Bên cạnh những loài cá nuôi phổ biến hiện nay, cá lóc Channa striata là loài cá đang được quan tâm... 2.2 Một số bệnh thường gặp trong nuôi cá Lóc Theo Từ Thanh Dung 2005 cá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
PHAN TRỌNG HIẾU
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG VÀ THỰC NGHIỆM NUÔI CÁ
LÓC (Channa striata Block, 1793) TRONG BỀ LÓT BA ̣T
Ở TỈNH BẠC LIÊU
LUẬN VĂN TỐT NGHIÊ ̣P ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
PHAN TRỌNG HIẾU
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG VÀ THỰC NGHIỆM NUÔI CÁ
LÓC (Channa striata Block, 1793) TRONG BỂ LÓT BA ̣T
Ở TỈNH BẠC LIÊU
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGS.TS DƯƠNG NHỰT LONG THS NGUYỄN THANH HIỆU
2012
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Qua thời gian h ọc tập và th ực hiện luận văn tốt nghiệp , tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành đến:
Ban giám hiê ̣u , Ban chủ nhiê ̣m khoa Thuỷ Sản tr ường Đại Học Cần Th ơ đã tạo điều kiê ̣n cho tôi ho ̣c tâ ̣p và nghiên cứu tại trường
Xin chân thành cảm ơn PGS TS Dương Nhựt Long và Ths Nguyễn Thanh Hiê ̣u đã tâ ̣n tình hướng dẫn , giúp đỡ và cho nhiều ý kiến quý báo trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn đền chính quyền cũng như người dân ở xã Ninh Quới , huyê ̣n Hồng Dân , tỉnh Bạc Liêu đã tạo điều kiện cũng như phối hợp chặt chẽ để tôi hoàn thành tốt đề tài
Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả ba ̣n bè đã giúp đỡ cũng như đô ̣ng viên tôi trong suốt thời gian ho ̣c tâ ̣p cũng như hoàn thành luâ ̣n văn
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến gia đình và người thân đã ta ̣o điều kiê ̣n rất lớn về vâ ̣t chất cũng như tinh thần để tôi hoàn thành khoá học này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4TÓM TẮT
Thực nghiê ̣m nuôi cá lóc trên bể lót ba ̣t là mô hình mới đối với người dân ở xã Ninh Quới , huyê ̣n Hồng Dân , tỉnh Bạc Liêu Mô hình nhằm mu ̣c đích giúp người dân tâ ̣n du ̣ ng diê ̣n tích đất có ở gia đình để nuôi cá trong mùa nước lũ , đồng thời giúp thêm thu nhâ ̣p
Cá lóc được nuôi trong bể lót bạt diện tích 15 m2
, mật đô ̣ thả 100 (con/m2
) được bố trí cho bốn hô ̣ dân Thức ăn cho cá lóc ăn là cá tạp hay ốc bưu vàng , sau 4 tháng nuôi thì thu hoạch Trong lươ ̣ng trung bình 300 (g/con), tỉ lệ sống đạt trên 50%, FCR 3,76, năng suất đạt 15,25 (kg/m2
) Lợi nhuâ ̣n của mô hình tương đối thấp sau 1 vụ nuôi thì lời khoảng 500 – 700 (nghìn đồng) nhưng đây là mô hình đang đươ ̣c khuyến khích nuôi vì nó thân thiê ̣n không gây ô nhiễm môi trường Điều tra hiê ̣n tra ̣ng mô hình nuôi cá lóc trong vèo đă ̣t dưới sông Điều tra 30 hô ̣ nuôi tâ ̣p trung ở các ấp thuô ̣c xã Ninh Q uới, huyê ̣n Hồng Dân , tỉnh Bạc Liêu Điều tra mô ̣t số thông tin chung về nông hô ̣ như tên chủ hô ̣ , đô ̣ tuổi, diê ̣n tích nuôi, mật đô ̣ thả , loại thức ăn cho ăn , tỉ lệ sống , năng suất , khối lượng trung bình, FCR Sau khi thống kê và sử lý số liệu ta được một số kết quả đáng quan tâm Diện tích nuôi trung bình 15 m2, mật đô ̣ thả trung bình 1833 (con/vèo) thức
ăn là cá ta ̣p hay ốc bưu vàng , FCR 4,15, sau 4 tháng nuôi khối lượng trung bình
320 (g/con), tỉ lệ số ng 40,02 %, năng suất trung bình (15 kg/m2) Mô hình này không đươ ̣c khuyến khích nuôi vì lợi nhuâ ̣n thấp
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Bể nuôi cá lóc 11
Hình 3.2: Dụng cụ đo các chỉ tiêu môi trường 13
Hình 4.1: Vèo nuôi cá lóc 15
Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện sự biến động nhiệt độ 20
Hình 4.3: Sự biến động hàm lượng oxy 21
Hình 4.4: Biến động pH 22
Hình 4.5: Biến động N – NH4+ 22
Hình 4.6: Tăng trưởng của cá lóc ở 4 hô ̣ nuôi qua các lần thu mẫu 25
