những biện pháp kỹ thuật cũng như hiệu quả kinh tế cùng

những thuận lợi, khó khăn của người nuôi hiện nay nên đề tài “Khảo sát các yếu tố kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá mú trong lồng ở Nam Du, Kiên Hải, Kiên Giang” được thực hiện nhằm góp phần làm cơ sở

Trang 11

cho chỉ đạo phát triển cũng như nghiên cứu phục vụ cho phát triển nghề nuôi

cá trong tương lai

1.2 Mục tiêu của đề tài

Phân tích và đánh giá các khía cạnh kỹ thuật, kinh tế trong nuôi cá mú lồng để làm cơ sở kiến nghị cho việc cải thiện quy trình nuôi tốt hơn

1.3 Nội dung đề tài

Khảo sát các khía cạnh kỹ thuật của mô hình cá mú lồng ở Nam Du, Kiên Hải, Kiên Giang

Phân tích hiệu quả kinh tế, những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi

cá mú lồng ở Nam Du, Kiên Hải, Kiên Giang

Trang 12

Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm sinh học của cá mú

2.1.1 Phân bố

Cá song hay còn gọi là cá mú hiện tại có 30 loài phân bố ở Việt Nam trong tổng số khoảng trên 400 loài trên thế giới Cá mú được phân bố rộng rãi trong các vùng nước ven biển nhiệt đới và cận nhiệt đới khu vực của tất cả các đại dương (Randall, 1987; Kohno et ai, 1990; Heemstra, 1991) Chúng được tìm thấy và sống chủ yếu ở vùng cửa sông, nơi ven bờ hoặc gần các rạn san

hô, đá ngầm, ở vùng nước ấm (Heemstra và Randall 1993) Mùa hè sống ở ven

bờ, mùa đông di cư ra vùng xa bờ Ở Việt Nam chúng phân bố dọc từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan, tập trung nhiều ở ven biển miền trung, trong đó có các loài có giá trị kinh tế, giá trị xuất khẩu cao là: Cá song đỏ Epinephelus

akaara, Cá song hoa nâu E fuscoguttatus, Cá song vạch E brunneus, Cá song chấm tổ ong E Merra, Cá song mỡ E Tauvina, Cá song đen E heeberi, Cá song cáo E megachir

- Vùng biển vịnh Bắc bộ có cá song mỡ, song đen, song cáo

- Vùng biển miền Trung có cá song đỏ

- Vùng biển Đông và Tây Nam bộ có song đỏ, song mỡ

2.1.2 Phân loại và hình thái

Theo Randall và Heemstra (1993) thì cá mú có 159 loài trên toàn thế giới thuộc 15 giống được phân loại như sau:

Cá mú có thân hình khoẻ mạnh có dạng dẹp bên, miệng lớn và có thể

co duỗi, hàm lồi ra Răng trong của hai hàm tương đối lớn và có thể ẩn xuống, răng chó với số lượng không nhiều và ở phía trước hai hàm Viền sau xương nắp mang trước có răng cưa, viền dưới hàm trơn láng, xương nắp mang có hai gai to Lược mang ngắn và số lượng không nhiều Vẩy lược bé, có một số ẩn

Trang 13

dưới da, bộ phận tia vây lẻ ít nhiều đều có vẩy, đường bên hoàn toàn Vây lưng có XI gai cứng và 14-18 tia mềm Vây hậu môn có III gai cứng và 7-9 vi mềm Vi đuôi mềm hoặc bằng phẳng, đôi khi lõm vào trong Vây bụng có I gai cứng và 5 tia mềm (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2006)

Hình 2.1 Một số loài cá mú 2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng

Một đặc điểm điển hình của nhóm này là cá rất dữ, cá tranh ăn dữ dội, con lớn lấn át con bé, khi đói thiếu mồi ăn, chúng ăn lẫn nhau Đặc tính này thể hiện ngay ở giai đoạn cá con, vì vậy trong quá trình nuôi phải thường xuyên san cỡ đồng đều nuôi riêng có tính ăn thịt và bắt mồi theo phương thức rình mồi Cá có tính hoạt động về đêm, ban ngày ít hoạt động mà ẩn nấp trong các hang đá, rạn san hô, thỉnh thoảng mới đi tìm mồi Tuy nhiên, khi được thuần dưỡng trong điều kiện nuôi, cá có thể ăn được cả vào ban ngày (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2006)

