1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của THUỐC TRỪ sâu DIAZAN 60 EC lên CƯỜNG độ hô hấp và SINH TRƯỞNG của tôm CÀNG XANH (macrobrachium rosenbergii)

67 173 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮTThí nghiệm ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Diazan 60EC lên cường độ hô hấp và sinh trưởng của tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii được thức hiện với 4 nghiệm thức có nồng độ thuố

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

DƯƠNG CAO

ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC TRỪ SÂU DIAZAN 60 EC LÊN CƯỜNG ĐỘ HÔ HẤP VÀ SINH TRƯỞNG CỦA

TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii)

LUẬ N VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

2009

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

DƯƠNG CAO

ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC TRỪ SÂU DIAZAN 60 EC LÊN CƯỜNG ĐỘ HÔ HẤP VÀ SINH TRƯỞNG CỦA

TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii)

LUẬ N VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:

PGS TS NGUYỄN THANH PHƯƠNG

2009

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, khoa Thủy Sản, quý thầy cô đã truyền đạt kiến thức, luôn tạo điều kiện cho tôi học tập và rèn luyện trong suốt bốn năm qua

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Thầy Nguyễn Thanh Phương và cô

Đỗ Thị Thanh Hương đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt đề tài

Xin cảm ơn chị Nguyễn Hương Thùy và chị Nguyễn Thị Kim Hà công tác tại Bộ môn Dinh Dưỡng và Chế Biến Thủy Sản đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian thực tập cũng như hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin gởi lời cảm ơn đến anh Ngô Thanh Toàn lớp Cao học Thủy Sản khóa 13 đã tận tình giúp đỡ trong thời gian thực tập cũng như hoàn thành luận văn

Cảm ơn bạn Lê Văn Lĩnh, Nguyễn Văn Thảo và tập thể lớp Nuôi trồng thủy sản khóa 31 đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập.Cuối cùng cảm ơn gia đình và bạn bè tôi, những người luôn quan tâm, chia sẽ và ủng hộ tôi trong suốt thời gian qua

Trang 4

TÓM TẮT

Thí nghiệm ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Diazan 60EC lên cường độ

hô hấp và sinh trưởng của tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) được

thức hiện với 4 nghiệm thức có nồng độ thuốc lần lượt là: 6,1 µl/L, 61 µl/L, 152,5 µl/L, 305 µl/L và nghiệm thức đối chứng Tôm được thu từ các ao nuôi, có khối lượng từ 5 – 10g/con và được trữ trong bể 1m3 hai tuần trước khi tiến hành thí nghiệm

Kết quả xác định đo tiêu hao oxy của tôm trong môi trường nhiễm Diazan, cho thấy ở nghiệm thức đối chứng có kết quả 304.55 ± 16,2 mgO2/kg/giờ cao hơn so với các nghiệm thức có nồng độ thuốc 6,1 µl/Lvà 61 µl/L ít thuốc nhưng lại thấp hơn so với nghiệm thức 152,5 µl/L và 305 µl/L là hai nghiệm thức có nồng độ thuốc cao Tuy nhiên, chỉ có nghiệm thức 61 µl/Lcho kết quả 275,26 ± 11,92 mgO2/kg/giờ thấp hơn và khác biệt có ý nghĩa thống

kê (p < 0,05) so với các nghiệm thức còn lại

Tỉ lệ sống của tôm giảm ở hầu hết các nghiệm thức sau các lần tiếp xúc với thuốc tỉ lệ sống tăng ở nghiệm thức 6,1 µl/L so với đối chứng(p > 0,05),sau đó giảm dần ở các nghiệm thức có nồng độ thuốc cao Thấp nhất là ở nghiệm thức 305 µl/L và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với đối chứng

Ẩm độ trong thịt tôm ít có sự chênh lệch giữa các nghiệm thức nhưng hàm lượng đam trong thịt tôm lai có sự khác biệt thấp nhất là ở nghiệm thức 61µl/L 21,3% và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (p < 0,05)

Tốc độ tăng trưởng của tôm ở nghiệm thức 6,1 µl/L là 0,652 ± 0,035% cao hơn so với các nghiệm thức khác nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống

kê (p > 0,05) so với đối chứng Tăng trưởng ở nghiệm thức 305 µl/L là 0,39 ± 0,072% thấp nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (p < 0,05)

Kết quả này cho thấy, tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) ít bị ảnh

hưởng bởi thuốc trừ sâu Diazan 60EC với nồng độ ≤ 6,1 µl/L trong thời gian ngắn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

TÓM TẮT 4

MỤC LỤC 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 7

DANH SÁCH BẢNG VÀ HÌNH 8

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 9

1.1 Giới thiệu 9

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 10

1.3 Nội dung nghiên cứu 10

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11

2.1 Sơ lược về tôm càng xanh 11

2.1.1.Vị trí phân loại 11

2.1.2 Phân bố 11

2.1.3.Đặc điểm hình thái 11

2.1.5 Tập tính ăn 12

2.1.6 Lột xác 12

2.1.7 Môi trường sống 13

2.2 Thuốc dùng làm thí nghiệm 14

PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17

3.2 Đối tượng nghiên cứu 17

3.2.1 Hóa chất 17

3.2.2 Tôm thí nghiệm 17

3.2.3 Vật liệu thí nghiệm 18

3.3 Phương pháp thí nghiệm 18

3.5.1 Thí nghiệm xác định LC 50 -96h 18

3.3.2 Thí nghiệm 1: Xác định ảnh hưởng diazan 60EC lên tiêu hao oxy của tôm 18 3.3.3 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của diazan 60EC ở nồng độ dưới ngưỡng gây chết lên tiêu thụ thức ăn, sinh trưởng, tỉ lệ sống, hàm lượng protein và nước trong thịt tôm .19

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 21

PHẦN 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 22

4.1 Xác định giá trị LC 50 22

4.2 Tiêu hao oxy của tôm ở các nồng độ Diazan 60EC khác nhau 22

4.3 Ảnh hưởng của Diazan 60EC lên tăng trưởng của tôm 23

4.3.1 Các yếu tố môi trường 23

4.3.1.1 Nhiệt độ 23

4.3.1.2 pH 24

4 3.1.3 Oxy hòa tan (DO) 25

4 3.1.4 Đạm Nitơ: NH3, NO2- , NO3- 25

4.3.2 Tỉ lệ sống 27

4.3.3 Chu kỳ lột xác 28

4.3.4 Tiêu thụ thức ăn 28

4.3.5 Hàm lượng đạm và ẩm độ trong thịt tôm 29

4.3.6 Tăng trưởng 30

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 32

Trang 6

5.1 Kết luận 32

5.2 Đề xuất 32

TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

Phụ lục 1 Bảng số liệu tính LC50-96 giờ 28

Phụ lục 2 Bảng số liệu đo tiêu hao oxy 30

Phụ lục 3 Bảng số liệu đo nhiệt độ sáng 31

Phụ lục 4 Bảng số liệu đo nhiệt độ chiều 34

Phụ lục 5 Bảng số liệu do pH sáng 37

Phụ lục 6 Bảng số liệu đo pH chiều 39

Phụ lục 7 Bảng số liệu do tiêu hao oxy (DO) sáng 42

Phụ lục 8 Bảng số liệu do tiêu hao oxy (DO) chiều 43

Phụ lục 9 Bảng số liệu do TAN ở thí nghiệm 2 46

Phụ lục 10 Bảng số liệu do NO2- ở thí nghiệm 2 47

Phụ lục 11 Bảng số liệu do NO3- ở thí nghiệm 2 47

Phụ lục 12 Bảng số liệu tỉ lệ sống ở thí nghiệm 2 48

Phụ lục 13 Bảng số liệu chu kỳ lột xác ở thí nghiệm 2 49

Phụ lục 14 Bảng số liệu tiêu thụ thức ăn ở thí nghiệm 2 52

Phụ lục 15 Bảng số liệu hàm lượng protein và ẩm độ trong thịt tôm ở thí nghiệm 2 55

