1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH các yếu tố ẢNH HƯỞNG đến NĂNG SUẤT và lợi NHUẬN TRONG NUÔI tôm sú (penaeus monodon) ở ĐỒNG BẰNG SÔNG cửu LONG

90 354 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 749,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tr.đ triệu đồng Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề Thủy sản có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống con người như cung cấp sản phẩm thiết yếu phục vụ cho đời sống, cung cấp nguyên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THÙY QUYÊN

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG

SUẤT VÀ LỢI NHUẬN TRONG NUÔI TÔM SÚ (Penaeus

monodon) Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGHÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

2010 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

Trang 2

NGUYỄN THÙY QUYÊN

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG

SUẤT VÀ LỢI NHUẬN TRONG NUÔI TÔM SÚ (Penaeus

monodon) Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGHÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Ts LÊ XUÂN SINH

Trang 3

Xin cám ơn tập thể lớp Kinh Tế Thủy Sản K33 đã tận tình giúp đỡ và động viên trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Xin chân thành cám ơn!

Tác giả Nguyễn Thùy Quyên

TÓM TẮT

Đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận

trong nuôi tôm sú (Penaeus monodon) thương phẩm ở Đồng bằng sông Cửu

Long được thực hiện từ tháng 08/2010 đến tháng 12/2010 tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Thông tin được lấy bằng cách phỏng vấn trực các hộ nuôi tôm sú ở ĐBSCL

Mục tiêu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng ngành nuôi tôm sú thương phẩm, những thuận lợi, khó khăn, hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi

Trang 4

Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích hồi quy đa biến, phương pháp phân tích ma trận SWOT Kết quả nghiên cứu mô tả được tổng diện tích NTTS bình quân của mô hình TC/BTC

là 1,1 ha, QCCT là 2,8 ha Có 100% hộ TC/BTC xử lý ao trước khi thả giống, trong đó có 85,7% hộ sên vét, 80% hộ bón vôi diệt khuẩn, và 5,7% sử dụng hóa chất rải xuống ao Còn ở mô hình QCCT thì có 94,3% hộ xử lý ao và chủ yếu là sên vét Các hộ nuôi TC/BTC thường bắt đầu vụ nuôi chính vào khoảng tháng 3-4 (AL) (70,6%) và kết thúc vào tháng 8-9 (AL) (58,8%) Các hộ TC/BTC có xu hướng mua con giống gốc Miền Trung (77,1%) thả với mật độ

yếu trong ao nuôi của cả hai mô hình là bệnh đóm trắng (TC/BTC là 45,7% và QCCT là 54,3%) với tỷ lệ số hộ mắc bệnh là khá cao (TC/BTC là 74,3% và QCCT là 71,4%) Tổng chi phí cho toàn mô hình TC/BTC có tổng chi phí bình quân 307,3 triệu đồng/ha/vụ, mô hình QCCT là 48,7 triệu đồng/ha/vụ

Mô hình TC/BTC có hiệu quả chi phí là 1,6 lần và tỷ suất lợi nhuận là 61,2%

Mô hình QCCT có hiệu quả chi phí là 1,7 lần và tỷ suất lợi nhuận là 92,9% Qua kết quả chạy tương quan đơn biến, mô hình TC/BTC có 6 biến độc lập có tương quan với nhau và có ảnh hưởng tơi năng suất (tuổi, hệ số thức ăn_(FCR), guồn thông tin kinh tế-kỹ thuật, có vay vốn hay không, kích cỡ thu hoạch bình quân, chi phí thuốc thú y-thủy sản), trong đó có tuổi chủ hộ và việc các hộ có vay vốn hay không là có tương quan nghịch đối với năng suất Mô hình QCCT có 6 biến có tương quan vói nhau ảnh hưởng đến năng suất nuôi (tuổi, tỷ lệ thay nước, chi phí sên vét, kiểm dịch con giống, nguồn thông tin kinh tế kỹ thuật, nguồn giống), trong đó tuổi chủ hộ và tỷ lệ thay nước là có tương quan nghịch đối với năng suất của mô hình

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM TẠ i

TÓM TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH SÁCH BẢNG vi

DANH SÁCH HÌNH vii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii

Chương1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

Trang 5

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Nội dung nghiên cứu 2

1.4 Giới hạn đề tài 3

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Tổng quan tình hình nuôi tôm trên thế giới 4

2.2 Tình hình nuôi tôm ở Việt Nam 6

2.3 Tình hình tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long 8

Chương 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

3.1 Cơ sở lý luận 12

3.1.1 Khái niệm về nuôi trồng thủy sản 12

3.1.2 Quy tắt thực hành nuôi tốt 12

3.1.3 Thực hành nuôi tốt hơn hay tốt nhất 12

3.1.4 Phát triển bền vững 12

3.1.5 Khái niệm về các mô hình nuôi tôm 12

3.1.6 Các chỉ tiêu chủ yếu được sử dụng 13

3.2 Phương pháp thu thập số liệu 14

3.2.1 Số liệu thứ cấp 14

3.2.2 Số liệu sơ cấp 15

3.2.3 Các biến chủ yếu trong nghiên cứu 15

3.3 Phương pháp phân tích số liệu 16

Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 18

4.1 Đặc điểm chung của hộ nuôi tôm sú 18

4.1.1 Tuổi chủ hộ và loại hình sản xuất kinh doanh 18

4.1.2 Trình độ học vấn 19

4.1.3 Lao động 19

4.1.4 Nguồn thông tin kinh tế-kỹ thuật và quy trình áp dụng 20

4.1.5 Kinh nghiệm 21

4.2 Thông tin kỹ thuật của hộ nuôi tôm sú 21

4.2.1 Thông tin về thiết kế khu nuôi 21

4.2.2 Mùa vụ nuôi tôm sú 23

4.2.3 Quản lý ao nuôi 24

4.2.4 Thông tin về con giống 26

4.2.5 Quản lý thức ăn 27

4.2.6 Quản lý dịch bệnh 29

Trang 6

4.2.7 Sản lượng, năng suất, kích cỡ thu hoạch và giá bán 30

4.2.8 Tiêu thụ sản phẩm 31

4.3 Các chỉ tiêu kinh tế chủ yểu của hộ nuôi tôm sú 32

4.3.1 Nguồn vốn 32

4.3.2 Chi phí nuôi tôm 33

4.3.3 Thu nhập 36

4.3.4 Hiệu quả kinh tế của các mô hình 38

4.3.5 So sánh lợi nhuận và chi phí sinh hoạt hàng tháng của hộ 42

4.3.6 Loài tự nhiên, kết hợp, luân canh với tôm 42

4.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng dến nghề nuôi tôm sú ở ĐBSCL 43

4.4.1 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận của mô hình thâm canh/bán thâm canh 43

4.4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận của mô hình quảng canh cải tiến 48

4.5 Phân tích ma trận SWOT 50

4.5.1 Điểm mạnh khi thực hiện các mô hình (S) 50

4.5.2 Điểm yếu hạn chế khi thực hiện mô hình (W) 51

4.5.3 Những cơ hội thúc đẩy thực hiện mô hình (O) 52

4.5.4 Những thách thức, đe dọa đối với mô hình nuôi (T) 52

4.5.5 Giải pháp kết hợp (S-O) 53

4.5.6 Giải pháp kết hơp (S-T) 53

4.5.7 Giải pháp kết hợp (W-O) 53

4.5.8 Giải pháp kết hợp (W-T) 53

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

PHỤ LỤC … 60

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1 Diện tích và sản lượng tôm sú Việt Nam năm 2004 7

Bảng 2.2 Sản lượng tôm các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (1995-2007) 10

Bảng 4.1 Hình thức sản xuất kinh doanh 18

Bảng 4.2 Thông tin về số lao động (người/hộ) 20

Bảng 4.3 Kinh nghiệm của hộ nuôi tôm 21

Bảng 4.4 Thông tin về kết cấu ao nuôi 23

Bảng 4.5 Thời gian nuôi vụ chính của mô hình thâm canh/bán thâm canh và quảng canh cải tiến (ngày/vụ) 23

