TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN HỒNG LINH ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ TÔM HỌ PENAEIDAE Ở VÙNG VEN BIỂN TỈNH TIỀN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: NUÔI TRỒ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN HỒNG LINH
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ TÔM
HỌ PENAEIDAE Ở VÙNG VEN BIỂN TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN HỒNG LINH
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ TÔM
HỌ PENAEIDAE Ở VÙNG VEN BIỂN TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Th.S NGUYỄN VĂN THƯỜNG
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Chân thành cảm tạ sự hướng dẫn nhiệt tình của:
Thạc Sĩ: Nguyễn Văn Thường
Và sự giúp đỡ của quý cơ quan:
Chi Cục Kiểm Định Chất Lượng Thú Y và Thuỷ Sản Tiền Giang
Sở Tài Nguyên Môi Trường Tiền Giang
Hội nghề cá Tiền Giang
Phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Huyện Gò Công Đông
Ban Quản lí Cảng Cá Vàm Láng
Đồn Biên Phòng 587 Đèn Đỏ
Cùng toàn thể quý Thầy Cô trong bộ môn Thuỷ Sinh Học Ứng Dụng và Quản
Lí Kinh Tế Nghề Cá, bà con ngư dân tại các địa điểm khảo sát, các chủ phương tiện khai thác, các vựa mua bán tôm thuộc Tỉnh Tiền Giang cùng tập thể lớp Nuôi Trồng Thuỷ Sản K31 đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Trang 4để định loại và cho ra kết quả khảo sát về thành phần giống loài
Địa điểm khảo sát: tiến hành thu mẫu tại 3 điểm ven biển Tiền Giang
Thời gian khảo sát: chia thành 5 đợt từ tháng 12/08-04/09
Mục tiêu của đề tài
Khảo sát thành phần giống loài tôm Penaeidea và sự phân bố của chúng ở vùng ven biển Tiền Giang
Hiện trạng khai thác qua các năm, từ đó đưa ra những phương hướng chung cho việc sử dụng và khai thác nguồn tôm biển theo xu hướng hợp lý và đồng thời làm cơ
sở phục vụ cho nhu cầu giảng dạy cũng như công tác quy hoạch và phát triển của Tiền Giang nói riêng và cả nước nói chung
Kết quả khảo sát cuối cùng
Họ Penaeidae thu được 8 giống, 21 loài trong đó có một số loài có giá trị kinh tế:
Penaeus monodon (Tôm sú), Fenneropenaeus indicus (Tôm Thẻ đỏ đuôi), Fenneropenaues merguiensis (Thẻ đuôi xanh)…
Trong quá trình khảo sát gặp nhiều khó khăn về thời tiết, địa điểm, phương tiện khảo sát… nên kết quả kém phần chính xác chưa phản ánh thực sự về thành phần giống loài tôm Penaeidae tại biển Tiền Giang
Trang 5MỤC LỤC
Phần 1: Giói thiệu - 1
Phần 2: Lược Khảo tài liệu - 4
Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu -18
Phần 4: Kết quả và thảo luận -21
I Kết quả khảo sát thành phần giống loài tôm thuộc họ Penaeidae ở vùng ven biển Tỉnh Tiền Giang - 21
Thành phần loài tôm họ Penaeidae thu được ở Tiền Giang - 21
II Mô tả các giống loài tôm họ Penaeidae thu được - 22
II.1 Giống Penaeus Fabricus,1798 - 22
Loài 1: Loài Penaeus monodon Fabricus,1798 - 22
Loài 2: Loài Penaeus semisulcatus De Haan,1844 - 24
II.2.Giống Fenneropenaeus Pérez Farfante, 1969 - 27
Loài 3: Loài Fenneropenaeus indicus H Milne Edwards, 1837 - 27
Loài 4: Loài Fenneropenaeus merguiensis De Man, 1888 - 29
II.3 Giống Marsupenaeus japonicus Bate, 1888 - 32
Loài 5: Marsupenaeus japonicus Bate, 1888 - 32
II.4 Giống Metapenaeus Wood-Mason, 1891 - 34
Loài 6: Loài Metapenaeus ensis De Man, 1888 - 34
Loài 7: Loài Metapenaeus affinis H Milne Edwards, 1837 - 36
Loài 8: Loài Metapenaeus brevicornis H Milne Edwards, 1837 -38
Loài 9: Loài Metapenaeus lysianassa De Man, 1888 - 40
Loài 10: Loài Metapenaeus tenuipes Kubo, 1949 - 42
II.5 Giống Parapenaeopsis, Alcok, 1901 - 44
Loài 11: Loài Parapenaeopsis cornuta, Kishinouye,1900 - 44
Loài 12: Loài Parapenaeopsis cultrirostris, Alcock,1906 - 46
Loài 13: Loài Parapenaeopsis gracillima Nobili,1903 - 48
Loài 14: Loài Parapenaeopsis hardwickii Miers,1878 - 50
Loài 15: Loài Parapenaeopsis hungerfordi, Alcock,1905 -52
Trang 6Loài 16: Loài Parapenaeopsis maxillipedo Alcock, 1905 - 54
II.6.Giống Metapenaeopsis, Bouvier, 1905 - 56
Loài 17: Loài Metapenaeopsis dura Kubo, 1949 - 56
Loài 18: Loài Metapenaeopsis stridulans Alcock, 1905 - 58
II.7.Giống Trachysalambria Stimpson, 1860 - 60
Loài 19: Trachysalambria curvirostris Stimpson, 1860 - 60
II.8 Megokris Pérez Farfante and Kensley, 1997 - 62
Loài 20: Megokris pescadoreensis Schmitt, 1931 - 62
Loài 21: Megokris sedili Hall, 1961 - 64
III Hiện trạng khai thác tôm biển họ Penaeidae ở vùng ven biển Tỉnh Tiền Giang - 66
1.Tình hình nuôi và khai thác tôm Penaeidae - 66
1.1.Tình hình khai thác tôm Penaeidae - 66
1.2.Tình hình nuôi tôm - 68
2 Ngư cụ khai thác - 69
2.1 Các ngư cụ chủ yếu - 69
2.2 Tính năng của các ngư cụ khai thác - 70
2.2.1 Lưới cào - 70
2.2.2 Lưới đáy chạy và đóng đáy (lưới ruốc) - 70
2.2.3 Đáy hàng khơi (sông cầu) - 71
3 Ngư trường khai thác - 72
3.1 Đặc điểm ngư trường khai thác - 72
3.2.Các ngư trường khai thác ở vùng biển tỉnh Tiền Giang - 72
3.3 Mùa vụ khai thác - 73
4 Những thách thức cùng các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi tôm họ Penaeidae - 73
4.1 Những thách thức - 73
Trang 74.2 Những giải pháp - 74
Phần 5: Kết Luận và đề xuất - 76
I Kết Luận - 76
II Đề Xuất - 76
Phần 6: Tài liệu tham khảo - 78
Phần phụ lục - 82
Trang 8DANH SÁCH BẢNG VÀ HÌNH Danh sách bảng
Bảng 2.1: Thống kê số lượng giống, loài tôm Penaeidae trên thế giới - 6
Bảng 2.2: Thành phần giống loài tôm Penaeidae có giá trị kinh tế phổ biến trên thế giới và Việt Nam - 7
Bảng 2.3: Thành phần một số loài tôm kinh tế Penaeidae được tìm thấy tại ven biển Tiền Giang -11
Bảng 4.1: Thành phần loài tôm Penaeidae tại vùng ven biển Tiền Giang -21
Danh sách hình Hình 2.1: Bản đồ hành chính Tỉnh Tiền Giang - 17
Hình 3.1: Bản đồ hành chính Tỉnh Tiền Giang -19
Hình 4.1: Loài 1: Penaeus monodon Fabricus, 1789 (Tôm sú) -23
Hình 4.2: Loài 2: Penaeus semisulcatus De Haan, 1844 (Tôm rằn) -26
Hình 4.3: Loài 3: Fenneropenaeus indicus H Milne Edwards, 1837 (Tôm thẻ đỏ đuôi) -28
Hình 4.4: Loài 4: Fenneropenaeus merguiensis De Man, 1888 ( Tôm Thẻ đuôi xanh) -30
