Dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời trên cơ sở kế thừa các giá trị dân chủ trước nó, nhất là kế thừa các giá trị của dân chủ tư sản. Bởi vì, trong bức tranh chung về tiến trình phát triển của lịch sử, chế độ tư bản là nấc thang phát triển cao hơn hẳn so với chế độ nô lệ, phong kiến và là nấc thang cận kề để từ đó bước lên nấc thang tiếp theo là chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội. Những thành tựu dân chủ là chủ nghĩa tư bản đạt được là thành quả tích luỹ của loài người trong quá trình tiến hoá lâu dài, từ thấp đến cao, mà chỉ từ đó mới có thể tiến lên một nền dân chủ cao hơn đó là dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ được xây dựng và hình thành trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, mang bản chất giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản để thực hiện và đảm bảo quyền làm chủ thực sự của đông đảo nhân dân đối với xã hội. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được hình thành dần dần và từng bước hoàn thiện cùng với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội.
Trang 1-
-Nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện dân chủ ở
xã, phường, thị trấn giai đoạn 2011 - 2015
(Tài liệu bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ cơ sở theo đề án 01 – ĐA/TU Ngày 05/05/2011)
Hưng Yên, tháng 8 năm 2011
Trang 2LỜI GIỚI THIỆU
Thực hiện đề án số 01 – ĐA/ TU ngày 05 tháng 05 năm 2011 của Tỉnh uỷ
Hưng Yên về “Nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ ở xã,
phường, thị trấn giai đoạn 2011 – 2015”, Kế hoạch số 6a – KH /BDVTU ngày 24
tháng 8 năm 2011 của Ban Dân vận Tỉnh uỷ Hưng Yên về triển khai thực hiện đề
án “Nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị
trấn giai đoạn 2011 – 2015”.
Thực hiện nhiệm vụ của Đề án ngày 24/2/2012, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh
uỷ ra Quyết định số 33a – QĐ/BDVTU về việc thành lập Tổ xây dựng đề cươngbài giảng “Nâng cao chất lượng hiệu quả thực hiện QCDC ở xã, phường, thị trấngiai đoạn 2011 – 2015” theo Đề án số 01 – ĐA/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.Được sự giúp đỡ của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Tổ xây dựng đề cương bài giảngcủa Ban Dân vận Tỉnh uỷ và Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh đã làm việcnghiêm túc, khẩn trương để hoàn thành chương trình, hệ thống bài giảng phục vụtriển khai thực hiện Đề án số 01 – ĐA /TU
Trong quá trình biên soạn khó tránh khỏi thiếu sót, hạn chế, chúng tôi rấtmong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng chí để tiếp tục hoàn thiện đềcuơng bài giảng
TỔ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH
Trang 3Chuyên đề thứ nhất:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
I DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1 Khái niệm dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa
1.1 Khái niệm dân chủ
Dân chủ được bắt nguồn từ chữ Hy lạp “Demokratia”, trong đó Demos là
nhân dân, Kratia là quyền lực Như vậy, theo nguyên nghĩa của nó, dân chủ cónghĩa là quyền lực của nhân dân, hay quyền lực thuộc về nhân dân, nó nói lênrằng, nhân dân là chủ thể của quyền lực
Trong kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, các ông đã giành một vịtrí quan trọng cho những quan niệm về dân chủ
C.Mác cho rằng chế độ dân chủ là chế độ Nhà nước ngày càng hướng tới cơ
sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là
sự nghiệp của bản thân nhân dân “Chế độ Nhà nước ở đây xuất hiện với tính cách
là sản phẩm tự do của con người”1 Do vậy, C.Mác lấy tự do của con người làm tiêuchí căn bản để phân chia các mốc lớn của sự tiến hoá của các chế độ dân chủ
Theo C.Mác, với tính cách là một chế độ dân chủ vừa là sản phẩm của tự do
và là một bảo đảm tự do Đây là điều kiện cần thiết để những cá nhân trong xã hội
tự xác định tư cách, địa vị và quan hệ của mình thành xã hội công dân và uỷ một
phần tự do của mình thành Nhà nước, Nhà nước xuất hiện “đúng chân tướng của
nó – tức là xuất hiện với tính cách là sản phẩm tự do của con người” 2 Chính tự do
và tự cấu thành xã hội công dân đã đưa đến sự ra đời của Nhà nước pháp quyền Với
ý nghĩa trực tiếp của nó, Nhà nước pháp quyền là một công ước để xác định quyền
tự do của công dân và quyền tự do của Nhà nước
V.I Lênin quan niệm: Dân chủ là sự thống trị của đa số
Với nghĩa này có thể hiểu dân chủ được nhìn nhận như một quyền lực mà tất cảquyền lực thuộc về đa số người dân chứ không phải của một nhóm người, quyền lựcnày được nhân dân giao cho Nhà nước của mình, là người đại diện cho mình
1 C Mác, Ph Ăngghen, toàn tập, t1, Nxb CTQG HN 1995, tr 349
2 C Mác, Ph Ăngghen, toàn tập, t1, Nxb CTQG HN 1995, tr 349
Trang 4Theo Lênin, dân chủ còn được nhìn nhận như là một hình thức tổ chức Nhànước, một hình thái Nhà nước, trong đó thừa nhận sự tham gia của đông đảo quầnchúng nhân vào công việc quản lý Nhà nước để thực hiện sự thống trị đối với thiểu sốnhững kẻ vi phạm dân chủ của nhân dân Mức độ, phạm vi tham gia thật sự của quầnchúng nhân dân vào công việc quản lý Nhà nước phản ánh trình độ phát triển của nềndân chủ, phản ánh những vấn đề cốt lõi nhất của dân chủ.