Bảng 4.6 Phương pháp cải tạo 24

Bảng 4.7 Thông tin quản lý nguồn nước ao nuôi 25

Bảng 4.8 Loại thức ăn được sử dụng 28

Bảng 4.9 Các bệnh thường gặp trong ao nuôi tôm (%/số hộ) 29

Bảng 4.10 Dịch bệnh (%/tổng số hộ) và chi phí phòng trị bệnh bình quân/hộ 30 Bảng 4.11 Năng suất, kích cỡ thu hoạch, giá bán tôm sú của các mô hình 31

Bảng 4.12 Sử dụng sản phẩm sau thu hoạch 32

Bảng 4.13 Vốn vay của các hộ nuôi tôm sú 33

Bảng 4.14 Chi phí cố định của các mô hình 34

Bảng 4.15 Chi phí biến đổi trung bình của các mô hình (triệu đồng/vụ) 36

Bảng 4.16 Thu nhập từ mô hình nuôi 37

Trang 8

Bảng 4.17 Các chỉ tiêu kinh tế của các mô hình 39

Bảng 4.18 Giá thành và lợi nhuận (‘000 đồng/kg tôm sú nguyên liệu) 40

Bảng 4.19 Mức độ lời lỗ theo từng mô hình 41

Bảng 4.20 Chi phí sinh hoạt và lợi nhuận (triệu đồng/người/tháng) 41

Bảng 4.21 Lợi nhuận từ loài tự nhiên, kết hợp, luân canh (triệu đồng/vụ) 43

DANH SÁCH HÌNH Hình 2.1 Phân bố sản lượng tôm ở các lục địa 4

Hình 2.2 Thị phần và khối lượng xuất khẩu tôm của các nước năm 2004…… 5

Hình 2.4 Bản đồ vùng đồng bằng sông Cửu Long 8

Hình 4.1 Tỷ lệ nhóm tuổi của chủ hộ ở các mô hình 18

Hình 4.2 Trình độ học vấn của người nuôi tôm 19

Hình 4.3 Nguồn thông tin kinh tế-kỹ thuật 20

Hình 4.4 Phân nhóm diện tích thực thả nuôi của mô hình thâm canh/bán thâm canh 22

Hình 4.5 Tỷ lệ thay nước trong ao nuôi tôm (%/ao nuôi) 25

Hình 4.6 Nguồn tôm giống 26

Hình 4.7 Mật độ thả giống 27

Hình 4.8 Chất lượng thức ăn được sử dụng ở mô hình thâm canh/bán thâm canh 28

Hình 4.9 Ảnh hưởng của tuổi chủ hộ đến năng suất và lợi nhuận mô hình thâm canh/bán thâm canh 45

Hình 4.10 Ảnh hưởng của hệ số thức ăn (FCR) đến năng suất và lợi nhuận mô hình thâm canh/bán thâm canh 46

Hình 4.11 Ảnh hưởng của kích cỡ thu hoạch bình quân đến năng suất và lợi nhuận của mô hình thâm canh/bán thâm canh 47

Hình 4.12 Ảnh hưởng của chi phí thuốc thú y-thủy sản (triệu đồng/ha/vụ) đến năng suất và lợi nhuận mô hình thâm canh/bán thâm canh 48

Trang 9

Hình 4.13 Ảnh hưởng của tuổi chủ hộ đến năng suất và lợi nhuận mô hình quảng canh cải tiến 49 Hình 4.14 Ảnh hưởng của tỷ lệ thay nước (%/ao nuôi) đến năng suất và lợi nhuận mô hình quảng canh cải tiến 49 Hình 4.15 Ảnh hưởng của chi phí sên vét (‘000đ/ha/vụ) đến năng suất và lợi nhuận của mô hình quảng canh cải tiến 50

Trang 10

(tr.đ) (triệu đồng)

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Thủy sản có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống con người như cung cấp sản phẩm thiết yếu phục vụ cho đời sống, cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến, tạo thêm nguồn ngoại tệ cho đất nước, tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động ngày một gia tăng, là thị trường cho nhiều nghành sản xuất và dịch vụ khác, trong đó nghề nuôi tôm đóng vai trò quan trọng, chiếm phần lớn sản lượng thủy sản của nước ta từ trước đến nay Ngày 07/11/2007 Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO) và trở thành thành viên thứ 150 của WTO, đánh dấu bước phát triển mới cho đất nước, từ một nước nông nghiệp độc canh cây lúa chuyển sang đa ngành, đa canh với nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị trên thị trường thế giới Một trong những ngành hàng đóng góp quan trọng cho kim ngạch xuất khẩu Việt

Nam là ngành hàng tôm sú (Penaeus monodon)

Ở Việt Nam, nghề nuôi tôm đã trở thành hoạt động quan trọng nhất và được xem là mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 1999-2010 (224/1999/QĐ-TTg) Theo VASEP (2009) thì xuất khẩu tôm đang là mặt hàng rất triển vọng của ngành thủy sản Ngoài các thị trường truyền thống như châu Âu, Mỹ , năm 2010 xuất khẩu tôm Việt Nam sẽ đẩy mạnh vào thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc Chỉ riêng tôm sú, dự kiến sẽ mang

về khoảng 1,4 tỷ USD trong năm 2010 Ngoài ra VASEP (2009) còn nhận định rằng tuy trong năm 2009 xuất khẩu thuỷ sản bị âm nhưng mặt hàng tôm

Trang 11

vẫn có mặt trên 82 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó tôm sú đóng vai trò chủ lực chiếm gần 80% giá trị xuất khẩu

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là nơi có tiềm năng lớn về nuôi trồng thủy sản (NTTS) với ngư trường nuôi là các tỉnh có điều kiện thuận lợi

để phát triển ngành nuôi tôm như: Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh, Cà Mau, Kiêng Giang, Bến Tre…từ hình thức nuôi quảng canh giản đơn, nay đã chuyển dần sang mô hình nuôi quảng canh cải tiến (QCCT), thâm canh (TC)

và bán thâm canh (BTC), nuôi tôm đã trở thành nghành chủ lực trong nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL trong khi ĐBSCL thực sự là nơi có tiềm năng rất lớn

về tôm sú Hàng năm ĐBSCL đóng góp khoảng 50% sản lượng thủy sản của

cả nước, 60% sản lượng thủy sản xuất khẩu, đặt biệt là 80% sản lượng tôm cho xuất khẩu Việt nam (Đỗ Minh Chung, 2005) Với diện tích mặt nước khoảng 954.356 ha, ĐBSCL có diện tích nuôi tôm biển chiếm 60-80% diện tích và sản lượng tôm nuôi của cả nước (Lê Văn Duyệt, 2008) Theo Cục Nuôi trồng Thủy sản (Bộ NN&PTNNT) thì năm 2009, các tỉnh ĐBSCL có khoảng 566.000 ha diện tích nuôi tôm sú, tập trung tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh, Bến Tre

Để góp phần giảm chi phí, rủi ro, thiệt hại trong quá trình nuôi và định hướng phát triển nghề nuôi tôm sú ngày càng phát triển trong tương lai, đề tài

“Phân tích các yếu tố ảnh hưởng năng suất và lợi nhuận trong nuôi tôm

sú (Penaeus monodon) ở ĐBSCL” được thực hiện, để góp phần hiểu rõ hơn

ngành nuôi tôm sú nơi đây và cải thiện đời sống người dân trong vùng được tốt hơn

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

thuật trong nuôi tôm sú (Penaeus monodon) hiện nay ở ĐBSCL Từ đó đề ra

một số giải pháp góp phần cải thiện hiệu quả của nghề nuôi tôm sú trong những giai đoạn sau

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

1 Mô tả được thực trạng nuôi tôm sú ở ĐBSCL

2 Mô tả được các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của hộ nuôi tôm

sú ở ĐBSCL

Trang 12

3 Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận

trong nuôi tôm sú ở ĐBSCL

4 Phân tích được thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp

nhằm góp phần định hướng phát triển bền vững nghề nuôi tôm sú ở ĐBSCL

trong tương lai

1.3 Nội dung nghiên cứu

- Hiện trạng kỹ thuật nuôi tôm sú ở các tỉnh

- Các chỉ tiêu tài chính có liên quan đến vấn đề nuôi tôm sú

- Tiềm năng phát triển của nghề nuôi tôm sú

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận

- Phân tích những thuận lợi, khó khăn và đề xuất giải pháp

1.4 Giới hạn đề tài

- Đề tài được thực hiện từ tháng 08/2010 đến tháng 12/2011

- Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại các tỉnh ở ĐBSCL, cụ thể là các

mô hình nuôi tôm sú TC/BTC và QCCT chuyên tôm ở các tỉnh nuôi tôm sú trọng điểm của ĐBSCL (Cà Mau, Sóc Trăng, Bến Tre)