Hình 4.5: Loài 5: Marsupenaeus japonicus Bate, 1888 (Tôm He Nhật Bản) -32
Hình 4.6: Loài 6: Metapenaeus ensis De Man, 1888 ( Tôm đất) - 34
Hình 4.7: Loài 7: Metapenaeus affinis H Milne Edwards, 1837 (Tôm Chì) - 37
Hình 4.8: Loài 8: Metapenaeus brevicornis H Milne Edwards, 183739 ( Bạc Nghệ) - 39
Hình 4.9: Loài 9: Metapenaeus lysianassa De Man, 1888 (Tép bạc) - 41
Hình 4.10: Loài 10: Metapenaeus tenuipes Kubo, 1949 (Tép bạc) - 43
Hình 4.11: Loài 11: Parapenaeopsis cornuta Kishinouye, 1900 (Tôm chì) - 45
Hình 4.12: Loài 12: Parapenaeopsis cultrirostris, Alcock,1906 (Tôm sắt ) - 47
Hình 4.13: Loài 13: Parapenaeopsis gracillima Nobili,1903 (Tôm giang) - 49
Hình 4.14: Loài 14: Parapenaeopsis hardwickii Miers, 1878 - 51
Hình 4.15: Loài 15: Parapenaeopsis hungerfordi Alcock,1905 (Tôm gậy) - 53
Hình 4.16: Loài 16: Parapenaeopsis maxillipedo Alcock, 1905 - 56
Hình 4.17: Loài 17: Metapenaeopsis dura Kubo, 1949 (Tôm gậy đá) - 57
Hình 4.18: Loài 18: Metapenaeopsis stridulans Alcock, 1905 (Tôm gậy đá) - 59
Hình 4.19: Loài 19: Trachysalambria curvirostris Stimpson, 1860 (Tôm gậy đá) 61
Hình 4.20: Loài 20: Megokris pescadoreensis Schmitt, 1931 (Tôm đanh vòng) 63
Trang 9Hình 4.21: Loài 21: Megokris sedili Hall, 1961 (Tôm đanh) - 65
Hình 4.22: Biến động sản lượng khai thác tôm biển ở Tiền Giang qua các năm 2000-2008 -67
Hình 4.23: Biến động tàu thuyền đăng ký và tổng công suất qua các năm 2001-2007 -68
Hình 4.24: Biến động giữa diện tích và sản lượng nuôi từ 2000-2007 -68
Hình 4.25: Lưới giả cào -69
Hình 4.26: Lưới ruốc -70
Hình 4.27: Đáy hàng khơi (sông cầu) -71
Trang 10CHƯƠNG I GIỚI THIỆU
Tiền Giang là tỉnh cuối nguồn sông Cửu Long với kinh độ 105o49’07E đến
105o48’06E và vĩ độ 10o14’N đến 10o32’N phía Bắc giáp với Long An và Thành Phố Hồ Chí Minh, Nam giáp với Bến Tre và Vĩnh Long, Tây giáp Đồng Tháp Tiền Giang nằm trải dọc sông Tiền với chiều dài 120 km Diện tích tự nhiên là 2.339 km2
có 7 huyện, Thành phố Mỹ Tho và thị xã Gò Công (Sở Địa Chính và Khoa Học Môi Trường Tiền Giang, 2008)
Tiền Giang có đường bờ biển dài 32 km với hàng ngàn ha bãi bồi ven biển cộng với
hệ thống sông ngòi dày đặc kết hợp với chế độ thủy triều ven biển thuộc loại bán nhật triều không đều, biên độ triều dao động từ 2,9 - 3,5 m cao nhất là tháng 9-12 cùng thời kì với nước lũ và thấp nhất vào tháng 2-6 (Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Tiền Giang, 2008) Đây là những điều kiện hội tụ để đẩy mạnh các ngành nghề Thủy sản và phát triển kinh tế biển ở Tiền Giang
Với vị thế nằm ở tả ngạn sông Tiền, nằm kẹp giữa các cửa sông lớn là Xoài Rạp (sông Vàm Cỏ) và cửa Tiểu, cửa Đại nên Tỉnh có tiềm năng phát triển nuôi trồng Thủy sản lợ mặn ven biển khá lớn khoảng 2.800 ha Trong những năm vừa qua, nghề nuôi Thủy sản nước lợ như tôm, cua của Tỉnh đã phát triển nhanh chóng cùng với phong trào chung của Đồng Bằng Sông Cửu Long (Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Tiền Giang, 2008)
Gò Công Đông, nằm trong khu vực giáp biển của Tỉnh Tiền Giang có chế độ thủy triều bán nhật triều không đều, mỗi ngày có 2 lần nước lớn và 2 lần nước ròng Thời gian nhật triều lên khoảng 5 giờ, thời gian triều xuống khoảng 6-7 giờ Chu kỳ một con triều lên khoảng 12,3 giờ Đỉnh triều và chân triều không đều nhau, đỉnh triều của 2 lần nước lớn (kế tiếp nhau) chênh lệch nhau từ 0,2 - 0,4 m, chân triều của 2 lần nước ròng (kế tiếp nhau) chênh lệch từ 1 - 2,5 m, biên độ triều dao động từ 2,9 - 3,4 m tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh sản và di cư của các loài thủy hải sản cùng với nghề khai thác biển Nguồn lợi Thủy sản các loại nói chung và tôm nói riêng của Tỉnh khá phong phú về thành phần loài cũng như về số lượng Triển Nông Thôn Điều này đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tình hình phát triển kinh tế Thủy sản của Tỉnh trong những năm vừa qua
Trang 11Theo khảo sát toàn Tỉnh đã tìm thấy 42 loài tôm nước ngọt lẫn nước mặn phân bố ở các thủy vực (Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Tiền Giang, 2008) Điều này tạo cơ sở cho công tác quy hoạch nuôi trồng và khai thác Thủy hải sản ở Tiền Giang phát triển
Theo thống kê diện tích nuôi tôm nước lợ mặn tăng liên tục từ 2.498 - 4.216 ha, sản lượng nuôi tăng 1.174 - 9.381 tấn từ 2000-2007 (Niên Giám thống kê và Báo cáo ngành Thủy sản Tiền Giang, 2007) Điều này chứng tỏ sự quan tâm, hỗ khoa học kỹ thuật cũng như con giống, thức ăn cho nghề nuôi Thủy sản của Tỉnh Từ đó đã mở
ra nhiều cơ hội thuận lợi hơn để thúc đẩy nghề nuôi tôm phát triển, góp phần nâng cao đời sống của người nuôi
Qua khảo sát, Tiền Giang hiện có 470 phương tiện khai thác Thuỷ sản xa bờ, 728 phương tiện khai thác gần bờ (Chu Trinh, 2008) Lực lượng khai thác Thủy sản hiện nay gồm có 24 loại nghề đang hoạt động trong lĩnh vực khai thác biển ven bờ với các phương tiện công suất nhỏ hoặc các nghề không đánh bắt xa bờ được: cào te, đáy sông cầu, đáy chạy, đáy rạo, câu mồi, lưới cua; ngư trường ngoài tỉnh với công suất tàu thuyền tương đối lớn (>45CV) và khai thác sông với các phương tiện có công suất động cơ nhỏ (<30CV) hoặc không có động cơ, hay ngư cụ cố định: cào sông, đăng mé, lưới rùng, chài, ao nhữ tôm, câu tôm, chà, lưới rê sông và lợp Đây
là những cơ sở để quy hoạch lại các ngư cụ khai thác của tỉnh (theo Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Tiền Giang 2008) nhằm góp phần bảo vệ nguồn lợi Thủy sản của Tỉnh nói riêng và cả nước nói chung
Qua thống kê về ngư cụ khai thác của Tỉnh có sự gia tăng mạnh về số lượng ngư cụ khai thác đặc biệt là lưới kéo (cào), lưới cố định (đáy, đăng) Đây là những loại nghề khai thác ảnh hưởng không tốt đến nguồn lợi Thủy sản tự nhiên, sát hại nhiều loài
cá, tôm, đồng thời phá hoại môi trường khai thác Các ngư cụ khai thác mang tính chọn lọc: câu, lưới vây lại tăng chậm hơn