Như vậy, từ nguyên gốc - dân chủ là quyền lực nhân dân – dân chủ trở thànhkhái niệm bao quát một nội dung rộng lớn Người ta thường tiếp cận khái niệm dânchủ ở những khía cạnh sau:
Một là, dân chủ là một khái niệm mang ý nghĩa chính trị, tuy đã có mầm
mống trong xã hội nguyên thuỷ (dân chủ quân sự), nhưng nó xuất hiện đầy đủ nhưmột chế độ chính trị trong xã hội có giai cấp Ở phương diện này, tính chất của dânchủ tuỳ thuộc vào chỗ quyền lực chính trị thuộc về giai cấp nào Thực chất, đó là
sự tập trung quyền lực chính trị vào tay giai cấp cầm quyền Chính vì vậy, người tagọi là dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ vô sản (dân chủ xã hội chủ nghĩa)
Hai là, dân chủ được hiểu là một chế độ Nhà nước V.I.Lênin từng nói: chế
độ dân chủ là một hình thức Nhà nước, trong đó nổi bật mối quan hệ giữa Nhànước với dân, quan hệ giữa những người dân được điều tiết bởi một hệ thống luậtpháp, đó là một thể chế Nhà nước
Ba là, dân chủ là sự phản ánh trạng thái, mức độ giải phóng con người trong
tiến trình phát triển của xã hội Nó thể hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi côngdân, được quy định trong luật pháp Nhà nước cũng như được thể hiện trong cuộcsống
Bốn là, dân chủ là sự biểu thị thành quả của cuộc đấu tranh giữa một bên là
những người lao động và một bên là giai cấp bóc lột Vì vậy, dân chủ không chỉđơn thuần là quyền lực, lợi ích thuộc về giai cấp cầm quyền, mà nó còn là phầnquyền lực, lợi ích của đông đảo nhân dân, do chính họ giành được trong cuộc đấutranh Ở đây, dân chủ là một tương quan xã hội, so sánh giữa các lực lượng, cáckhuynh hướng xã hội
Năm là, dân chủ còn được hiểu với tính cách là nguyên tắc, phương thức
hoạt động của một tổ chức chính trị - xã hội Ví dụ: nguyên tắc dân chủ tập trungtrong sinh hoạt đảng, quản lý Nhà nước và liên quan đến bình đẳng xã hội
Trang 5Đó là các khía cạnh khác nhau của khái niệm dân chủ, tuỳ bối cảnh màngười ta nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác
1.2 Khái niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời trên cơ sở kế thừa các giá trị dân chủ trước
nó, nhất là kế thừa các giá trị của dân chủ tư sản Bởi vì, trong bức tranh chung vềtiến trình phát triển của lịch sử, chế độ tư bản là nấc thang phát triển cao hơn hẳn
so với chế độ nô lệ, phong kiến và là nấc thang cận kề để từ đó bước lên nấc thangtiếp theo là chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội.Những thành tựu dân chủ là chủ nghĩa tư bản đạt được là thành quả tích luỹ củaloài người trong quá trình tiến hoá lâu dài, từ thấp đến cao, mà chỉ từ đó mới có thểtiến lên một nền dân chủ cao hơn đó là dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ được xây dựng và hình thành trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, mang bản chất giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản để thực hiện và đảm bảo quyền làm chủ thực
sự của đông đảo nhân dân đối với xã hội.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa được hình thành dần dần và từng bước hoàn thiệncùng với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội
2 Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ được xác lập sau khi giai cấp công nhân thôngqua đội tiền phong của mình là Đảng cộng sản giành được Chính quyền, tiến hànhcải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
- Là sự lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân thông qua đảng của nó đốivới toàn xã hội, nhưng có sự thống nhất giữa tính giai cấp công nhân với tính dântộc và tính nhân dân, do lợi ích của giai cấp công nhân phù hợp với lợi ích của dântộc và của đại đa số nhân dân lao động
- Do Đảng Cộng sản lãnh đạo – yếu tố quan trọng để đảo bảo quyền lợi thực
sự thuộc về nhân dân, bởi vì, Đảng Cộng sản đại biểu cho trí tuệ, lợi ích của giaicấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc Với ý nghĩa này, dân chủ xã hộichủ nghĩa mang tính nhất nguyên về chính trị Sự lãnh đạo của giai cấp công nhânthông qua Đảng cộng sản đối với toàn xã hội về mọi mặt V.I.Lênin gọi là sự thốngtrị chính trị
- Nhân dân lao động là những người làm chủ mọi quan hệ chính trị trong xãhội Họ có quyền giới thiệu các đại biểu tham gia vào bộ máy Chính quyền từ
Trang 6trung ương đến địa phương, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, phápluật, xây dựng bộ máy và cán bộ nhân viên Nhà nước Mục đích của nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa là xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tạo điều kiện chonhân dân làm chủ xã hội Quyền được tham gia rộng rãi vào việc quản lý Nhà nướcchính là nội dung dân chủ trên lĩnh vực chính trị
- Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu sảnxuất chủ yếu đáp ứng sự phát triển cao của lực lượng sản xuất hiện đại nhằm thoảmãn nhu cầu ngày càng cao nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân Trước hếtđảm bảo quyền làm chủ của nhân dân về các tư liệu sản xuất chủ yếu; quyền làmchủ trong quá trình sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối
- Dưới góc độ kinh tế dân chủ xã hội chủ nghĩa được biểu hiện là sự đảmbảo về lợi ích kinh tế, phải coi lợi ích kinh tế của người lao động là động lực cơbản nhất có sức thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
- Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy hệ tư tưởng Mác - Lênin hệ tư tưởng củagiai cấp công nhân làm nền tảng; đồng thời là sự kế thừa, phát huy những tinh hoavăn hoá truyền thống các dân tộc; tiếp thu những giá trị tiến bộ, văn minh mà nhânloại đã đạt được Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân được làm chủnhững giá trị văn hoá tinh thần; được nâng cao trình độ văn hoá, có điều kiện đểphát triển cá nhân
3 Sự khác biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản
Đây là hai nền dân chủ đang tồn tại trong thực tiễn đời sống chính trị củanhân loại hiện nay Dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời có sự kế thừa một cách cóchọn lọc những thành tựu của nền dân chủ trước đó, nhất là dân chủ tư sản Tuynhiên, hai nền dân chủ này có sự khác nhau về chất
Trang 7+ Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp côngnhân nhưng nó phục vụ lợi ích cho đa số, bởi vì lợi ích của giai cấp công nhân phùhợp với lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc; còn dân chủ tư sản đối lậpvới lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
+ Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ do Đảng cộng sản lãnh đạo, nhấtnguyên về chính trị; còn dân chủ tư sản do các đảng của giai cấp tư sản lãnh đạo,thực hiện chế độ đa đảng đối lập
+ Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện thông qua Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa (có sự thống nhất và sự phân công phối hợp giữa ba quyền lậppháp, hành pháp và tư pháp); còn dân chủ tư sản được thực hiện thông qua Nhànước pháp quyền tư sản (tổ chức theo hình thức tam quyền phân lập)
- Về cơ sở kinh tế.
+ Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện trên cơ sở kinh tế là công hữuhoá các tư liệu sản xuất chủ yếu; còn dân chủ tư sản được thực hiện trên cơ sở kinh
tế tư hữu hoá các tư liệu sản xuất
+ Dân chủ xã hội chủ nghĩa thực hiện nguyên tắc phân phối sản phẩm của
xã hội chủ yếu theo kết quả lao động và các nguồn lực đóng góp; còn dân chủ tưsản thực hiện nguyên tắc này chủ yếu theo tài sản, tỷ lệ đóng góp kinh tế của mỗi
cá nhân
- Về tính pháp lý và tính thực tiễn.
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân về mặtpháp lý cũng như trên thực tế Hạn chế tối đa sự khác biệt giữa văn bản luật vàquyền thực sự của người dân trong thực tế Dân chủ tư sản, về mặt pháp lý, xâydựng rất nhiều quyền của con người, nhưng nó lại đưa ra rất nhiều quy định để hạnchế tối đa việc thực hiện những quyền đó của công dân
II T¦ T¦ëng cña chñ tÞch hå chÝ minh vÒ d©n chñ
1 Qu¸ tr×nh h×nh thµnh vµ ph¸t triÓn T tëng Hå ChÝ Minh vÒ d©n chñ
Kế thừa và phát triển những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênnin, tư tưởngcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ vừa thể hiện tính hiện đại, tính pháp quyền,tính thể chế trong tư tưởng chính trị phương Tây hiện đại, vừa thể hiện tinh thầndân chủ cộng đồng, trọng dân trong tư tưởng chính trị Việt Nam truyền thống, đó
là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc liên quan tới những vấn đề cơ bản,
Trang 8lâu dài và cấp bách về dân chủ Hồ Chí Minh có một nguyên tắc là "Theo đúng
đường lối nhân dân" Điều này thể hiện tập trung ở ba nội dung cơ bản, quan trọng
và xuyên suốt tư tưởng của Người về: Dân; Dân chủ; Dân vận Tháng 6 năm 1919,
Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người Việt Nam yêu nước gửi tới "Hội nghị hoà
bình" ở Pari "Bản yêu sách của nhân dân An Nam" gồm 8 điểm Nội dung cơ bản
của bản yêu sách đòi pháp quyền và dân quyền cho nhân dân Việt Nam Đồng thời,Nguyễn Ái Quốc cũng thấy rằng, nhân dân Việt Nam mất nước, không thể nào đòiđược dân quyền và pháp quyền, nếu không giải phóng dân tộc, không đòi được độclập dân tộc Như vậy, đòi độc lập dân tộc phải gắn với đòi dân quyền và phápquyền, thực chất là giải quyết vấn đề dân tộc và dân chủ Khi đến với Quốc tế thứ
ba, đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường giải phóng dân tộc, Nguyễn ÁiQuốc đã bắt tay vào xây dựng và tổ chức lực lượng cách mạng, vì dân tộc, đặt lợiích dân tộc, Tổ quốc lên trên hết Nhờ vậy, đã phát huy được tinh thần dân tộc, mà
nhiều lúc người nói đó là chủ nghĩa dân tộc Việt Nam và khẳng định "Chủ nghĩa
dân tộc là động lực của đất nước"3
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, cách mạng tháng Tám năm 1945thắng lợi, xoá bỏ gông xiềng nô lệ, áp bức thực dân gần trăm năm và chế độ phongkiến đã tồn tại hàng nghìn năm, xây dựng nên một chế độ xã hội mới - chế độ dânchủ nhân dân, mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền vớichủ nghĩa xã hội
2 Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
Thứ nhất: Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, "dân chủ" không
tách rời quan niệm "dân là chủ", "dân làm chủ”, “Nước ta là nước dân chủ" Khẳng
định vai trò của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định vị thế, tư cách chủthể xã hội của nhân dân Song quan trọng hơn thế, người còn khẳng định rằng, phải
làm sao cho nhân dân được hưởng quyền làm chủ xã hội trên thực tế Từ "Dân là
chủ" tiến tới "Dân làm chủ" là một bước tiến về chất, một quá trình phấn đấu vượt
qua rất nhiều khó khăn, trở ngại Phải làm sao để người dân có điều kiện và biếthưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình đúng lúc, đúng chỗ.Đảng phải tạo ra cơ chế thích hợp để người dân có được các yếu tố cơ bản mà làm
3Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, NXBCTQG.H.1945 tr 466
Trang 9chủ, đó là: Trình độ hiểu biết dân chủ, phương pháp và bản lĩnh thực hành dân chủ,
có như vậy nhân dân mới có quyền làm chủ thực sự
Thứ hai : Để hiện thực hoá vai trò của nhân dân, Hồ Chí Minh đã đề ra
đường lối và kiên trì xây dựng Nhà nước thực sự dân chủ - Nhà nước của dân, dodân và vì dân Hiểu được dân chủ tức là nhân dân có quyền lợi làm chủ và phải cónghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
"Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hạn và lực lượng đều ở nơi dân" 4 Trên cương vị Chủ tịch nước, Người đã đứng đầu Uỷ ban soạn thảo Hiếnpháp năm 1946 và hiến pháp 1959 Theo Người, trong một Nhà nước dân chủ thì
nhân dân và pháp luật phải đi đôi với nhau Pháp luật là "Bà đỡ" của dân chủ, bảo
đảm cho quyền tự do của người dân được tôn trọng trong thực tế và dân chủ phảiđược thể chế hoá bằng Hiến pháp và pháp luật không thể có dân chủ ngoài phápluật
Thứ ba : Hồ Chí Minh coi trọng công cuộc xây dựng đội ngũ cán bộ Chính
quyền thành những cán bộ thấm nhuần đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm chính,chí công, vô tư, tẩy sạch bệnh quan liêu, tham ô lãng phí và thành thạo chuyênmôn, nghiệp vụ hành chính, am hiểu pháp luật, thực hành tốt văn hoá ứng xử Xâydựng pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm việc thực hiệnquyền lực của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm quyền tự do dân chủcủa nhân dân lao động là mối quan tâm suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh TheoNgười, dân chủ thật thà trong Đảng không gì bằng khuyên cán bộ mình mạnh dạn
đề ra ý kiến và phê bình Ngược lại, nếu cán bộ không nói năng, không ý kiến,không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu Vì vậykhông phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói họ sợ, thế là mất hết
dân chủ trong Đảng Trong Di chúc của mình, Hồ Chí Minh cho rằng "Trong
Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và
Trang 10phờ bỡnh là cỏch tốt nhất để củng cố và phỏt triển sự đoàn kết nhất trớ của Đảng ".