- Đề tài tập trung phân tích các chỉ tiêu tài chính có liên quan đến vấn

đề nuôi tôm sú thương phẩm, những hiện trạng kỹ thuật nuôi tôm sú để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận trong nuôi tôm sú ở ĐBSCL

và định hướng tiềm năng phát triển của nghề nuôi tôm sú nơi đây

Trang 13

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình nuôi tôm trên thế giới

Ngành đánh bắt và nuôi trồng thủy sản có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển Có khoảng 500 triệu người trên thế giới sống phụ thuộc vào nguồn thực phẩm từ thủy sản Bên cạnh đó thì ngành đánh bắt và nuôi trồng thủy sản (NTTS) còn

có vai trò đảm bảo an ninh lương thực ở các quốc gia nghèo Trong đó, sản lượng tôm có đóng góp không nhỏ vào sản lượng thủy sản thế giới

Nghề nuôi tôm biển trên thế giới bắt đầu ra đời và phát triển từ thế kỉ

XV và thật sự phát triển trong thập niên 70 Trong đó Châu Á là là nơi sản xuất tôm chính, chiếm 82% sản lượng tôm toàn cầu trung bình hàng năm (Lê Văn Duyệt, 2008)

Trang 14

Biểu đồ thị phần khối lượng xuất khẩu tôm của

các nước

Trong suốt thập kỉ 20, nuôi thương phẩm đã nổi lên như một trong các

hệ thống sản xuất thực phẩm có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới và các nước Đông Nam Á nuôi tôm là nguồn cung chủ yếu (Trang Bửu Hòa,

Đan mạch 8%

Hình 2.1: Phân bố sản lượng tôm ở các lục địa

(Nguồn: FAO, 1998)

Biểu đồ thị phần giá trị xuất khẩu tôm của các nước Biểu đồ thị phần khối lượng xuất khẩu tôm của các

nước

Trang 15

Châu Á là nơi có sản lượng tôm lớn nhất trên thế giới, nhìn chung sản lượng tôm ở Châu Á vẫn gia tăng mặc dù xảy ra dịch bệnh và các vấn đề giá bán và vốn vay Năm 2007, khi tổng sản lượng tôm nuôi của thế giới là 3,193 triệu tấn, Châu Á đã đóng góp 2,74 triệu tấn Năm 2008, sản lượng tôm thế giới đạt 3,065 triệu tấn và trong đó Châu Á là 2,611 triệu tấn Sang năm 2009, ước tính Châu Á khoảng 2,83 triệu tấn (2,307 triệu tấn tôm chân trắng

(Penaeus vannamei) và 522.000 tấn tôm sú (P.monodon)) trong khi tổng cung

tôm toàn thế giới năm 2009 đạt khoảng 2.803.800 tấn (Thái Phương, 2010) Năm nước sản xuất tôm lớn nhất thế giớ đều nằm ở Châu Á lần lượt là Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Inđônêxia và Ấn Độ Năm 2009, Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ đều có sản lượng cao hơn so với năm 2008: Thái Lan tăng 10,2%, Trung Quốc 1,6%, Ấn Độ 2,5% Trong khi đó, Việt Nam và Inđônêxia lại có sản lượng thấp hơn: Việt Nam giảm khoảng 17% và Inđônêxia giảm 14% (Thái Phương, 2010)

tình hình sản xuất tôm ở một số nước chủ lực như sau:

Thái Lan: Sản lượng tôm nuôi ước tính của Thái Lan năm 2009 nằm

trong khoảng từ 520.000 đến 537.000 tấn Năng suất cao từ 11,5-12 tấn/ha Việc áp dụng các biện pháp an ninh sinh học và sử dụng con giống sạch bệnh

đã làm giảm tỷ lệ dịch bệnh xảy ra ở tôm nuôi Người nuôi ở Thái Lan thường xuyên quản lý tốt quá trình nuôi tôm trong chương trình nuôi có sục khí và sử dụng con giống có tốc độ tăng trưởng nhanh Cục Nghề cá Thái Lan đã ban hành kế hoạch chiến lược từ năm 2010 đến 2012, trong đó có nhiều quy định mới cả về trách nhiệm xã hội và phúc lợi của nghề nuôi tôm, đồng thời đặt ra mức tăng trưởng 5% sản lượng hằng năm, đạt 525.000 tấn năm 2010, tăng lên 551.000 tấn

Trung Quốc: Năm 2007 và 2008, Trung Quốc sản xuất 1,22 triệu tấn

tôm, trong đó 88% là tôm chân trắng và 52% sản lượng tôm chân trắng được nuôi ở vùng nước nội địa Năm 2009, ước tính Trung Quốc đạt sản lượng 1,2 triệu tấn tôm chân trắng, trong đó có 560.000 tấn nuôi trong các ao ven bờ

Sản lượng nuôi tôm sú và các loài khác trong họ tôm He (Penaeidae) như

P.chinensis và P japonicus là 150.000 tấn Dự tính trong năm 2010, sẽ tăng 20% diện tích nuôi tôm và ước tính sản lượng đạt 1,45 triệu tấn

Ấn Độ: Sản lượng tôm nuôi năm 2009 đạt khoảng 80.000 tấn Mặc dù

cơ quan thẩm quyền về NTTS ven bờ của Ấn Độ đã cho phép 24 trại giống được NK giống tôm chân trắng nhưng ước tính sản lượng tôm chân trắng năm

2009 chỉ khoảng 5.000 tấn Năm 2010, việc tăng sản lượng tôm sú nuôi ở Ấn

Trang 16

Độ sẽ phụ thuộc vào khả năng cung cấp tôm bố mẹ sạch bệnh từ Haoai và mục tiêu của Ấn Độ tiến đến năm 2012 sẽ đạt 160.000 tấn tôm biển, trong đó sản lượng tôm sú và tôm chân trắng ngang nhau

Inđônêxia: Sản lượng tôm nuôi của Inđônêxia giảm, do bị mất tới 40%

sản lượng ở Lampung hồi giữa năm 2009, ước chỉ đạt 345.000 tấn Năm 2010, với việc khôi phục lại sản xuất từ các vùng nuôi tôm bị dịch bệnh ở Lampung, Medan và Đông Java, dự tính sản lượng sẽ tăng lên 265.000 tấn tôm chân trắng và 120.000 tấn tôm sú Việc nuôi tôm sú sẽ được tài trợ để phục hồi các

ao nuôi bị bỏ hoang ở Nam Sulawesi nhằm mục tiêu tăng trưởng 10,42% sản lượng tôm sú hằng năm khi sử dụng hệ thống quảng canh tổng hợp

2.2 Tình hình nuôi tôm ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định,

là nước có điều kiện thiên nhiên ưu đãi trong việc nuôi trồng thủy sản Bờ biển Việt Nam trải dài 3.260 km suốt từ Bắc vào Nam, là tiềm năng lớn cho nuôi trồng thủy sản nước mặn và nước lợ

Miền Bắc nước ta có khí hậu khắc nghiệt đối với nuôi tôm sú, mùa đông nhiệt độ khá lạnh còn giữa các mùa lại có sự biến động khá lớn Miền Trung có mực nước ven bờ sâu, nền đáy cát và có ít sông lớn, nước biển trong

và ít bị ô nhiễm, các chỉ tiêu thủy lý hóa thuận lợi cho sản xuất giống tôm sú Còn Miền Nam thì có điều kiện thời tiết và thổ nhưỡng thuận lợi cho việc nuôi tôm nói chung và tôm sú nói riêng

Bảng 2.1: Diện tích và sản lượng tôm sú của Việt Nam năm 2004

Tôm sú (Penaeus monodon) là một trong những loài thủy sản nước lợ

đã được nuôi ở nhiều vùng ven biển ở Việt Nam (Bộ Thủy Sản, 2000), diện tích nuôi tôm đã thật sự tăng nhanh từ năm 2000 từ khi có nghị định số 09/2000 NĐ-CP của chính phủ về chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng, cho