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Bố trí cá nuôi cho các hô ̣……….11 Bảng 4.1: Bảng số liệu các chỉ số về mật độ thả, kích cở, quản lý thức ăn, quản lý nguồn nước và quản lý bệnh………16 Bảng 4.2: Các chỉ số về khối lượng trung bình, tỉ lệ sống, năng suất, FCR……17 Bảng 4.3: Hoạch toán kinh tế mô hình nuôi trong vèo đặt dưới sông………….19 Bảng 4.4: Các yếu tố môi trường trong 4 bể nuôi ở 4 hộ qua các lần thu…… 20 Bảng 4.5: Tăng trưởng cá nuôi ở 4 hô ̣ qua các lần thu mẫu………24 Bảng 4.6: Tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá lóc qua các lần thu… 26 Bảng 4.7: Năng suất, tỉ lệ sống, FCR……… 26 Bảng 4.8: Hiệu quả mô hình nuôi của các hộ……… 28
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ………i
TÓM TẮT……… ii
DANH MỤC HÌNH……… iii
DANH MỤC BẢNG………iv
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ ………1
1.1 Giới thiệu ……… 1
1.2 Mục tiêu của đề tài……… 2
1.3 Nội dung của đề tài……… 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU………3
2.1 Đặc điểm sinh học….……… 3
2.1.1 Đặc điểm phân loại 3
2.1.2 Đặc điểm phân bố 3
2.1.3 Đặc điểm hình thái 3
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 4
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 4
2.1.6 Đặc điểm sinh sản 5
2.2 Một số bệnh thường gặp trong nuôi cá Lóc……….5
2.3 Tình hình nghiên cứu về cá lóc ……….6
2.3.1 Tình hình phát triển loài cá lóc 6
2.3.1.1 Nuôi cá lóc thương phẩm ……….7
2.3.1.2 Về thu mua và tiêu thụ ……….7
2.4 Tình hình sử dụng cá tạp làm thức ăn trong nuôi cá lóc ………8
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……….9
3.1 Vật liệu nghiên cứu ……… 9
3.2 Phương pháp nghiên cứu……….9
3.2.1 Chọn địa điểm điều tra……… 9
3.2.2 Bố trí thực nghiệm nuôi cá lóc ở xã Ninh Quới, huyê ̣n Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu 10
3.3 Phương pháp thu và phân tích mẫu……… 12
3.3.1 Phương pháp thu mẫu 12
3.3.2 Phương pháp phân tích mẫu 12
3.3.2.1 Phương pháp điều tra……… 12
3.3.2.2 Phương pháp phân tích mẫu bố trí nuôi thực nghiệm………… 12
3.3.2.3 Các chỉ số tính……… 13
3.4 Phương pháp xử lý số liệu……….14
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN……… 15
4.1 Điều tra hiện trạng nuôi cá lóc trong vèo đặt dưới sông ……… 15
4.1.1 Thông tin chung về nông hộ 15
4.1.2 Kỷ thuật 15
Trang 84.1.2.1 Thiết kế vèo……… 15
4.1.2.2 Quy trình nuôi……… 16
4.1.3 Các chỉ số và hiệu quả kinh tế 17
4.1.3.1 Các chỉ số về khối lượng trung bình, tỉ lệ sống, năng suất, FCR.17 4.1.3.2 Hiệu quả kinh tế……… 19
4.2 Kết quả nuôi thự nghiệm………20
4.2.1 Biến động mô ̣t số yếu tố môi trường……… 20
4.2.2 Yếu tố nhiệt đô ̣ (0c) 20
4.2.3 Biến động hàm lượng oxy hoà tan trong nước (mg/l) 21
4.2.4 Biến động pH 22
4.2.5 Sự biến đô ̣ng hàm lượng N – NH4+ (ppm) 22
4.2.6 Sự tăng trưở ng của cá lóc trong quá trinh nuôi……… 24
4.2.6.1 Tăng trưở ng trên ngày 24
4.2.6.2 Tăng trưở ng tương đối về khối lươ ̣ng (%/ngày) 26
4.2.7 Năng suất, tỉ lệ sống, hệ số tiêu tốn thức ăn của cá nuôi ở các hộ… 26
4.2.8 Hiệu quả của mô hìn ……….28
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ĐỀ XUẤT……….29
5.1 Kết luận……… 29
5.2 Đề xuất……… 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 30
BẢNG ĐIỀU TRA THÔNG TIN NÔNG HỘ………31
PHỤ LỤC………32
Trang 9CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu
Từ lâu nghề nuôi cá nước ngọt ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long ( ĐBSCL) đã phát triển với nhiều hình thức nuôi như nuôi trong ao hay lồng bè…Từ năm
1990 đến nay, nghề nuôi cá lóc ở vùng ảnh hưởng lũ trở nên phổ biến Cá lóc là một trong những loài cá có giá trị kinh tế, nuôi tương đối dễ, có thể nuôi ở dạng bán thâm canh, thâm canh với nhiều hình thức đơn giản như nuôi trong ao đất, trong lồng bè, trong mươn hay trên ruộng lúa…Cá có tốc độ tăng trưởng nhanh, sau 7 – 8 tháng nuôi cá có thể đạt khối lượng từ 1,2 – 1,5 kg/con, chất lượng thịt ngon nên là loài cá rất được người tiêu dùng ưa chuộng (Dương Nhựt Long, 2004) Cá lóc là loài sống phổ biến ở ruộng đồng, sông, kênh rạch, ao hồ, đầm lầy