Từ những thông tin trên, chiến lược bảo vệ nguồn lợi Thủy sản của Tỉnh Tiền Giang nằm trong chiến lược bảo vệ chung của Bộ Thủy Sản: nhằm ngăn ngừa khai thác bừa bãi, phá hoại nguồn lợi Thủy sản Đồng thời nghiên cứu thả nuôi các giống loài cá, tôm… ra các vùng để làm giàu nguồn lợi Thủy sản, đảm bảo việc khai thác lâu dài và bền vững nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế của ngành Thủy sản Tổ chức lại nghề khai thác, thay đổi về ngư cụ cho hiệu quả, phục hồi lại diện tích rừng ngập mặn, tăng cường công tác khuyến ngư và hỗ trợ thêm nhiều chính sách cho ngư dân
Trang 12Từ những vấn đề trên được sự đồng ý của khoa Thủy Sản - Đại Học Cần Thơ, tôi
thực hiện đề tài: “Điều tra thành phần loài và phân bố tôm họ Penaeidae ở vùng ven biển Tỉnh Tiền Giang” với mục tiêu của đề tài nhằm nắm lại thành phần loài
tôm họ Penaeidae phân bố ở Tiền Giang, trên cơ sở đó đề ra phương hướng bảo vệ
và phát triển nguồn lợi giáp xác nói chung và tôm họ Penaeidae nói riêng
Nội dung đề tài
Khảo sát thành phần giống loài tôm Penaeidea và sự phân bố của chúng ở vùng ven biển Tiền Giang
Khảo sát hiện trạng khai thác Thủy sản, đề xuất giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi Thủy sản
Trang 13CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
(Nguồn http://www.itis.gov ngày 15/03/09)
Theo W.Dall (1990) thì tôm Penaeidae là loài có giá trị kinh tế cao, phân bố rộng khắp thế giới, chúng phân bố ở khu vực biển nhiệt đới và cận nhiệt đới trong vùng đẳng nhiệt tối thiểu 20oC vào mùa đông Ở Việt Nam chúng phân bố dọc ở các bờ biển thuộc Vịnh Bắc Bộ, ven biển miền Trung và vùng biển Nam Bộ Vùng biển Tây và Đông Nam Bộ chiếm trữ lượng lớn (3.983 tấn và 3.383 tấn ở độ sâu <12 m)
và khả năng khai thác cao (1.946 tấn và 1.691 tấn) (Phạm Thược, 2005) Vì vậy tôm Penaeidae trở thành một trong những đối tượng khá quan trọng được nước ta đẩy mạnh công tác nghiên cứu, điều này tạo nền tảng cơ bản, có ý nghĩa đến nuôi trồng đánh bắt, phân loại và phục vụ công tác giảng dạy trong cả nước
1.Nghiên cứu trên thế giới
Tổng họ Penaeiodea gồm 5 họ (Aristeidae, Benthesicymidae, Penaeidae,
Sicyoniidae và Solenoceridae) và khoảng 56 giống với gần 500 loài được tìm thấy
từ khắp các nước trên thế giới (Holthuis 1980, Perez Farfante & Kensley 1997) Điều này nói lên sự phong phú về thành phần giống loài của tôm Penaeiodea, đồng thời có ảnh hưởng sâu sắc đến các công trình nghiên cứu tôm biển sau này
1.1 Khu hệ Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương (Indo-West Pacific)
Đối với khu hệ Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương (Indo-West Pacific) có nhiều công trình cứu của: Alcock (1905, 1906), Kubo (1949), Holthuis (1980), Dall et al
Trang 14(1990) đã nghiên cứu các loài tôm thuộc biển Ấn Độ, Malaysia, Úc, Nhật Bản tạo
ra bước tiền đề để tạo điều kiện cho phân loại cũng như nghiên cứu về tôm Penaeidae phát triển
Về khu hệ tôm cận nhiệt đới với công trình nghiên cứu của Anderson, Lindner (1945), Balss (1957) (trích dẫn bởi Nguyễn Văn Thường, 2004), trong đó tôm họ Penaeidae đã được công bố 33 giống (hơn 320 loài, không kể các dạng hóa thạch) Công trình này có ý nghĩa rất lớn tạo sự khởi đầu cho các nghiên cứu tiếp theo về tôm biển
Isabel Pérez Farfante (1988) đã tìm thấy 4 họ, 12 giống và 37 loài tôm Penaeide ở khu vực châu Mỹ Công trình này ảnh hưởng quan trọng đến các nghiên cứu tiếp theo về phân loại hình thái tôm biển ở khu vực châu Mỹ nói riêng và thế giới nói chung
Pérez Farfante và Kensley (1997) đã công bố công trình nghiên cứu về hình thái học của tôm Penaeoid Điều này có ảnh hưởng rất quan trọng đến tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về họ tôm này
Theo thống kê, họ tôm Penaeidae với khoảng 171 loài thuộc 7 giống (Artemesia, Atypopenaeus, Funchalia, Hetoropenaeus, Macropetasma, Metapenaeopsis, Parapenaeopsis, Metapenaeus, Parapenaeus, Pelagopenaeus, Penaeopsis, Penaeus, Protrachypene, Trachypenaeus, Trachypenaeopsis, Tanypenaeus, Xiphopenaeus) chiếm ưu thế vùng nhiệt đới và á nhiệt đới ( Nguyễn Văn Thường, 2004) Qua đó thấy sự phân bố rộng của các giống loài tôm trong họ này Đồng thời đây còn là tư liệu khảo sát đầy ý nghĩa ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu về họ tôm Penaeidae trong các khu vực trên thế giới
Dall et al (1990) thì có khoảng 125 loài được biết ở vùng biển Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương Điều này tạo cơ sở thống kê, có ảnh hưởng quan trọng đến việc phân loại thành phần loài tôm Penaeid ở trên thế giới
1.2 Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương
Kubo (1949) đã chia họ Penaeidae thành 5 nhóm, đồng thời thiết lập một nghiên cứu hoàn chỉnh về thành phần tôm ở vùng biển Nhật Bản (Kubo 1949 reported by Tin-Yam Chan, 2008) Đây là một công trình có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống định dạng và phân loại tôm Penaeidae
Họ Penaeidae được tìm thấy có 85 loài ở vùng phụ Ấn Độ - Mã Lai trong đó có Việt Nam, Đài Loan, Papua, New Guinea và đảo Solomon (Dall et al, 1990) Từ đây cho thấy sự phong phú về thành phần giống loài tôm Penaeidae ở khu vực này đồng thời
Trang 15còn mở ra những cơ hội cho các nghiên cứu tiếp theo về các giống loài trong họ tôm
này
Lee and Yu (1997) đã tìm thấy 33 loài thuộc 8 giống tôm Penaeidae tại vùng biển
Đài Loan Điều này nói lên sự phân bố rộng rãi của họ tôm này trên thế giới và có
ảnh hưởng quan trọng đến hệ thống phân loại tôm Penaeidea ở Đài Loan nói riêng
và các nước trong khu vực nói chung
Satit Kovitvadhi (1992) đã tìm thấy 35 loài tại 4 tỉnh dọc đường bờ biển phía Đông
Thái Lan thuộc họ Penaeidae Công trình này có ý nghĩa quan trọng, góp phần mở
đường cho những nghiên cứu tôm biển ở Thái Lan, tạo nền tảng vững chắc cho
phân loại tôm biển về sau ở Thái Lan
Nongnud tangkrock-Olan và ctv (2008) đã tìm thấy 44 loài thuộc 11 giống thuộc
họ Penaeidae thuộc các Tỉnh dọc vịnh Thái Lan Điều này nói lên sự phong phú về
giống loài tôm Penaeoidea ở khu vực bờ biển Tây vịnh Thái Lan Nó không những
mở ra nhiều điều kiện thuận lợi cho các công trình nghiên cứu về tôm biển ở Thái