Trang 17

phép chuyển đổi vùng ven biển nơi bị nhiễm mặn, kém hiệu quả trong canh tác nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản (Đỗ Minh Chung, Huỳnh Văn Hiền, 2006) Đó là một trong những lý do khiến cho nghề nuôi tôm nước lợ tại Việt Nam trong những năm gần đây không ngừng phát triển, khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có sản lượng tôm lớn trên thế giới

Mặc dù vậy, nuôi tôm vẫn là một nghề thường xuyên có nhiều biến động, từ cuối năm 2008 sang sáu tháng đầu năm 2009, sản lượng tôm tôm sú ước giảm khoảng 40% Nhiều nông dân đã bỏ nghề nuôi tôm vì giá thấp, dịch bệnh và thiếu vốn đầu tư Nhu cầu tiêu dùng sụt giảm, khiến giá tôm trên thị trường thế giới giảm Trong khi các nhà máy chế biến trong nước thường xuyên phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nguyên liệu do người nuôi bỏ đầm, do dịch bệnh và thời tiết bất thuận lợi khiến sản lượng thu hoạch đạt thấp Trong sáu tháng đầu năm 2009, sản lượng tôm có phần sụt giảm so với cùng kì năm 2008 Nguyên nhân của tình trạng sụt giảm như trên là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và nhà nước đưa ra chính sách siết chặt tín dụng, lãi suất ngân hàng khiến nhiều người nuôi lâm vào tình trạng lỗ vốn Tuy nhiên bắt dầu từ tháng 8/2009, sản lượng tôm bắt đầu tăng trở lại do nên kinh tế Việt Nam bắt đầu khôi phục Theo báo cáo của Cục NTTS (2009), chỉ tiêu kế hoạch phát triển NTTS chủ yếu năm 2010 ở Việt Nam là diện tích NTTS đạt 1.110.000 ha, sản lượng đạt 2.700.000 tấn trong đó tôm nước lợ là 380.000 tấn

2.3 Tình hình nuôi tôm ở đồng bằng Sông Cửu Long

ĐBSCL là phần cuối cùng của lưu vực sông Mê Kông với diện tích tự nhiên là 3,96 triệu ha, bao gồm 13 tỉnh thành, là một trong những đồng bằng lớn, phì nhiêu ở Đông Nam Á và thế giới Với bờ biển dài 735 km và diện tích mặt nước nội địa khoảng 954.000 ha, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bằng phát triển mạnh mẽ về khai thác và NTTS, góp phần quan trọng trong nền kinh

tế của vùng và của cả nước (Đỗ Minh Chung, 2005), có vai trò quan trọng đối với ngành thủy sản Việt Nam cả về khai thác và NTTS, đặc biệt là nuôi tôm nước lợ

Trang 18

Về mô hình nuôi, nghề nuôi trồng thủy sản nơi đây rất phát triển, nuôi được trên cả ba vùng ngọt, lợ, mặn với sự phân bố đa dạng của các loài thủy sản có giá trị Mô hình nuôi trồng thủy sản trên vùng nước ngọt tập trung ở vùng ngập lũ Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười và vùng trũng nội địa thuộc Bán đảo Cà Mau, và một số tỉnh, thành như: Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang Mô hình nuôi trồng thủy sản trên vùng nước lợ - mặn tập trung chủ yếu ở các vùng ven biển như: Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Kiên Giang, đã đem lại lợi ích kinh tế cho người nuôi, và đây cũng là vùng trọng điểm trong việc nuôi tôm sú nước lợ

Hình 2.4: Bản đồ vùng Đồng bằng sông Cửu Long

(Nguồn: www.vigac.vn)

Trang 19

kỹ thuật vào việc chăm sóc và quản lý nên xu hướng mở rộng diện tích và mức thâm canh hóa tăng đã diễn ra hầu hết các tỉnh

Theo Bộ Thủy sản (2006), năm 2005, tổng diện tích nuôi tôm sú của cả nước đạt 604.497 ha, riêng ĐBSCL có diện tích nuôi cao nhất với 535.145 ha, chiếm 88,5% diện tích cả nước) và sản lượng đạt mức 324.680 tấn (chiếm 81,18% sản lượng cả nước) Mức tập trung nuôi tôm cao với diện tích lớn nhất

ở ĐBSCL là tỉnh Cà Mau với 236.255 ha chiếm 44,15% toàn khu vực và đạt sản lượng 83.860 tấn chiếm 25,8% sản lượng cả nước và 31,82% sản lượng khu vực Kế đến là tỉnh Bạc Liêu với 116.473 ha chiếm 21,76% diện tích nuôi tôm ở ĐBSCL và đạt 63.610 tấn chiếm 21,76% sản lượng ĐBSCL Theo sau

là các tỉnh ven biển như Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh, Bến Tre cũng có diện tích và sản lượng cao (Nguyễn Thị Thúy, 2008)

Tuy nhiên trong mấy năm gần đây tình hình nuôi trồng thủy sản mà đại diện là nghề nuôi tôm nơi đây có nhiều diễn biến khá phức tạp Trong năm

Trang 20

2008, người nuôi tôm sú ở ĐBSCL gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh, giá cả tôm thương phẩm sụt giảm, bị cạnh tranh khá gay gắt ở thị trường xuất khẩu Theo Cục Nuôi trồng thủy sản Bộ NN&PTNT (2008) có gần cả trăm ngàn ha nuôi tôm sú ở các tỉnh ĐBSCL như: Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng bị thiệt hại, ước tổng giá trị hàng trăm tỉ đồng Một trong những nguyên nhân chính là tình trạng buông lỏng quản lý khiến một số đàn tôm giống không qua kiểm dịch, phần lớn là tôm kém chất lượng, bị nhiễm bệnh, trong khi năng lực sản xuất tôm giống trong nước không đáp ứng được nhu cầu Toàn vùng ĐBSCL năm 2008 có khoảng 1.200 trại sản xuất tôm sú giống, chỉ cung ứng được khoảng 8 tỉ con giống/năm, đáp ứng khoảng 40% số lượng tôm thả nuôi của toàn vùng Do đó, phần lớn tôm sú giống được nhập từ các tỉnh miền Trung

Theo Cục Nuôi trồng Thủy sản (NN&PTNT) (2009) thì trong năm

2009, toàn tỉnh ĐBSCL có 566.000 ha diện tích nuôi tôm sú, chiếm 81% diện tích nuôi thủy sản tại ĐBSCL, tập trung tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh, Bến Tre

Tuy nhiên, diện tích nuôi tôm tăng không đồng nghĩa với việc người nuôi không gặp phải những rủi ro do nghề nuôi tôm mang lại Theo một thống

kê khác từ Sở NN&PTNT (2009) các tỉnh nuôi tôm: Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Kiên Giang… Trong 6 tháng đầu năm 2009, diện tích tôm sú thiệt hại của vùng ĐBSCL đã gần 10.000 ha, trong đó tại Sóc Trăng diện tích thiệt hại hơn 1.407 ha, Bạc Liêu 3.000 ha, Bến Tre trên 105

ha Tôm chết trên diện tích khoảng 40.000 ha với mức độ thiệt hại từ 20 – 80%, nhiều nhất tại các tỉnh Cà Mau, Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang (ở Kiên Giang, có nơi tôm chết 100%) Nguyên nhân do tiêu thoát nước thải tại nhiều vùng nuôi chưa tốt đã gây ô nhiễm môi trường cục bộ, con giống kém chất lượng, nhiễm bệnh, nắng nóng kéo dài, độ mặn một số nới tăng quá cao làm cho tôm bị sốc môi trường chết hàng loạt và nhiều vùng nuôi thiếu nước nghiêm trọng Trong năm 2008 và 2009, có gần 200.000 ha tại các tỉnh ven biển bị chết từ 30 – 80% làm người nuôi bị thất thu hàng trăm tỉ đồng Điều này làm cho diện tích nuôi TC và BTC có chiều hướng giảm so với trước như: tỉnh Trà Vinh có diện tích thả nuôi theo mô hình này khoảng 500 ha (kế hoạch 2.000 ha), tỉnh Bến Tre trên 3.219 ha Trước tình hình đó, người dân có

xu hướng chuyển sang nuôi tôm kết hợp cua biển để giảm bớt rủi ro của nghề nuôi tôm mang lại và chuyển diện tích nuôi tôm sú qua nuôi tôm thẻ chân trắng vì thời gian nuôi ngắn, năng suất cao