Hầu hết các tỉn h ở ( ĐBSCL) nói chung và tỉnh Bạc Liêu nói riêng ngành nuôi trồng thủy sản phát triển rất nhanh và là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, góp phần lớn trong việc cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập người dân Ngành nuôi trồng thủy sản nước ngọt đã có từ lâu đời và ngày càng phát triển Bên cạnh những loài cá nuôi phổ biến hiện nay, cá lóc (Channa striata) là loài cá đang được quan tâm Cá lóc có thể giúp được cho hộ nuôi cải thiện cuộc sống và tăng thu nhập Tuy nhiên, nguồn cá lóc tự nhiên ngày càng cạn kiệt do việt đánh bắt bừa bãi và việc sử dụng các loại hoá chất trong nông nghiê ̣p cũng như trong công nghiê ̣p làm nguồn nước bi ̣ ô nhiễm
Nguồn cá lóc tự nhiên bi ̣ ca ̣n kiê ̣t không đủ cung cấp cho thi ̣ trường trong và ngoài tỉnh , vấn đề khó khăn được đặt ra là phải phát triển cá lóc nuôi là sản phẩm có khả năng thay thế cho cá lóc ở tự nhiên Để phát triển cá lóc nuôi thì cần đẩy mạnh nuôi đă ̣t biê ̣t là mô hình nuôi thâm canh với mật độ cao để có mô ̣t sản lượng đáng kể cung cấp đầy đủ theo nhu cầu của thị trường hiện nay Tuy nhiên tình hình nuôi cá lóc ở tỉnh Bạc Liêu chưa được câ ̣p nhâ ̣t đầy đủ về sản lươ ̣ng cũng như mô hình nuôi của người dân ở đây Nhằm đánh giá tình hì nh nuôi cá lóc ở tỉnh Bạc Liêu trên cơ sở điều tra hiê ̣n tra ̣ng nuôi ở mô ̣t số hô ̣ dân và phát triển mô hình nuôi thực nghiệm ở xã Ninh Quới , huyê ̣n Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, đề tài “Điều tra hiện tra ̣ng và thực nghiê ̣m nuôi cá lóc (Channa striata
Block, 1793) ở tỉnh Bạc Liêu” được thực hiện
Trang 101.2 Mục tiêu của đề tài
So sánh sự khác biệt về sự tăng trưởng , tỉ lệ sống, năng suất cá nuôi trong bể lót bạt với kết quả điều tra Từ đó đánh giá được khả năng phát triển và hiê ̣u quả kinh tế đem la ̣i từ viê ̣c nuôi cá lóc trong bể lót ba ̣t
1.3 Nội dung của đề tài
Điều tra hiện tra ̣ng mô hình nuôi của mô ̣t số hô ̣ dân ở xã Ninh Quới , huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu
Thực nghiệm nuôi cá lóc trong bể lót ba ̣c ở xã Nin h Quới, huyê ̣n Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu
Trang 11CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học
2.1.1 Đặc điểm phân loại
Theo Trương Thủ Khoa Và Trần Thị Thu Hương (1993), ở miền Nam Việt Nam có 4 loài cá Lóc: Channa striata (cá lóc đen), Channa micropeltes (cá lóc bông), Channa lucius (cá dầy), và Channa gachua (cá chành dục)
Bốn loài cá này có nhiều đặc điểm giống nhau như thân hình ống dài, vây đuôi tròn, trên thân có nhiều vạch sắc tố và có một số đặc điểm riêng như cá lóc bông
có hai sọc thẫm chạy từ đầu tới đuôi, loài cá lóc đen thì vây đuôi và vây hậu môn có các chấm màu đen, trong khi cá chành dục mút vây lưng và vây đuôi có màu
đỏ (Mai Đình Yên, 1992)
Channa striata, được phân loại như sau:
có thể sống ở nơi có hàm lượng oxy thấp nhờ có cơ quan hô hấp phụ, pH thích hợp cho hoạt động sống của cá lóc là từ 6,5 – 7,5 Cá cũng có thể sống ở vùng nước lợ (Trương Thủ Khoa Và Trần Thị Thu Hương, 1993)
2.1.3 Đặc điểm hình thái
Cá lóc đen có đầu lớn, đỉnh đầu rất rộng, dẹp bằng, mõm ngắn, miệng to hướng lên, rạch miệng xiên và kéo dài qua đường thẳng đứng kẻ từ bờ sau của mắt Răng bén nhọn, cá không có râu, mắt lớn, lỗ mang lớn Thân dài hình trụ, tròn ở phần trước, dẹp bên ở phần sau Vẩy lược lớn phủ khắp thân và đầu Đường bên hoàn toàn gãy khúc ở khoảng vẩy 15 - 20 và thụt xuống hai hàng vẩy, phần sau của đường bên chạy liên tục khoảng giữa thân (Trương Thủ Khoa và Trần Thị
Trang 12Thu Hương, 1993) Ở cá con sống phần lưng có màu xanh đen, nâu đen đến đen và nhạt dần xuống bụng, bụng cá có máu trắng sữa Ở hai bên thân có 10 - 14 sọc đen lợt vắt xéo ngang thân, các sọc này nhạt dần và mất hẳn ở cá trưởng thành Vi lưng, vi hậu môn, vi đuôi có các đốm đen vắt ngang qua các tia vi
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Sự sinh trưởng cá lóc nói chung không đồng đều giữa các giai đoạn, giai đoạn còn nhỏ cá lóc tăng trưởng chủ yếu về chiều dài, cá càng lớn thì sự tăng trọng lượng là chủ yếu Tuy nhiên trong tự nhiên, sức lớn của cá không đồng đều, phụ thuộc vào thức ăn sẵn có trong thủy vực, tỷ lệ sống của cá trong tự nhiên khá thấp, trong điều kiện nuôi có thức ăn và chăm sóc tốt cá có thể lớn từ 0,5 – 0,8 (kg/năm), đạt tỷ lệ sống cao và ổn định (Phạm Văn Khánh, 2000), theo Dương Nhựt Long (2003) thì nuôi cá lóc trong ao đất sau 6 tháng nuôi trọng lương có thể từ 0,8-1 (kg/con), trong giai có thể từ 1,2-1,5 (kg/con) Ở điề u kiện thí nghiệm thì sự tăng trọng trung bình 0,104 (g/ngày) đối với cá giống ; và đạt 0,625 (g/ngày) sau 4 tháng tuổi Trong điều kiện nuôi thương phẩm cá có sức lớn trung bình 0,4 – 0,8 (kg/con/năm) (Phan Phương Loan, 2000)