Lan mà còn hưởng đáng kể đến việc phân loại cũng như xác định thành phần loài
tôm Penaeidae ở các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam
Tôm Penaeidae ở các nước nhiệt đới chiếm khoảng 700.000 tấn tôm trên toàn cầu,
có vai trò thương phẩm quan trọng ở các nước châu Âu, châu Mỹ, Nhật Bản và có
một sự đóng góp rất lớn vào nền sản xuất tôm công nghiệp của thế giới (F.A.O,
2001) Họ Penaeidae gồm 26 giống 206 loài đã đóng góp hơn phân nữa sản lượng
tôm sản xuất trên thế giới (FAO, 2001) Vùng biển trung tâm khu vực Tây-Thái
Bình Dương tìm thấy 11 giống 112 loài thuộc họ Penaeid, trong số đó thì Penaeus
đóng vai trò quan trọng với số lượng khá đông, 2 loài quan trọng nhất là Penaeus
monodon và Fenneropenaeus merguiensis (FAO, 2001). Từ đó thấy rằng tôm họ
Penaeidae đóng vai trò quan trọng trong nền sản xuất tôm của các nước trên thế
Trang 1621 Rimapenaeus Pérez Farfante and Kensley, 1997 6
Ở Việt Nam, họ tôm Penaeidae đóng vai trò quan trọng trong nghề nuôi và khai
thác Các loài thường gặp phổ biến như sau:
Bảng 2.2: Thành phần giống loài tôm Penaeidae có giá trị kinh tế phổ biến trên thế
giới và Việt Nam
giới
Việt Nam
Ấn Tây Thái Bình Dương
Độ-Vịnh Bắc Bộ
Miền Trung
Trang 17(Nguồn: Nguồn lợi Thuỷ sản Việt Nam, 1996)
2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Tôm Penaeidae là một trong những loài tôm có giá trị kinh tế cao, đóng vai trò khá quan trọng trong thị trường xuất khẩu và nội địa Với số lượng và thành phần loài phong phú, tôm Penaeidae đã và đang trở thành mặt hàng chủ lực trong lĩnh vực xuất khẩu của nhiều nước Vì vậy công tác nghiên cứu về thành phần và giống loài của họ tôm này đã được tiến hành nghiên cứu từ lâu tại nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam
IV Giống Marsupenaeu
Trang 18Trước 1954
Viện Hải Dương Học Nha Trang 1947 với nội dung nghiên cứu rộng của tàu De Lanessan về nguồn lợi sinh vật biển (Động vật chí Việt Nam, 2001) Nhìn chung công tác nghiên cứu tôm biển nhìn chung vẫn chưa được coi trọng
1954 - 1975
Ở miền Bắc Việt Nam
Vùng biển Việt Nam đã thống kê được 9 giống 59 loài thuộc họ Penaeidae (Nguyễn Văn Chung,1995 và Phạm Ngọc Đẳng,1994 trích dẫn bởi Động vật chí Việt Nam, 2001) Điều này có vai trò hết sức quan trọng góp phần tạo nền tảng cơ bản cho công tác nghiên cứu tôm Penaeidae ở những năm tiếp theo
Ở miền Trung Việt Nam
Nguyễn Văn Thuận và Cao Thị Thanh Hà (2008) đã tìm thấy 33 loài thuộc 7 họ Penaeidae tại vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi gồm Penaeus, Parapenaeus, Parapenaeopsis, Metapenaeus, Metapenaeopsis, Trachypenaeus, Litopenaeus (không gặp ngoài tự nhiên chỉ gặp ở các đầm nuôi) Công trình này không những nói lên sự phong phú về thành phần giống loài tôm Penaeidae phong phú ở khu vực này đồng thời còn mở ra cơ sở khoa học cơ bản, có ý nghĩa quan trọng cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về tôm Penaeidae tại Quảng Ngãi nói riêng và cả nước nói chung
Ở miền Nam Việt Nam
Tổng kết tình hình đánh bắt và sản lượng tôm biển từ Quảng Trị đến Bình Thuận được công bố bởi khảo sát của Nguyễn Cháu và Trần Đệ 1964 ( trích dẫn Trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ quốc gia, 2001) Công trình này có ý nghĩa quan trọng trong việc thống kê phân loại thành phần tôm biển đánh bắt được ở khu vực phía Nam và làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về tôm biển
Từ 1975 về sau
Ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long
Vùng biển Thuận Hải - Minh Hải đã phát hiện 30 loài tôm họ Penaeidae gồm
nhiều loài có giá trị như Penaeus monodon (Tôm sú), Fenneropenaeus merguiensis (thẻ đuôi xanh)…(Nguyễn Văn Chung và ctv, 1985 trích dẫn bởi
Nguyễn Văn Thường, 2004) Điều này không những cho thấy sự phong phú về
Trang 19thành phần tôm Peaneidae ở khu vực vùng biển phía Nam mà còn có ý nghĩa quan trọng đến các nghiên cứu tiếp theo về tôm biển ở vùng Minh Hải
Hà Tuấn Sỹ (1985) đã phát hiện 15 loài tôm họ Penaeidae trong khu hệ Đồng Bằng Sông Cửu Long Nghiên cứu này đã làm cơ sở cho các khảo sát tiếp theo về thành phần giống loài tôm họ Penaeidae ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long Khoa Thủy Sản (1986) với chương trình 60-02 thuộc cấp Nhà Nước đã khảo sát được 15 loài tôm họ Penaeidae tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long Công Trình này không những nói lên sự phong phú về thành phần giống loài Penaeidae tại Đồng Bằng Sông Cửu Long mà góp phần phục vụ cho công tác giảng dạy Thủy sản tại Đại Học Cần Thơ
Thái Trường Giang (1996) đã phát hiện 5 giống tôm thuộc họ Penaeidae (Penaeus, Metapenaeus, Parapenaeopsis, Metapenaeopsis, Trachypenaeopsis) gồm 16 loài tại vùng biển Minh Hải Luận văn này với số loài tìm được tuy còn hạn chế nhưng có ảnh hưởng nhiều cho những khảo sát tiếp theo tại khu vực này
Nguyễn Văn Thường và ctv (1997) đã tìm thấy 5 giống (Penaeus, Metapenaeus, Parapenaeopsis, Trachypenaeus và Metapenaeopsis) với 25 loài tôm họ Penaeidae phân bố ven biển các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long Công trình này có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại giống loài tôm ở khu vực này và đã đóng góp rất lớn đến việc phục vụ công tác giảng dạy chuyên ngành Thủy sản
Vũ Nam Sơn (1997) đã tìm thấy 20 loài tôm họ Penaeidae tại vùng biển tây Minh Hải Số giống loài tìm được trong luận văn này ít hơn so với công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Thường và ctv 2004
Trương Thị Kiều (2005) đã tìm được 23 loài tôm Penaeidea gồm 2 họ Penaeidae (9
giống và 22 loài), Solenoceridae (1 giống với 1 loài duy nhất là Solenocera crassicornis) tại vùng ven biển tỉnh Trà Vinh Luận văn này có giá trị khá quan
trọng cho việc giảng dạy và nghiên cứu để bảo tồn họ tôm này tại vùng ven biển Trà Vinh nói riêng và cả nước nói chung
Dương Duy Phương (2005) đã tìm thấy 8 giống, 19 loài tôm Penaeidae và 1 họ, 1 loài tôm Solenoceridae tại vùng ven biển Cà Mau Luận văn này không những có ý nghĩa thống kê quan trọng về thành phần tôm Penaeidae mà còn góp phần phục vụ cho những nghiên cứu tiếp theo về họ tôm này ở vùng biển Cà Mau