Trong Đảng cú thực sự dõn chủ mới đảm bảo thực hiện dõn chủ của xó hội
Thứ tư : Theo Hồ Chớ Minh, dõn chủ xó hội chủ nghĩa đều được thể hiện trờn
ba mặt gắn bú chặt chẽ với nhau, tỏc động qua lại lẫn nhau là: Dõn quyền; dõn sinh;dõn trớ Nền chớnh trị mà Người hướng tới và xõy dựng là chớnh trị dõn quyền
Người dạy rằng "Nếu nước độc lập mà người dõn khụng hưởng hạnh phỳc
thỡ tự do, độc lập chẳng cú ý nghĩa gỡ" 5
Đú chớnh là cốt lừi dõn chủ xó hội chủ nghĩa mà chỳng ta xõy dựng để phỏthuy quyền làm chủ của nhõn dõn trờn tất cả cỏc mặt chớnh trị, kinh tế, văn hoỏ, xóhội, an ninh quốc phũng, xõy dựng Đảng, Chớnh quyền trong sạch vững mạnh
Hồ Chớ Minh cho rằng "Dõn chủ là của quý bỏu nhất của nhõn dõn" và
trong bầu trời khụng cú gỡ quý bằng nhõn dõn, thực hiện dõn chủ là chỡa khoỏ vạnnăng để giải quyết mọi khú khăn, dõn chủ vừa là mục tiờu, vừa là động lực củacỏch mạng xó hội chủ nghĩa
III quan điểm của đảng cộng sản việt nam, chính sách pháp luật của nhà nớc ta về dân chủ xã hội chủ nghĩa
Xuyờn suốt cỏc quỏ trỡnh cỏch mạng, trong Cương lĩnh, Đường lối, Chủtrương của mỡnh Đảng ta luụn nhấn mạnh cỏch mạng là sự nghiệp của quần chỳng
và nhõn dõn là chủ thể của mọi quyền lực của Nhà nước Việt Nam Dõn chủ cộnghũa và sau này là Nhà nước Cộng hũa xó hội chủ nghĩa Việt Nam
Sau khi thống nhất đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng(năm 1976) đó tuyờn bố trong đường lối chung một nhiệm vụ cú tớnh cương lĩnh làxõy dựng quyền làm chủ tập thể của nhõn dõn lao động, sao cho nhõn dõn xứngđỏng là người chủ trờn tất cả cỏc lĩnh vực kinh tế, chớnh trị, văn húa, xó hội vàchinh phục tự nhiờn
Quyền làm chủ tập thể, mà tớnh tất yếu khỏch quan của nú xuất hiện khiChớnh quyền Nhà nước thuộc về nhõn dõn, phải được xõy dựng thành chế độ xó
hội mà Nghị quyết Đại hội IV gọi là: “chế độ làm chủ tập thể xó hội chủ nghĩa” Một xó hội cú khả năng “kết hợp hữu cơ quyền làm chủ tập thể với quyền tự do
5 Hồ Chớ Minh toàn tập, sđd, t14 tr 56
Trang 11chân chính của từng cá nhân” là “một Nhà nước kiểu mới, Nhà nước do chính giai cấp công nhân và nhân dân lao động tự tổ chức để thực hiện quyền làm chủ tập thể của mình, Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân, thông qua đó, Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với xã hội” 6.