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá lóc là loài cá dữ có lược mang dạng hình núm Thực quản ngắn, vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn Dạ dầy to hình chữ Y Đây là loài cá ăn động vật điển hình Quan sát ống tiêu cá thấy cá chiếm 63,01%, tép 35,94%, ếch nhái 1,03% và 0,02% là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ (Dương Nhựt Long, 2003) Cá lóc mới nở không sử dụng thức ăn ngoài mà nhờ khối noãn hoàng cung cấp dinh dưỡng Sau 3 - 4 ngày tiêu hết noãn hoàng cá bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài, thức ăn lúc này của cá là luân trùng, Moina được xem là thức
ăn tốt nhất, ngoài ra chúng có thể ăn lòng đỏ trứng hay thức ăn tổng hợp dạng nhuyễn, ở giai đoạn cá giống thì ăn trùng chỉ, cá xay nhuyễn được xem là tốt nhất, khi cơ thể có chiều dài 3 – 8 cm, chúng đã có thể rượt bắt các loại tép và cá có kích cỡ nhỏ hơn chúng Khi cơ thể đạt chiều dài trên 10 cm cá có tính ăn như cá trưởng thành bao gồm cua nhỏ, tôm, tép, cá, nhỏ (Phạm văn Khánh, 2000) Khả năng tiêu hóa thức ăn của cá lóc phụ thuộc vào thành phần thức ăn Nếu thức ăn là trùn chỉ sau 8 giờ tiêu hóa được 35,42%, thức ăn là cá nục tiêu hóa được 30,01% thức ăn, trong khi đó thức ăn công nghiệp chỉ tiêu hóa được 18,22% sau 8 giờ (Phan Phương Loan, 2000) Từ đó cho thấy khả năng tiêu hóa của cá Lóc rất chậm nếu so với cá Trê phi (có khả năng tiêu hóa 25% thức ăn trong 2 giờ)
Trang 132.1.6 Đặc điểm sinh sản
Ở nước ta cá lóc thành thục sớm (8 - 12 tháng tuổi) Cá có thể sinh sản quanh năm nhưng thường tập trung vào tháng 4 - 5 (âm lịch) hàng năm và đẻ rộ sau những cơn mưa lớn Sức sinh sản cùa cá lóc tùy thuộc vào trọng lượng cá cái, cá có tro ̣ng lượng từ 1 – 1,5kg đẻ khoảng 15000 – 20000 trứng/tổ, và 5000 – 10000 trứng/tổ đối với cá từ 0,5 – 0,8kg (Nguyễn văn Kiểm, 2004)
Cá có hệ số thành thục là 0.5 - 1.5% Khi đến mùa sinh sản cá đực và cái tự ghép đôi, cá đực thường có kích cỡ nhỏ hơn cá cái cùng lứa Cá thường chọn nơi có cây cỏ thủy sinh để đẻ trứng Trứng cá lóc màu vàng đậm có giọt dầu nên nổi trên mặt nước Sau khi đẻ, cá bố mẹ sẽ cùng nhau canh giữ tổ và cá con cho đến khi chúng sống độc lập (Phạm Văn Khánh, 2000)
2.2 Một số bệnh thường gặp trong nuôi cá Lóc
Theo Từ Thanh Dung 2005 cá lóc nuôi thường gặp một số bệnh :
Bệnh do vi khuẩn: thường gặp là bệnh trắng da tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Flavobatterium columnare Cá bị bệnh có triệu chứng kém ăn, cuối vây lưng cá xuất hiện màu trắng và lan dần từ vây lưng đến vây đuôi, các vây thường bị rách, khả năng hoạt động của cá mất dần cá lờ đờ trong nước có bất động treo lủng lẳng trong nước rồi từ từ chìm xuống đáy bể rồi chết Ngoài bệnh trắng da còn có thêm bệnh xuất huyết hay đóm đỏ tác nhân gây bệnh là Aeromonas hidrophila bệnh làm cơ thể cá xuất huyết dễ thấy nhất là ở gốc các vây, xoang cơ thể có chất dịch màu vàng, hệ tiêu hóa xuất huyết gan thận nhũn ra Đối với hai bệnh này trị bằng kháng sinh kết hợp xử lý môi trường nuôi
Bệnh do ký sinh trùng: thường gặp là bệnh đỏ xoang miệng hay bệnh đẹn lưỡi Bệnh này trị bằng cách dùng kháng sinh kết hợp xử lý môi trường
Bệnh do nấm: thường gặp là nấm thủy mi tác nhân gây ra bệnh này là do 2 giống nấm Saproplegnia và Achlya thuộc họ Saprolegniaceae khi mới ký sinh mắt thường không nhìn thấy được, cá thường có triệu chứng ngứa ngáy, da đen sẩm Phòng ngừa bệnh này phải quản lý môi trường nuôi tốt, nước nuôi không bị nhiễm bẩn nguồn nước cấp vào bể nuôi phải tốt, trước khi thả nuôi có thể tắm cá qua dung dịch muối ăn 3% trong 20 phút