Nguyễn Quốc Trường (2007) đã phát hiện 22 loài thuộc họ tôm He ở vùng ven biển Sóc Trăng - Bạc Liêu, trong đó có loài xuất hiện nhiều nhất là tôm sắt
Trang 20(Parapenaeopsis cultrirostris), giang (Parapenaeopsis gracillima), Parapenaeosis styliferus, tép bạc (Metapeneus tenuipes)…
Phạm Văn Đo (1997) đã tìm thấy 19 loài tôm họ Penaeidae phân bố ở tỉnh Tiền Giang trong đó chỉ cung cấp danh sách 12 loài Công trình này có ý nghĩa quan trọng tạo nền tảng cơ bản cho những nghiên cứu tiếp theo về tôm biển cũng như về bảo tồn nguồn lợi này ở Tiền Giang nói riêng và cả nước nói chung
Bảng 2.3: Thành phần một số loài tôm kinh tế Penaeidae được tìm thấy tại ven
biển Tiền Giang
1 Penaeus indicus H Milne Edwards Tôm thẻ
2 P semisulcatus Dee Haan Tôm sú bông
3 Parapenaeopsis sculptilis Heller Tôm sắt, tôm rằn
6 P gracillima Nobili Tôm vú nàng
11 M brevicornis H Milne Edwards Tôm bạc nghệ
12 M lysianassa De Man Tôm bạc
Biển Tiền Giang thuộc khu hệ biển Đông, nguồn lợi sinh vật biển khá phong phú, nhưng với kết quả khảo sát này của Phạm Văn Đo còn hạn chế, cần phải bổ sung nhiều hơn nữa về thành phần giống loài tôm biển Penaeidae ở Tiền Giang Tuy nhiên công trình này đã tạo một cơ sở quan trọng trong việc xác định thành phần giống loài và số lượng tôm Penaeidae, góp phần quan trọng trong việc phục vụ cho nhu cầu công tác giảng dạy và phương hướng bảo vệ họ tôm này trong tỉnh Tiền Giang nói riêng và cả nước nói chung
II Về phân bố
1 Trên thế giới
Tôm Penaeidae phân bố rộng khắp các nơi trên thế giới ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhưng yếu tố nhiệt độ ảnh hưởng đến sự phân bố của chúng theo vùng vĩ
Trang 21độ Hầu hết các loài sống trong vùng đẳng nhiệt tối thiểu 20oC vào mùa Đông (Dall, 1990) Chúng có số lượng và mật độ phân bố cao ở khu vực Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương (Nguyễn Văn Thường, 2004)
Khu vực phân bố của tôm Penaeoidea được chia thành 4 khu hệ chính: Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương ( trong đó có 9 vùng phụ), Đông Thái Bình Dương (2 vùng phụ), Tây Đại Tây Dương (5 vùng phụ) và Đông Đại Tây Dương (2 vùng phụ) (Briggs,
1947 và Abele, 1982 trích dẫn bởi Nguyễn Văn Thường, 2004) Từ đây cho thấy sự phân bố rộng của các giống loài trong họ tôm này, đồng thời tạo điều kiện dễ dàng
để xác định khu vực phân bố của tôm Penaeoidea
2 Tại Việt Nam
Tôm Penaeidae phân bố khắp các ven biển nước ta như Quảng Ninh, Hà Nam Ninh, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên…đặc biệt là các vùng ven bờ biển phía Đông và Tây Nam Bộ là những bãi tôm lớn (Vũ Trung Tạng, 1997) Điều này nói lên sự phân bố rộng rãi của các giống loài trong họ tôm này, đồng thời có ảnh hưởng sâu sắc đến các quá trình nghiên cứu, phân loại cũng như khai thác tôm biển họ Penaeidae
Qua khảo sát khu vực biển Đông có các bãi tôm chính: Cù Lao Thu, Nam-Đông Nam Vũng Tàu, cửa sông Cửu Long, Đông Nam mũi Cà Mau… đã đóng góp một phần rất lớn vào số lượng thành phần loài tôm Penaeidae của Nam Bộ nói riêng và
cả nước nói chung, góp phần làm phong phú về giống loài tôm He ở Việt Nam Phạm Văn Đo (1997) thì vùng ven biển Tiền Giang và vùng cửa sông là nơi xuất
hiện phong phú nguồn lợi tôm thẻ giống ( Feneropenaeus indicus) vào tháng 8-10
và 4-5 âm lịch Sản lượng khai thác tôm biển họ Penaeidae chiếm khoảng 20% trong tổng sản lượng khai thác biển của Tỉnh Tiền Giang (Phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Gò Công Đông, 2008) Từ đó cho thấy sự phong phú về số lượng tôm Penaeidae ở biển Tiền Giang nói riêng và cả nước nói chung
3 Một số đặc điểm phân bố tôm họ Penaeidae
3.1 Phân bố theo điều kiện sinh thái
Dựa vào điều kiện: chất đáy, độ mặn, độ trong…Đa số các giống loài tôm biển ưa thích nơi có nền đáy bùn, cát bùn hay bùn cát Có thể phân chia thành 2 nhóm chính
sau:
Trang 223.1.1.Nhóm loài cửa sông
Là nhóm tôm có số lượng loài đông nhất, được chia thành 2 nhóm phụ:
Fenneropenaeus indicus (Thẻ đỏ đuôi), F.merguiensis (Thẻ đuôi xanh), Parapenaeopsis hardwickii (Tôm chì), Parapenaeopsis cultrirostris (Tôm sắt), Parapenaeopsis gracillima (Tôm giang), Parapenaeopsis hungerfordi (Tôm gậy), Parapenaeopsis cornuta (Tôm chì), Metapenaeus affinis (Tôm chì), Metapenaeus
tenuipes (Tép bạc), Metapenaeus brevicornis (Tép bạc nghệ)
3.2 Phân bố theo độ sâu
3.2.1 Nhóm phân bố biển nông
Có số lượng loài đông nhất, bao gồm những loài sống chủ yếu ở độ sâu dưới 50 m Hầu hết các loài có giá trị kinh tế đều tập trung ở nhóm này, tiêu biểu gồm có các
loài: Fenneropenaeus merguiensis (Thẻ đuôi xanh), Fenneropenaeus indicus (Thẻ
đỏ đuôi), Penaeus semisulcatus (Tôm rằn), Penaeus monodon (Tôm sú), Metapenaeus ensis (Tôm đất), Metapenaeus brevicornis (Tép bạc nghệ), Metapenaeus affinis (Tôm chì), Parapenaeopsis hardwickii (Tôm chì), Parapenaeopsis hungerfordi (Tôm gậy), Parapenaeopsis cultrirostris (Tôm sắt), Parapenaeopsis gracillima (Tôm giang), Parapenaeopsis cornuta (Tôm chì), Parapenaeopsis maxillipedo (Tôm choáng sắt)…
Trang 233.2.2 Nhóm phân bố rộng
Nhóm phụ gần bờ
Đây là nhóm quan trọng thứ hai, bao gồm các loài có phạm vi rộng độ sâu từ bờ
đến 200 m, gồm những loài thích nghi độ sâu từ bờ đến 100 m, có giá trị kinh tế và
quan trọng cho xuất khẩu như: Marsupenaeus japonicus (Tôm He), Melicertus canaculitus, Metapenaeopsis palmensis (Tôm gậy đá), Metapenaeopsis barbata (Tôm gậy), Metapenaeopsis toloensis (Tôm chì), Megokris pescadoreensis (Tôm
đanh vòng)
Nhóm phụ xa bờ
Bao gồm những loài sống ở độ sâu 40-50 m lên đến 200-300 m
)Như vậy từ trước đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về phân loại và phân bố tôm biển nói chung và họ Penaeidae nói riêng, điều này đóng góp một vai trò hết sức quan trọng trong việc phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy ở các trường Đại học trong cả nước Tuy nhiên ngoài tôm biển thì các đối tượng giáp xác khác chưa thật sự được chú trọng, có quá ít tài liệu nghiên cứu lẫn giảng dạy Điều này làm kém phần phong phú hệ sinh thái động vật giáp xác hiện có ở biển Việt Nam
Nhìn chung số lượng thành phần loài cũng như sự phân bố của tôm He nói chung
và họ Penaeidae nói riêng khá đa dạng Điều này chứng tỏ tiềm năng nuôi trồng và
khai thác của thủy sản Việt Nam là rất lớn Qua đó cần phải có nhiều biện pháp hơn nữa để bảo tồn và phát triển nguồn lợi Thủy sản theo xu hướng bền vững chung trong xu thế hội nhập và phát triển của cả nước nói chung và Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng trong đó có tỉnh Tiền Giang
4 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Tiền Giang
4.1 Vị trí
Nằm ở tả ngạn sông Tiền, giáp với biển Đông, chiều dài sông Tiền chảy qua địa phận Tiền Giang là 103 km, có chiều dài bờ biển Đông là 32 km Phía Đông giáp biển Đông, Tây giáp Đồng Tháp, Nam giáp Bến Tre, Vĩnh Long, Bắc giáp Long
An, Thành Phố Hồ Chí Minh
Nhìn chung về vị trí địa lí, Tiền Giang có nhiều cơ hội để phát triển cả về giao thông đường thủy lẫn đường bộ, song song đó lại nằm trên cửa ngõ vào các tỉnh
Trang 24miền Tây giao lưu một lượng lớn hàng nông sản, thủy sản hàng hóa cả miền Tây với Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam Bộ
4.2.Địa hình – Địa chất
Tiền Giang có địa hình bằng phẳng, với độ dốc <1% và cao trình biến thiên từ 0-16
m Điều đáng kể là toàn bộ Tỉnh nằm trong vùng hạ lưu châu thổ Sông Cửu Long,
bề mặt tạo nên bởi sự lắng đọng phù sa trong giai đoạn biến thoái từ đại Holoxen trung, khoảng 5.000 - 4.500 năm trở lại đây (Sở Địa Chính và Khoa Học Môi Trường Tiền Giang, 2008)
Trong đó, tổng diện tích nuôi thủy sản (lợ, mặn, ngọt) của Tiền Giang là 12.881,15
ha, trong đó diện tích nuôi nước ngọt (cá tra, tôm càng xanh…) là 6.113,81 ha và nuôi mặn lợ (tôm sú, thẻ chân trắng…) chiếm 6.767,34 ha (Sở Khoa Học và Công Nghệ Môi Trường Tiền Giang 2008)
4.3.Tiềm năng mặt nước, tài nguyên thủy sản và chế độ khí hậu - thủy văn
4.3.1.Tiềm năng mặt nước và tài nguyên thủy sản
Tiềm năng mặt nước
Vùng biển Tiền Giang là ngư trường khai thác chính của nghề khai thác nhỏ của ngư dân không những từ tỉnh Tiền Giang mà còn các tỉnh lân cận: Bến Tre, Vũng Tàu…
Tổng diện tích mặt nước sông và kinh rạch là 23.394 ha (10% diện tích chung toàn tỉnh) Vùng đất ngập nước ven biển có tổng diện tích là 6.063 ha (rừng ngập mặn, rừng phòng hộ và các ao đầm tự nhiên hoặc đào đắp để nuôi trồng thủy sản)
Tài nguyên thủy sản
Sản lượng tôm, cá tại vùng biển Tiền Giang khá phong phú đã điều tra được 661 loài, 319 giống thuộc 138 họ cá biển, cùng với nhiều loài tôm có giá trị kinh tế như
Fenneropenaeus merguiensis (Thẻ đuôi xanh), Fenneropenaeus indicus (Thẻ đỏ
Trang 25đuôi), Penaeus semisulcatus (Tôm rằn), Metapenaeus brevicornis (Tép bạc nghệ)…và một số loài tôm hùm (Palinuridae), tôm rồng (Homaridae) cùng nhiều
loài cua, ghẹ có giá trị kinh tế cao, tập trung nhiều ở khu vực thềm và các đảo ven bờ Riêng mực có 03 họ có giá trị quan trọng là họ mực nang (10 loài), họ mực ống (10
loài) và họ mực sim (03 loài) (Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2008)
Ngoài ra, Tiền Giang còn có nguồn nghêu giống (sản lượng cao nhất khoảng 200-
300 tấn/ năm) đã đáp ứng một phần nhu cầu con giống cho vùng nuôi nghêu thịt với khoảng 1.800 ha cồn bãi ven biển (có sản lượng từ 15 - 20 ngàn tấn/ năm) Điều này nói lên sự phong phú về nguồn tài nguyên Thủy sản ở Tiền Giang
(Nguyễn Hữu Chí, 2008)
4.3.2.Chế độ khí hậu
Khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nền nhiệt cao và ổn định quanh năm, gồm 2 mùa: mùa mưa từ tháng 5-11(dương lịch), mùa khô từ tháng 12-4 (dương lịch) trùng với gió mùa Đông Bắc
Nhiệt độ trung bình trong năm là 28oC, tổng tích ôn năm cao (9.700-9.800oC) Độ
ẩm bình quân năm là 78,4% thay đổi theo mùa, cực đại vào tháng 8 (82,5%), cực tiểu vào tháng 4 (74,1%) (Sở Địa Chính và Khoa Học Môi Trường Tiền Giang 2008)
4.3.3.Chế độ thủy văn
Chia làm 3 vùng
Vùng Đồng Tháp Mười: diện tích ngập lũ khoảng 120.000 ha, độ sâu biến thiên từ
0,4-1,8 m Nước thường bị nhiễm phèn trong thời kỳ đầu đến giữa mùa mưa, bên cạnh đó nước mặn cũng xâm nhập từ sông Vàm Cỏ với độ mặn khoảng 2-4%
Vùng ngọt giữa Đồng Tháp Mười và Gò Công: chịu ảnh hưởng lụt nhẹ theo con
triều chất nước tốt
Vùng Gò Công: thường nhiễm mặn từ 1,5 tháng đến 7 tháng tùy vào vị trí cửa lấy
nước, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chế độ bán nhật triều biển Đông Nước mặn xâm nhập theo 2 sông cửa Tiểu và sông Vàm Cỏ, trong năm chỉ có 4 tháng nước ngọt,
độ mặn cao hơn sông Tiền từ 2-7 lần
Trang 26Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Tiền Giang
Nguồn: (Nguồn: http://www.longan.gov.vn)
Vùng Gò Công
Vùng Đồng
Tháp Mười
Vùng ngọt giữa Đồng Tháp Mười và Gò Công
Trang 27PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I Nội dung
1.1 Nghiên cứu thành phần loài tôm hiện có ở vùng biển Tiền Giang với các dụng cụ được chuẩn bị như sau
Mẫu vật thu: tôm biển
Hóa chất: Formol 10% và các dụng cụ phục vụ phân tích mẫu: thùng trữ mẫu, thước (thước dây, thước đo), khay nhựa, găng tay, khẩu trang
1.2 Điều tra đặc điểm phân bố tôm họ Penaeidae ở vùng ven biển tỉnh Tiền Giang
Phỏng vấn ngư dân tại hiện trường khai thác và điều tra thành phần loài (số lượng mẫu thu tùy thuộc vào số lượng loài đó hiện diện tại hiện trường thu mẫu), ngư trường đánh bắt tôm qua phỏng vấn chủ phương tiện khai thác (số lần phỏng vấn tùy thuộc vào sự hợp tác của người được phỏng vấn) Các thông số khảo sát: điều kiện sinh thái, độ sâu (cửa sông, ven bờ, tàu vùng biển xa bờ), ngư trường khai thác tại cả 3 điểm thu: Vàm Láng, Đèn Đỏ, Rạch Bùn
II Phương pháp nghiên cứu
1 Địa điểm thu mẫu
Địa điểm 1: Cảng cá Vàm Láng (Ấp chợ-xã Vàm Láng-Gò Công Đông-Tiền Giang) Địa điểm 2: Cảng cá Đèn Đỏ (Ấp chợ-xã Tân Thành-Gò Công Đông-Tiền Giang) Địa điểm 3: Cửa Rạch Bùn (Tân Thành-Gò Công Đông-Tiền Giang)