Theo kế hoạch của Bộ NN&PTNT (2009) thì trong năm 2010, ĐBSCL

sẽ thả nuôi 550.600 ha tôm sú, giảm gần 16.000 ha so với năm 2009, do hệ

Trang 21

thống tiêu thoát nước thải chưa đáp ứng nhu cầu và chưa ngăn chặn được dịch bệnh, nắng hạn kéo dài và xâm nhập mặn đã làm thiệt hại rất nhiều diện tích nuôi tôm sú ở vùng ĐBSCL Năm 2010 diện tích vụ tôm sú chính vụ tại ĐBSCL bị thiệt hại đang có chiều hướng gia tăng Trong khi đó, nhà máy chế biến tôm xuất khẩu thiếu nguyên liệu do diện tích nuôi và sản lượng sụt giảm

so với năm 2009 Theo VASEP (2010) thì tình hình thiếu tôm sú nguyên liệu bắt đầu xuất hiện từ tháng 12/2009, VASEP còn dự báo rằng tình hình thiếu tôm nguyên liệu sẽ còn kéo dài trong thời gian tới

Chương 3

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Cơ sở lý luận

3.1.1 Khái niệm về nuôi trồng thủy sản

Theo FAO (2008) thì nuôi trồng thủy sản (aquaculture) là nuôi các thủy sinh vật trông môi trường nước ngọt và lợ/mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật

Trang 22

vào quy trình nuôi nhằm nâng cao năng suất; thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể

3.1.2 Quy tắt thực hành nuôi tốt (Good Aquaculture Pratices – GAP)

Là quy tắt thực hành NTTS nhằm sản xuất ra sản phẩm có chất lượng theo luật và quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm (FAO, 2008)

3.1.3 Thực hành nuôi tốt hơn hay tốt nhất (Better/Best Management Pratices – BMP)

Quy tắc thực hành NTTS tốt nhất hay tốt hơn (GMP) nhằm đạt năng suất nhưng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, sức khỏe vật nuôi, bền vững

về môi trường và kinh tế,…Quy tắt thực hành nuôi tốt hơn hay tốt nhất được xây dựng dựa trên điều kiện và kỹ thuật cụ thể của người sản xuất

3.1.4 Phát triển bền vững (Sustainable development)

Theo FAO (2008) thì phát triển bền vững là phương thức quản lý và bảo tồn dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên, và định hướng thay đổi về kỹ thuật và thể chế theo phương thức phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của con người trong hiện tại va tương lai Phát triển bền vững tài nguyên đất, nước, nguồn gen động vật và thực vật không phải làm tổn thương môi trường, kỹ thật áp dụng phù hợp, đạt hiệu quả kinh tế và xã hội chấp nhận

3.1.5 Khái niệm về các mô hình nuôi tôm

Mô hình nuôi tôm quảng canh (Extensive culture): là hình thức nuôi

hoàn toàn vào thức ăn tự nhiên trong ao, diện tích ao lớn và mật độ nuôi thấp

Mô hình này có ưu điểm là chi phí vận chuyển thấp vì không tốn chi phí giống

và thức ăn, kích cỡ tôm thu hoạch lớn bán được giá cao, cần ích lao động cho một đơn vị sản xuất và thời gian nuôi ngắn

Mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến (Improved extensive culture): sử

dụng con giống tự nhiên kết hợp với con giống bổ sung, mật độ thả giống nhỏ

năm, năng suất nhỏ hơn 300 kg/ha/năm Ưu điểm của mô hình này là chi phí vận hành thấp, có thể bổ sung con giống tự nhiên thu gom hay sinh sản nhân tạo, kích cỡ tôm thu hoạch lớn bán giá cao Nhược điểm là phải bổ sung con giống lớn để tránh hao hụt do dịch hại trong ao nhiều, quản lý khó khăn, năng suất và lợi nhuận thấp

Trang 23

Nuôi tôm bán thâm canh (Semi-intensive culture): là mô hình có thể

hoặc tự chế biến Năng suất 1-4 tấn/ha/vụ, diện tích ao từ 0,2-0,5 ha; được xây dựng hoàn chỉnh và có trang bị đầy đủ trang thiết bị sụt khí, máy bơm…dễ quản lý trong ao, đầu tư vừa phải về tài chính cũng như kỹ thuật Ưu điểm của

mô hình này là tận dụng được diện tích ao, năng suất cao, phù hợp với khả năng của hộ Nhược điểm của mô hình này là dễ xảy ra dịch bệnh, sử dụng thuốc và hóa chất chưa phù hợp gay lãng phí và ô nhiễm môi trường

Mô hình nuôi tôm thâm canh (Intensive culture): nuôi quanh năm, mật

tích ao từ 0,5-1 ha Ưu điểm là cấp và tiêu nước chủ động, có đầy đủ phương tiện quản lý và vận hành Nhược điểm là tôm có kích cỡ nhỏ, chi phí vân hành cao, lợi nhuận thấp, dễ làm ô nhiễm môi trường do sử dụng nhiều thức ăn, thuốc và hóa chất

3.1.6 Các chỉ tiêu chủ yếu được sử dụng

 Các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất:

- Mật độ thả giống = số giống thả / diện tích mặt nước

- Tỉ lệ sống = (số cá thể cuối/ số các thể đầu)*100%

- Năng suất = sản lượng / diện tích (đvt/ha)

 Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu được tính theo công thức:

-Tổng chi phí (TC):

TC = TFC +TVC Trong đó:

TFC là tổng chi phí cố định (triệu đồng/ha/vụ) TVC là tổng chi phí biến đổi (triệu đồng/ha/vụ) -Tổng thu nhập (TR):

Trang 24

PR =TR – TC -Tỉ lệ số hộ lỗ = số hộ lỗ / tổng số hộ nuôi (theo số hộ khảo sát)*100%

-Hiệu quả chi phí = TR/TC (lần/ha/vụ) -Tỉ suất lợi nhuận = lợi nhuận / chi phí (lần /ha/vụ)*100%

3.2 Phương pháp thu thập số liệu

3.2.1 Số liệu thứ cấp

Được lấy từ các bài báo cáo, tạp chí về tình hình nuôi tôm sú; số liệu thống kê của các cơ quan ban ngành, nhân dân địa phương và các tài liệu có liên quan

- Thông tin về số liệu thống kê:

1 Bảng đồ hành chính của ĐBSCL và của Việt Nam

2 Tổng diện tích tự nhiên, diện tích mô hình canh tác

3 Diện tích, sản lượng mô hình nuôi

- Thông tin về các quy định và cính sách có liên quan:

1 Quy định, chính sách về cho vay

2 Quy định, chính sách về nuôi trồng thủy sản

3 Quy định về các yếu tố môi trường, nguồn lợi

- Thông tin hệ thống quản lý, hoạt động khuyến ngư, hỗ trợ

- Thông tin về các chủ trương, kế hoạch và giải pháp phát triển

3.2.2 Số liệu sơ cấp

Được thu bằng cách phỏng vấn trực tiếp từng hộ (với quy mô của hộ cơ sở) kết hợp với khảo sát ao nuôi để có những thông tin về: kinh tế, kỹ thuật, thuận lợi, khó khăn, sản lượng, hiệu quả kinh tế

Số mẫu thu: (Sóc Trăng 30 mẫu, Bến Tre 16 mẫu, Cà mau 24 mẫu)

- Mô hình nuôi tôm sú TC/BTC 30 mẫu

- Mô hình QCCT chuyên tôm 30 mẫu

3.2.3 Các biến chủ yếu trong nghiên cứu

Trang 25

- Các biến liên quan đến thông tin chung của các hộ nuôi tôm sú

1 Số nhân khẩu trong gia đình

2 Số lao động (số lao động, số lao động gia đình tham gia NNTTS,

số lao động thuê mướn)

3 Trình độ học vấn

4 Nghề (chánh, phụ)

5 Kinh nghiệm (đối với nghề chánh, nghề phụ)

- Các biến liên quan đến thông tin kỹ thuật của hộ nuôi tôm sú:

1 Diện tích (đất đai, diện tích mặt nước, diện tích dùng để NTTS, diện tích dùng để nuôi tôm sú theo từng mô hình)

2 Số lượng ao (ao nuôi tôm sú, ao nuôi thủy sản khác, ao bỏ trống)

3 Nguồn thông tin kỹ thuật

4 Nguồn cung cấp thức ăn, thuốc và hóa chất

5 Con giống (nguồn con giống, mật độ thả giống, kích cỡ con giống, tỉ lệ sống)

11 Năng suất thu hoạch

- Các biến liên quan đến thông tin kinh tế của hộ nuôi tôm sú:

1 Nguồn vốn

2 Chi phí cố định (chi phí xây ao, chi phí thuê đất/ thuế đất, chi phí đầu tư trang thiết bị)

3 Khấu hao chi phí cố định

4 Chi phí biến đổi (chi phí thuê lao động (nếu có); chi phí thức ăn, thuốc và hóa chất; chi phí cải tạo ao; chi phí nhiên liệu; chi phí thu hoạch)

Trang 26

5 Giá cả năm 2009 (con giống; thức ăn, thuốc, hóa chất; giá tôm

sú bán ra tại ao)

6 Sản lượng

7 Thu nhập từ nuôi tôm sú

8 Lợi nhuận từ nuôi tôm sú

12 Tiêu thụ sản phẩm sau thu hoạch

- Các biến có liên quan về nhận thức:

1 Lợi ích từ mô hình nuôi

2 Tác động của các mô hình nuôi tôm sú đối với NTTS (thuận lợi, khó khăn, rủi ro)

3.3 Phương pháp phân tích số liệu

Nhập và xử lý số liệu bằng phần mền máy tính EXCEL và SPSS for windows Các phương pháp phân tích sau đay dược áp dụng:

1 Phương pháp thống kê mô tả: sử dụng các chỉ số như giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tầng suất, tỉ lệ phần trăm được dùng để mô tả thông tin chung về chủ hộ (tuổi tác, trình độ văn hóa, kinh nghiệm nuôi…), mô hình kỹ thuật nuôi (diện tích nuôi, tình hình sử dụng tức ăn, thuốc, hóa chất…) và đặc điểm kinh tế xã hội của nông hộ Sau đó tiến hành so sánh và phân tích các chỉ

số để rút ra nhận xét

3 Phương pháp phân tích hồi quy đa biến: được áp dụng để phân tích mối quan hệ giữa các biến độc lập giả định có ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận

Trong đó:

Y: là năng suất hay lợi nhuận trong nuôi tôm sú thương phẩm a: là hằng số

NTTS, nguồn thông tin kinh tế-kỹ thuật, diện tích bình quân mỗi ao, tỷ

lệ thay nước, tầng suất thay nước, nguồn giống thả, mật độ nuôi, hệ số thức ăn, kích cỡ thu hoạch, tỷ lệ thu nhập từ loài kết hợp…)

ε: là sai số ước lượng

Trang 27

Kết quả của mô hình hồi quy đa biến là cơ sở là cơ sở để xem xét sự

4 Phương pháp phân tích ma trận SWOT được sử dụng để phân tích những thuận lợi (S), khó khăn (W), cơ hội (O), thách thức (T) của nghề nuôi tôm sú ở địa phương này để từ đó đề xuất một số giải pháp cho sự phát triển bền vững nghề nuôi tôm sú tỉnh ĐBSCL

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm chung của hộ nuôi tôm sú

4.1.1 Tuổi chủ hộ và loại hình sản xuất kinh doanh

Qua khảo sát cho thấy các hộ nuôi tôm ở mô hình thâm canh/bán thâm

Trang 28

cải tiến (QCCT) là 5011 tuổi Như vậy, độ tuổi trung bình của các hộ ở mô hình TC/BTC là thấp hơn so với QCCT Nhìn chung, mô hình TC/BTC nhiều

hộ nuôi ở khoảng 35-45 tuổi (37,1%) còn QCCT là lớn hơn 50 tuổi (48,6%)

Hình 4.1: Tỷ lệ nhóm tuổi của chủ hộ ở các mô hình Bảng 4.1 cho thấy đa số các hộ đều nuôi dưới hình thức hộ cá thể (TC/BTC là 88,6% và QCCT là 94,3%), rất ít hộ nuôi tôm liên kết với nhau hoặc tham gia câu lạc bộ nuôi tôm, chỉ có 2,9% số hộ nuôi TC/BTC hùn vốn trong nuôi tôm trong khi mô hình QCCT thì không có hình tức nào Có 8,5%

số hộ TC/BTC nuôi theo hình thức hợp tác xã, QCCT là 5,7% Nhìn chung các

hộ nuôi tôm ở cả hai mô hình đều sử dụng đất nhà, chỉ có 11,4% số hộ ở mô hình TC/BTC và 2,9% số hộ ở mô hình QCCT là thuê mướn thêm đất để sản xuất kinh doanh

Bảng 4.1: Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh

(n=35)

QCCT (n=35)

độ hộ nuôi tương đối cao, có 8,6% hộ nuôi có trình độ đại học, cao đẳng do

mô hình TC/BTC đòi hỏi người nuôi phải áp dụng khoa học kỹ thuật phức tạp hơn Hình 4.2 cho thấy trình độ của hộ nuôi ở mô hình TC/BTC là cao hơn so

35-45 tuổi; 34,3%

Trang 29

với mô hình QCCT, các hộ QCCT đều có trình độ dưới đại học, cao đẳng (0%)

Hình 4.2: Trình độ học vấn của người nuôi tôm

4.1.3 Lao động

Các hộ ở mô hình TC/BTC sử dụng lao động thuê mướn nhiều hơn mô

chỉ có 2,9% là thuê lao động nữ do tính chất của nghề nuôi đòi hỏi sức khỏe cao Còn ở mô hình QCCT thì có 11,4% số hộ sử dụng lao động thuê mướn với trung bình 1 người/hộ và không thuê mướn lao động nữ Thời gian thuê

Tỷ lệ số hộ có sử dụng lao động thuê mướn (%)

Tỷ lệ hộ sử dụng lao động thuê mướn nữ (%)

51,4 2,9

Trang 30

Thời gian thuê mướn/năm (tháng) 7,43,1 10,33,5

4.1.4 Nguồn thông tin kinh tế-kỹ thuật và quy trình áp dụng

Hình 4.3 cho thấy xu hướng chung ở cả hai mô hình là người nuôi tiếp nhận nguồn thông tin kỹ thuật chủ yếu từ học hỏi kinh nghiệm giữa những người nuôi (88,6%), ngoài ra người nuôi còn được sự quan tâm truyền đạt kinh nhiệm và kỹ thuật nuôi từ cả hai phía nhà nước thông qua phòng nông nghiệp thủy sản (Tc/BTc là 25,7%, QCCT là 22,9%) và cả người cung cấp giống, thức ăn, thuốc và hóa chất (TC/BTC là 60%, QCCT là 14,3%) Tuy nhiên mô hình TC/BTC nhận được sự quan tâm nhiều hơn so với mo hình QCCT từ phía các đoàn thể (14,3% so với 2,9%) và người cung cấp các sản phẩm đầu vào (60% so với 14,3%) do các hộ QCCT ít sử dụng thuốc thú y thủy sản (TYTS) trong ao nuôi

Tập huấn Tài liệu

khuyến ngư

Phòng nông nghiệp TS

Truyền thông

Các tổ chức đoàn

QCCTHình 4.3: Nguồn thông tin kinh tế-kỹ thuật

Về quy trình được áp dụng thì hầu hết đều nuôi dưới hình thức thông thường, chỉ có 34,3% hộ nuôi TC/BTC là áp dụng mô hình nuôi vi sinh do chi phí thấp, ít ảnh hưởng đến tôm, ít dịch bệnh và sản phẩm bán ra thu được lợi nhuận cao hơn (Phụ lục 2)

4.1.5 Kinh nghiệm

Nhìn chung kinh nghiệm của hộ nuôi tôm là tương đối cao, cao nhất là

Trang 31

ro, không tốn nhiều vốn và tương đối là dễ nuôi hơn so với TC/BTC, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, sản xuất giống nhân tạo thành công thì mô hình QCCT phát triển mạnh nên cũng không ít hộ vẫn tiếp tục nuôi mô hình này mà không chuyển sang nuôi TC/BTC Tuy nhiên, Bảng 4.3 cho thấy có sự

quảng canh sang quảng canh cải tiến Bên cạnh đó, cũng có một số hộ đã từng bước chuyển từ QCCT sang TC/BTC và TC/BTC có sử dụng vi sinh, tuy rủi

ro lớn nhưng lợi nhuận mang lại cũng khá cao

Bảng 4.3: Kinh nghiệm của hộ nuôi tôm

(n=35)

QCCT (n=35)

4.2 Thông tin kỹ thuật của hộ nuôi tôm sú

4.2.1 Thông tin về thiết kế khu nuôi

nuôi với diện tích nhỏ nhất là 0,2 ha trong khi dó có hộ nuôi với diện tích lớn nhất là 3,5 ha ở mô hình TC/BTC, đối với mô hình QCCT thì các con số này lần lượt là 0,5 ha và 15 ha (Phụ lục 4)

Hình 4.4 cho thấy, đa số các hộ nuôi ở mô hình TC/BTC có diện tích từ 0,5-2 ha (chiếm 62,9%),chỉ có 11,4% hộ nuôi lớn hơn 2 ha Do mô hình nuôi TC/BTC đòi hỏi phải áp dụng quy trình kỹ thuật cao lại tốn nhiều công chăm sóc và chi phí khá lớn nên người nuôi thường nuôi với diện tích vừa phải để dễ quản lý và hạn chế vấn dề về vốn Đối với mô hình nuôi QCCT thì các hộ nuôi

có diện tích từ 1-3 ha chiếm tỷ lệ cao nhất (57,1 ha)

Trang 32

25,7

62,9

11,4 0

50 100

(mô hình nuôi TC/BTC cần 30% diện tích làm ao lắng) Mực nước luôn duy

lắng, đó là những hộ nuôi tôm luân canh với lúa, do có sự hướng dẫn của các cán bộ khuyến ngư cũng như học hỏi kinh nghiệm từ những nông dân xung quanh nên các hộ nuôi đã sử dụng một phần diện tích nhỏ trong ao nuôi của

còn rất ít hộ sử dụng ao xử lý nước thải ra, chỉ có khoảng 22,9% số hộ nuôi TC/BTC có sử dụng ao xử lý nước thải, một số hộ khác tái sử dụng lại lớp bùn đáy để vun bón cây trồng và cũng còn tồn tại một số ít khác lại lén lúc thảy ra sông Hầu hết các hộ nuôi QCCT đều có xu hướng không dùng ao xử lý nước thải mà thải trực tiếp ra sông theo con nước, tuy nhiên nuôi QCCT không sử dụng nhiều thuốc và hóa chất trong quá trình nuôi nên tác hại gây ra đối với môi trường không lớn như nuôi TC/BTC

Bảng 4.4: Thông tin về kết cấu ao nuôi

(n=35)

QCCT (n=35)

Trang 33

Diện tích trung bình mỗi ao (ha/ao/hộ) 0,40,2 2,54,0

4.2.2 Mùa vụ nuôi tôm sú

Mô hình TC/BTC có 71,4% hộ chỉ nuôi 1 vụ/năm và chủ yếu là vụ chính do vụ nghịch có rủi ro và thiệt hại lớn, thời gian nuôi trung bình là

nuôi so với 3-5 năm trước đây Bên cạnh đó có 11,4% hộ nuôi 2 năm 3 vụ và 17,1% hộ nuôi 2 vụ/năm, sau khi thu hoạch vụ chính thì cải tạo và sên vét lại

ao, bón vôi diệt khuẩn khoảng 2 tháng chuẩn bị tiếp cho vụ 2 Có 82,9% các

hộ không thay đổi số vụ nuôi/năm

Mô hình QCCT đa số các hộ đều nuôi thả lan, thu tỉa thả bù theo con nước Mỗi tháng có hai con nước, tùy theo mùa vụ mà có con nước sớm hay muộn Một số hộ nuôi luân canh tôm-lúa thì thời gian nuôi trung bình

vụ/năm còn lại 2,9% số hộ chuyển từ nuôi 2 vụ/năm sang 1 vụ/năm do nuôi ở

vụ phụ gặp nhiều rủi ro hơn vụ chính (Phụ lục 7)

Bảng 4.5: Thời gian nuôi vụ chính của mô hình TC/BTC và QCCT (ngày/vụ)

Trang 34

4 (AL) (47,3%) và kết thúc vào khoảng tháng 8-9 (AL) (44,3%) (Phụ lục 8 và Phụ lục 9)

4.2.3 Quản lý ao nuôi

Do mật độ nuôi TC/BTC tương đối cao, sử dụng lượng lớn thức ăn công nghiệp kết hợp với lượng thuốc và hóa chất để phòng ngừa, trị bệnh nên sau mỗi vụ nuôi lượng chất thải từ thức ăn, thuốc và hóa chất tích tụ lắng ở đáy ao rất nhiều nên việc xử lý đáy ao là hết sức quan trọng để vụ nuôi tiếp theo tôm mau lớn, góp phần hạn chế dịch bệnh Do đó, có 100% hộ nuôi TC/BTC xử lý đáy ao trước khi nuôi vụ tiếp theo Trong đó, phương pháp sên vét được nhiều hộ sử dụng nhất (chiếm 85,7% số hộ), kế đến là bón vôi diệt khuẩn (80%) và cải tạo khác (5,7%) Do tính chất quan trọng của việc xử lý ao

là quan trọng nên ở mô hình QCCT có 94,3% hộ xử lý ao trước khi thả nuôi, trong đó sên vét là 85,6% và bón vôi là 54,8% số hộ sử dụng (Bảng 4.6) Tùy điều kiện từng vùng mà người nuôi tôm sên vét 1-2 lần/năm Hình thức sên vét chủ yếu của mô hình TC/BTC, là dùng máy hút bùn hoặc xe ủi lớp bùn bề mặt, còn mô hình QCCT thì chủ yếu là sên tay Phần lớn lượng bùn được đưa vào khu chứa riêng, nhưng vẫn còn không ít trường hợp thải ra sông làm ô nhiễm môi trường đặc biệt là nguồn nước xung quanh

Bảng 4.6: Phương pháp cải tạo

Đvt: %

(n=35)

QCCT (n=35)

mô hình QCCT thì chỉ có 37,1% hộ là xử lý nước trong đó 34,3% sử dụng thuốc và hóa chất Mô hình TC/BTC có 100% hộ sử dụng máy móc thiết bị cũng như quạt nước, máy bơm nước trong ao nuôi do tính chất của mô hình đòi hỏi kỹ thuật và sự quản lý cao Bên cạnh đó, hầu hết các hộ đều áp dụng

mô hình không thay nước mà chỉ lấy nước vào ao 1 lần lúc đầu vụ, chỉ cấp thêm khi mực nước trong ao thấp và thay nước khi thật sự cần thiết để tránh lây lan dịch bệnh lây lan từ nguồn nước, còn lại 34,3% hộ là thay nước với tần

Trang 35

có hộ thay theo con nước với tần suất 15 ngày/lần trong khi đó có hộ thay nước là 90 ngày/lần Còn ở mô hình QCCT chỉ có 54,3 % hộ sử dụng máy móc thiết bị để quản lý ao nuôi, có đến 80,0% hộ thay nước với tần suất

Bảng 4.7: Thông tin quản lý nguồn nước ao nuôi

Hình 4.5 cho thấy có đến 65,7% hộ nuôi TC/BTC thay nước với tỷ lệ lớn hơn 50%/ao, còn lại 34,3% hộ thay 50% lượng nước trong ao và thường sử dụng máy bơm để thay nước (79,3% số hộ) Mô hình QCCT có 51,4 % số hộ thay nước nhiều hơn 50% lượng nước có trong ao, 34,3% hộ thay 50% lượng nước trong ao, 14,3% hộ thay ít hơn 50%/ao, người nuôi thường thay nước dựa vào thủy triều (93,9%) (Phụ lục 11), lúc nước ròng mực nước trong ao bị giảm đi quá nữa Do hệ thống kênh rạch phát triển nên cả những hộ nằm sâu trong nội đồng cũng có thể lấy nước bằng thủy triều

Hình 4.5: Tỷ lệ thay nước trong ao nuôi tôm (%/ao nuôi)

Qua khảo sát cho thấy mô hình nuôi TC/BTC đã hạn chế việc cấp và thay nước trong ao để tránh lây lan dịch bệnh, trong khi đó thì mô hình QCCT lại cấp và thay nước tự do theo thủy triều mà ít qua xử lý làm tăng nguy cơ lây

4.2.4 Thông tin về con giống

Trang 36

Hình 4.6 cho thấy người nuôi ở mô hình TC/BTC sử dụng tôm giống gốc Miền Trung là chính (chiếm 74,1% số hộ), ít sử dụng con giống sản xuất tại địa phương (20%), vì khi nuôi với mật độ và sản lượng lớn cần con giống

có chất lượng cao, được kiểm dịch chặt chẽ đảm bảo sạch bệnh trước khi được thả vào ao nuôi Mặc khác theo kinh nghiệm của người dân thì sử dụng con giống gốc Miền Trung nuôi năng suất sẽ cao hơn Có 97,1% con giống đã được kiểm dịch, với 57,1% số hộ đánh giá là có chất lượng giống tốt và 40%

hộ đánh giá là chất lượng giống không thay đổi so với 3-5 năm trước đây, chỉ

có 2,9% hộ mua phải con giống kém chất lượng (Phụ lục 12) Trong khi đó ở

mô hình QCCT thì người nuôi lại chủ yếu sử dụng tôm giống do thương lái mua về hoặc sản xuất/ương vèo tại địa phương (91,7% số hộ), chỉ có 20% hộ

sử dụng con giống gốc Miền Trung Nếu người nuôi tự vận chuyển tôm giống

từ Miền Trung thì phải tốn thêm một khoảng chi phí, bên cạnh đó thì giá con giống cũng có ảnh hưởng một phần đến quyết định mua giống của người nuôi,

thế đa số người nuôi ở mô hình QCCT thường chọn lựa mua tại trại sản xuất giống địa phương với 45,7% con giống được xác định là đã kiểm dịch, với 48,6% số hộ đánh giá là chất lượng giống mua vào tương đối tốt, 34,3% cho rằng chất lượng con giống không thay đổi so với 3-5 năm trước và 11,4% đánh giá là xấu vì mua phải giống trôi nổi kém chất lượng, không được kiểm dịch chặt chẽ (Phụ lục 13)

Địa phương

Hình 4.7 cho thấy đa số các hộ nuôi TC/BTC thả giống ở mật độ

Hình 4.6: Nguồn tôm giống

Trang 37

độ cao để trừ hao hao hụt do tôm chết, ăn lẫn nhau thì sẽ tốn nhiều chi phí để mua con giống, ngoài ra ao nuôi TC/BTC được quản lý rất chặt chẽ nên tỷ lệ

20% số hộ tăng mật độ thả so với 3-5 năm trước đây, do trình độ quản lý cũng như ngày càng có nhiều loại thuốc phòng trị bệnh làm giảm rủi ro trong nuôi tôm nên có một số hộ nuôi có khuynh hướng tăng mật độ nuôi để tăng lợi nhuận

Mô hình QCCT người nuôi tôm nuôi chủ yếu ở mật độ lớn hơn <3 và

hướng thả với lượng giống nhiều để trừ hao hao hụt do tôm chết và ăn lẫn nhau Qua khảo sát, đa số các hộ nuôi đều cho rằng nuôi thả với mật độ thấp tôm mau lớn, dễ quản lý, ít xảy ra dịch bệnh nên chỉ có 25,7% hộ tăng mật độ

so với 3-5 năm trước đây

TC/BTC

20

62,86

17,14 0

50 100

1,9 tấn do nuôi với diện tích nhỏ 0,2 ha, trong khi đó có hộ lại sử dụng đến 40,5 tấn do nuôi với diện tích lớn 3,5 ha Hình 4.8 cho thấy có đến 44,1% hộ cho rằng chất lượng thức ăn là tốt và 29,4% là khá Vì thế, lượng thức ăn được

ao nuôi

Trang 38

29,4

2,9 0

Hình 4.8: Chất lượng thức ăn được sử dụng ở mô hình TC/BTC

Đối với mô hình QCCT thì các hộ nuôi sử dụng cả ba loại thức ăn: công nghiệp (57,1%), tự nhiên (60%), và thức ăn tự chế (8,6%) từ cua, óc mượn hồn…thức ăn công nghiệp được sử dụng rất ít chủ yếu trong thời gian nuôi ở ao ương vèo để tôm thích nghi với môi trường mà chưa thả qua ao lớn, tuy nhiên cũng có một số hộ sử dụng bổ sung thêm cho tôm mau lớn Bình

và (Phụ lục 19) Có 68,4 % hộ cho là thức ăn có chất lượng khá tốt với FCR là

nhưng mặc khác chi phí thức ăn của mô hình QCCT lại thấp hơn

Nhìn chung hai mô hình có 53,9% hộ sử dụng thức ăn lấy từ đại lý cấp

đồng/kg, qua khảo sát thấy tùy theo mùa vụ mà giá cả khác nhau, và giá thức

ăn có xu hướng tăng trung bình 0,7% mỗi năm, tuy lượng sử dụng thức ăn

4.2.6 Quản lý dịch bệnh

Trang 39

Ao nuôi TC/BTC có tỷ lệ mắc phải dịch bệnh gần bằng nhau (TC/BTC

là 74,3% và QCCT là 71,4%) (Bảng 4.10) Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ao nuôi mắc phải dịch bệnh tương đối cao này là do nuôi mật độ cao, ô nhiễm môi trường, con giống không được kiểm dịch chặc chẽ, thời tiết…gây

ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng cho các hộ nuôi tôm Trong đó bệnh đóm trắng là xảy ra nhiều nhất đối với cả hai mô hình TC/BTC (45,7%) và QCCT (54,3%), kế đến lần lượt là bệnh gan, đóng rong, đỏ thân, phân trắng… trong

mô hình QCCT thì xuất hiện phổ biến nhất là hai loại bệnh đóm trắng (54,3%)

và đỏ thân (34,3%) Tuy nhiên cũng có nhiều ao nuôi của các hộ hoàn toàn không xảy ra dịch bệnh (TC/BTC là 25,7% và QCCT là 28,6%) Hầu hết các

hộ áp dụng mô hình TC/BTC có sử dụng vi sinh đều không xảy ra dịch bệnh Bảng 4.9: Các bệnh thường gặp trong ao nuôi tôm (%/số hộ)

(n=35)

QCCT (n=35)

ở mô hình TC/BTC tốn nhiều chi phí cho việc đầu tư về con giống cũng như

Trang 40

thuốc phòng trị bệnh nên tỷ lệ bệnh xuất hiện trong ao nuôi ở cả hai mô hình

đã giảm so với những năm trước, riêng mô hình QCCT thì tỷ lệ dịch bệnh vẫn còn rất cao Có 40,6% số hộ nuôi TC/BTC cho rằng dịch bệnh xảy không thay đổi và 40,6% ít hơn trước đây, còn ở mô hình QCCT lần lượt là 25,9% và 33,4 % Mô hình QCCT có tỷ lệ hộ xảy ra dịch bệnh nhiều hơn trước đây là rất cao (40,7%)

Bảng 4.10: Dịch bệnh (%/tổng số hộ) và chi phí phòng trị bệnh bình quân/hộ

(n=35)

QCCT (n=25)

4.2.7 Sản lượng, năng suất, kích cỡ thu hoạch và giá bán

Các hộ ở mô hình TC/BTC thường thu hoạch đồng bộ một lần cuối vụ, trừ một số hộ có tôm còi, tôm nhỏ hoặc chuyển sang ao khác để phân cỡ, một

số hộ nuôi QCCT có xu hướng thu hoạch dưới hình thức thu tỉa theo con nước Kích cỡ thu hoạch của những mô hình khác nhau cũng khác nhau, do có sự chênh lệch khá lớn về diện tích nuôi và mật độ thả cũng như tỷ lệ sống ở cả hai mô hình TC/BTC và QCCT nên sản lượng sau khi thu hoạch được cũng có

330kg/vụ, nhưng nhìn chung do nuôi tôm với mật độ cao và quản lý khá chặc

do có hộ chỉ đạt sản lượng 60 kg/năm trong khi đó có hộ lại đạt 5500 kg/vụ

Bình quân tỷ lệ ao nuôi thành công /vụ của mô hình TC/BTC là 77,8% và QCCT là 94,7%

Ngày đăng: 09/04/2018, 19:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w