Bệnh lở lét hay bệnh ghẻ: bệnh do nhiều tác nhân kết hợp gây ra như Virut, vi khuẩn, nấm, một số ký sinh trùng, sán lá đơn chủ, giáp xác Đối với bệnh này bằng cách dùng kháng sinh trộn vào thức ăn hoặc tắm cá bằng kháng sinh hoặc một số chất xử lý môi trường như KMnO4 hoặc CuSO4
Bệnh do giun sán ký sinh: thường gặp là bệnh giun đầu móc ký sinh trong ruột Cá bị nhiễm bệnh có biểu hiện như cơ thể bị gầy yếu do chúng bị lấy chất dinh
Trang 14dưỡng, khi giun sán phát triển với số lượng nhiều có thể gây hiện tượng tắt ruột làm chết cá có thể trị bệnh này bằng cách dùng kháng sinh trộn vào thức ăn
Lê Xuân Sinh, Đổ Minh Chung, (2009) các bệnh thường xuất hiện trên cá lóc nuôi ở (ĐBSCL) thì bệnh ký sinh trùng là bệnh thường gặp nhất
2.3 Tình hình nghiên cứu về cá lóc
2.3.1 Tình hình phát triển loài cá lóc
Trên thế giới nghề nuôi cá lóc đã phát triển mạnh với nhiều mô hình nuôi khác nhau Phổ biến ở Thái Lan, Hồng Kông là mô hình nuôi bán thâm canh trong ao đất với thời gian nuôi từ 6–7 tháng với các loại thức ăn như bột cá, tấm, cám Mô hình nuôi bè với mật độ 30–50 (con/m3), sử dụng các loại thức ăn như cá tạp, tấm Sau 8 tháng nuôi cá đạt khoảng 1,5–2,5 (kg/con) phổ biến ở Campuchia và Việt Nam Ở Đài Loan, cá lóc được nuôi chung với cá rô phi, cá chép…(Dương Nhựt Long, 2003)
Từ những năm 1990 trở về trước, một số người dân ở ĐBSCL có xây dựng ao hầm nuôi cá lóc trong khu vườn của mình theo mô hình VAC, nguồn cá giống được vớt từ tự nhiên như ao, hồ, kênh rạch, sông Trong các năm 1995 – 1996, trung tâm nghiên cứu thuỷ sản ĐBSCL đã nghiên cứu thành công đề tài sinh sản nhân tạo cá lóc từ nuôi vỗ cá bố mẹ , cho đẻ nhân tạo , ương nuôi cá giống Sự thành công của đề tài đã triển khai sản xuất nhân rộng cá lóc và đến nay chúng ta đã chủ động giống mà không phải đi vớt ở ngoài tự nhiên Các loại mô hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL phát triển rất đa dạng, có khá nhiều mô hình được áp dụng nuôi đạt hiệu quả cao như: nuôi trong vèo lưới, nuôi bè, nuôi trong ao đất, nuôi trong mùng hoặc bể lót bạt
Tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu về cá lóc được tìm thấy ở Đại học Cần Thơ chủ yếu bắt đầu từ năm 2003 như nghiên cứu về đặc điểm sinh học của Nguyễn Anh Tuấn (2003); nghiên cứu về sử dụng thức ăn tự chế của Nguyễn Anh Tuấn và ctv (2004); nghiên cứu về nhu cầu đạm ở giai đoạn cá giống của Trần Thị Thanh Hiền và ctv (2005) và đề tài nghiên cứu bổ sung phytase và taurine vào thức ăn cho cá lóc đen của Trần Thị Bé (2010) Trong đó, nghiên cứu về sử dụng thức ăn chế biến ương cá lóc bông giai đoạn bột và hương của Nguyễn Anh Tuấn (2004) đã có thể sử dụng thức ăn chế biến để ương cá lóc bông bột
Trang 152.3.1.1 Nuôi cá lóc thương phẩm
Cá lóc có thể sinh trưởng tốt trong nhiều loại hình thuỷ vực khác nhau nhờ có khả năng chịu đựng cao với điều kiện bất lợi của môi trường, nên có thể nuôi với mật độ cao và quy mô lớn Mô hình nuôi cá lóc trong thực tế rất có hiệu quả và đang được nông dân vùng ĐBSCL chú ý phát triển đại trà Tuy nhiên, nguồn thức ăn chủ yếu phải dựa vào tự nhiên như cá tạp nước ngọt, cá biển, cua đồng, ốc và các loại phụ phế phẩm khác; đặc biệt nguồn cá tạp nước ngọt ngày càng khan hiếm và giá cả biến động theo hướng bất lợi cho người nuôi Từ đó, có nhiều nghiên cứu về nguồn thức ăn thay thế cá tạp trong nuôi cá lóc và đây cũng là lý do Nguyễn Phước Tuyên (2000) nghiên cứu về thức ăn tự chế trên cá lóc môi trề Khi nghiên cứu thực hiện trong phòng thí nghiệm thì cho kết quả khá tốt, cá lóc môi trề được ương với lượng thức ăn có hàm lượng đạm thô 40% cho
tỷ lệ sống cao Tuy nhiên, khi ương trong ao đất ở huyện Tam Nông , tỉnh Đồng Tháp thì tỷ lệ sống thấp và mất nhiều thời gian để tập cho cá chuyển từ thức ăn tươi sống sang thức ăn tự chế Cá nuôi thương phẩm bằng thức ăn tự chế được thu hoạch ở 7 tháng tuổi và đạt trọng lượng bình quân 1kg/con