Trang 281: Cảng Vàm Láng
2: Cửa Rạch Bùn
3: Cảng Đèn Đỏ
2 Thời gian khảo sát
Chia thành 5 đợt từ 12/08-04/09, mẫu thu theo chu kỳ 1 tháng 1 lần từ tháng 12
3 Phương pháp thu xử lí và bảo quản mẫu
3.1 Phương pháp thu và cách phỏng vấn
Thu theo con nước: số lượng mẫu tuỳ thuộc vào sự hiện diện của loài đó tại địa điểm khảo sát và thu cả 2 con nước: nước kém (mùng 7,8,9, 23-27 âm lịch) và nước cường (17-22, 30 đến mùng 6 âm lịch hàng tháng) Thu trực tiếp tại cảng sau khi ghe tàu đánh bắt cập cảng
Phỏng vấn trực tiếp tài công để nắm được tình hình và địa điểm phương tiện khai thác để xác định khu vực phân bố của chúng (dựa theo phiếu phỏng vấn đã soạn sẵn
và không quy định số lượng phiếu phỏng vấn cho từng người)
3.2 Xử lí và bảo quản mẫu
Rửa sạch mẫu sau khi thu xong
Hình 3.1: Bản đồ hành chính Tỉnh Tiền Giang
(Nguồn: http://www.longan.gov.vn)
Vùng Gò Công
Vùng Đồng
Tháp Mười
Vùng ngọt giữa Đồng Tháp Mười và Gò Công
3
2
1
Trang 29Cố định mẫu bằng formol, ghi nhãn cẩn thận Sau đó đem về phân tích mẫu tại Khoa Thủy Sản - Đại Học Cần Thơ
4 Phân tích mẫu
4.1 Xác định thành phần loài dựa trên các chỉ tiêu
Công thức răng chủy: CR=Răng trên chủy/Răng dưới chủy
Hình dạng chủy
Rãnh và gai trên vỏ đầu ngực
Hình dạng của Thelycum và Petasma
Hình dạng, kích thước và màu sắc khi vừa thu mẫu
Phân tích số liệu dựa vào chương trình Excel
Dựa trên các tài liệu phân loại định danh đã có
Nguyễn Văn Thường, 2004 Hình thái và phân loại giáp xác-Khoa Thủy Sản-Đại Học Cần Thơ 2004, 161 trang
Trung tâm khoa học và công nghệ quốc gia Động vật chí Việt Nam Tôm Biển Tập 1 Nhà xuất bản Khoa học Kỹ Thuật, 2001, 254 trang
-4.2 Xác định đặc điểm phân bố dựa trên các chỉ tiêu hình thái
Phỏng vấn trực tiếp tài công trên các phương tiện đánh bắt
Xác định tình hình khai thác
Thu thập số liệu từ Chi Cục Thủy Sản, Trạm Bảo Vệ Nguồn lợi, Ban Quản Lí Cảng
Cá, Phòng Thủy Sản từ năm 2000 đến nay
Trang 30PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN I.Kết quả khảo sát thành phần giống loài Tôm họ Penaeidae ở vùng ven biển
Tỉnh Tiền Giang
Thành phần loài tôm họ Penaeidea thu được tại ven biển Tỉnh Tiền Giang
Qua 5 đợt khảo sát tại 3 điểm (Vàm Láng, Rạch Bùn, Đèn Đỏ) dọc theo đường bờ
biển thuộc Tỉnh Tiền Giang kết quả thu được 21 loài tôm biển với 8 giống
(Penaeus, Fenneropenaeus, Marsupenaeus, Metapenaeus, Parapenaeopsis,
Metapenaeopsis, Trachysalambria, Megokris) thuộc họ Penaeidae Kết quả khảo
sát cho thấy thành phần giống loài tôm biển thuộc họ Penaeidae ở vùng biển Tiền
Giang khá phong phú
Bảng 4.1: Thành phần loài tôm Penaeidae tại vùng ven biển Tiền Giang
Tên địa phương Đợt
1 2 3 4 5
I Giống Penaeus
2 P.semisulcatus De Haan,1850 Tôm sú rằn - + - + -
II Giống Fenneropenaeus
3 F indicus H.Milne Edwards,1837 Tôm Thẻ đỏ đuôi + + + + +
4 F.merguiensis de Man,1888 Tôm Thẻ đuôi xanh + + + + +
III Giống Marsupenaeus
5 Marsupenaeus japonicus Bate,1888 Tôm He Nhật Bản - - + + +
IV Giống Metapenaeus
6 M affinis H.Milne.Edwards,1837 Tôm chì + + + + +
8 M.brevicornis H.M.Edwards,1888 Tép bạc + + + + +
V Giống Parapenaeopsis
11 P cornuta Kishinouye,1900 Tôm chì - - + + +
14 P.gracillima Nobili,1903 Tôm giang + + + + +
15 P.maxillipedo Alcock,1905 Tôm choáng sắt - - + + +
16 P.cultrirostris Alcock,1906 Tôm sắt gộc + + + + +
VI Giống Metapenaeopsis
Trang 3118 M.dura Kubo, 1949 Tôm gậy đá - - + + +
VII Giống Trachysalambria
19 T curvirostris Stimpson, 1860 Tôm gậy đá - - + - -
VIII Giống Megokris
20 M.pescadoreensis Schmitt,1931 Tôm đanh vòng - - - + +
21 M.sedili Hall,1961 Tôm đanh vòng - - - + +
Nhận xét
Số lượng loài thu được 21 loài Điều này thể hiện sự phong phú về thành phần loài
tôm Penaeidae ở khu vực biển Đông Qua đó cho thấy tiềm năng phong phú về số
lượng cũng như sản lượng tôm Penaeidae khu vực Tiền Giang
Kết quả khảo sát hơn 2 loài so với công bố của Phạm Văn Đo, 1997 (19 loài tôm
họ Penaeidae)
II Mô tả các giống loài tôm họ Penaeidae thu được
II.1 Giống Penaeus Fabricius,1798
Đặc điểm chung
Là loài tôm có giá trị kinh tế cao
Phân bố trong các thủy vực giới hạn từ 40o vĩ bắc đến 40o vĩ Nam, thường
xuất hiện ở vùng ven biển nước lợ, cửa sông
Cạnh trên và cạnh dưới chủy đều có răng
Carapace có nhiều gờ rãnh
Loài 1: Penaeus monodon Fabricus, 1798 (Tôm sú) Các đồng danh
Penaeus monodon Fabricus, 1798; Latreille, 1803; H.Milne Edwards 1837;
Bate, 1881; Miers, 1884; Kubo, 1949; Dall, 1957; Hall, 1969
Penaeus carinatus Dana, 1852; Kemp, 1918
Penaeus tahiensis Heller, 1862
Penaeus semisulcatus exsulcatus Higeldor, 1879
Penaeus bubulus Kubo, 1949
Penaeus mondon monodon Burkenroad, 1959
Penaeus (Penaeus) monodon Hothuis, 1980; Nguyen Van Chung, 1995
Trang 32Tên theo F.A.O: Giant tiger prawn
Tên địa phương: tôm sú bông
Chân ngực V không có nhánh ngoài,
Màu sắc: từ màu đỏ đến đỏ tối, chân bụng màu nâu đến xanh, rìa của chân
đuôi có lông tơ màu đỏ tía
Kích thước
Tối đa 33,6 cm ở con đực (theo http://www.sealifebase.gov ngày 25/04/09)
Mẫu thu: con đực 20,0 - 25,6 cm; con cái 24,1 cm
Số mẫu thu: 10
Môi trường sống
Hình 4.1 Loài 1: Penaeus monodon Fabricus,1798 (Tôm sú)
Trang 33Ở độ sâu 0-162 m, sống nơi có đáy cát bùn, bùn hay cát, độ trong, độ mặn cao và ổn định Giai đoạn Juvennile sống vùng cửa sông nước cạn, con trưởng thành sống sâu hơn
Ngư trường khai thác: ven bờ 7-30 m, bãi sông cửa Tiểu
Ngư cụ khai thác: lưới cào tôm, lưới ghe đáy chạy, lưới đóng đáy
Sinh sản kéo dài quanh năm, điều kiện sinh sản thích hợp là 26-32oC
Giai đoạn ấu trùng thường sống ở vùng cửa sông ven bờ, khi trưởng thành di
cư ra khơi xa để đẻ trứng
Tầm quan trọng đối với nghề Thủy sản
Đối với nghề khai thác: đây là loài tôm có kích thước lớn nhất trong họ tôm biển Penaeidae thu được tại Tiền Giang đồng thời là một trong những đối tượng có giá trị kinh tế cao trong xuất khẩu
Đối về nghề nuôi trồng: đây là loài có vai trò quan trọng được nuôi phổ biến trong các đầm nuôi thuộc các xã ven biển thuộc huyện Gò Công Đông: Vàm Láng, Gia Thuận, Phước Trung, Tân Thành, Tân Điền, Phú Tân, Phú Đông, Bà Tiên, Bà