Cá mú là loài ăn thịt nên đòi hỏi hàm lượng protein cao trong khổ phần ăn của chúng, mỗi loài khác nhau thì có nhu cầu hàm lượng protein khác nhau, tùy vào kích cỡ cá và điều kiện nuôi (Chua & Teng, 1978, 1982; Hu & Lim, 1984; Kohno et al., 1989) cá mú nhỏ thì đòi hỏi hàm lượng protein cao hơn so với cá trưởng thành (Wongsomnuk et al., 1978)

Trang 14

Chúng có tập tính dinh dưỡng ăn thịt nên thức ăn gồm cá con, mực, giáp xác, tôm, ghẹ nhỏ… thường ăn thịt lẫn nhau ở giai đoạn cá con

Cá mú là loài có tốc độ tăng trưởng nhanh, thời gian nuôi khoảng 6-8 tháng thì cá đạt kích cỡ trung bình khoảng 500g-800g, tốc độ tăng trưởng của cá mú còn tùy thuộc từng loài

2.1.4 Đặc điểm sinh sản

Phần lớn cá mú là loài lưỡng tính (Shapiro, 1987), có sự chuyển đổi giới tính ở nhóm cá này Khi còn nhỏ chúng là cá cái, nhưng khi đạt đến kích cỡ và tuổi nhất định thì chuyển thành cá đực Cá có kích cỡ dài 45-50 cm trở lại thường là những cá cái, trong khi trên 74 cm và nặng trên 11kg trở thàng cá đực Hiện tượng lưỡng tính thường tìm thấy ở cá kích cỡ 66-72 cm Cá mú có thể đẻ quanh năm, nhưng tập trung vào những tháng lạnh, nhiệt độ thấp, vì thế tùy từng vùng khác nhau mùa vụ xuất hiện cá giống cũng khác nhau Sức sinh sản của cá khá cao, mỗi con cái có thể đẻ từ vài trăm ngàn đến vài triệu trứng (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2006)

Cá có thể cho cá sinh sản tự nhiên hay kích thích hormon Chu kỳ trăng ảnh hưởng đến sự đẻ trứng của cá, cá thường đẻ vào thời điểm vài ngày trước hoặc sau kỳ trăng non hoặc trăng tròn Cá có thể đẻ tự nhiên không cần tiêm thuốc kích thích Vài ngày trước hoặc sau trăng tròn hoặc trăng non, thay nườc, tạo dòng chảy liên tục Nguồn nước mới, thay đổi nhiệt độ và dòng chảy

là những tác nhân kích thích cá đẻ trứng và phóng tinh Mùa vụ cá sinh sản tự nhiên thường từ tháng 5-8 Cá sinh sản tự nhiên có tỷ lệ thu tinh thường cao hơn so với sinh sản nhân tạo do trứng và tinh đã được chín muồi

2.2 Tình hình và nghiên cứu trong nuôi cá mú lồng

Cá mú là một trong những loài cá biển có giá trị kinh tế cao (4-68 USD/Kg) Chúng được nuôi ở nhiều nơi như: Trung Quốc (Đài Loan, Hồng Kông), Nhật Bản, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Philippines, Brunei

Nghề nuôi cá mú ở châu Á đã xuất hiện khá lâu, nhưng nguồn giống hoàn toàn dựa vào tự nhiên Nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá mú đã bắt đầu ở Nhật Bản vào thập niên 60, các nước Đông Nam á vào cuối thập niên 70 Đến nay, hơn 10 loài cá mú đã được nuôi và sản xuất giống nhân tạo như cá mú

đen chấm đen (Epinephelus malabaricus), cá mú đen chấm nâu (E coioides),

cá mú ruồi (E tauvina), cá mú đỏ (E akaara), cá màu đỏ (E awoara), cá mú cọp (E fuscoguttatus), cá mú nghệ (E lancelatus), E aeneus, E microdon, E polyphekadion, E tukula, cá mú chuột (Cromileptes altivelis)

Trang 15

p

Gần đây cá mú được nuôi quy mô công nghiệp ở các nước châu Á (Boonyaratpalin, 1997; Heemstra and Randall, 1993) vì nó có tốc độ tăng trưởng nhanh, chuyển hóa thức ăn hiệu quả và giá thị trường cao, Sản lượng hàng năm của cá mú là khoảng 10.000 tấn từ năm 2000 đến năm 2004 nó đứng tốp năng suất cao nhất trong các loài nuôi trồng thủy sản Đài Loan (Liao, 2005) Tuy nhiên sự phát triển nhanh chóng mạnh mẽ của nghề nuôi cá mú dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm gây ra do vi khuẩn, virus và ký sinh trùng đã tăng lên nhiều hơn nữa gây ra kết quả nghiêm trọng (Chua et al.,

1994; Fukuda et al., 1999), thiệt hại về kinh tế (Lee, 1995; Yeh et al., 2008)

trong các trại nuôi và giống

Cá giống khi cá đạt 6-7,5 cm được chuyển giao cho một số hệ thống nuôi thương phẩm, hệ thống này có thể là lồng lưới hay ao đất, hệ thống lồng được

ưa chuộng ở Đông Nam Á và ao đất ở Đài Loan, Hệ thống lồng cho cá mú nuôi thương phẩm có thể được thả lồng nỗi hoặc cố định, lồng nổi được ưa chuộng hơn những lồng cố định vì nó có thể nuôi được trong những khu vực

có biến động thủy triều cao Lồng cố định thường tìm thấy trong vùng nước cạn, chúng được cố định ở vị trí bằng các cọc gỗ Ba kích thước lồng được sử dụng cho nuôi thương phẩm, 3x3x2, 4x4x2 và 5x5x2, lúc đầu nuôi cá khoảng 9-10cm thì nuôi lưới với kích cỡ mắc lưới là 2,5cm mật độ thả cá mú trong ao

là 2-7/m2 (Liao et al., 1995), trong lồng có mật độ 20-30 con /m3 (Ruangpanit

& Yashiro, 1995) Sau 7-8 tháng đối với cá mú nuôi trong các ao hoặc lồng lưới để đạt được kích thước thương phẩm 600-800g và 12-16 tháng cá đạt 1,2 – 1,4 kg

Mật độ thả cao của cá trong lồng lưới nổi trong vùng nước ven biển hay sông được thực hiện thông qua dòng chảy của dòng nước mà cung cấp đầy đủ oxy hòa tan vào lồng và liên tục mang đi chất thải trao đổi chất của cá, do đó làm giảm tác động của mật độ cao (Hickling, 1962; Bardach và ctv, 1972; MacCrimmon và ctv, 1974) Mật độ tối ưu của cá biển trong lồng thay đổi theo các loài, vị trí nuôi, kích thước của cá ban đầu thả, kích thước và hình dạng của lồng Nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ thả lên sự phát triển của

cá mú (Epinephelus salmoides ) đã được tiến hành trong lồng lưới nổi Bốn

mật độ 15 con/m3 30 con/m3 60 con/m3 và 120 con/m3, kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng cá ở mật độ thả 60 con/m3 lớn bằng nhau nhanh chóng và cho thấy

so sánh hệ số chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ sống như những ở mật độ thấp hơn

Trang 16

Nuôi cá mú là một ngành tương đối mới mẻ ở Việt Nam, đã có sự phát triển đáng kể trong nuôi cá mú thương phẩm và loài khác, trong lồng suốt những năm 1990 Nuôi chủ yếu ở một số tỉnh như Hải Phòng, ở phía bắc Quảng Ninh, Phú Yên, Khánh Hòa Bộ thủy sản đã thông báo nghề nuôi cá biển sản xuất được 5.000 tấn trong năm 1999, chủ yếu là cá mú (Sadovy 2000) nuôi chủ yếu là cá tự nhiên và nhân tạo, hầu hết các hoạt động nuôi có quy mô

nhỏ, các loài cá mú thường được nuôi là E coioides, E malabaricus and E bleekeri Lồng lưới nổi, lồng lưới cố định và ao được dùng để nuôi thương

phẩm , đánh bắt cá tạp tại địa phương được dùng làm thức ăn, bệnh không là vấn đề quan trọng Mặc dù công nghệ sản xuất giống cá mú đã được phát triển nhưng không có trại sản xuất giống nào ở Việt Nam Nguồn cung cấp giống cá

mú và sự kém chất lượng của giống, để nắm bắt và giải quyết những hoạt động này là hai khó khăn phải đối mặt của ngành, ngoài ra cần phải lựa chọn và thay thế có hiệu quả chi phí thức ăn cá tạp (Nguyen and Hambrey 2000)