Đối với sự nghiệp dân chủ, đây cũng là một mốc lịch sử quan trọng đưa sựnghiệp dân chủ của cách mạng nước ta vào chiều sâu thành thể chế mà trước hết làcác thể chế kinh tế, đưa ra cách tiếp cận mới thực tiễn hơn, biện chứng hơn về nềndân chủ xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đang xây dựng
Chính nhờ đó mà hoạt động của Đảng suốt trong nhiệm kỳ Đại hội VII vàĐại hội VIII đã giành sự chú ý thích đáng đến dân chủ trong chính trị, đã đặt ramột cách dứt khoát mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Qua thực tiễn đổi mới đến năm 1998 b»ng Chỉ thị 30 – CT/TW và Nghị định 29/NĐ – CP, Đảng và Chính phủ đã tích cực tổng kết kinh nghiệm thựctiễn, tìm tòi những khâu mấu chốt trong sự nghiệp dân chủ hóa đất nước và đã banhành Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở (gọi tắt là Quy chế dân chủ ở cơ sở) Đây
là bước đột phá đúng về nhận thức trong tư tưởng và tổ chức, về lý luận và thựctiễn
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), đây được coi là Đại hội trítuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới khẳng định lại mục tiêu xây dựng một chế độ dânchủ thông qua Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Coi đoàn kết, dân chủ làđộng lực của phát triển xã hội Đại hội đã đưa dân chủ thành một trong năm mụctiêu quan trọng mà Đảng phải lãnh đạo đất nước hướng tới: dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Việc đưa dân chủ vào hệ mục tiêu đổi mới là một bước ngoặt trong nhậnthức lý luận đổi mới của Đảng và cũng là trong ý thức xã hội nói chung của quầnchúng
Tại Đại hội X (2006) đã nêu rõ vấn đề dân chủ trong Đảng theo phươnghướng phát huy dân chủ đi đôi với giữ gìn kỷ luật trong Đảng Mọi cán bộ, đảngviên có quyền tham gia quyết định công việc của Đảng Đó là quyền được thôngtin, thảo luận, tranh luận, nêu ý kiến riêng, bảo lưu ý kiến trong tổ chức Thực hiệnnhững quyền đó không tách rời khỏi nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người trongĐảng, đó là phải nói và làm theo Nghị quyết khi Đảng đã ra Nghị quyết Nghị
thật, 1977, tr.15
Trang 12quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: “Phát huy vai trò và tạo điều
kiện thuận lợi để mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội” Phản biện xã hội là hình thức sinh hoạt chính trị dân chủ,
thúc đẩy quá trình dân chủ xã hội chủ nghĩa phát triển
Đại hội XI (năm 2011) xác định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của
chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước Xây dựng
và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hoá bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm” 7
Đại hội XII (2016) ………
………
Trong suốt quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,Đảng và Nhà nước ta đã có những nỗ lực không ngừng để xây dựng nhữngnguyên tắc vận hành, thể chế hoá mục tiêu, đưa ra những phương châm hoạt độngcho nền dân chủ Đó là cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làmchủ Mục tiêu: Nhà nước của dân, do dân, vì dân Phương châm: dân biết, dân bàn,dân làm, dân kiểm tra Nhờ đó mà trong đời sống xã hội, nền dân chủ ở nước ta đãđạt được những thành tựu lớn, thể chế của nền dân chủ tường bước mở rộng và hoànthiện Dân chủ trở thành mục tiêu và động lực của phát triển xã hội ở Việt Nam
2 Chính sách pháp luật của Nhà nước về dân chủ Xã hội chủ nghĩa
2.1 Chính sách pháp luật của Nhà nước về dân chủ xã hội chủ nghĩa từ 1945- 1986
Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa phát huy quyền làm chủ của nhân dân ëc¬ së lµ mét qu¸ tr×nh hoµn thiện từ thấp lên cao từ chưa cụ thể hóa đến cụ thể hóatoàn diện đầy đủ và thể chế hóa thành pháp luật Để cho việc thực hiện dân chủ cơ
sở trở thành phương thức, nguyên tắc tổ chức xã hội và để phát huy quyền làm chủcủa nhân dân trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trở thành hiệnthực Dân chủ và các hình thức dân chủ đã được pháp luật Việt Nam quy định rất
rõ từ những bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam
* Hiến pháp 1946
7 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2011, tr84
Trang 13Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thấm đượmquyền dân chủ của người dân, thể hiện bản lĩnh chính trị cao cường Hiến pháp
1946 thể hiện tổng quát về quyền của nghị viện và nhân dân
- Tổ chức Nhà nước
Điều 1 quy định “Việt Nam là một nước Dân chủ cộng hòa Tất cả các
quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân không được phân biệt nòi giống gái trai, giàu nghèo, giai cấp tôn giáo”.
Điều 23 quy định “Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho
toàn quốc, đặt ra các pháp luật biểu quyết cho ngân sách, chuẩn y các hiệp ước
mà Chính phủ ký với người nước ngoài”.
Điều 22 quy định “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.
Các điều của Hiến pháp đã nêu bật một ý nghĩa hết sức quan trọng; quyềnlực hoàn toàn thuộc về nhân dân; do đó nhân dân giao một phần quyền lực củamình cho Nghị viện nhân dân thông qua Hiến pháp; Hiến pháp là đạo luật của nhândân mà nó có thể được xem như văn bản ủy quyền của nhân dân cho Nhà nước
- Bảo đảm quyền con người
Hiến pháp 1946 đã hết sức tôn trọng quyền vốn có của con người bằng việcđịnh ra các giới hạn là quyền tự do của công dân mà Nhà nước không thể tùy tiện
can thiệp như Điều 10 Hiến pháp 1946 quy định “công dân có quyền:
của Nghị viện do mình bầu ra điều 41 quy định “Nghị viện phải xét vấn đề bãi
miễn một nghị viên khi nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay
Trang 14thành phố bầu ra nghị viờn đú Nếu 2/3 tổng số nghị viờn ưng thuận đề nghị bói miễn thỡ Nghị viờn đú phải từ chức”.
Hiến phỏp 1946 rất chỳ trọng tới hỡnh thức dõn chủ trực tiếp là quyền phỳcquyết của nhõn dõn đối với cỏc vấn đề trọng của đất nước Cỏc vấn đề quan trọngcủa đất nước được nhõn dõn quyết định trực tiếp Vấn đề dõn chủ trực tiếp đượcnhõn dõn quyết định trực tiếp được Hiến phỏp quy định tại điều 21 Nhõn dõn cúquyền phỳc quyết về hiến phỏp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia,
theo điều thứ 32 và 70 Điều 32 quy định “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc
gia sẽ đưa ra nhõn dõn phỳc quyết, nếu 2/3 tổng số nghị viờn đồng ý cỏch thức phỳc quyết do luật định”.