Phụ lục 16 Bảng số liệu tăng trưởng của tôm ở thí nghiệm 2 56

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Bộ NN&PTNT Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 8

DANH SÁCH BẢNG VÀ HÌNH

Danh sách trang

Bảng 1: Thời gian lột xác của tôm càng xanh 5

Bảng 2: Giá trị LC50 của một số loại thuốc BVTV đối với tôm càng xanh 7

Bảng 3 Giá trị LC50 qua các thời gian khác nhau 14

Hình 3.1 Chai thuốc bảo vệ thực vật trên thị trường 9

Hình 3.2 thí nghiệm đo tiêu hao oxy trên tôm càng xanh dưới ảnh hưởng của diazan 11

Hình 3.3 Hệ thống thí nghiệm nuôi tăng trưởng 12

Hình 4.2: Biến động tiêu hao oxy giữa các nghiệm thức 15

Hình 4.3: Biến động nhiệt độ giữa các nghiệm thức 16

Hình 4.4: Biến động pH giữa các nghiệm thức 16

Hình 4.5: Biến động oxy hòa tan giữa các nghiệm thức 17

Hình 4.6: Biến động NH3/TAN giữa các nghiệm thức 18

Hình 4.7: Biến động NO2-, NO3- giữa các nghiệm thức 18

Hình 4.8: Biến động tỉ lệ sống giữa các nghiệm thức theo thời gian 19

Hình 4.9: Chu kỳ lột xác của các nghiệm thức 20

Hình 4.10: Tiêu thụ thức ăn của các nghiệm thức 21

Hình 4.11: Hàm lượng protein và ẩm độ trong thịt tôm dưới ảnh hưởng của Diazan 60EC 21

Hình 4.12:SGR (%/ngày) dưới ảnh hưởng của diazan theo thời gian 23

Trang 9

PHẦN 1: MỞ ĐẦU1.1 Giới thiệu

Trong những năm gần đây nghề nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium

rosenbergii) phát triển mạnh ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là

các tỉnh xa biển Tôm càng xanh được nuôi với nhiều hình thức như như nuôi trong ao, mương vườn, ruộng lúa hay đăng quầng… Việc tăng nhanh diện tích nuôi tôm càng xanh đã tạo ra một vùng nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu quan trọng, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại những địa bàn thường xuyên chịu đựng ngập lũ, giúp người dân có thêm cơ hội xóa đói giảm nghèo Theo Nguyễn Như Tiệp (2004) thì sản lượng Tôm càng xanh nuôi năm 2003 vào khoảng 2.500 tấn Sự mở rộng diện tích nuôi Tôm càng xanh ở ĐBSCL là nhờ vào sự quảng bá nhanh và rộng kỹ thuật sản xuất giống Tôm càng xanh đến người sản xuất Trong nuôi tôm thịt, năm 2002, cả nước đạt 10.000 tấn (Bộ Thủy sản 2003), chủ yếu từ các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Các mô hình nuôi tôm với nhiều hình thức khác nhau như nuôi tôm kết hợp với lúa đạt năng suất bình quân 184 kg/ha/vụ; nuôi tôm luân canh với lúa đạt 686 kg/ha/vụ; nuôi

ao đạt 1,2 tấn/ha/vụ và nuôi tôm đăng quầng trên sông đạt bình quân 4,12 tấn/ha/vụ (Nguyễn Thanh Phương, 2003)

Tuy nhiên, do hệ thống thủy lợi giữa nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp chưa có sự quy hoạch riêng biệt nên nguồn nước sử dụng cho đồng ruộng cũng chính là nơi sinh sống của nhiều loài thủy sinh vật trong đó có tôm

càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) Môi trường sống của thủy sinh vật

cũng bị tác động nghiêm trọng từ việc tăng vụ canh tác trong năm đến việc sử dụng nhiều loại hóa chất để bảo vệ mùa màng Ước tính có đến 30.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sử dụng hàng năm trên đồng ruộng (Berg, 2001) Năm 2003 có đến 1.151 tên thương phẩm với 266 tên hoạt chất khác nhau được phép lưu hành trên thị trường (Bộ NN&PTNT, 2003) Đến năm

2006, có đến 1525 tên thương phẩm và 516 hoạt chất cho phép lưu hành, trong

đó thuốc trừ sâu có khoảng 621 tên thương mại với 189 hoạt chất (Cục Bảo Vệ Thực Vật, 2007)

Diazan là loại thuốc BVTV có chứa hoạt chất diazinon gốc lân hữu cơ, được sử dụng phổ biến trong canh tác lúa, có thời gian bán rã 185 ngày trong môi trường trung tính (pH 7,4) nhưng phân huỷ nhanh trong môi trường acid (11,77 giờ, pH 3,1) hay kiềm (6 ngày, pH 10,4) (Tomlin, 1994) Do đó, có rất nhiều khả năng diazinon tồn dư trong môi trường khi nó được sử dụng ở những vùng canh tác lúa có pH trung tính và gây ảnh hưởng đến nhiều loài sinh vật

Trang 10

Giống như đặc tính chung của thuốc BVTV gốc lân hữu cơ, dấu hiệu đầu tiên của diazinon gây hại cho sinh vật là ức chế hoạt tính của enzyme cholinesterase (ChE) (Tomlin, 1994) Hiện nay trên thị trường có hơn 15 tên thương mại thuốc BVTV chứa hoạt chất diazinon với nhiều tỷ lệ pha trộn khác nhau (5, 10, 20,

40, 50 và 60%)

Ảnh hưởng của thuốc BVTV lên thủy sinh vật nói chung đã được nghiên cứu từ nồng độ gây chết (LC50) đến nồng độ dưới ngưỡng gây chết Diazinon

không những gây ức chế lâu dài hoạt tính ChE trong não của cá Lóc (Channa

striata) (Nguyễn Văn Công và ctv, 2006) Cho đến nay có nhiều nghiên cứu tìm

hiểu tác động của các loại thuốc BVTV nói chung và diazinon nói riêng lên các đối tượng cá nuôi Tuy nhiên, ảnh hưởng của thuốc BVTV lên các loài giáp xác

có giá trị kinh tế cao như là tôm càng xanh vẫn chưa rõ Vì vậy đề tài “Ảnh

hưởng của thuốc trừ sâu Diazan 60 EC lên cường độ hô hấp và sinh trưởng tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii)” được thực hiện.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu diazan 60 EC chứa 60% hoạt chất diazinon đến cường độ hô hấp và sinh trưởng của tôm càng xanh Từ đó có thể xác định mức độ nhạy cảm và đánh giá rủi ro của sử dụng thuốc BVTV Diazan đối với tôm để làm cơ sở cho việc đánh giá khả năng nuôi tôm kết hợp ruộng lúa và lựa chọn vùng nuôi phù hợp