Từ, Gia Thuận…Sản lượng thu hoạch năm 2008 là 2.371 tấn, năng suất bình quân
5 tấn/ha mặt nước (Nguyễn Hữu Chí, 2008)
Loài 2: Loài Penaeus semisulcatus De Haan, 1844 (Tôm rằn)
Trang 34Các đồng danh
Penaeus semisulcatus De Haan, 1850; De Man, 1991, Barnard, 1950,
Racek,1955; Dall, 1957; Hall, 1962; de Bruin, 1965; Nguyen Van Chung, 1971; Starobogatov, 1972
Penaeus ashiaka Kishinouye, 1990
Penaeus semisulcatus pausidenlatus Parisi, 1919
Penaeus monodon manillensis Villaluz; Arriola, 1938
Penaeus (Penaeus) semisulcatus Hothuis, 1980; Nguyen Van Chung, 1995
Tên địa phương: tôm rằn, tôm sú rằn
Tên theo F.A.O: Green tiger prawn
Đặc điểm nhận dạng
CR=9
2, nhánh râu A1 ngắn hơn cuống râu
Carapace và bụng trơn nhẵn nhụi
Ngư trường khai thác: ven bờ 7-30 m, bãi sông cửa Tiểu
Ngư cụ khai thác: lưới cào, lưới đóng đáy, lưới đáy chạy
Phân bố
Trên thế giới: Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương, Đông – Đông Nam Châu Phi,
từ Hồng Hải đến Nhật, Triều Tiên, Malaysia, Inđonesia đến Bắc Australia,
Trang 35Philipines, Malay Archipelago, Đông Đại Tây Dương, Ai Cập và Việt Nam (Holthuis, L.B, 1980)
Mùa sinh sản kéo dài tập trung từ tháng 1-7
Giai đoạn Juvennile sống vùng cửa sông nước cạn, con trưởng thành sống sâu hơn
Tầm quan trọng đối với nghề Thủy sản
Đối với nghề khai thác: đây là loài tôm có giá trị kinh tế được khai thác ở Tỉnh, tuy nhiên số lượng rất ít
Hình 4.2: Loài 2: Penaeus semisulcatus De Haan, 1844 (Tôm rằn)
Trang 36Đối với nghề nuôi trồng: chỉ được khai thác, chưa được nuôi do nhiều nguyên nhân khác nhau do không phải là đối tượng nuôi truyền thống của các xã vùng ven biển Tỉnh Tiền Giang và loài này đa số có kích cỡ nhỏ không thích hợp cho nuôi thương phẩm chỉ phù hợp với khai thác
II.2 Giống Fenneropenaeus Pérez Farfante, 1969
Đặc điểm chung
Là loài tôm có giá trị kinh tế cao
Phân bố trong các thủy vực giới hạn từ 40o vĩ bắc đến 40o vĩ Nam, thường xuất hiện ở vùng ven biển nước lợ, cửa sông
Cạnh trên và cạnh dưới chủy đều có răng
Carapace có nhiều gờ rãnh
Loài 3: Loài Fenneropenaeus indicus H Milne Edwards, 1837 (Tôm Thẻ)
Các đồng danh
Penaeus indicus H Milne Edwards, 1837; Dana 1852; Heller 1865; Miers,
1878; Lanchester, 1900; Alcock, 1906; Yu,1935; Blanco, 1937; Kubo, 1949; Barnard, 1950; Starobogatov, 1972
Palaemon longicornis Oliver, 1825
Penaeus tahiensis Heller, 1862
Penaeusindicus longirostrid Deman, 1892
Penaeus indicus Schmitt, 1926; Boone, 1939
Penaeus (Fenneropenaeus) indicus Hothuis, 1980
Tên theo F.A.O: Indian white prawn
Trang 37Tên địa phương: Tôm thẻ đỏ đuôi, Thẻ trắng Ấn Độ
8
7 , chủy dạng sigma vượt quá mắt, ngọn chủy thấp
Con đực trưởng thành chân hàm 3 dạng bình thường
Màu sắc: khi còn sống giống như loài Fenneropenaeus merguiensis nhưng
xám hơn và xanh hơn, trắng trong điểm những sắc tố xanh đen lục nhạt
Kích thước
Tối đa 18,4 cm ở con đực; con cái: 22,8 cm (theo
http://www.sealifebase.gov ngày 25/04/09)
Mẫu thu: Con đực: 6,7-14,6 cm; con cái: 8,5-16,2cm
Số lượng mẫu thu: 30
Môi trường sống
Hình 4.3: Loài 3: Fenneropenaeus indicus H Milne Edwards, 1837 (Tôm thẻ
đỏ đuôi)
Trang 38Ở độ sâu 2-90 m hay sâu hơn, sống nơi có đáy bùn hay cát, vùng cửa sông hay giáp cửa sông
Ngư trường khai thác: ven bờ 7-30 m, bãi sông cửa Tiểu
Ngư cụ khai thác: lưới cào, lưới đóng đáy, lưới đáy chạy
Phân bố
Trên thế giới: Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương, Đông – Đông Nam Châu Phi đến Nam Trung Quốc, Malaysia và Indonesia đến New Guinea, Bắc Australia và Việt Nam (Holthuis, L.B, 1980)
Việt Nam
Đồng Bằng Sông Cửu Long: phân bố chủ yếu ở Nam Bộ: sông cửa lớn, ông Trang, Bảy Háp, sông ông Đốc, Khánh Hội, Kim Qui, Xẻo Nhàu, Hòn Chông…(Nguyễn Văn Thường, 2004)
Tiền Giang: sống trong các vùng cửa sông nước lợ, mặn Tìm thấy ở Vàm Láng, Rạch Bùn, Đèn Đỏ
Đặc điểm sinh học
Sống vùng biển với nền đáy bùn cát hay cát bùn, độ sâu từ 2-90 m
Mùa vụ sinh sản kéo dài, tập trung vào tháng 3-7 âm lịch
Giai đoạn hậu ấu trùng và tôm giống thường sống vùng ven bờ, cửa sông, giai đoạn trưởng thành thường sống vùng biển khơi
Tầm quan trọng đối với thủy sản
Đối với nghề khai thác: đây là một trong những loài tôm có kích thước lớn trong họ tôm biển Penaeidae thu được tại Tiền Giang đồng thời là một trong những đối tượng có giá trị kinh tế cao được tìm thấy với số lượng phong phú tại các vùng cửa sông ven biển của Tỉnh
Đối với nghề nuôi trồng: tuy có giá trị kinh tế cao nhưng hầu như vẫn chưa được nuôi phổ biến do không phải là đối tượng nuôi truyền thống của các xã vùng ven biển Tỉnh Tiền Giang và khả năng chịu đựng với môi trường không cao
Loài 4: Loài Fenneropenaeus merguiensis De Man, 1888 (Thẻ đuôi xanh)
Trang 39Các đồng danh
Penaeus merguiensis De Man, 1888; Kubo, 1949; Barnard, 1950; Dall, 1957; Hall, 1956, 1962; Nguyen Van Chung, 1971; Starobogatov, 1972
Penaeusindicus Bate, 1888; De Man, 1892; Hederson, 1893
Penaeu indicus merguiensis De Man, 1882; Alcock, 1905; Rathbun, 1908
Penaeus (Fenneropenaeus) merguiensis Hothuis, 1980; Nguyen Van Chung,
1995
Tên theo F.A.O: Banana prawn
Tên địa phương: tôm thẻ đuôi xanh, tôm He mùa, Bạc gân
87, chủy thẳng, vượt quá mắt, ngọn chủy nhô cao dạng tam giác
Con đực trưởng thành chân hàm 3 dạng chẻ đôi
Màu sắc: khi còn sống có màu kem sang hồng, đôi khi trắng có những chấm sắc tố lốm đốm màu nâu và lục đỏ xen kẻ Chân ngực và bụng màu vàng thỉnh thoảng có màu nâu
Hình 4.4: Loài 4: Fenneropenaeus merguiensis De Man, 1888 ( tôm Thẻ đuôi xanh)
Trang 40Ngư trường khai thác: ven bờ 7-30 m, bãi sông cửa Tiểu
Ngư cụ khai thác: lưới cào tôm, lưới đóng đáy, lưới đáy chạy
Tầm quan trọng đối với thủy sản
Đối với nghề khai thác: đây là một trong những loài tôm có kích thước lớn
trong họ tôm biển Penaeidae thu được tại Tiền Giang đồng thời là một trong những đối tượng có giá trị kinh tế cao được tìm thấy với số lượng phong phú tại các vùng cửa sông ven biển của Tỉnh, mùa vụ khai thác quanh năm