Như vậy, Hiến phỏp 1946 là một đạo luật của nhõn dõn vỡ nú được làm ra
và thụng qua bởi Quốc hội Lập hiến Đõy là một bản Hiến phỏp thể hiện Dõn chủ
xó hội chủ nghĩa bởi nú khẳng định quyền lực cai trị của nhõn dõn, thiết lập Chớnhquyền đại diện, xỏc lập cỏc quyền tự do của con người, xỏc lập giới hạn đối với cỏcquyền tự do của con người và cơ chế bảo vệ cỏc giới hạn đú, đồng thời quy địnhrất giản dị, rừ ràng, ngay thẳng, dễ tiếp cận
* Hiến phỏp 1959
Theo quy định của Hiến phỏp 1959 tại điều 53 quy định “Một trong những
quyền hạn của UBTVQH là quyết định việc trưng cầu ý dõn”.
- Bảo đảm quyền con người:
Tại điều 25 Hiến phỏp 1959 quy định “Cụng dõn nước Việt Nam Dõn chủ
cộng hũa cú quyền tự do ngụn luận, bỏo chớ hội họp, lập hội và biểu tỡnh Bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để cụng dõn được hưởng cỏc quyền đú”.
Hiến phỏp 1959 đó bắt đầu thể hiện việc coi Nhà nước là người bảo trợ chocỏc tự do đú thụng qua việc tạo điều kiện về mặt vật chất, bởi giai đoạn này chỳng
ta đang cụng hữu tư liệu sản xuất nờn cụng dõn khụng cú đủ điều kiện để thực hiệncỏc quyền tự do của mỡnh
* Hiến phỏp 1980
- Bảo đảm quyền của con người
Được thể hiện ở điều 67 quy định “Cụng dõn cú quyền tự do ngụn luận, tự
do bỏo chớ, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tỡnh, phự hợp với lợi ớch của
Trang 15chủ nghĩa và của nhân dân Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân
sử dụng các quyền đó Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và của nhân dân”.
Thừa nhận hội họp, lập hội, biểu tình là quyền tự do, có nghĩa là quyền vốn cóbuộc Nhà nước phải thừa nhận không phải là các quyền mà Nhà nước ban cho
2.2 Thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay
* Hiến pháp 1992
- Tổ chức Nhà nước
Điều 2 Hiến pháp quy định “Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa là Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất
cả các quyền lực đều thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức”.
Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơquan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, Hiến pháp và tư pháp.Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
thể hiện ở điều 83 Hiến pháp 1992 quy định “Quốc hội là cơ quan đại diện cao
nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Quốc hội là cơ quan có quyền duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp
Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngo¹i thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã hội, ANQP của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu và hoạt động của bộ máy về quan hệ x· hội và hoạt động của công dân
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”.
Hiến pháp 1992 cho thấy ba đặc điểm lớn về tổ chức Nhà nước Việt Namhiện nay - Quốc hội đại diện cho nhân dân thực thi quyền lực Nhà nước vốn dĩhoàn toàn thuộc về nhân dân
Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước xã hội Chính quyền, điều 4
Hiến pháp 1992 quy định “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp
công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc theo chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực
Trang 16lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật”.
- Quyền con người
Điều 69 Hiến pháp 1992 quy định “ Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự
do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.
Hiến pháp 1992 thừa nhận các quyền của công dân nhưng tuyên bố “Theo
quy định của pháp luật” Hiến pháp 1992 không xác lập các điều kiện đối với các
hạn chế quyền tự do dân chủ của công dân và cũng không hạn chế bất kể cấpChính quyền nào quy định về các quyền tự do dân chủ của công dân cả về 2phương diện, thúc đẩy tự do dân chủ, cũng như hạn chế tự do dân chủ
- Hình thức dân chủ
Điều 53 Hiến pháp 1992 quy định “Công dân có quyền tham gia quản lý
Nhà nước và xã hội tham gia tham luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân”.
Bầu cử là một hình thức dân chủ trực tiếp của công dân, chế độ bầu cử ởNhà nước ta trong những năm qua thể hiện tính ưu việt thông qua chế độ bầu cửphổ thông, trực tiếp bằng phiếu kín Nhân dân trực tiếp tham gia vào việc lựa chọnnhững đại biểu xứng đáng đủ đức đủ tài để thiết lập nên cơ quan đại diện cho ý chínguyện vọng của nhân dân Đồng thời có quyền bãi nhiễm các đại biểu dân cử nếucác đại biểu đó không thực hiện tốt sự ủy nhiệm của nhân dân
Việc bầu cử của nhân dân cũng được Hiến pháp 1992 quy định tại điều 7
như sau “Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân tiến hành
theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín
Đại biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Quốc hội bãi nhiệm và đại biểu hội đồng nhân dân bị cử tri hoăc hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”.
Các quy định này được Hiến pháp 1992 đề cập tới hai vấn đề lớn của chế độdân chủ đại diện Một vấn đề có tính chất tham gia của người dân là bầu cử Mộtvấn đề khác có tính phản đối của người dân là bãi nhiễm, Hiến pháp 1992 khôngphản ánh đúng bản chất dân chủ trực tiếp là quyền quyết định trực tiếp bởi nhân
Trang 17dân, mà chỉ cho thấy Nhà nước khi cần thì hỏi ý kiến nhân dân để cân nhắc quyếtđịnh của mình, dẫu sao thì cũng nên hiểu đây cũng là một hình thức dân chủ trực tiếp.