1.3 Nội dung nghiên cứu

Ảnh hưởng diazan 60EC lên cường độ hô hấp (tiêu hao oxy)

Ảnh hưởng của diazan 60EC ở nồng độ dưới ngưỡng gây chết lên sinh trưởng, tỉ lệ sống, hàm lượng protein và nước trong thịt tôm

Trang 11

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 Sơ lược về tôm càng xanh

Loài: Macrobrachium rosenbergii de Man 1879

Tên tiếng Anh: Giant freshwater prawn Tôm càng xanh là loài tôm có kích cỡ lớn nhất trong nhóm tôm nước ngọt

Ở Việt Nam, tôm càng xanh phân bố chủ yếu các tỉnh Nam bộ đặc biệt là các vùng nước ngọt và vùng cửa sông ven biển ở Đồng bằng sông Cửu Longvới 2 dạng là tôm càng xanh và tôm càng lửa

2.1.3.Đặc điểm hình thái

Tôm càng xanh có trọng lượng khá lớn, con đực có thể đạt tới 450g/con Thân tương đối tròn, con trưởng thành có màu xanh dương đậm Chuỷ phát triển nhọn, 1/2 chủy ngoài cong lên, trên mắt chuỷ có 11-15 răng, 2-3 răng sau hốc mắt, 10-15 răng dưới chủy (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004)

Chân ngực thứ hai luôn luôn phát triển hơn các chân khác, nhất là ở tôm đực trưởng thành, đôi chân ngực thứ 2 có hình dạng và kích thước giống nhau Khi chiều dài bình quân 8-14cm, trọng lượng cơ thể từ 10-20g, tôm càng xanh

Trang 12

có sự phát triển tương đương giữa con đực và con cái Khi chiều dài vượt quá 14cm, con đực thường phát triển nhanh hơn con cái

2.1.5 Tập tính ăn

Tôm càng xanh là loài ăn tạp nghiêng về động vật, thức ăn tự nhiên của chúng là các loại nguyên sinh động vật, giun nhiều tơ, giáp xác, côn trùng, nhuyễn thể, các mảnh cá vụn, các loài tảo, mùn bã hữu cơ và cát mịn Tôm càng xanh xác định thức ăn bằng mùi và màu sắc

Tôm tìm thức ăn bằng cơ quan xúc giác (râu), khi tìm được thức ăn, chúng dùng chân ngực thứ nhất kẹp gắp thức ăn đưa vào miệng Trong thời gian

ấp trứng tôm có thể nhịn ăn vài ba ngày Hình dạng và mùi vị thức ăn đóng vai trò quan trọng trong việc hướng tôm đến bắt mồi Điều này rất quan trọng trong việc chế biến thức ăn cho tôm

Tôm thường bắt mồi nhiều vào chiều tối và sáng sớm, tôm thường bò trên mặt đáy ao, dùng càng nhỏ đưa mồi vào miệng Đặc tính của tôm càng xanh nếu không đủ thức ăn, chúng hay ăn thịt lẫn nhau khi lột xác, đây là đặc tính của loài Khi nuôi tôm thương phẩm phải lưu ý đến hiện tượng này và dùng các biện pháp kỹ thuật để hạn chế sự ăn thịt lẫn nhau của tôm

Tôm càng xanh trưởng thành là loài ăn tầng đáy, nó sử dụng nhiều loại động vật khác nhau để làm thức ăn từ nhuyễn thể, giáp xác đến tơ sợi và kể cả chất thối rữa hữu cơ, và tôm cũng ăn thức ăn viên công nghiệp Tôm tìm thức ăn bằng cơ quan xúc giác, chúng dùng râu quét ngang, dọc phía trước hưóng di chuyển Khi tìm gặp thức ăn chúng dùng chân ngực thứ nhất kẹp lấy thức ăn, đưa chân hàm và từ từ đưa vào miệng Trong quá trình tìm thức ăn tôm có tínhtranh giành cao, cá thể nhỏ thường tránh xa đàn hay khi tìm được một miếng thức ăn thì di chuyển đi nơi khác, trong khi đó con lớn vẫn chiếm chỗ và đánh đuổi tôm nhỏ Ngoài ra, tôm còn ăn đồng loại khi chúng yếu (ví dụ như mới lột) hay khi thiếu thức ăn

(http://vietLinh News, Technology, material, services, Consulting for

shrimp farm and aquaculture - nu«i t«m só.mht)

2.1.6 Lột xác

Giống như các loài giáp xác khác, sinh trưởng của tôm càng xanh không liên tục, có sự gia tăng kích thước nhanh sau mỗi lần lột xác Tốc độ sinh trưởng của tôm đực và cái gần như tương đương nhau cho tới khi chúng đạt kích cở 35-50g, sau đó khác nhau rõ theo giới tính, tôm đực sinh trưởng nhanh hơn tôm cái

Trang 13

Một hiện tượng thường thấy trong nuôi tôm càng xanh là sự phân đàn khá rõ kể cả trong cùng một nhóm giới tính Để sinh trưởng, cũng như các loài giáp xác khác, Tôm Càng Xanh đều phải lột vỏ theo chu kỳ của nó, quá trình này được gọi là sự lột xác và tiếp theo sau đó là sự gia tăng đột ngột về kích thước và trọng lượng

Chu kỳ lột xác của tôm tùy thuộc vào giai đoạn sinh trưởng, tình trạng sinh lý, điều kiện dinh dưỡng, điều kiện môi trường, Tôm càng xanh tuân theo qui luật chung của tôm là tôm nhỏ chu kỳ lột xác ngắn hơn tôm lớn Chu

kỳ lột xác của tôm trình bày trong bảng 1

Bảng 1: Thời gian lột xác của tôm càng xanh ở các giai đoạn khác nhau(28oC) Sandifer và Smith,1985 trích bởi Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004)

Trọng lượng (g/con) Chu kỳ lột xác (ngày)

2-56-1011-1516-2021-2526-3536-60

9131718202222-24

2.1.7 Môi trường sống

pH: mức pH thích hợp nhất cho tôm càng xanh Nhiệt độ: tôm càng xanh

là loài thích nghi với biên độ nhiêt độ rộng từ 18 - 34oC, nhiệt độ tốt nhất là 28 – 30oC, ngoài phạm vi nhiệt độ này tôm sẽ sinh trưởng chậm hay khó lột xác

là 6,5 - 8,5, ngoài khoảng này tôm có thể sống được nhưng sinh trưởng kém, pH dưới 5 tôm hoạt động yếu và chết sau 6 giờ

Oxy hòa tan: môi trường phải có oxy hòa tan > 2,1 ppm ở 23oC, trên 2,9 ppm ở 28oC và trên 4,7 ppm ở 33oC Dưới mức nầy tôm hoạt động yếu, tập trung ven bờ, nổi đầu và chết sau vài giờ Tôm lớn cần nhiều oxy hơn tôm nhỏ Nếu hàm lượng oxy vượt quá mức bảo hòa cũng gây tác hại đến tôm nhất là trình hô hấp.quá

Ánh sáng: vừa phải, cường độ thích hợp nhất là 400 lux Ánh sáng cao

sẽ ức chế hoạt động của tôm, do vậy ban ngày có ánh sáng cao tôm xuống đáy thủy vực trú ẩn, ban đêm hoạt động tìm mồi tích cực

Độ cứng: thích hợp trong ương nuôi tôm trong khoảng từ 50-150 ppm,

độ cứng thấp dưới 50 ppm có thể gây ra hiện tượng vỏ mềm Tuy nhiên, khi độ

Trang 14

cứng cao hơn 300 ppm làm tôm chậm lớn, dễ nhiễm do các nguyên sinh động vật bám.