2.3 Tổng quan về Nam Du- Kiên Hải- Kiên Giang

2.3.1 Sơ lược về Nam Du- Kiên Hải- Kiên Giang

Kiên Giang nằm ở phía Tây Nam của Việt Nam, trong vùng đồng bằng sông Cửu Long có đường biên giới chung với Vương quốc Campuchia dài 56

km, đường bờ biển dài trên 200 km Phía Đông và Đông Nam giáp Cần Thơ,

An Giang; phía Nam giáp Cà Mau và Bạc Liêu; phía Tây giáp vịnh Thái Lan, diện tích tự nhiên của tỉnh là 6.269 km2, trong đó đảo Phú Quốc rộng 573 km2 Tỉnh có 2 thị xã, 11 huyện, 111 phường, xã, thị trấn và hai huyện đảo Phú Quốc và Kiên Hải Kiên Giang có địa hình đa dạng, bờ biển dài, nhiều sông núi và hải đảo, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí và điều kiện tự nhiên thuận lợi đã tạo cho tỉnh nhiều tiềm năng và lợi thế kinh tế phong phú,

đa dạng như: kinh tế nông-lâm nghiệp, kinh tế biển, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông-thủy sản và du lịch; nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu Ngoài ra, với vị thế là cửa ngõ

ở phía tây nam thông ra Vịnh Thái Lan, Kiên Giang còn có tiềm năng lớn về kinh tế cửa khẩu, hàng hải và mậu dịch quốc tế http://www.vietrade.gov.vn/vung-kinh-te-trong-diem-dbscl/2438-vi-tri-dia-ly-va-dien-kien-tu-nhien-cua-tinh-kien-giang.html

Riêng Kiên Hải là một trong hai huyện đảo của tỉnh Kiên Giang có 23 hòn đảo lớn, nhỏ quần tụ trên một diện tích 30 km2 Kiên Hải hiện có dân số khoảng 28.000 người sinh sống rải rác trên 11 hòn đảo thuộc bốn đơn vị hành chính là các xã: Hòn Tre (trung tâm hành chính), An Sơn, Lại Sơn và Nam Du Nhiều hòn đảo trên vùng biển Kiên Hải có thiên nhiên còn rất hoang sơ nên

Trang 17

chắc chắn sẽ rất thu hút du khách thích loại hình du lịch “bụi”.: nghỉ dưỡng, sinh thái, vườn đồi, thể thao dưới nước, hội thao, leo núi, cắm trại dã ngoại… Hiện nay, hai đảo Hòn Tre và Lại Sơn đã có hạ tầng tương đối hoàn chỉnh với

hệ thống đường vòng quanh đảo và đường xuyên đảo khá đẹp, còn đường quanh đảo Nam Du thì đã triển khai và sẽ sớm hoàn thành Ngoài cảnh quan thiên nhiên hoang sơ, quyến rũ, các đảo của Kiên Hải còn nổi tiếng bởi nhiều loại đặc sản miền biển như: Cá bống mú (có tới bảy loại), cá thu, cá bóp, các loại ốc biển, cua, ghẹ, tôm tích Kiên Hải có nhiều núi đá, địa hình khá phức tạp Vùng đồng bằng có độ cao từ 0,2 – 1,2 m cùng với chế độ thuỷ triều biển tây chi phối rất lớn khả năng tiêu thoát úng về mùa mưa đồng thời lại bị ảnh hưởng lớn của nước mặn, nhất là vào các tháng cuối mùa khô, gây trở ngại

http://www.kiengiang.gov.vn/index2.jsp?menuId=396&articleId=24042

2.3.2 Tình hình nuôi cá lồng ở Nam Du- Kiên Hải- Kiên Giang

Theo sở NN & PTNT tỉnh Kiên Giang (2011), Kiên Giang là tỉnh có thành trào nuôi cá nước mặn, nước lợ phát triển mạnh Nhu cầu giống phục vụ

về nuôi cá biển năm 2020 là 3,6 triệu con Nhưng hiện nay trong tỉnh chưa có

cơ sở chuyên sản xuất giống cá nước mặn, nước lợ (cá mú, cá bớp, cá chẽm) nên nguồn giống chủ yếu từ khai thác tự nhiên và mua từ ngoài tỉnh Việc mua các đối tượng cá mặn/lợ từ ngoài tỉnh có nhiều bất cập như con giống chất lượng kém, hiệu quả không cao Nhìn chung là chưa chủ động được nguồn giống cá mặn/lợ Như vậy, trong tương lai nước ta cần phải tăng cường nghiên cứu và đẩy mạnh tốc độ phát triển công nghệ sản xuất giống các loài cá Ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất, ương nuôi, phòng và trị bệnh, nâng cao tỉ lệ sống, góp phần phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản của nước ta