* Hiến pháp 2013………
………
2.3 Các văn bản pháp luật vÒ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Dân chủ là bản chất của chế độ, của Nhà nước ta Đảng và Nhà nước taluôn tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo thành sức mạnh to lớn,góp phần quyết định vào sự thành công của cách mạng Pháp luật về dân chủ ở cơ
sở của nước ta ra đời sau Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/2/1998 của Ban Chấp hànhTrung ương Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước tiến mới của quá trình mở rộng
và phát huy dân chủ của nhân dân Thực hiện Nghị quyết số 55/NQ-UBTVQH10ngày 30/7/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam, Chính phủ đã ban hành các nghị định để đảm bảo thực hiện dân chủ củanhân dân như sau:
+ Nghị định 71/1998/NĐ-CP, ngày 8/9/1998 của Chính phủ ban hành kèmtheo Nghị định này là quy chế thực hiện dân chủ trong cơ quan Quy chế thực hiệndân chủ trong cơ quan bao gồm có 4 chương 36 điều Trong đó điều 1 quy định
“Quy chế thực hiện dân chủ trong sinh hoạt của cơ quan nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, góp phần xây dựng cơ quan trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ là công bộc của nhân dân có đủ phẩm chất, năng lực, làm việc có năng suất, chất lượng hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi mới của đất nước, ngăn chặn và chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu dân”.
+ Nghị định số 07/1999/NĐ-CP, ngày 13/2/1999 của Chính phủ ban hànhkèm theo Nghị định này là quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp Nhà nước.Quy chế thực hiện dân chủ ở trong doanh nghiệp Nhà nước bao gồm 6 chương và
20 điều trong đó điều 1 quy định “Thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp Nhà nước
nhằm mục đích:
Cụ thể hóa phương châm “dân biết, dân làm, dân kiểm tra”, phát huy quyền dân chủ thông qua tổ chức công đoàn và dân chủ trực tiếp của người lao động, phát huy sáng tạo của tập thể và cá nhân để nâng cao hiệu quả hoạt động, bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống
Trang 18tham nhũng, chống vi phạm dân chủ, vi phạm kỷ luật, gây rối nội bộ, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
+ Nghị định 29/1998/NĐ-CP, ngày 11/5/1998 của Chính phủ về việc banhành quy chế thực hiện dân chủ ở xã ban hành kèm theo Nghị định này là quy chếthực hiện dân chủ ở xã Quy chế thực hiện dân chủ ở xã bao gồm 7 chương 25 điều
trong đó điều 1 quy định “Quy chế thực hiện dân chủ ở xã nhằm phát huy quyền
làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nông dân và nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị,
xã hội, tăng cường đoàn kết nông thôn, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng bộ, Chính quyền và các đoàn thể ở xã trong sạch vững mạnh; ngăn chặn và khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng, góp phần vào sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Sau 9 năm thực hiện quy chế dân chủ ở xã, quy chế này được Ủy banThường vụ Quốc hội khóa XI tổng kết và nâng lên thành Pháp lệnh số 34/2007/PL-
UBTVQH XI gồm 6 chương 28 điều Điều 1 của Pháp lệnh quy định “Những nội
dung phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm của Chính quyền, cán
bộ, công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã), của cán bộ thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc (gọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khối phố (sau đây gọi chung là dân phố), của c¬ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở xã’’.
+ Nghị định số 04/2015/NĐ-CP, ngày 09/1/2015 của Chính Phủ về thựchiện Dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự
nghiệp công lập bao gồm 3 chương, 18 điều, trong đó điều 2 quy định “Cán bộ,
công chức cấp xã thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan theo quy định tại Nghị định này và các quy định tại Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”
+ Kết luận số 120 - KL/TW, ngày 07/1/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục
đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở Tại Kết luận nêu rõ “Tiếp tục tổ chức quán triệt Chỉ thị số 30-CT/TW
của Bộ Chính trị khóa VIII về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở một
Trang 19cách đồng bộ, đi vào chiều sâu ở tất cả các loại hình cơ sở, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là lĩnh vực liên quan trực tiếp quyền và lợi ích của người dân”
Như vậy chúng ta thấy chính sách, pháp luật về thực hiện dân chủ đã đượcNhà nước ta thừa nhận và quy định rất rõ trong đó quy định những nội dung nhândân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dungnhân dân giám sát, trách nhiệm của cơ quan, cán bộ, công chức cấp xã, cán bộthôn, tổ dân phố và trách nhiệm của cơ quan, của Mặt trận tổ quốc và các tổ chứcthành viên của Mặt trận, của các tổ chức cá nhân có liên quan và nhân dân trongviệc thực hiện dân chủ
Từ khi Quy chế dân chủ ở cơ sở ra đời rồi sau đó được nâng lên thành Pháplệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, các cấp uỷ đảng và Chính quyền tỉnhHưng Yên đã rất quan tâm và kịp thời triển khai, đưa Quy chế dân chủ, Pháp lệnhthực hiện dân chủ đi vào thực tiễn cuộc sống Qua báo cáo 10 năm thực hiện Chỉthị số 30/CT-TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện QCDC ở
cơ sở (1998 - 2008) và kết quả khảo sát việc triển khai thực hiện Pháp lệnh số34/2007/PL - UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội doBan Dân vận Tỉnh uỷ thực hiện về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địabàn toàn tỉnh, làm cơ sở để Ban Thường vụ Tỉnh uỷ xây dựng Đề án số 01 –
Trang 20ĐA/TU ngày 05/5/2011 Đánh giá khái quát tình hình thực hiện dân chủ ở cơ sởtỉnh Hưng Yên như sau:
1 Kết quả đạt được, nguyên nhân
1.1 Kết quả đạt được