Độ đạm: Đạm ammonia và đạm nitrite rất độc đối với tôm càng xanh và

các loại thủy sản nói chung Hàm lượng đạm trên được duy trì ở mức dưới 0,1 ppm đối với đạm nitrite và dưới 1 ppm đối với đạm ammonia

(Trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004)

2.2 Thuốc dùng làm thí nghiệm

Diazan 60EC là loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) chứa 60% hoạt chất Diazinon có tác dụng tiếp xúc, vị độc, xông hơi và thắm sâu, trừ hữu hiệu các loại sâu dục thân trên lúa, dòi đục thân trên đậu tương Thuốc độc với ong, cá, tôm

Diazinon là một hoạt chất thuốc BVTV gốc lân hữu cơ có công thức phân tử là C12H21N2O3PS có trọng lượng phân tử là 304,35g/mole (Hunter et al., 1985 Trích bởi APE, 2005 ) Tên hóa học là:

O, O - diethyl 0 - [6 – methyl – 2 - (1 - methylethyl) – 4 - pyrimidinyl] phosphorothioate

Công thức cấu tạo như sau:

Hình 2: công thức cấu tạo của diazinon

Theo EPA ( Environmental Protection Agency- Washington D.C, 2005) Diazinon tinh khiết là một chất dầu không màu có tỷ trọng lớn hơn nước (1,116-1,118g/ml ở 200C) và có thể hòa tan được trong nước ở 200C đến 0,006% Diazinon bị phân hủy ở nhiệt độ trên 1200C, chúng bị oxy hóa ở nhiệt độ 1000C, bền trong môi trường trung tính, nhưng chậm thủy phân trong môi trường kiềm và thủy phân nhanh chóng trong môi trường acid

Giống như đặc tính chung của thuốc BVTV gốc lân hữu cơ, dấu hiệu đầu tiên mà diazinon gây hại cho sinh vật là ức chế hoạt tính của enzyme cholinesterase (ChE) (Tomlin, 1994) trong hệ thần kinh của sinh vật

2.3 Tình hình nghiên cứu

Trang 15

Việc sử dụng thuốc trừ sâu trên đồng ruộng là không thể thiếu đối với nông dân, nhưng ở những ruộng có nuôi tôm kết hợp thì liều lượng khi sử dụng thuốc trừ sâu cần được xem xét kĩ Vì vậy các nghiên cứu về nồng độ gây chết của thuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thức vật nói riêng đối với tôm càng xanh cũng

đã được một số tác giả xác định như sau:

Bảng 2: Giá trị LC50 của một số loại thuốc BVTV đối với tôm càng xanh

Nhóm

thuốc Tên thuốc

Loài sinh vật nghiên cứu

Giá trị ảnh

Methylparathion (MP)

Tôm càng xanh

8,6 µg/L

(LC 50 -72giờ)

Trần Thị Chi và Hồ Thị Xuân Thu (1990)

chép (Cyprrinus carpio), rô phi (Orreochromis niloticus) và mè vinh (Puntius

gonionotus) đã được nghiên cứu; Hoạt tính ChE và sinh trưởng của cả 3 loài cá này đều giảm khi sống trong môi trường có nhiễm diazinon nhưng cường độ hô hấp thì tăng Như vậy, cả ba loài cá đều tăng sử dụng năng lượng cho trao đổi chất khi tiếp xúc môi trường nhiễm bẩn diazinon (Đỗ Thị Thanh Hương, 1999)

Trang 16

Ảnh hưởng của hoạt chất diazinon lên hoạt tính ChE và sinh trưởng cá

lóc đồng (Channa striata) được triển khai bởi Nguyễn Văn Công và ctv (2006).

Các tác giả này cũng phát hiện ChE bị ức chế ở nồng độ ≥ 0,016 mg/L nhưng tăng trọng bị ức chế ở nồng độ diazinon cao hơn (≥0,35 mg/L) Khi nhiệt độ tăng, mức độ ChE bị ức chế cũng gia tăng

Ở nồng độ dưới ngưỡng gây chết, Chang et al (2006) cũng cho thấy lân

hữu cơ trichlorfon làm ảnh hưởng đến sinh lý, sinh hoá của tôm càng xanh Sau

24 giờ tiếp xúc với trichlorfon ở nồng độ từ 0,1-0,3 mg/L, hoạt tính

acetylcholinesterase enzyme, glycogen, Na+, osmolality, Cl-, pCO2, trong máu đều giảm thấp hơn đối chứng nhưng hàm lượng glucose trong huyết tương, trong thịt tăng; hàm lượng lactate trong huyết tương và trong cơ cũng gia tăng đáng kể

HCO3-Nhìn chung các loài thủy sinh vật nói chung và các loài giáp xác nói riêng rất nhạy cảm với thuốc BVTV Thuốc gốc lân hữu cơ làm gia tăng nhu cầu năng lượng của tôm và có thể dẫn đến giảm sinh trưởng

Trang 17

PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thí nghiệm được triển khai tại Khoa Thủy sản, trường Đại học Cần Thơ Thời gian triển khai thí nghiệm từ tháng 8 năm 2008 đến tháng 1 năm 2009

3.2 Đối tượng nghiên cứu

3.2.1 Hóa chất

Thuốc trừ sâu gốc lân hữu cơ Diazan 60EC

chứa 60% hoạt chất diazinon O,O-diethyl

0-[6-methyl-2-(1-methylethyl)-4-pyrimidinyl]

phosphorothioate và 40% phụ gia do Công ty

BVTV An Giang sản xuất

Thuốc độc đối với ong, cá, chim, có tác

dụng tiếp xúc, vị độc, xông hơi và thấm sâu, diệt

trừ hữu hiệu các loại sâu đục thân trên lúa, dòi đục

ngọn trên đậu tương

Liều lượng khuyến cáo trên nhãn chai: 25 –

40 ml/8 lít x 4 bình/ 1000m2 Thuốc không dùng

chung với các loại chất kiềm

3.2.2 Tôm thí nghiệm

Tôm càng xanh (M rosenbergii) có khối lượng 5-10g được mua từ các

hộ nuôi ở huyện Cờ Đỏ và Ô Môn mang về thuần dưỡng ở phòng thí nghiệm 2 tuần trước khi tiến hành thí nghiệm Tôm được nuôi trong bể composite (1m3) với mật độ 200 con/bể, trong bể được đặt nhiều giá thể để hạn chế việc tôm ăn lẫn nhau