Quần đảo Nam Du với các đảo lớn nhỏ, vừa tạo nên vẻ đẹp thiên nhiên kỳ thú nơi vùng biển Tây Nam, vừa có nhiều điều kiện thích hợp để phát triển nghề nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi cá lồng bè

Năm 1997, xã Nam Du, Kiên Hải xuất hiện một vài mô hình nuôi rộng tôm tích, cá mú, cá bớp trong lồng bè của ngư dân Trong số này, cá mú và cá bớp tăng trọng lượng khá nhanh, bán được giá cao trên thị trường Điều này

mở ra nghề nuôi cá lồng bè trên biển ở huyện đảo Kiên Hải

Trong 2 năm (2005 - 2006), huyện thực hiện thí điểm thành công mô hình

“Nghiên cứu hoàn thiện quy trình nuôi cá mú, cá bớp bằng lồng bè trên biển tại huyện đảo Kiên Hải” chuyển giao cho ngư dân, ứng dụng vào thực tế nuôi

Trang 18

tạo thêm động lực, niềm tin cho họ mạnh dạn đầu tư phát triển nghề nuôi cá lồng bè trên biển trở thành một trong những thế mạnh, tiềm năng kinh tế của huyện đảo Kiên Hải

Hiện nay, mô hình nuôi cá lồng bè ở Kiên Hải phát triển mạnh trên 4 xã là Nam Du, An Sơn, Lại Sơn và Hòn Tre với khoảng 200 hộ nuôi cá mú, cá bớp với gần 600 lồng bè, sản lượng thu hoạch trên 270 tấn/năm Nhiều ngư dân cho biết, sau 10 tháng thả nuôi, cá đạt trọng lượng trên dưới 1 kg/con Nhờ nguồn thức ăn có sẵn trong tự nhiên dồi dào, cá ít bệnh tật, giá bán trên thị trường luôn trên 100.000 đồng/kg nên lợi nhuận khá cao

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2015, Kiên Hải xác định nghề nuôi cá lồng bè trên biển là một trong những tiềm năng, thế mạnh kinh tế mũi nhọn cần tập trung đầu tư khai thác Huyện có nhiều chủ trương khuyến khích, nhân rộng và phát triển mạnh nghề này trong dân, tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân đầu tư nuôi cá Phấn đấu đến năm 2015, huyện đảo Kiên Hải đạt sản lượng nuôi cá lồng bè 600 tấn/năm trở lên http://www.fistenet.gov.vn/c-thuy-san-viet-nam/b-nuoi-trong/kien-giang-huyen-111ao-kien-hai-phat-trien-nuoi-ca-long-be-tren-bien/

Tóm lại, nghề nuôi cá lồng đang từng bước khẳng định vị trí của mình trong phát triển của tỉnh Kiên Giang, nhưng nhìn chung tốc độ phát triển còn chậm

và hiệu quả sản xuất kinh doanh tuy cao nhưng chưa ổn định Vì vậy, để nghề nuôi cá lồng của tỉnh tiếp tục phát triển hơn nữa cần hỗ trợ về vốn, về kỹ thuật, đặt biệt là cung ứng các giống tốt, phòng chống dịch bệnh, từng bước hình thành các vùng nuôi tập trung quy mô lớn, chất lượng cao

Trang 19

PHẦN III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu nghiên cứu

Thời gian thực hiện: từ tháng 04/2013 đến tháng 7/2013

Địa điểm nghiên cứu: Tại các hộ nuôi cá mú lồng ở Nam Du- Kiên Hải- Kiên Giang

Hình 3.1 Địa điểm điều tra 3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

Thông tin thứ cấp: Thu thập thông tin, số liệu từ Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang, trạm Khuyến nông – Khuyến Ngư của huyện, đồng thời tổng hợp thêm các nghiên cứu đã được thực hiện trước đây về ngành thủy sản trên các báo, tạp chí thủy sản, các website…

Thông tin sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên 13 hộ nuôi cá mú trong lồng ở xã Nam Du thông qua phiếu khảo sát đã được soạn sẵn

Một số thông tin chính trong phiếu khảo sát:

• Thông tin về nông hộ

• Thông tin về kỹ thuật

• Thông tin khía cạnh kinh tế

Trang 20

3.2.2 Xử lý số liệu

Các số liệu được tính toán các giá trị trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất, phần trăm, độ lệch chuẩn dựa trên phần mềm Microsoft Excel Văn bản được thực hiện trên Microsoft Word

Ngày đăng: 09/04/2018, 19:58

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm