1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ NUÔI cá lóc ( channa striata ) THƯƠNG PHẨM BẰNG cá tạp và THỨC ăn CHẾ BIẾN

49 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản hiện nay nói chung và tình hình phát triển các loại mô hình nuôi cá lóc đen ở ĐBSCL nói riêng thì việc sử dụng thức ăn như thế nào để tăng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN

TẠ THANH SƠN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ NUÔI CÁ LÓC (Channa striata)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN

TẠ THANH SƠN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ NUÔI CÁ LÓC (Channa striata)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGs.Ts TRẦN THỊ THANH HIỀN

2011

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Trần Thị thanh Hiền cùng quý thầy cô Khoa Thủy Sản đã dạy bảo, hướng dẫn, truyền đạt kiến thức cho tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn tất đề tài này Xin gởi lời cám ơn chân thành đến Thạc Sĩ Trần Lê Cẩm Tú và kỹ sư Nguyễn Hoàng Đức Trung, học viên cao học 16 Phạm Hữu Bon, Phạm Thị Kim Oanh và Nguyễn Hoàng Huy đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu, những lời khuyên bổ ích trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Cảm ơn đến bạn Phạm Huỳnh kim Quyên, Bùi vũ Hội, Cao Phú Vinh, Nguyễn Minh Hải, Nguyễn Tri

Ân, Cao Thị Hồng Nhung và các bạn sinh viên Nuôi Trồng Thủy Sản K33 đã nhiệt tình giúp đỡ trong suốt quá trình bố trí thí nghiệm, chăm sóc cá và phân tích mẫu

Xin gởi lời cảm ơn đến chú Sáu Nhuần đã tận tình giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện đề tài

Xin cảm ơn các chú lái xe đã giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài cũng như trong quá trình thu mẫu

Xin gởi lời cảm ơn đến gia đình đã ung hộ, động viên và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện đề tài

Tác giả

Tạ Thanh sơn

Trang 4

TÓM TĂT

Thí nghiệm “ Đánh Giá Hiệu Quả Nuôi Cá Lóc (Channa striata) Thương Phẩm Bằng Thức Ăn Cá Tạp

và Thức ăn Chế Biến” đã được thực hiện tại thành phố Long Xuyên-An Giang và Cá có khối lượng trung bình là 12-13g/con Thí nghiệm gồm 2 nghiệm thức cho ăn bằng thức ăn cá tạp và thức ăn chế biến Trong

đó thức ăn chế biến có hàm lượng lipid là 9% và hàm lượng đạm thay đổi từ 38-44% cho ăn trong các giai đoạn khác nhau Cá được bố trí trên hệ thống gồm 6 vèo mõi vèo có thể tích là (3x5x4,5)m được đặt ở 2

ao có diện tích 560m2 với mật độ là 100con/m2 Cá được cho ăn 3 lần/ngày và cho ăn theo nhu cầu Sau

142 ngày thí nghiệm tỷ lệ sống ở 2 nghiệm thức cho ăn thức ăn chế biến và cá tạp lần lượt là 73,3% và 74,8% Tăng trưởng của cá ở nghiệm thức cho ăn thức ăn chế biến cao hơn ở nghiệm thức cho ăn thức ăn

cá tạp và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Hệ số thức ăn ở nghiệm thức cho ăn thức ăn chế biến là thấp hơn nghiệm thức cho ăn thức ăn cá tạp và khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) Vậy thức ăn chế biến được

sử dụng để nuôi cá lóc (Channa striata) thương phẩm đã đãm bảo được sự tăng trưởng và hiệu quả hơn

so với sử dụng thức ăn cá tạp

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ I TÓM TẮT II DANH SÁCH BẢNG V

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Nội dung của đề tài 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Đặc điểm sinh học 3

2.1.1 Phân loại 3

2.1.2 Dinh dưỡng 4

2.2 Nghiên cứu về dinh dưỡng vàsử dụng thức ăn trong nuôi cá lóc 4

2.3 Nghiên cứu về sử dụng cá tạp ở Việt Nam 12

2.4 Nghiên cứu về sử dụng thức ăn chế biến nuôi cá lóc 15

Phần 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Địa điểm và thời gian thực hiện thí nghiệm 19

3.1.1 Địa điểm 19

3.1.2 Thời gian 19

3.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 19

3.3 Phương pháp nghiên cứu 19

3.3.1 Đối tượng thí nghiệm 19

3.3.2 Hệ thống thí nghiệm 20

3.3.3 Thức ăn thí nghiệm 20

3.3.4 Chăm sóc và quản lý 21

3.3.5 Phương pháp thu mẫu 21

3.3.6 Phương pháp xử lý mẫu 21

3.4 Các chỉ tiêu tính toán 22

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 24

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25

4.1 Điều kiện môi trường thí nghiệm 25

4.2 Ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ sống, sinh trưởng, hệ số thức ăn, tỷ lệ cá gù, hiệu quả sử dụng đạm và thành phần hóa học của cá lóc 26

4.2.1 Tỷ lệ sống 26

4.2.2 Tăng trưởng của cá 27

4.2.3 Hệ số thức ăn và chi phí thức ăn trên 1kg cá 28

4.2.4 Hiệu quả sử dụng đạm 29

Trang 6

4.2.5 Thành phần sinh hóa của cá thí nghiệm 31

4.2.6 Tỷ lệ cá gù 32

4.3 Hạch toán kinh tế 33

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 34

5.1 Kết luận 34

5.2 Đề xuất 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

Phụ lục 41

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG

Trang Bảng 1 Lịch phối hợp cho ăn trong thí nghiệm 7

Bảng 2 Kết quả nuôi cá lóc thâm canh trong ao đất với thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau 10

Bảng 3.1 Thành phần hóa học của thức ăn cá tạp 20

Bảng 3.2 Công thức thức ăn của thức ăn thí nghiệm 20

Bảng 3.3 Thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm 21

Bảng 4.1 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 25

Bảng 4.2 Tỷ lệ sống của cá lóc thí nghiệm 26

Bảng 4.3 Khối lượng đầu (Wi ), khối lượng cuối (Wf), tăng trưởng tuyệt đối (DWG) của cá lóc thí nghiệm 27

Bảng 4.4 Hệ số thức ăn( FCR) và chi phí thức ăn / 1kg cá (đ/kg) 28

Bảng 4.5 Hiệu quả sử dụng đạm (PER) 30

Bảng 4.6 Thành phần sinh hóa của cá thi nghiệm 31

Bảng 4.7 Tỷ lệ cá gù (%) 32

Bảng 4.8 Các chỉ tiêu hạch toán kinh tế 33

Trang 8

Phần 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu

Ở Việt Nam, nghề nuôi cá lóc hình thành từ năm 1950 chủ yếu tại 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp (Dương Nhựt Long, 2004) Cá lóc nói chung ở Đồng Bằng

Sông Cửu Long (ĐBSCL) thuộc giống Channa gồm 4 loài C.gachua, C.lucius,

C.micropeltes và C.striata (Mai Đình Yên và ctv., 1992; Trương Thủ Khoa và Trần

Thị Thu Hương, 1993) Riêng loài cá lóc đen (Channa striata) và cá lóc bông

(Channa micropeltes) hiện là 2 đối tượng nuôi quan trọng trong cơ cấu đàn cá nuôi

ở ĐBSCL (Nguyễn Văn Thường, 2004) Cá lóc có cơ quan hô hấp khí trời, có thể nuôi với mật độ khá cao 40 – 50 con/m2 ,cá có tốc độ tăng trưởng nhanh, sau 7 - 8 tháng nuôi cá có thể đạt khối lượng từ 1,2 – 1,5 kg/con, chất lượng thịt ngon nên là

loài rất được người tiêu dùng ưa chuộng (Dương Nhựt Long và ctv., 2004) Hiện

nay các mô hình nuôi cá lóc thức ăn chủ yếu vẫn là cá tạp nước ngọt và cá tạp biển

Cá lóc đen được nuôi khá phổ biến với nhiều loại hình nuôi phong phú đa dạng như nuôi ao đất, vèo, đăng quầng sông, bể bạt, bể xi măng Trong các mô hình nuôi cá lóc hiện nay thức ăn sử dụng chủ yếu là nguồn cá tạp (Trần Thị Thanh Hiền, 2009) Ngoài ra người nuôi còn sử dụng thêm các loại thức ăn tươi sống khác như

ốc bươu vàng, cua đồng vào mùa lũ và nhất là các phụ phẩm của các nhà máy chế biến thủy sản như đầu cá tra, ba sa vào mùa khô do giá cá tạp cao và ngày càng khan hiếm, nên một số ít hộ chuyển sang cho ăn xen kẽ thức ăn tự chế biến, thức ăn công nghiệp và cá tạp trong quá trình nuôi

Với mô hình nuôi cá lóc cho năng suất cao (100 - 200 tấn/ha), tập trung trên các huyện Châu Thành, Long Xuyên, An Phú của tỉnh An Giang, (Phan Hồng Cương, 2009) sẽ cần một lượng lớn thức ăn cá tạp để cung cấp cho nhu cầu nuôi Tuy nhiên nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày càng cạn kiệt do khai thác không có quy hoạch và việc sử dụng bừa bãi các hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác nông nghiệp làm ảnh hưởng đến môi trường sống thủy sản tự nhiên

Trang 9

Trước tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản hiện nay nói chung và tình hình phát triển các loại mô hình nuôi cá lóc đen ở ĐBSCL nói riêng thì việc sử dụng thức ăn như thế nào để tăng tính hiệu quả kinh tế, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường, đồng thời bảo vệ được nguồn lợi thủy sản tự nhiên cần

được nghiên cứu, đánh giá Vì vậy đề tài “ Đánh giá hiệu quả nuôi cá lóc

(Channa striata) thương phẩm bằng cá tạp và thức ăn chế biến” được thực hiện

1.2 Mục tiêu của đề tài

Đề tài được thực hiện nhằm giảm chi phí, tăng lợi nhuận và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn chế biến khi nuôi cá lóc thương phẩm

1.3 Nội dung của đề tài

- So sánh tỷ lệ sống, tăng trưởng và hiệu quả sử dụng hai loại thức ăn chế biến và cá tạp

- Đánh giá hiệu quả kinh tế khi sử dụng hai loại thức ăn chế biến và cá tạp

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học

Loài: Channa striata

Trang 11

2.1.2 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá lóc là loài cá dữ điển hình Cấu trúc ống tiêu hóa gồm mõm ngắn, răng bén nhọn, răng hàm dưới và vòm miệng có xen kẽ một số răng chó, không có răng hàm trên, ruột ngắn và có dạ dày Cá mới nở vẫn còn sử dụng dinh dưỡng từ khối noãn hoàng Từ ngày thứ 4 - 5, sau khi hết noãn hoàng, cá bắt đầu ăn thức ăn ngoài,

luân trùng Brachionus plicatilis được xem là thức ăn đầu tiên tốt nhất của cá bột

(Ling, 1977) Ngoài ra, có thể cho ăn nấm men, lòng đỏ trứng hay thức ăn tổng hợp dạng bột Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước (Moina), Daphnia hay trùn chỉ, ấu trùng muỗi đỏ Khi cá đạt chiều dài 5 – 6 cm, chúng có thể bắt các loại cá hay tép nhỏ hơn chúng (TT khuyến ngư Quốc gia, 2005) Giai đoạn cá giống, sâu gạo và dòi

là thức ăn ưa thích của cá Thức ăn Moina vẫn là thức ăn tốt nhất đối với cá bột trong 3 tuần lễ đầu (Dương Nhựt Long, 2004) Nhìn chung, giai đoạn cá bột lớn và

cá giống thức ăn ưa thích của chúng là động vật không xương sống, ếch và cá nhỏ

hơn chúng (Menon and Chacho, 1958, trích bởi Mali Boonyaratpalin et al., 1985)

Giai đoạn cá lớn thường cho ăn cá tạp, phụ phế phẩm từ các nhà máy chế biến đầu tép, tôm hay thức ăn chế biến và thức ăn viên Sự tiêu hóa diễn ra hoàn toàn ở dạ

dày cá trong khoảng 12 giờ (Jaiyen, 1977, trích bởi Mali Boonyaratpalin et al.,

1985)

2.2 Nghiên cứu về dinh dưỡng và sử dụng thức ăn trong nuôi cá lóc

Các nghiên cứu về dinh dưỡng trên cá lóc tập trung nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng chính của đối tượng này như đạm, tỷ lệ giữa đạm và năng lượng trong khẩu phần, chất béo, carbohydrate,…

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu chất đạm của cá bao gồm loài, kích

cỡ cá, nhiệt độ nước, mật độ cá thả, khẩu phần ăn, lượng năng lượng không phải từ chất đạm trong thức ăn và chất lượng đạm trong thức ăn…(Garling and Wilson,

1976; Kim Jauncey, 1982; Sena S De Silva et al., 1991) Mohanty and Samantaray

(1996) đã sử dụng 6 khẩu phần thí nghiệm có cùng mức năng lượng dựa trên bột cá

và bánh dầu đậu phộng và chứa 350 đến 600 g đạm/kg thức ăn Mỗi mức cách nhau

50 g đạm/kg thức ăn để cho cá bột lóc đen ăn với khẩu phần ăn 10% khối lượng thân/ngày trong điều kiện thí nghiệm để xác định ảnh hưởng của các mức chất đạm

Trang 12

trong thức ăn khác nhau lên tăng trưởng của cá Trên cơ sở tăng trưởng, sự tích lũy chất đạm trong mô hàng ngày thì nhu cầu chất đạm trong thức ăn của cá bột được xác định là 550 g đạm/kg thức ăn khi bột cá được sử dụng như nguồn đạm chính Có

sự tăng đáng kể chất đạm trong cơ thể cá khi chất đạm trong thức ăn tăng dần, cá bột ăn thức ăn chứa đạm cao thì hàm lượng chất béo trong thịt cá khuynh hướng thấp hơn và độ ẩm cao hơn

S.S.Mohanty and K.Samantaray (1996) nghiên cứu về ảnh hưởng các mức đạm khác nhau trong khẩu phần lên tăng trưởng và hiệu quả chuyển đổi thức ăn của

cá lóc giai đoạn cá bột Hàm lượng đạm thử nghiệm trong khẩu phần từ 35 - 60% (6 nghiệm thức thức ăn, bước nhảy 5%), bột cá là nguồn đạm chủ yếu, năng lượng giữ

ở 4320 kcal/kg Các nguyên liệu phối trộn thức ăn gồm cám gạo, bánh dầu đậu phộng, dầu hướng dương, dầu mực Kết quả cho thấy ở mức đạm 55% trong khẩu phần thì tăng trưởng theo ngày, tỷ lệ tăng trưởng riêng và tỷ lệ tích luỹ đạm hàng ngày là tối ưu Có sự gia tăng hàm lượng đạm trong cơ thịt theo sự gia tăng hàm lượng đạm trong khẩu phần Cá lóc bột được cho ăn với hàm lượng đạm cao trong thức ăn thì hàm lượng đạm trong cơ thịt sẽ cao, ít tích lũy mỡ và ẩm độ cao

Nhu cầu đạm cá lóc giống cũng được Trieu Nguyen Van et al (2001) nghiên

cứu với 3 mức đạm 30, 40 và 50% Nghiên cứu gồm 2 thí nghiệm tiến hành ở 2 thời điểm khác nhau Thí nghiệm 1 cá có khối lượng ban đầu 1,143 g đến 1,264 g, thí nghiệm 2 khối lượng ban đầu của cá là 3,900 g đến 5,226 g Kết quả cả 2 thí nghiệm thì nghiệm thức chứa 50% đạm thô cho kết quả về tăng trưởng cũng như tỷ lệ sống cao nhất Như vậy, giai đoạn giống nhu cầu đạm của cá lóc là 50%

Nhu cầu đạm của động vật thủy sản còn phụ thuộc vào mức năng lượng có trong thức ăn Nhu cầu về đạm giảm khi mức năng lượng tăng Trên thực tế rất khó xác định nhu cầu năng lượng thực sự của cá mà người ta dựa vào tỷ lệ năng lượng

và đạm tối ưu K.Samantaray et al (1997) nghiên cứu tỷ lệ P/E thích hợp trên đối

tượng cá lóc giống Thí nghiệm gồm 4 mức đạm 35%, 40%, 45%, 50% và 3 mức năng lượng 400, 440, 480 kcal Dầu được sử dụng để điều chỉnh mức năng lượng trong các nghiệm thức Hàm lượng chất béo chiếm 9%, 13%, 17% khối lượng khô ở mỗi mức đạm Thức ăn được phối chế từ các nguyên liệu chính bánh dầu đậu phộng,

Trang 13

bột cá, cám gạo, sau đó ép viên Kết quả từ nghiên cứu cho thấy với hàm lượng đạm 40% và tỷ lệ P/E 90,9 mg/kg cho tăng trưởng cao nhất Mức đạm 45%, P/E là 93,8 mg/kg tăng trưởng thấp hơn nhưng sự sai khác không có ý nghĩa thống kê Hiệu quả

sử dụng đạm PER tăng khi gia tăng mức năng lượng từ 400 đến 480 kcal/100 g ở tất cả mức đạm, PER cao nhất với mức đạm 40%, năng lượng 440 kcal/100 g, tại đây FCR thấp nhất Thành phần cơ thịt cá không thay đổi theo tỷ lệ P/E trong khẩu phần Ngoài ra thí nghiệm này cũng chỉ ra rằng thức ăn chứa 13% lipid cá lóc vẫn tiêu hoá tốt

Dos Santos and Jobling (1988) cho rằng năng lượng trong thức ăn có ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá Daniels and Robinson (1986) cho rằng nếu năng lượng trong thức ăn quá cao sẽ làm cá giảm tăng trưởng, đặc biệt ở thức ăn có hàm lượng đạm cao Trong đó thức ăn cung cấp năng lượng thường dùng nhất là nhóm carbohydrate, phổ biến nhất là tinh bột, dextrin có trong nguyên liệu thức ăn có nguồn gốc thực vật Ngoài ra, dầu mỡ cũng là một nguồn thức ăn cung cấp năng lượng có giá trị và quan trọng cho động vật thủy sản (Lê Thanh Hùng, 2000)

Cá lóc là loài ăn động vật, hàm lượng đạm trong khẩu phần chiếm tỷ lệ cao Bột cá được xem là nguồn đạm chính cho đối tượng này nên chi phí thức ăn khá cao Để giảm chi phí thức ăn việc cho ăn luân phiên thức ăn có hàm lượng đạm cao (thỏa mãn nhu cầu đạm ) và thức ăn có hàm lượng đạm thấp hơn đã được áp dụng trên nhiều đối tượng khác nhau (Sena S De Silva, 2007) Roshada Hashim (1994) nghiên cứu lịch cho ăn kết hợp thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau lên tăng trưởng cá lóc bột trong 7 tuần Thí nghiệm gồm 3 mức đạm 30% (A), 35% (B), 40% (C), được phối hợp như sau:

Trang 14

Bảng 1 Lịch phối hợp cho ăn trong thí nghiệm

1 ngày A, 2 ngày C Luân phiên cứ 2 ngày A, 2 ngày

C Cho ăn 3 lần/ngày Kết quả tốt nhất về tăng trưởng, FCR cho ở khẩu phần B

(35% đạm), tuy nhiên không có sự khác biệt về tăng trưởng giữa các khẩu phần thức

ăn thí nghiệm So sánh giữa các khẩu phần cho ăn luân phiên thì khẩu phần 1A/2C được cho là hiệu quả hơn cả và tiết kiệm được 13,9% đạm so với khẩu phần B Carbohydrate cũng là nguồn cung cấp năng lượng rẻ tiền, chia sẻ cung cấp năng lượng từ đạm Tuy nhiên khả năng sử dụng carbohydrate tùy thuộc vào đặc tính ăn của từng loài Khả năng sử dụng carbohydrate của nhóm ăn động vật được cho là kém hiệu quả nhất Cá lóc là loài ăn động vật Khả năng sử dụng carbohydrate như nguồn năng lượng ở giai đoạn giống của đối tượng này cũng được

nghiên cứu bởi A Jesu Arockiaraj et al (1999) Thí nghiệm được tiến hành trên bể

trong thời gian 8 tuần Thức ăn thí nghiệm chứa 7 mức carbohydrate (8%, 12%, 17%, 21%, 25%, 30%, và 34%) Thức ăn ở dạng bán tinh khiết chứa cùng mức đạm

để năng lượng vào khoảng 3,59-4,5 kcal/g Kết quả về tăng trưởng SGR và hiệu quả

sử dụng đạm cho thấy rằng thức ăn cá lóc với mức carbohydrate 12% trong khẩu phần cho tăng trưởng tối ưu Tăng trưởng giảm cùng với sự gia tăng hàm lượng carbohydrate trong khẩu phần

Các nghiên cứu về việc cho ăn cũng như thức ăn thích hợp để ương nuôi đối

tượng này cũng đã được nghiên cứu J.Qin et al (1996) nghiên cứu ảnh hưởng của

tỷ lệ cho ăn lên tăng trưởng, tỷ lệ sống, và FCR của cá lóc giai đoạn ấu niên Thí

Trang 15

nghiệm gồm 6 tỷ lệ cho ăn 0%, 5%, 10%, 15%, 20%, 30% khối lượng thân/ngày Thức ăn chứa 50% đạm thô Khối lượng cá sau 29 ngày thí nghiệm đều gia tăng so với khối lượng cá trước thí nghiệm, trừ ở tỷ lệ 0% Giai đoạn này cho ăn tỷ lệ 5% hiệu quả nhất với FCR 0,99 (trong khi cho ăn với tỷ lệ 30% cho FCR 6,3) Tỷ lệ sống ở các tỷ lệ khác cũng không cao hơn so với nghiệm thức cho ăn 5% Do vậy tỷ

lệ cho ăn 5%/ngày là thích hợp cho cá lóc giai đoạn này

J.Qin et al (1997) đánh giá khả năng tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá lóc bột

khi sử dụng các loại thức ăn khác nhau Nhóm tác giả tiến hành ương cá lóc theo 3 giai đoạn Giai đoạn I gồm 6 nghiệm thức thức ăn: không cho ăn (NF), chỉ cho ăn thức ăn chế biến (FF), ấu trùng artemia tươi sống + trứng bào xác artemia tẩy vỏ (LA), chỉ trứng bào xác tẩy vỏ (DC), thức ăn chế biến + ấu trùng artemia tươi sống (FA), thức ăn chế biến + trứng bào xác artemia tẩy vỏ (FC) Giai đoạn II tập ăn dần thức ăn chế biến Giai đoạn III chỉ sử dụng thức ăn chế biến kết quả cho thấy ở nghiệm thức DC cá có kích thước và chiều dài lớn hơn cá ở các nghiệm thức khác

Cá ở nghiệm thức LA có tỷ lệ chết (không do ăn lẫn nhau) cao hơn các nghiệm thức còn lại Cá ăn thức ăn nghiệm thức FC có khối lượng lớn nhất Kết luận rằng có thể tập cho cá ăn thức ăn chế biến theo phương pháp sau (1) cho ăn nauplii artemia kết hợp với thức ăn chế biến trong 30 ngày, sau đó tập cho ăn thức ăn tươi sống 7 – 10 ngày hoặc (2) cho ấu trùng cá lóc ăn hoàn toàn nauplii artemia ngày trong 30 ngày, sau đó phối hợp với artemia tươi sống và thức ăn chế biến, cuối cùng là thức ăn chế biến hoàn toàn

Cũng nghiên cứu về các loại thức ăn được sử dụng trong ương nuôi ấu trùng

cá lóc, Ambok Bolong Abol-Munafi (2004) đã tiến hành thí nghiệm gồm 2 giai đoạn: giai đoạn I từ 1 đến 15 ngày tuổi (sau khi nở), giai đoạn II từ 15 đến 30 ngày

Thức ăn thí nghiệm gồm Nauplii của Artemia salina, Moina micrura, bọ chỉ đào (Chironomus sp.) và thức ăn nhân tạo (49% đạm thô) Giai đoạn I, nghiệm thức cho

ăn Artemia cho kết quả tăng trưởng cũng như tỷ lệ sống (28,5 mg và 49%) cao hơn

so với nghiệm thức cho ăn Moina (26,7 mg và 31%) 2 nghiệm thức còn lại ấu trùng chết hoàn toàn trong vòng 10 ngày đầu Giai đoạn II, tăng trưởng và tỷ lệ sống cao nhất vẫn ở nghiệm thức cho ăn artemia, tuy nhiên không có sự khác biệt về tăng trưởng so với nghiệm thức cho ăn Moina Nghiệm thức cho ăn Chironomus tăng

Trang 16

trưởng chậm hơn so với cho ăn Moina và Artemia Đến 30 ngày tuổi cá lóc vẫn chưa chấp nhận thức ăn nhân tạo, tăng trưởng giảm so với thời điểm bắt đầu thí nghiệm giai đoạn II, tỷ lệ sống chỉ khoảng 10%

Từ thí nghiệm trên cho thấy cá lóc giai đoạn ấu trùng chỉ chấp nhận thức ăn tươi sống có kích thước phù hợp với cỡ miệng không chấp nhận thức ăn nhân tạo Như vậy để cho ương nuôi thành công đối tượng này, thức ăn tươi sống vẫn được

xem là tối ưu D.Kumar et al (2008) ương nuôi đối tượng này sử dụng 3 loại thức

ăn tươi sống là động vật phù du (copepoda, rotifer, cladocera), ấu trùng Chironomus, ấu trùng muỗi trong thời gian 28 ngày để tìm ra loại thức ăn tươi sống thích hợp nhất Kết quả cho thấy tỷ lệ sống (86,7-96,7%) cũng như tăng trưởng (SGR từ 3,6-4,9%) ở 3 nghiệm thức thức ăn đều rất cao, cao nhất ở nghiệm thức cho ăn ấu trùng muỗi, thấp nhất ở nghiệm thức cho ăn động vật phù du Như vậy ấu trùng được cho là thức ăn tốt nhất cho ương nuôi ấu trùng cá lóc

Dương Nhựt Long và ctv (2004) đánh giá tăng trưởng của cá lóc trong quá

trình ương và nuôi thâm canh trong ao đất với thức ăn có hàm lượng protein thô khác nhau Thức ăn của giai đoạn ương chứa 30%, 40%, 50% protein và cá tạp Sau

45 ngày ương cá ở nghiệm thức cho ăn cá tạp có tăng trọng trung bình/ngày cao nhất Hàm lượng đạm trong thức ăn càng cao thì tăng trọng/ngày cũng tăng và sự khác biệt giữa các nghiệm thức có ý nghĩa thống kê Với thử nghiệm nuôi cá lóc thâm canh trong ao đất thức ăn có hàm lượng protein thô lần luợt là 25%, 30% và cá tạp Sau 200 ngày nuôi kết quả cho bởi bảng sau

Trang 17

Bảng 2 Kết quả nuôi cá lóc thâm canh trong ao đất với thức ăn có hàm lượng đạm

Thức ăn chế biến cho đối tượng này cũng được quan tâm nghiên cứu Trong sản xuất thức ăn, ngoài nhu cầu dinh dưỡng của đối tượng nuôi, chất kết dính cũng quan trọng để giữ cho thức ăn bền trong nước với thời gian nhất định Roshada

Hashim et al (1992) nghiên cứu sử dụng các loại rong biển kết hợp với bột mì làm chất kết dính cho thức ăn chế biến của cá lóc bột (Ulva spp., Sargassum spp.,

Polycavernosa spp., Gracilaria spp và Carragenan) 6 khẩu phần thức ăn với 5 loại

tảo kết hợp với hàm lượng 5% mỗi loại kết hợp 5% bột mì, khẩu phần đối chứng chỉ chứa 10% bột mì Thí nghiệm tiến hành trong 8 tuần để đánh giá khả năng kết dính sau 60 phút cũng như ảnh hưởng của các thành phần chất kết dính lên tăng trưởng của cá lóc bột Kết quả cho thấy khẩu phần sử dụng carragenan có tính bền trong nước cao nhất (98,9%) và có có sự khác biệt với các loại rong biển và kết quả tăng trưởng cao nhất

Các nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng trong chế biến thức ăn cho các loài cá

lóc thuộc giống Chanidae được thực hiện tại Trường Đại học Cần Thơ từ năm 2001

đến nay Các nghiên cứu tập trung về tỷ lệ đạm trong khẩu phần ăn và khả năng sử dụng cá tạp biển trong thức ăn được tiến hành trên các kích cỡ cá khác nhau nhưng

chủ yếu là ở giai đoạn cá giống (Dương Nhựt Long và ctv, 2001 - 2003)

Trang 18

Kết quả nghiên cứu của Dương Nhựt Long (2001 - 2003) thì tăng trọng của

cá lóc nuôi trong ao đất sử dụng thức ăn tự chế với mức đạm 25%, 30% là 0,31-2,52 g/ngày, 0,40-2,68 g/ngày, và cá tạp 0,82-2,86 g/ngày, hệ số thức ăn lần lượt là 3,8; 3,1 và 4,2 Người nuôi cá có thể sử dụng thức ăn tự chế 30% độ đạm trong thời gian ngắn khi thiếu nguồn cá tạp biển làm thức ăn cho cá

Nhìn chung, nghiên cứu về sử dụng cá tạp nước ngọt làm thức ăn cho cá lóc chưa được nghiên cứu đầy đủ Ngay cả những nghiên cứu ban đầu về thành phần loài cá tạp nước ngọt được sử dụng trong nuôi cá lóc vào mùa nước nổi cũng chưa được nghiên cứu

Một vài nghiên cứu về thức ăn cá lóc đen được nghiên cứu trong điều kiện thí nghiệm, cá bột cá lóc đen có chiều dài 6-7 mm, độ mở của miệng là 0,55 mm chọn thức ăn là ấu trùng Artemia và không ăn thức ăn chế biến Cá bắt đầu ăn thức ăn chế biến khi được 12 mm chiều dài và cỡ miệng mở rộng đến 1 mm Thí nghiệm thức

ăn của cá thay đổi khi kích cỡ cá tăng Đối với cá dài 15-20 mm thì nhóm giáp xác râu ngành và giáp xác chân chèo chiếm 96,5% khẩu phần, cá 30-40 mm, cá giảm ăn động vật nổi đáng kể trong khi chúng tăng ăn động vật đáy Thức ăn chuyển từ động vật nổi sang động vật không xương sống đáy không phải do việc giảm động vật nổi

có sẵn trong môi trường mà nó liên quan đến sự thay đổi cấu trúc lược mang của cá Mật độ động vật không xương sống đáy thấp trong những thí nghiệm trên ruộng làm giảm tỷ lệ sinh trưởng ở cá khi cá thay đổi thức ăn từ động vật nổi sang động vật

đáy (Qin Jian Guang et al., 1997)

Cá bột được cho ăn thức ăn có các mức chất đạm thấp 30%, trung bình 35%, cao 40% thì thấy tỷ lệ tăng trưởng cao nhất thu được ở khẩu phần 35% chất đạm, có

hệ số chuyển hóa thức ăn, hiệu quả sử dụng chất đạm và chỉ số tích lũy đạm tốt nhất (Roshada Hashim, 1994)

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Phước Tuyên (2001) ương cá lóc môi trề bằng thức ăn tổng hợp có hàm lượng đạm thô 40% CP cho kết quả tốt, tỷ lệ sống cao Tốc độ tăng trưởng của cá lóc môi trề nuôi thương phẩm bằng thức ăn tổng hợp đạt yêu cầu, không thua thức ăn cá tạp Thu hoạch ở 7 tháng tuổi, cá lóc nuôi bằng thức ăn tổng hợp tự chế có trọng lượng bình quân 1 kg/con

Trang 19

Theo kết quả nghiên cứu của Lê Văn Liêm (2007) thì mô hình nuôi cá lóc nông hộ sử dụng hoàn toàn là thức ăn tươi sống cho cá ăn Có 3 loại thức ăn được các hộ nuôi sử dụng phổ biến đó là: phụ phẩm cá tra, basa, cá tạp nước ngọt và cá tạp biển Trong đó thức ăn là cá tạp biển được đa số hộ nuôi sử dụng (chiếm 66,7%)

số hộ được khảo sát, kế đến là cá tạp nước ngọt (chiếm 53,3%) và số hộ sử dụng phụ phẩm cá tra, basa là ít nhất (chiếm 26,7%) Tuy nhiên, các hộ nuôi vừa cho ăn

cá tạp biển và cá tạp nước ngọt trong cùng một vụ nuôi do nguồn cung cấp thức ăn

cá tạp không ổn định Qua đó cho thấy trong nuôi cá lóc còn lệ thuộc quá nhiều vào nguồn cá tạp biển trong khi cá tạp nước ngọt thì mang tính mùa vụ rất cao và phụ phẩm cá tra, basa thì chỉ được một số ít hộ nuôi cá lóc biết đến và chỉ sử dụng ở lần nuôi đầu tiên Việc quản lý thức ăn trong quá trình nuôi là rất quan trọng, sử dụng thức ăn tốt sẽ giảm được hệ số FCR, giảm được chi phí thức ăn trong quá trình nuôi

và đem lại lợi nhuận cao Mô hình nuôi cá lóc cho hệ số thức ăn từ 2-4,5; trung bình

là 3,49 (Lê Văn Liêm, 2007)

2.3 Nghiên cứu về sử dụng cá tạp ở Việt Nam

Định nghĩa cá tạp không phải là luôn luôn rõ ràng, trước đây nó là loài cá có giá trị thấp Cá tạp chiến hơn 60% tổng sản lượng đánh bắt ven bờ nhưng rất ít ở xa

bờ Có rất nhiều loài cá tạp, thành phần của chúng dựa vào phương pháp đánh bắt, vùng đánh bắt và loại thiết bị Cá tạp Việt Nam là cá vụn, đánh bằng lưới kéo, cá có chất lượng thấp Cá tạp rất ít khi dùng để ăn, trước khi phát triển kỹ thuât chế biến,

cá tạp chỉ là ủ làm nước mắm, hoặc làm cá phân ở miền nam Việt Nam (Peter

Edward et al., 2004)

Cá tạp được định nghĩa là phụ phế phẩm của nghề khai thác cá biển hay cá nội đồng Ở Việt Nam cá tạp được dùng làm thức ăn trực tiếp cho chăn nuôi, nuôi

thủy sản, làm nước mắm hay làm bột cá Theo Edward et al (2004), Việt Nam có

khoảng 0,9 triệu tấn cá tạp hàng năm Cá tạp Việt nam có chất lượng kém, hàm lượng đạm thấp khoảng 45-50% Cá tạp là thức ăn cho các đối tượng nuôi biển như

cá mú, cá bớp , tôm hùm cũng như nuôi cá đối tượng nước ngọt khác như cá lóc, cá

tra và basa tại An Giang

Trang 20

Theo định nghĩa từ “Regional workshop on low value and “trash fish” in the Asia-Pacific region” tại Hà Nội vào 6/2005 cá tạp Cá có giá trị thương mại thấp là

do chất lượng thấp, kích thước nhỏ, ít được ưa chuộng Chúng được sử dụng cho cả

sự tiêu thụ của con người (thường qua quá trình chế biến hay dự trữ) hoặc cho chăn nuôi, được sử dụng trực tiếp hay thông qua giảm sản lượng bột/dầu cá

Trần Thị Thanh Hiền và ctv (2006a) điều tra tình hình sử dụng các nguồn

nguyên liệu làm thức ăn nuôi cá tra tại An Giang Số lượng cá tạp biển cung cấp cho các vùng nuôi cá vùng ĐBSCL khoảng 100-120 tấn mỗi ngày Có hai nguồn cá tạp

là cá tạp nước ngọt và cá tạp biển Tuy nhiên, hiện nay người dân sử dụng chủ yếu

là cá biển Tên của các nhóm cá tạp thường tự do người mua và người bán thống nhất với nhau Mỗi nhóm cá còn được chia ra loại “cá rặc” (có một loài cá chiếm đa số) và cá lẫn tạp (có lẫn nhiều loài cá khác) Có thể kể một số nhóm cá chủ yếu sau: nhóm cá cơm, cá nục, cá trích, cá liệt, cá chỉ vàng, cá xây, cá bò … Người nuôi tại đây thích mua cá cơm để phối chế vì cá cơm có hàm lượng đạm khá ổn định và có kích thước nhỏ Thành phần đạm các loại cá tạp dao động từ 44,1% (như đầu cá nục, đầu cá trích…) đến 69,2% (như cá hố, cá cơm…) Hàm lượng khoáng của nhóm đầu

cá khá cao (22-23,4%) trong khi ở cá tạp nguyên con là 11,5-16,9%

Ở Thái Lan, cá tạp kết hợp với cám gạo để làm thức ăn nuôi cá lóc (có hoặc không có tấm) với tỷ lệ dao động 8:1, 13:1 (FAO, 1981) hoặc 8:2, 8,5:1,5, 9:1, 9,5:0,5 tùy theo giai đoạn phát triển (NACA, 1985) hoặc nuôi cá bống tượng với các thành phần nguyên liệu cá tạp, cám gạo, muối, vitamin premix với tỷ lệ thứ tự là 10:1:1:0,1 (Bundit, 2007)