Hàng ngày tôm được cho ăn bằng mực tươi kết hợp với thức ăn công nghiệp, với tỉ lệ cho ăn là 5-10% khối lượng (đảm bảo đủ nhu cầu sinh trưởng của tôm), ngày ăn 2 lần ( 7-8 giờ và 16-17 giờ), sau khi cho tôm ăn 2 giờ tiến hành vớt bỏ thức ăn dư thừa và thay nước từ 5-10%/ lần (nước máy)

Tôm nuôi trong bể được sục khí liên tục nhằm đảm bảo oxy hòa tan >5 mg/L Tôm khỏe mạnh, cùng tuổi và khá đồng đều về giai đoạn lột xác và trọng lượng được chọn để nghiên cứu Trước khi bố trí thí nghiệm ngưng cho tôm ăn một ngày để hạn chế phân hoặc các chất thải khác của tôm có thể làm ô nhiễm nước thí nghiệm và có thể làm ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm

Hình 3.1: Chai thuốc trừ sâu Diazan 60EC trên thị trường

Trang 18

Máy đo oxy, nhiệt độ, pH

Dụng cụ và hóa chất đo DO, NH3/NH4+,

N-NO2-Máy so màu quang phổ

Máy móc thiết bị phân tích hàm lượng protein và lượng nước trong thịt tôm

3.3 Phương pháp thí nghiệm

3.5.1 Thí nghiệm xác định LC 50 -96h

Thí nghiệm sẽ được thực hiện trong hệ thống nước tĩnh, không thay nước, có sục khí liên tục Tám mức nồng độ diazan 60EC là (0,07; 0,13; 0,27;0,52; 1,05; 2,08; 4,17 và 8,33) nằm trong khoảng gây độc và đối chứng được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lập lại Mỗi lần lập lại với 10 tôm khỏe mạnh.Trong suốt thời gian thí nghiệm tôm không được cho ăn Theo dõi hoạt động của tôm và ghi nhận tỷ lệ chết ở các thời điểm 12, 24, 48, 72 và 96 giờ sau khi bố trí Tôm chết được bắt ra để hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng nước

Số tôm chết của từng nghiệm thức được ghi nhận lại và đưa vào phần mềm SPSS 15.0 để xử lí bằng phương pháp Probit

3.3.2 Thí nghiệm 1: Xác định ảnh hưởng diazan 60EC lên tiêu hao oxy của tôm

Tôm sẽ được chăm sóc trong điều kiện thí nghiệm và ngưng cho ăn 24 giờ trước khi tiến hành thu mẫu để đo tiêu hao oxy Bốn nghiệm thức có diazan 6,1 µl/L, 61 µl/L, 152,5 µl/L, 305 µl/L tương đương với 1%, 10%, 25%, 50% giá trị

LC50và 1 đối chứng được chọn thí nghiệm ảnh hưởng diazinon lên tiêu hao oxy của tôm Mỗi nghiệm thức lập lại 10 cá thể

Cho tôm vào bình có chứa thuốc theo nồng độ pha sẵn của 5 nghiệm thức, cho nước chảy tuần hoàn khoảng 2 giờ nhằm tránh tôm bị sốc sau đó đóng kín bình lại để đo tiêu hao oxy của tôm Mỗi nghiệm thức đo ít nhất 10 con (1 con/1lần lặp lại) Nhiệt độ được kiểm tra định kỳ sau 15 phút nhằm duy trì ở mức 28 ± 0,20C bằng máy đo pH, nhiệt độ HANNA (Waterproof HI98127) và máy nâng nhiệt độ

Trang 19

Hình 3.2 thí nghiệm đo tiêu hao oxy trên tôm càng xanh dưới ảnh

hưởng của diazan

Tiêu hao oxy được xác định dựa vào đo oxy hòa tan trong nước Sau 2 giờ trong bình kín tiến hành thu mẫu nước vào lọ nút mài nâu 125ml và cố định bằng 1ml dung dịch MnSO4, 1ml dung dịch KI-NaOH, đậy nắp, lắt đều.Oxy hòa tan được xác định bằng phương pháp Winkler

Tiêu hao oxy được tính theo công thức:

Trong đó DOĐ và DOS lần lượt là oxy hòa tan trước và sau khi bố trí thí nghiệm

Vb thể tích bình bố trí Wtôm trọng lượng tôm

t thời gian bố trí Vtôm thể tích tôm

(Đỗ Thị Thanh Hương và Trần Thị Thanh Hiền, 2000)

3.3.3 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của diazan 60EC ở nồng độ dưới ngưỡng gây chết lên tiêu thụ thức ăn, sinh trưởng, tỉ lệ sống, hàm lượng protein

và nước trong thịt tôm.

* Bố trí thí nghiệm:

Thí nghiệm gồm một nghiệm thức đối chứng (nghiệm thức 1 - NT1) và bốn nghiệm thức có nồng độ diazan 6,1 µl/L (NT2), 61 µl/L (NT3), 152,5 µl/L(NT4), 305 µl/L (NT5) tương đương với 1%, 10%, 25% và 50% của giá trị LC50-96 giờ

t W

V V DO DO

h kg mgO THO

tôm

tôm b S

( ) / /

Trang 20

Các nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẩu nhiên trong bể composite

250 lít, mật độ 6 tôm/bể với 3 lần lặp lại nuôi trong 3 bể riêng

Thời gian thí nghiệm 84 ngày

* Chăm sóc và quản lý:

Trong 4 ngày đầu kể từ khi cho thuốc vào, tôm không được cho ăn và không thay nước Sau 96 giờ tiến hành thay 30% lượng nước và sau đó cứ 3 ngày/lần thay 30% lượng nước (nước máy) trong bể nuôi nhằm đảm bảo ổn định được các yếu tố môi trường như oxy, NH3, NO2-… đến ngày thứ 32 (sau khi bố trí thí nghiệm) cho tôm tiếp xúc lần 2 với diazan Cũng giống như lần thứ nhất tiếp xúc với thuốc, suốt 4 ngày tiếp xúc tôm không được cho ăn và không thay nước Sau đó tôm được thay nước tương tự như ở lần tiếp xúc trước

Hình 3.3 Hệ thống thí nghiệm nuôi tăng trưởng và thức ăn mực tươi

Trong 2 tuần đầu thì hàng ngày tôm được cho ăn bằng mực tươi, ngày ăn

2 lần lúc 7 - 8 giờ và 16 - 17 giờ, với lượng thức ăn đảm bảo dư thừa để tính lượng thức ăn tôm đã sử dụng (chỉ tính trong 2 tuần đầu)

Sau đó cho tôm ăn theo nhu cầu (khoảng 5-10% trọng lượng tôm, đảm bảo đủ đến dư) nhằm đảm bảo đủ năng lượng cho hoạt động và sinh trưởng Sau khi cho tôm ăn 3 giờ tiến hành vớt bỏ hay xi-phông thức ăn dư thừa và cấp bù lượng nước bị thất thoát Hệ thống thí nghiệm được sục khí liên tục, lượng nước thay 30%/3ngày/lần Theo dõi các hoạt động của tôm ghi nhận số tôm chết hàng ngày và bắt ra khỏi bể thí nghiệm để tránh làm ảnh hưởng đến chất lượng nước