Đến năm 2004, một nghiên cứu khác về nuôi cá lóc ở huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp cũng được thực hiện bởi Huỳnh Thu Hoà, do đây là nơi có phong trào tiên phong trong việc nuôi cá lóc, đặc biệt là cá lóc môi trề Khảo sát cho thấy người dân ở đây có nhiều kinh nghiệm trong việc nuôi cá lóc môi trề, từ khâu sản xuất cá con, ương nuôi thành cá thịt để cung cấp cho thị trường Hơn nữa huyện Tam Nông còn có lợi thế về thức ăn cho cá lóc , là yếu tố có vai trò quyết định giá thành của sản phẩm Đó là nguồn cá tạp khá dồi dào, đặc biệt vào những năm có lũ cao Tuy nhiên, vào các tháng khô và những năm không có lũ lớn, nguồn cá tạp làm thức ăn trở nên khan hiếm và giá cao, nên nuôi cá lóc không có lời
Dương Nhựt Long & ctv (2004) ước tính sản lượng cá lóc nuôi trong năm 2002 của toàn vùng ĐBSCL đạt khoảng 5.300 tấn, tập trung ở các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ và Kiên Giang Hiện nay, cá lóc được nuôi ở hầu hết các tỉnh ở ĐBSCL, kể cả các tỉnh ven biển như Cà Mau, Trà Vinh, Sóc Trăng,… Sản lượng năm 2009 đạt hơn 40.000 tấn, tăng gấp 8 lần so với năm 2002, trong đó cá lóc bông chiếm gần 20% (Báo cáo của các tỉnh ở ĐBSCL, 2010)
2.3.1.2 Về thu mua và tiêu thụ
Vào năm 2004 giá cá lóc còn khá cao người dân nuôi vẫn còn lời , tuy nhiên đến cuối năm 2006 thì giá cá giảm xuống rất thấp 11.000đ/kg người dân bi ̣ lổ nă ̣ng nên đã chuyển sang nuôi các đ ối tượng khác có giá trị kinh tế hơn Trong năm
2007 thì giá cá lóc lại tăng vì lượng cung không đủ cầu Tình hình tiêu thụ cá lóc
Trang 16chủ yếu ở nội địa nên giá bán bị phụ thuộc vào sự tiêu thụ của các mặt hàng khác và nguồn khai thác tự nhiên Viê ̣c thu mua cá lóc từ các đi ̣a phương sau đó được
vâ ̣n chuyển đến các chợ đầu mối như chợ Bình Điền (TPHCM); chợ Vĩnh Kim (Tiền Giang), các vựa thu mua lớn , … Sau đó các đầu mối này phân phối lại cho các chợ lớn nhỏ trong toàn khu vực Với các cơ sở thu mua cá nước ngọt thì cá lóc chiếm 38,5% tổng sản lượng cá thu mua của các cơ sở mua bán thuỷ sản của tỉnh Trà Vinh (Lê Xuân Sinh và Dương Nhựt Long, 2009)
2.4 Tình hình sử dụng cá tạp làm thức ăn trong nuôi cá lóc
Cá tạp được định nghĩa là phụ phế phẩm của nghề khai thác cá biển hay cá nội đồng Ở Việt nam cá tạp được sử dụng trực tiếp trong chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, làm nước mắm hay làm bột cá Theo Edwardetal (2004) Việt Nam có 0,9 triệu tấn cá tạp hàng năm Cá tạp Việt Nam có hàm lượng khoảng 45–50% Cá tạp làm thức ăn cho các đối tượng nuôi biển như cá mú, cá bớp, tôm hùm…cũng như nuôi các đối tượng nước ngọt như cá lóc, cá tra, basa
Trần Thị Thanh Hiền và ctv, (2006) điều tra tình hình sử dụng các nguồn nguyên liệu làm thức cho nuôi cá tra tại An Giang Số lượng cá tạp biển cung cấp cho các vùng nuôi cá vùng ĐBSCL khoảng 100 – 120 tấn mỗi ngày Có hai nguồn cá tạp là nguồn cá tạp nước ngọt và nguồn cá tạp biển Mỗi nhóm cá còn được chia
ra loại “cá rặc” (có một số loài cá chiếm ưu thế) và cá lẫn tạp (có lẫn nhiều loài cá khác nhau) Có thể kể một số nhóm cá như sau nhóm cá cơm, cá nục, cá trích, cá chỉ vàng…Thành phần đạm các loại cá tạp dao động từ 44,1% (như đầu cá nục, cá trích…) đến 69,2% (như cá hổ, cá cơm…) Hàm lượng khoáng của nhóm đầu cá khá cao (22 – 23,4%) trong khi ở cá tạp nguyên con là 11,5 – 16,9% Phan Hồng Cương, (2009) khi điều tra tình hình sử dụng thức ăn tại các huyện nuôi cá lóc trong tỉnh An Giang cho thấy thức ăn sử dụng trong 3 hình thức nuôi
là nuôi ao, bể, vèo và nuôi bè đều sử dụng cá tạp nước ngọt và cá tạp biển
Ngoài ra, một số hộ còn sử dụng thức ăn là ốc bươu vàng Riêng các hộ nuôi vèo
sử dụng cá tạp làm thức ăn cho cá lóc là 96,3%
Đối với việc sử dụng th ức ăn tươi sống trong việc nuôi cá lóc trong bể lót bạt ở tỉnh An Giang thì q ua thực nghiệm, so sánh với 3 điểm nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp, 3 điểm nuôi thức ăn tự chế biến và 28 điểm nuôi dùng thức ăn tươi sống, mâ ̣t đô ̣ nuôi 100con/m2
cho thấy so với dùng thức ăn tươi sống đạt năng suất cao nhất 484kg/bể 15m2, đạt trọng lượng 700g/con (Dương Nhâ ̣t Long , 2011)
Trang 17CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu nghiên cứu