Chất đạm đóng vai trò quan trọng nhất trong thành phần hóa học của thức ăn Chất đạm từ cá được động vật thủy sản tiêu hóa rất tốt (>90%), cung cấp đầy đủ các acid min cần thiết cho cá nuôi Hàm lượng chất béo của các loại cá tạp không khác nhau nhiều, dao động trong khoảng từ 15,3-19,3 Cá tạp là nguồn cung cấp các acid béo cần thiết và năng lượng trong thức ăn cho cá

Chỉ số độ thối (TVN) của cá tạp cho biết độ tươi của nguyên liệu TVN của

cá nguyên liệu có 3 mức độ: cá tươi, cá ươn và cá thối Chỉ số TVN (mgN/100 g) biến động trong khoảng 84-148 mgN/100 g, TVN trung bình là 113,2 ± 25,6

Trang 21

mgN/100 g Nguyên nhân của hiện tượng này là do thời gian từ lúc cá biển được đánh bắt cho đến khi đến người nuôi phối chế thức ăn thường mất từ 3-5 ngày, cá biển bị phân hủy rất nhiều và không còn tươi

Việc sử dụng cá tạp làm thức ăn trực tiếp cho nuôi thu ỷ sản có nhiều hạn chế:

Chất lượng kém do quá trình đánh bắt, vận chuyển và bảo quản không tốt Cá tạp khi cho ăn thường ở giai đoạn phân hủy, cá kém tươi nên hàm lượng TVA và amonia rất cao Đây là nguyên nhân làm cá nuôi phát sinh và lây lan mầm bệnh Cạnh tranh nguồn cá tạp làm thức ăn cho chăn nuôi, làm nước mắm và là nguồn thực phẩm sử dụng trực tiếp cho con người Ngay trong cùng nghề nuôi thủy sản, cạnh tranh nguồn cá tạp giữa nuôi các đối tượng, nhất là các đối tượng biển có giá trị kinh tế cao như cá mú, cá bớp, tôm hùm làm giá cá tạp tăng nhanh

Phụ thuộc vào mùa vụ, nên số lượng không ổn định

Nguồn cung cấp cá tạp ngày càng cạn kiệt Việc khai thác quá mức làm cho nguồn tài nguyên này suy kiệt, khó đáp ứng cho nhu cầu mở rộng của nghề nuôi thủy sản (Lê Thanh Hùng, 2008)

Theo Peter Edward et al (2004) trước đây cá tạp thường là bị bỏ đi, nhưng

do tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc làm bột cá khô cho xuất khẩu nên hiện nay

cá tạp trở nên có giá trị kinh tế đồng thời những loài cá nhỏ có giá trị thấp trước đây thì bây giờ được sử dụng làm mồi cho cá mú và nhiều loài khác đã đem lại giá trị kinh tế khi các loài cá nuôi lớn lên

Mặc dù không có số liệu chính thức về sử dụng cá tạp cho nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam Việc đánh giá này có thể làm dựa trên sản lượng của một số loài nuôi dùng cá tạp làm thức ăn, trên cơ sở hệ số chuyển hóa và đánh giá vào số lượng

cá tạp trong khẩu phần của chúng dự đoán cá tạp đã được sử dụng cho các loài cá nuôi nước ngọt và nước mặn ở Việt Nam từ 176.000 tấn đến 364.000 tấn (Peter

Edward et al., 2004) Cá tạp biển được sử dụng từ 1995 và gần đây được sử dụng

hoàn toàn mặc dù giá có cao, trước đây giá cá tạp biển từ 50-150 đ/kg nhưng bây giờ là 2.800-4.000 đ/kg Cá tạp biển được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như: dùng

Trang 22

cho xuất khẩu 20%; cung cấp thực phẩm tươi sống cho con người là 20%; thức ăn cho gia súc và cá nuôi là 25%; nước mắm là 25% (Bộ Thủy sản, 2000)

Cám và cá tạp là hai thành phần chủ yếu trong công thức thức ăn cá da trơn

Ở mô hình nuôi ao có 100% hộ sử dụng cám và 94,4% sử dụng cá tạp Ở mô hình nuôi bè có 100% số hộ có sử dụng cám và cá tạp trong công thức thức ăn (Trần Thị

(Son.D.M et al., 2005)

2.4 Nghiên cứu về sử dụng thức ăn chế biến nuôi cá lóc

Một trong những hiện tượng phổ biến khi nuôi cá lóc là chúng ăn thịt lẫn

nhau (Wee, 1982; Diana et al., 1985; trích bởi Quin and Fast, 1998) Quin and Fast

(1996b) đã nhận thấy rằng cá lóc có thể ăn thịt đồng loại nhỏ hơn chúng khoảng 2/3 chiều dài Đây chính là một trong nhiều nguyên nhân của tỷ lệ sống thấp khi nuôi cá

lóc Theo Diana et al (1985) (trích bởi Quin and Fast, 1998) thì tỷ lệ sống thường là

13-15% khi nuôi với mật độ 40-80 con/m2 sau 9-11 tháng nuôi.Quin and Fast (1996a) cho rằng hiện tượng ăn lẫn nhau của cá sẽ được hạn chế nếu sử dụng thức

ăn thay thế thức ăn đặc tính của loài Điều đó đã dẫn đến nghiên cứu của Quin and

Fast (1996a) trên cá lóc đen (Channa triata) khi tăng lượng thức ăn cho cá từ 0-15%

đã làm giảm được 35-86% hiện tượng ăn nhau trong thời gian 6 ngày Chỉ cung cấp thức ăn thì không thể giảm hoàn toàn hiện tượng ăn nhau, còn phụ thuộc vào sự đồng đều về kích thước cá Kích cỡ cá đồng đều và chế độ cho ăn hợp lý giúp giảm đáng kể hiện tượng ăn nhau của cá lóc (Quin and Fast, 1996a) Với kết quả này đã tạo tiền đề cho các nghiên cứu sử dụng thức ăn chế biến thay thế cho thức ăn đặc tính của loài (cá tạp) cho cá lóc với những hiệ quả cao hơn như chủ động được mùa

vụ, giảm ô nhiễm môi trường và giá thành sản phẩm

Trang 23

Quin and Fast (1996b) tiếp tục nghiên cứu sử dụng thức ăn chế biến 50% đạm trên cá có khối lượng 0,81±0,29 g Quin and Fast thấy rằng khi cho cá ăn với khẩu phần 5% trọng lượng thân thì hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhất và tỷ lệ ăn

nhau giảm đáng kể Quin et al (1997a) nghiên cứu về sự lựa chọn thức ăn của cá

lóc bột 0,2 g, chiều dài 6,5 mm, cá chết hoàn toàn ở nghiệm thức chỉ sử dụng thức

ăn chế biến Điều này liên quan đến enzyme trong ống tiêu hóa của cá Dabrowski

(1982) (trích bởi Quin et al., 1997b) cho rằng cá bột không có hệ enzyme tiêu hóa

tiêu hóa thức ăn chế biến Quin and Fast (1998) tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, mật độ và kích cỡ cá lên tăng trưởng cá lóc giống khi sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm 47%, chất béo 16%, viên thức ăn 4 mm, cá được cho ăn với khẩu phần 5% trọng lượng thân Kết quả cho thấy với cá có khối lượng và chiều dài lần lượt là 22,9 g và 13,9 cm tăng trưởng tốt ở nhiệt độ 270C và tỷ lệ sống hơn 80% Như vậy với kích cỡ như nhau thì nhiệt độ cao sẽ làm cá chấp nhận thức ăn chế biến nhanh chóng vì cá bắt mồi ở nhiệt độ cao tốt hơn ở nhiệt độ thấp

Roshada Hashim (1994) nghiên cứu trên cá lóc bột (Channa striata) tại

Trường đại học Sains ở Malaysia đã cho kết quả: tăng trưởng của cá lóc bột 0,95 g) bị ảnh hưởng bởi hàm lượng protein trong thức ăn và lịch cho ăn kết hợp giữa các loại thức ăn có hàm lượng protein khác nhau sau 7 tuần thí nghiệm Theo nghiên cứu của Wee (1986) (trích bởi Rosada Hashim, 1994), nhu cầu đạm của cá lóc giống và cá lóc bông lần lượt là 45,8% và 60%

(0,58-Cá lóc với đặc tính là loài ăn thịt và nhu cầu đạm chất lượng cao là cơ sở chủ

yếu để Mohanity et al (1996) xây dựng công thức thức ăn cân bằng dinh dưỡng và

hiệu quả kinh tế Họ đã thực hiện các thí nghiệm với các mức đạm khác nhau lên tăng trưởng của cá lóc bột có khối lượng trung bình là 0,552 g trong điều kiện phòng thí nghiệm Sau 8 tuần thí nghiệm cá tăng trưởng tốt nhất và hiệu quả sử dụng thức

ăn cao nhất ở nghiệm thức thức ăn có hàm lượng đạm là 55% và cá được cho ăn 10% khối lượng thân

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Lan (2004) trên cá lóc bông

(Channa micropltes) thực hiện tại khoa Thủy sản, trường đại học Cần Thơ cho thấy

rằng thời gian sử dụng thức ăn chế biến tốt nhất cho cá là ngày thứ 7 sau khi nở Ở

Trang 24

giai đoạn cá hương, thức ăn chế biến cho tăng trưởng và tỷ lệ sống cao hơn so với các loại thức ăn khác, đồng thời có hệ số thức ăn thấp nhất Cá lóc bông giống cỡ nhỏ (2,5-3 g) cho tốc độ tăng trưởng cao hơn nhưng tỷ lệ sống thấp hơn so với cá lớn (6-7 g) khi cho ăn loại thức ăn có cùng độ đạm Hàm lượng đạm cho tăng trưởng tối ưu và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhất của cá lóc bông giống cỡ nhỏ là 50,8%

và cá lớn là 46,5%, phù hợp với nhu cầu đạm của cá ăn động vật khác

Long et al (2004) nghiên cứu sử dụng thức ăn chế biến có hàm lượng đạm

khác nhau (30%, 40% và 50%) trên cá lóc bột có khối lượng từ 1,13-1,8 g tại Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ Dưới điều kiện môi trường nuôi được kiểm soát tốt, kết quả thí nghiệm là cá tăng trưởng tốt nhất ở nghiệm thức thức ăn 50%

đạm sau 45 ngày nuôi Bùi Minh Tâm và ctv (2008) ương cá hương cá lóc bông từ

30-60 ngày tuổi với cùng loại thức ăn nhưng ở các mật độ khác nhau (1200, 900,

600 con/m2) thì cá đạt tốc độ tăng trưởng tốt nhất ở nghiệm thức có mật độ 1200 con/m2 Nghiên cứu của Phan Hồng Cương (2009) khi thay thế 30% bột cá bằng bột đậu nành cho kết quả khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) về sinh trưởng, khi thay thế 40% thì cá bắt đầu giảm sinh trưởng

K.Sarma et al (2009) đã tiến hành thí nghiệm ảnh hưởng của các loại thức ăn

có hàm lượng đạm cao và vitamin C đối với việc giảm độ độc của endosulfan trên

cá lóc Channa punctatus có trọng lượng trung bình 27,01 g Kết quả cho thấy rằng:

ở nghiệm thức với thức ăn có hàm lượng đạm 50% và 0,2% vitamin C thì có tác dụng thúc đẩy sự phát triển, trao đổi chất và giảm độ độc do endosulfan gây ra cho

Với những kết quả nghiên cứu trên đã cho thấy rằng cá lóc có khả năng thích nghi với thức ăn chế biến trong quá trình sinh trưởng và phát triển nếu như chúng được thay thế dần thức ăn trong quá trình nuôi

Ngày đăng: 09/04/2018, 19:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w