* Các chỉ tiêu môi trường:

Nhiệt độ, DO, pH được đo bằng máy đo hàng ngày vào buổi sáng (7 – 8 giờ) và chiều (14 – 15 giờ), NH3 và NO2- đo theo chu kỳ trước và sau thay

Trang 21

nước (3 ngày/lần) ở 2 tháng đầu Tháng thứ 3 do 2 tuần /1 lần Thay nước mỗi ngày 1 lần, mỗi lần thay 30% lượng nước trong bể

Số tôm chết được vớt ra và ghi nhận lại để xác định tỉ lệ sống

Khối lượng tôm được theo dõi 2 tuần/lần bằng cách cân riêng lẻ tất cả tôm thí nghiệm ở từng nghiệm thức

Hàm lượng đạm và nước trong thịt tôm được xác định khi kết thúc thí nghiệm

Đạm: phân tích theo phương pháp của Lowry (1951)

Lượng nước trong thịt: đo bằng cách sấy mẫu thịt cho đến khi trọng lượng không đổi

Tốc độ tăng trưởng tương đối (SGR%/ngày) được tính theo công thức:

SGR%/ngày = 100*(lnW c – lnW d )/thời gian (ngày)

Trong đó: Wc: trọng lượng cuối (g)

Wd: trọng lượng đầu (g)

3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu được xử lý bằng chương trình excel, phần mềm SPSS với phép thử Duncan, LSD, Dunnet, probit và one-way ANOVA để kiểm tra ảnh hưởng của diazinon lên các chỉ tiêu theo dõi Các số liệu khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

Trang 22

PHẦN 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 4.1 Xác định giá trị LC50

Số tôm chết qua các thời gian quan sát và giá trị LC50 được ghi trong bảng 3

Nghiệm thức 09 giờ 12 giờ 24 giờ 48 giờ 72 giờ 96 giờ

Bảng 3 Giá trị LC 50 qua các thời gian khác nhau

Giá trị LC50 giảm dần theo thời gian Nồng độ gây chết tôm 50% ở 96 giờ của Diazan 60EC là 0,61 ml/L tương đương với 0,39 mg/L So với giá trị

LC50 của các loại thuốc khác có cùng gốc lân hữu cơ, giá trị LC50-96 của Diazan 60EC thấp hơn Azodrin là 0,921 mg/L, Monitor là 0,872 mg/L (Phan Thị Thu Oanh, 1991 trích dẫn bởi Trương Hoàng Minh, 1996), nhưng cao hơn DDVP (Dimethyl 2,2 -dichlorovinyl phosphat) là 0,095 mg/L, Methylparathion (MP) là 8,6 µg/L (Trần Thị Chi và Hồ Thị Xuân Thu, 1990), Kitazin là 3,22 µg/L Vì vậy Diazan được xem là thuốc có tính độc mạnh đối với tôm càng xanh

4.2 Tiêu hao oxy của tôm ở các nồng độ Diazan 60EC khác nhau

Khi bị ảnh hưởng thuốc trừ sâu Diazan 60EC ở nồng độ thấp, hoạt động của tôm giảm xuống để hạn chế thuốc xâm nhập vào cơ thể Điều này cũng xảy ra trong thời gian đầu bố trí tôm ở các nghiệm thức có nồng

độ thuốc cao, sau đó tôm đã hoạt động mạnh bằng cách bơi lên xuống và các phụ bộ cử động liên tục, nhưng sự chênh lệch về kết quả tiêu hao oxy giữa các nghiệm thức 6,1 µl/L, 152,5 µl/L và 305 µl/L không lớn và khác biệt không có ý nghĩa thống kê so đối chứng 304,55 ± 16,2 (p > 0,05) Ở nghiệm thức 61 µl/L tiêu hao oxy của tôm giảm xuống rất thấp và khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với đối chứng mà chỉ khác biệt so với

Trang 23

Tuy nhiên ở hình 4.2 ở các nghiệm thức 2 và 3 lần lượt là 294,74 ±13,62 và 275,26 ± 11,92, tôm có xu hướng giảm hoạt động nên tiêu hao oxy thấp Ở các nghiệm thức 4 và 5, dưới tác động của thuốc, tôm hoạt động bơi lội nhiều làm tăng cường độ trao đổi chất nên tiêu hao oxy tăng (313 ±36,15 mgO2/kg/giờ ở nghiệm thức 5).

Hình 4.2: Biến động tiêu hao oxy của tôm giữa các nghiệm thức

Trong thời gian thí nghiệm, các yếu tố môi trường luôn được giữ ổn định (pH = 7,9 ± 0,1, nhiệt độ 28 ± 0,2oC) trong khoảng chịu đựng tốt của tôm Do đó kết quả thí nghiệm thu được là do ảnh hưởng của thuốc Diazan lên tôm

4.3 Ảnh hưởng của Diazan 60EC lên tăng trưởng của tôm

4.3.1 Các yếu tố môi trường

Trang 24

Hình 4.3: Biến động nhiệt độ giữa các nghiệm thức

Theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2004) thì nhiệt độ thích hợp cho hầu hết các giai đoạn của tôm càng xanh là từ 26 – 310C, tốt nhất là 28 – 300C Khi nhiệt độ ngoài khoảng 22 - 330C, hoạt động, sinh trưởng và sinh sản của tôm suy giảm

4.3.1.2 pH

pH là yếu tố chỉ thị cho môi trường nước tốt hay xấu, sự thay đổi của pH sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của thủy sinh vật: sinh trưởng, sinh sản…Do các thí nghiệm ở đây sử dụng nước máy nên hạn chế thay đổi pH và sự chênh lệch pH trung bình giữa các nghiệm thức cũng không lớn khoảng 7,98 ± 0,12 đến 8,07 ± 0,1, giá trị pH này nằm trong khoảng thích hợp đối với tôm

Hình 4.4: Biến động pH giữa các nghiệm thức

Theo Nguyễn Thanh Phương và trần Ngọc Hải (2004) độ pH thích hợp nhất cho sinh trưởng của tôm càng xanh từ 7,0 – 8,5 pH dưới 6,5 hay

Trang 25

4 3.1.3 Oxy hòa tan (DO)

Trong thời gian thí nghiệm nuôi tăng trưởng các bể nuôi luôn được sục khí nên hàm lượng oxy hòa tan trung bình giữa các nghiệm thức luôn được duy trì ở mức trong khoảng 6,37 ± 0,28 đến 6,53 ± 0,49 ppm Mức oxy này nằm trong khoảng thích hợp cho tôm nên không có ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm

Hình 4.5: Biến động oxy hòa tan giữa các nghiệm thức

Trong sản xuất giống, oxy nên được duy trì trên 5ppm, trong nuôi thịt, oxy nên giữ trên 3ppm (Theo Nguyễn Thanh Phương và trần Ngọc Hải, 2004)