Đối với viê ̣c điều tra, khảo sát thực tế:
Thông tin thu thập tại các điểm được chọn khảo sát ở xã Ninh Quới , huyê ̣n Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu
Dụng cụ: Máy chụp ảnh, và một số dụng cu ̣ cần thiết
Đối với thực nghiệm nuôi:
Mẫu vật: Cá lóc nuôi thương phẩm trên bể lót bạt
Dụng cụ: Máy chụp ảnh, cân, Máy bơm, ống PVC, ống nhựa, xô, vợt, thau Test
pH, test NH4+, test Oxy và nhiệt kế
Nguồn cá giống: Cá giống mua tại Cần Thơ, kích cở 1,2–1,5 g/con (trung bình
650 con/kg)
Thức ăn: tươi sống (cá tạp, ốc bươu vàng)
Nguồn nước: Sử dụng nguồn nước từ sông ở xã Ninh Quới – huyện Hồng Dân – tỉnh Bạc Liêu
Sổ ghi chép về kỷ thuật (cách cho ăn, lượng thức ăn, chăm sóc…) cũng như các chi phí đầu vào (chi phí xây dựng bể, vèo, giống, thuốc…) và đầu ra
Thuốc, hóa chất: men tiêu hóa, thuốc tím (KMnO4), BKC, Fresh water, Vime – Clean, Vimereocin, Trimesul
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Chọn đi ̣a điểm điều tra
Mẫu điều tra thông tin về mô hình nuôi cá lóc sẽ tâ ̣p trung ở xã Ninh Quới , huyê ̣n Hồng Dân Số hô ̣ điều tra là 30 hô ̣
Điều tra viê ̣c nuôi cá lóc ở hô ̣ dân:
Thông tin chung
Họ và tên chủ hô ̣, tuổi, giới tính
Địa chỉ: Ấp – Xã – Huyê ̣n – Tỉnh
Mô hình nuôi ( trong vèo đă ̣t trong ao hay dưới sông)
Lý do chọn mô hình nuôi
Trang 18Kỹ thuật
Thiết kế và qui trình nuôi
Diện tích vèo nuôi (m2)
Thiết vèo nuôi
Mùa vụ nuôi: (từ tháng….tới tháng…)
Nguồn con giống: mua ở đâu
Mật độ thả (con/vèo)
Kích cỡ con giống (cm)
Nguồn thức ăn (tươi sống hay chế biến)
Tỷ lệ sống (%)
FCR
Thuốc và hóa chất
Năng suất (kg/vèo/vụ)
Kinh tế
Gía thành sản phẩm (nghìn đồng/kg)
Thu nhập (triê ̣u đồng/vèo/vụ)
Tổng chi phí (triê ̣u đồng/vèo/vụ)
Lợi nhuận (triê ̣u đồng/vèo/vụ)
3.2.2 Bố trí thực nghiệm nuôi cá lóc ở xa ̃ Ninh Quới , huyê ̣n Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu
Thời gian nghiên cứu đề tài: Tháng 06 năm 2011 đến tháng11 năm 2011
Hệ thống thực nghiệm:
Bể bố trí bể nuôi có hình chữ nhật với kích thước 3m x 5m x 1m, khung làm bằng cây hay tre với 4 trụ cây chắc chắn ở bốn gốc bể và 10 trụ dọc theo thành bể giúp bể được chắt chắn hơn không bi hư hỏ ng trong quá trình nuôi , xung quanh được phủ mê bồ và lót bạt chất lượng tốt nhằm có thể sử dụng 2 vụ nuôi/ năm, đáy bể nghiên về cống thoát, trên bể có che lưới không cho cá thoát ra ngoài khi thay nước
Trang 19Hình 3.1: Bể nuôi cá lóc
Thực nghiệm nuôi cá Lóc thương phẩm trong bể lót bạt được bố trí thực hiện nuôi trong 4 bể lót bạt ở 4 hộ, mỗi bể có diê ̣n tích (15 m2), mật độ thả nuôi giống nhau (100 con/m2) Thời gian nuôi thực nghiệm 04 tháng
Bảng1: Bố trí cá nuôi cho các hộ
STT Họ Tên Đi ̣a chỉ (ấp – xã – huyê ̣n – tỉnh)
1 Võ Văn Phùng Ninh Bình – Ninh Quới – Hồng Dân – Bạc Liêu
2 Phạm Thanh Em Ninh Bình – Ninh Quới – Hồng Dân – Bạc Liêu
3 Võ Văn Phong Xóm Tre – Ninh Quới – Hồng Dân – Bạc Liêu
4 Đào Văn Thắng Xóm Tre – Ninh Quới – Hồng Dân – Bạc Liêu
Chăm sóc và quản lý bể nuôi
Phương pháp chăm sóc và quản lý cá Lóc trong các bể nuôi là hoàn toàn giống nhau
Quản lý thức ăn:
Thức ăn cung cấp cho cá là cá tạp nước ngọt hay cá tạp biển, ốc Trước khi cho cá ăn thức ăn được rửa sạch để hạn chế mầm bệnh cho cá Tùy vào giai đoạn phát triển của đàn cá mà quyết định kích cỡ thức ăn,
Tháng thứ 1: cá tạp và ốc làm thức ăn được xay nhuyễn Khẩu phần cho cá ăn 10% trọng lượng thân và cho cá ăn 4 lần/ngày
Từ tháng thứ 2: thức ăn được cắt nhỏ và cho cá ăn 7% trọng lượng thân
Từ tháng thứ 3: ốc, cá tạp thì được cắt khúc để cho cá ăn và khẩu phần ăn là 3 – 5% khối lượng thân
Từ tháng thứ 2, cho cá ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều vào tháng cuối chu
kỳ nuôi có thể cho cá ăn 1 lần/ngày Thức ăn cho cá được đặt trên sàn (sàn được làm bằng tre hay gỗ, diện tích sàn khoảng 1m2)
Trang 20Quản lý nước:
Thay nước trong bể định kỳ 3 ngày / lần ở 2 tháng đầu, mỗi lần thay 30% lượng nước trong bể và định kỳ 2 ngày / lần từ tháng thứ 3, mỗi lần thay khoảng 60% lượng nước trong bể Từ tháng thứ 4, thay nước mỗi ngày từ 60 – 80%
Phòng và trị bệnh:
Hàng ngày theo dõi khả năng bắt mồi, hoạt động bơi lội của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp tránh tình trạng dư hoặc thừa thức ăn cũng như phát hiện bệnh sớm để có biện pháp xử lý kịp thời Thức ăn cung cấp cho cá phải đảm bảo vệ sinh, không bị thối Bổ sung men tiêu hoá vào thức ăn mổi ngày vào buổi chiều để nâng cao sức đề kháng và giúp cá tiêu hóa tốt hơn
3.3 Phương pháp thu và phân tích mẫu
3.3.1 Phương pháp thu mẫu
Số liệu lấy từ các hô ̣ đi điều tra và số liệu từ các hộ được chọn bố trí nuôi thực nghiệm
3.3.2 Phương pháp phân tích mẫu
3.3.2.1 Phương pháp điều tra
Trực tiếp la ̣i các hô ̣ nuôi để phỏng vấn từ đó nắm được các thông tin về mô hình nuôi, diện tích, mâ ̣t đô ̣ thả nuôi, thức ăn cách chăm sóc và quản lý , quan tro ̣ng là hiê ̣u quả kinh tế của mô hình
3.3.2.2 Phương pháp phân tích mẫu bố trí nuôi thực nghiệm
Trước khi bố trí nuôi thực nghiệm, tiến hành cân mẫu cá để xác định khối lượng ban đầu
Trong thời gian nuôi thực nghiệm, định kỳ thu mẫu cá 15 (ngày/lần), mỗi 1 bể thu 15 con và cân trọng lượng để đánh giá tốc độ tăng trưởng của cá
Theo dõi, thu thập số liệu các chỉ tiêu môi trường
Nhiệt độ: Ngâm nhiệt kế thuỷ ngân trực tiếp vào trong nước bể khoảng 3 – 5 phút, đọc và ghi nhận kết quả
pH: Độ pH của nước được đo bằng test, mẫu nước được lấy ngẫu nhiên trong bể, test nhanh tại chỗ và ghi nhận kết quả
Oxy: Oxy hòa tan trong nước được đo bằng test, mẫu nước được lấy ngẫu nhiên trong bể, test nhanh tại chỗ và ghi nhận kết quả
NH4+: Hàm lượng tổng đạm (N-NH4+) cũng được đo bằng test, mẫu nước được lấy ngẫu nhiên trong bể, test nhanh tại chỗ và ghi nhận kết quả
Trang 21Hình 3.2: Dụng cụ đo các chỉ tiêu môi trường 3.3.2.3 Các chỉ số tính
Xác định tốc độ tăng trưởng
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng (Daily Weight Gain)
Δt
WWg/ngày
ngày SGR
W1: khối lượng cuối (g)
W0: khối lượng ban đầu (g)
∆t: thời gian giữa 2 lần thu mẫu (ngày)
Trang 22Xác định tỷ lệ sống và năng suất
Tỷ lệ sống: Xác định số lượng cá thể lúc ban đầu và số lượng cá thể thu hoạch được Sau đó tính toán tỷ lệ sống bằng công thức:
Năng suất nuôi
Năng suất nuôi (kg/m2) = Tổng khối lượng cá thu hoạch / Diện tích nuôi
Hệ số tiêu tốn thức ăn (Food Conversion Ratio – FCR)
FCR = Thức ăn sử dụng (khối lượng tươi) / khối lượng cá gia tăng
Xác định tính hiệu quả kinh tế
Lợi nhuận (ngàn đồng/bể ) = tổng thu nhập – tổng chi phí
Tổng thu = sản lượng cá (kg) * giá cá (VNĐ)
Tổng chi
Con giống
Thức ăn
Công thuê mướn lao động
Năng lượng (điện, nhiên liệu)
Thuốc và hóa chất
Khấu hao dụng cụ và thiết bị sử dụng
Các khoản chi khác
Tỷ suất lợi nhuận (%) = lợi nhuận / tổng chi phí *100
Trang 23CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Điều tra hiện trạng nuôi cá lóc trong vèo đặt dưới sông
4.1.1 Thông tin chung về nông hộ
Theo kết quả điều tra 30 hộ nuôi 100% đều là nông dân chuyên sản xuất lúa, độ tuổi trung bình 46,17±6,80 nằm trong độ tuổi lao động Các hộ tập trung ở 7 ấp thuộc xã Ninh Quới, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, gồm các ấp: Ninh Bình, ấp Ngọn, Xóm Tre, Ninh Điền, Ninh Phú, Ninh Thành, Phú Tân Tấc cả các hộ nuôi theo qui mô hộ gia đình để kiếm thêm thu nhập cho gia đình trong mùa nước Các hộ đều nuôi cá lóc trong vèo đặt dưới sông do ở đây có sông ngòi nhiều, ít tốn chi phí, nuôi theo phong trào và truyền thống từ trước đến nay
4.1.2 KỸ thuật
4.1.2.1 Thiết kế vèo
Vèo được làm bằng lưới được may thành hình chữ nhật hay hình vuông chiều cao khoảng 4 – 5m, diện tích 30 hộ dao động từ 10 đến 18m2, hộ có diện tích 10m2 chiếm 10%, 12m2 chiếm 20%, 15m2 chiếm 24%, 16m2 chiếm 30%, 18m2chiếm 16% Diện tích trung bình 14,7±2,45m2, vèo được đặt ở dưới sông cách
bờ 1 – 2m, 8 góc vèo được cuộc vào 4 cây trụ để không bị trôi dạt khi nước chảy hay tàu ghe qua lại, xung quanh vèo có làm một hàng rào che chắn lục bình hay rác trôi dạt vào vèo, phía trên có một tấm lưới che phủ bề mặt để không cho cá nhảy ra ngoài
Hình 4.1: Vèo nuôi cá lóc