Trong những năm qua (1998 - 2010), việc triển khai Chỉ thị số 30 và Pháplệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã được thực hiện tích cực, đồng bộtrong cả hệ thống chính trị tỉnh Sự phối kết hợp giữa Đảng, chính quyền, các đoànthể và nhân dân đã tạo ra sự thống nhất về nhận thức và hành động trong đội ngũcán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân trong toàn tỉnh về việc mởrộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân tại cơ sở Chỉ thị số 30, Quy chế dânchủ ở cơ sở và đến nay là Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đãtừng bước đi vào cuộc sống và trở thành hoạt động thực tiễn của nhân dân tại cácđịa phương Việc thực hiện Chỉ thị số 30, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,phường, thị trấn đã được duy trì thành nền nếp, tạo ra một luồng sinh khí mới trongviệc tăng cường, phát huy, mở rộng quyền làm chủ của nhân dân, tạo ra sự đồngthuận, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, thúc đẩyphát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng tại cơ sở Chất lượng vàhiệu quả việc thực hiện Chỉ thị số 30, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường,thị trấn ngày được nâng cao
Nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân tại cơ sở, các cấp ủy đã nâng caovai trò lãnh đạo của mình, chú trọng triển khai các văn bản chỉ đạo của Trung ương,ban hành các văn bản chỉ đạo của tỉnh, địa phương phù hợp với tình hình thực tiễn.Các cấp ủy đảng từ tỉnh đến cơ sở đã xây dựng kế hoạch và nghiêm túc triển khai,quán triệt, học tập Chỉ thị số 30; Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn;
Kế hoạch số 130/KH - TU ngày 28/6/2010 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Đến nay,10/10 huyện, thành phố; 161/161 xã, phường, thị trấn đã thành lập Ban Chỉ đạo xâydựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp mình
Trên cơ sở bám sát sự chỉ đạo của cấp uỷ; các văn bản của cơ quan Nhànước cấp trên về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, chính quyền, đoàn thểcác cấp có nhiều biện pháp chỉ đạo, tổ chức triển khai tuyên truyền, vận động sâurộng, làm chuyển biến tích cực về nhận thức của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hộiviên và các tầng lớp nhân dân về quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật củaNhà nước đối với việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Pháp lệnh
Trang 21thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Tại một số địa phương trong tỉnh, Chínhquyền xã, phường, thị trấn đã chủ động, tích cực và sử dụng kết hợp nhiều biệnpháp tuyên truyền nội dung Pháp lệnh tới nhân dân như: thông qua hệ thống truyềnthanh xã, qua các hội nghị tập huấn, qua trưởng thôn, phát Pháp lệnh thực hiện dânchủ ở xã, phường, thị trấn tới cán bộ cơ sở Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể pháthuy tốt vai trò của mình, phối hợp chặt chẽ với Chính quyền trong việc tuyêntruyền, vận động nhân dân phát huy tốt quyền làm chủ của mình tại cơ sở.
Mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân tại cơ cở theo tinh thầnChỉ thị số 30, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn tại các địa phươngluôn được gắn với việc phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dânđịa phương, cải cách hành chính, gắn với cuộc vận động và học tập theo tấm gươngđạo đức Hồ Chí Minh, các phong trào, hoạt động văn hoá, xã hội
Phương châm: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" được thực hiện khá
tốt Những nội dung Pháp lệnh quy định phải công khai trước nhân dân; những nộidung nhân dân được bàn và quyết định trực tiếp; những nội dung nhân dân đượcgiám sát được đa số Chính quyền các cơ sở thực hiện nghiêm túc và tạo điều kiệntốt nhất để nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình
Công tác tuyên truyền nội dung Chỉ thị số 30, Pháp lệnh thực hiện dânchủ ở cơ sở bước đầu có hiệu quả Vì vậy, nhận thức về quyền làm chủ của nhândân tại cơ sở được nâng lên Phần lớn nhân dân tại cơ sở cơ bản nắm và hiểu đượcnội dung của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; tích cực và chủđộng trong việc thực hiện quyền làm chủ của mình; nêu cao tinh thần trách nhiệm,quan tâm tham gia xây dựng và thực hiện các chương trình phát triển kinh tế, vănhoá, xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng tại địa phương Phong trào toàn dân xâydựng đời sống văn hoá mới ở khu dân cư, xây dựng hương ước làng đã được đẩymạnh và nhận được sự hưởng ứng tích cực của nhân dân Tỷ lệ cử tri đi bầu trưởngthôn đã cao hơn trước rất nhiều, nhiều địa phương đạt trên 95% số hộ đi bầu Tỷ lệ
cử tri đi họp dân và tích cực đóng góp ý kiến cũng cao hơn Tại nhiều địa phương,nhân dân phát huy rất tốt quyền được bàn và quyết định trực tiếp của mình Nhândân đã tự nguyện đóng góp công sức, tiền của xây dựng, nâng cấp được nhiều côngtrình phúc lợi công cộng, hệ thống cơ sở hạ tầng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dânphố
Trang 22Tóm lại, từ nhận thức đúng đắn ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của việc
mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đặc biệt là tại cơ sở, các cấp uỷđảng, Chính quyền, đoàn thể đã có nhiều biện pháp phù hợp nhằm từng bước đưatinh thần và nội dung Chỉ thị số 30 và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường,thị trấn đi vào đời sống nhân dân Vì vậy, tại các địa phương, kinh tế - xã hội, đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao,trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, an ninh chính trị được giữ vững; thu hút vàtạo được niềm tin của nhân dân với Đảng, Chính quyền; động viên và huy độngđược sức lực, trí tuệ của nhân dân trong việc thực hiện các nhiệm vụ ở địa phươngđạt hiệu quả cao Đồng thời, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng thoái hoá, biến chất,tham nhũng, lãng phí, quan liêu, sách nhiễu nhân dân của đội ngũ cán bộ, côngchức
1.2 Nguyên nhân của kết quả
- Có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, kịp thời của các cấp uỷ đảng, Chính quyềntrong tỉnh
- Chính quyền một số địa phương đã có sự sáng tạo trong việc tổ chức triểnkhai Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
- Đội ngũ cán bộ, công chức đặc biệt là cán bộ, công chức cấp xã đã đápứng được yêu cầu công việc, tận tuỵ, trách nhiệm, gần dân và lắng nghe ý kiến củanhân dân
2 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
Công tác tuyên truyền, triển khai, quán triệt các văn bản của Đảng,Nhà nước về thực hiện QCDC nhất là tuyên truyền nội dung Pháp lệnh thực hiệndân chủ ở xã, phường, thị trấn tại một số địa phương còn mang tính hình thức,chưa thường xuyên, chưa sâu rộng, chưa thực sự hiệu quả, chưa tạo ra sự chuyển