Trang 26

Hình 4.6: Biến động NH 3 /TAN giữa các nghiệm thức

Hình 4.7: Biến động NO2 - , NO3 - giữa các nghiệm thức

Theo Trương Quốc Phú, 2006 nitrite là một trong những dạng độc không có lợi cho thủy sinh vật Tác hại của nitrite là làm giảm hoạt tính của hemoglobin, kết hợp với hemoglobin thành methemoglobin có màu nâu nên thường gọi là “bệnh máu nâu” Đối với giáp xác máu có chứa hemocyanin, phản ứng giữa nitrite với hemocyanin chưa được nghiện cứu nhiều nhưng người ta cũng xác nhận rằng nitrite cũng gây độc cho giáp xác

Theo Colt & Armstrong, 1979 sinh trưởng của tôm càng xanh giảmđáng kể khi nồng độ nitrite từ 1,8 – 6,2 mg/L (trích dẫn bởi Trương Quốc Phú, 2006)

Trang 27

Nitrite trong các nghiệm thức dao động trong khoảng từ 0,43 ±0,11mg/L đến 0,53 ± 0,2mg/L Giá trị này vẫn còn trong khoảng chịu được của tôm nên không ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm.

Nitrate là một trong những dạng đạm không độc đối với thủy sinh vật

Hàm lượng nitrate thích hợp cho các ao nuôi từ 0,1-10mg/L Hàm lượng nitrate cao không gây độc cho tôm, cá nhưng làm cho thực vật phù du nở hoa gây những biến đổi chất lượng nước không có lợi cho tôm, cá nuôi

Từ kết quả trong bảng 4.7 cho thấy hàm lượng nitrate ở các nghiệm thức biến động trong khoảng 1,1 ± 0,7mg/L đến 1,41 ± 0,73 mg/L Giá trị này vẫn còn trong khoảng thích hợp nên không ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm

4.3.2 Tỉ lệ sống

Trong thời gian thí nghiệm, tỉ lệ sống của các nghiệm thức 6,1 µl/L, 61µl/L, 152,5 µl/L ở các tháng ít chênh lệch nhau lần và khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng (Phụ lục 12) Riêng nghiệm thức

305 µl/L do ảnh hưởng của thuốc nên tôm có tỉ lệ sống thấp từ tháng thứ nhất

và kéo dài đến hết thời gian thí nghiệm (Hình 4.8)

Trong tháng thứ 3, do tiếp xúc với thuốc 2 lần nên tỉ lệ sống của tôm ở các nghiệm thức đều giảm xuống rất thấp, thấp nhất là nghiệm thức

305 µl/L (44,4%) và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng (72,2%)

305 µl/L

Hình 4.8: Biến động tỉ lệ sống giữa các nghiệm thức theo thời gian

Trong thời gian thí nghiệm, các nghiệm thức được bố trí ngẩu nhiên

và cùng lúc trong cùng điều kiện nên sai khác chủ yếu giữa các nghiệm thức là do ảnh hưởng bởi nồng độ thuốc

Trang 28

Từ kết quả trên cho thấy ở nghiệm thức có Diazan 60EC với nồng

độ 305 µl/L làm giảm đáng kể tỉ lệ sống đối với tôm càng xanh

4.3.3 Chu kỳ lột xác

Chu kỳ lột xác của tôm trình bày ở hình 4.9 Từ kết quả trên cho thấy

ở nghiệm thức 6,1 µl/L và 61 µl/L có chu kỳ lột xác lần lượt là 25 ± 2,69 ngày và 25,36 ± 2,27 ngày ngắn hơn nghiệm thức đối chứng 25,51 ± 2,21 ngày nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Tuy nhiên ở các nghiệm thức 152,5 µl/L và 305 µl/L lần lượt có chu

kỳ lột xác là 27 ± 2 ngày và 29 ± 3 ngày dài hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng (p < 0,05) Điều này cho thấy dưới ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Diazan 60EC, ở các nghiệm thức có nồng độ thuốc thấp tôm lột xác nhanh, kích thích tăng trưởng, ở các nồng độ thuốc cao tôm lột xác chậm, ức chế tăng trưởng

a a

Trang 29

305 µl/L

Hình 4.10: Tiêu thụ thức ăn tương đối của các nghiệm thức

Có thể trong thời gian tiếp xúc với thuốc tôm không được cho ăn nên khi cho tôm ăn sau khi tiếp xúc với thuốc tôm ăn nhiều Tuy nhiên ở các nồng độ thuốc cao 152,5 µl/L và 305 µl/L, do ảnh hưởng của thuốc nên lượng thức ăn tôm ăn có tăng nhưng vẫn thấp hơn so với các nghiệm thức có nồng độ thuốc thấp 6,1 µl/L, 61 µl/L và nghiệm thức đối chứng (Phụ lục 14)nhưng nhìn chung khả năng tiêu thụ thức ăn của tôm ổn định sau 8 ngày

4.3.5 Hàm lượng đạm và ẩm độ trong thịt tôm

Hàm lượng đạm trong thịt tôm dưới ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Diazan 60EC được trình bày ở hình 4.11 Kết quả ở các nghiệm thức 6,1 µl/L,152,5 µl/L và 305 µl/L lần lượt là 24,3 ± 0,02%, 23,2 ± 0,06% và 24,8 ±0,06% khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với đối chứng 26,5 ±0,03%(p>0,05) Riêng ở nghiệm thức 61 µl/L có hàm lượng đạm rất thấp 21,3

± 0,02% và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (p<0,05)

Hình 4.11: Hàm lượng đạm và ẩm độ trong thịt tôm dưới ảnh hưởng

của Diazan 60EC

Trang 30

Kết quả trên cho thấy tuy chu kỳ lột xác của tôm ở nghiệm thức 3 (61 µl/L) là thấp nhất nhưng do ảnh hưởng của thuốc tôm hạn chế các hoạt động trao đổi chất nên hàm lượng đạm trong thịt tôm ở nghiệm thức này rất thấp Kết quả này cũng phù hợp với thí nghiệm xác định tiêu hao oxy của tôm, ở nghiệm thức 61µl/L tôm giảm hoạt động và giảm trao đổi chất và ảnh hưởng đến chất lượng đạm trong thịt tôm.

Thành phần ẩm độ trong thịt tôm có sự chênh lệch nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng Các nghiệm thức có

ẩm độ dao động trong khoảng từ 75% đến 76%, do đó ẩm độ trong thịt tôm rất

ít bị ảnh hưởng khi nuôi tôm trong môi trường có thuốc trừ sâu

4.3.6 Tăng trưởng

Tốc độ tăng trưởng tương đối (SGR%/ngày) của tôm càng xanh được trình bày trong hình 4.12 Nhìn chung các nghiệm thức ta thấy ở nồng độ 6,1µl/L tôm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với đối chứng Mức độ tăng trưởng giảm dần khi nồng độ thuốc tăng

Ở 28 ngày đầu, tốc độ tăng trưởng của tôm giảm rỏ khi nồng độ thuốc tăng, nghiệm thức có nồng độ thuốc cao 152,5 µl/L và 305 µl/L tăng trưởng thấp nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (p < 0,05)

Ở giai đoạn từ 28 đến 56 ngày, tăng trưởng của tôm cũng giảm khi nồng độ thuốc tăng nhưng sự chênh lệch giữa các nghiệm thức không lớn và khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với đối chứng Giai đoạn này là giai đoạn tôm tiếp xúc thuốc 2 lần, vì vậy tôm bị ảnh hưởng nhiều bởi thuốc được lặp đi lặp lại nên tăng trưởng rất chậm và giảm hơn rất nhiều so với tháng thứ nhất Tuy nhiên, giữa các nghiệm thức chênh lệch nhau ít và khác biệt không

có ý nghĩa thống kê so với đối chứng

Ở giai đoạn từ 56 đến 84 ngày thì tốc độ tăng trưởng của tôm ở các nghiệm thức có tăng hơn ở giai đoạn từ 28 đến 56 ngày nhưng vẫn còn thấp hơn nhiều so với giai đoạn 28 ngày đầu và các nghiệm thức 6,1 µl/L, 61µl/L, 152,5 µl/L khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với dối chứng (p > 0,05) và lần lượt có giá trị là 0,652 ± 0,035 %/ngày, 0,585 ± 0,044 %/ngày, 0,515 ±0,049 %/ngày Nghiệm thức có nồng độ thuốc cao nhất 305 µl/L có mức tăng trưởng thấp nhất 0,39 ± 0,072 %/ngày và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (p < 0,05)

Trang 31

Hình 4.12:Tăng trưởng tương đối SGR (%/ngày) của tôm càng xanh

dưới ảnh hưởng của diazan theo thời gian

Thí nghiệm ở giai đoạn này tuy có thay nước thường xuyên nhưng tốc

độ tăng trưởng ở các nghiệm thức vẫn không lớn, có thể do mức độ tồn lưu của thuốc trừ sâu Diazan 60EC trong cơ thể tôm còn nhiều Theo Tomlin (1994) hoạt chất trong Diazan có thời gian bán rả 185 ngày trong môi trường trung tính (pH 7,4) nhưng phân huỷ nhanh trong môi trường acid (11,77 giờ,

pH 3,1) hay kiềm (6 ngày, pH 10,4) Bên cạnh đó các yếu tố môi trường luôn được theo dõi và nằm trong khoảng chịu đựng của tôm Vì vậy kết quả thí nghiệm thu được là do ảnh hưởng của thuốc

Tóm lại sử dụng thuốc trừ sâu Diazan 60EC trên ruộng lúa có nuôi tôm càng xanh sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của tôm Ở nồng độ 6,1µl/L tôm bị kích thích tăng trưởng nhanh hơn so với điều kiện bình thường Ở nồng độ 305µl/L tôm bị ức chế tăng trưởng làm tôm tăng trưởng chậm

Trang 32

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 5.1 Kết luận

Diazan 60EC là loại thuốc trừ sâu có tính độc cao đối với tôm càng xanh, có giá trị LC50-96 giờ là 0,61ml/L

Tiêu hao oxy của tôm có biểu hiện giảm ở nồng độ ≤ 152,5 µl/L và tăng ở nồng độ 305 µl/L tuy nhiên khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với đối chứng(p > 0,05)

Sự bắt mồi hay tính thèm ăn của tôm càng xanh giảm theo sự gia tăng nồng độ diazan, sau 4 ngày thay nước tôm bắt mồi bình thường trở lại

Tỉ lệ sống của tôm giảm đáng kể ở nghiệm thức 305 µl/L 44,44% khi kết thúc thí nghiệm và khác biệt (p < 0,05) so với đối chứng, các nghiệm thức còn lại không khác biệt (p > 0,05)

Tôm chậm lột xác hơn đối chứng (p < 0,05) khi nồng độ diazan ≥ 152,5 µl/L và ở nồng độ 305 µl/L tốc độ tăng trưởng SGR của tôm bị ức nhiều nhất

5.2 Đề xuất

Khảo sát ảnh hưởng của diazan lên hậu ấu trùng tôm càng xanh(Postlarvae) nhằm làm cơ sở đánh giá mức độ ảnh hưởng của loại nông dược này lên từng giai đoạn sinh trưởng tôm càng xanh

Khảo sát mức độ tồn lưu của thuốc trừ sâu Diazan trong thịt tôm và trong nước nhằm mục đích kiểm tra chất lượng thịt tôm và quy hoạch vùng nuôi tôm trên ruộng lúa

Tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thuốc trừ sâu khác gốc lân hữu cơ và các loại thuốc khác lên sinh trưởng của tôm để tìm ra biện pháp sử dụng thích hợp cho ruộng nuôi tôm nhằm tăng năng suất lúa mà không ảnh hưởng đến tôm

Trang 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Berg, 2001 Pesticide use in rice and rice–fish farms in theMekong Delta, Vietnam

2 Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2003 Danh mục thuốc Bảo

vệ Thực Vật cho phép sử dụng ở Việt Nam

3 Chin-Chyuan Chang, Pai-Po Lee, Jung-Pin Hsud, Shinn-Pyng Yeha, Winton Chenga, 2006 Survival, and biochemical, physiological, and histopathological responses of the giant freshwater prawn, Macrobrachium rosenbergii, to short-term trichlorfon exposure

4 Chu K.H, Lau P.Y, 1994 Effects of Diazinon, Malathion, and Paraquat

on the Bihavioral Response of the shrimp Metapenaeus ensis to chemoattractants Department of Biology, The Chinese Univesity of Hong Kong

5 Cục Bảo Vệ Thực Vật, 2007 Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam http://www.ppd.gov.vn/dmthuoc.htm (ngày 8/12/2008)

6 Đỗ Thi Thanh Hương, 1999 Ảnh hưởng của Basudin 40EC lên thay đổi chỉ tiêu sinh lí và huyết học của cá chép, cá rô phi, cá mè vinh Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ thủy sản Đại học Cần Thơ

7 Đỗ Thị Thanh Hương, Trần Thị Thanh Hiền, 2000 Bài giảng Sinh lý động vật thủy sinh Trang 18 - 25

8 Lê Xuân Sinh, Đỗ Minh Chung, Huỳnh Văn Hiền và Trần Văn Bùi,

2006 Hiệu quả kinh tế- kỹ thuật của các trại sản xuất giống tôm càng

xanh (Macrobrachium rosenbergii) ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Tạp

chí Nghiên Cứu Khoa học 2006: 268-279 Trường Đại học Cần Thơ

9 Nguyễn Thanh Phương, Trần Ngọc Hải, 2004 Bài giảng kỹ thuật sản xuất giống và nuôi giáp xác Đại học Cần Thơ, 92-101:162

10 Nguyễn Thanh Phương, 2003 Tổng quan về nuôi tôm càng xanh ở Việt Nam

11 Nguyễn Thanh Phương, Trần Ngọc Hải, Trần Thị Thanh Hiền, Nguyễn

Lê Hoàng Yến và Lê Bảo Ngọc 2003 Nghiên cứu xây dựng qui trình

sản xuất giống tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii de Man)

29 trang

12 Nguyễn Thanh Tâm, 1992 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu lên tôm càng

xanh (Macrobrachium rosenbergii) – Báo cáo chuyên đề

Ngày đăng: 09/04/2018, 19:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm