1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề tài khoa học mô hình nhân dân tự quản xây dựng nông thôn mới

58 536 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 614 KB
File đính kèm De tai khoa hoc dan van xay dung nong thon moi.rar (200 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá thực trạng công tác tự quản của nhân dân tại các thôn, xóm, bản (gọi chung là thôn) trên cơ sở hương ước ở tỉnh Ninh Bình từ năm 2005 đến nay. Nghiên cứu một số mô hình nhân dân tự quản theo hương ước văn hóa tại các vùng, miền trên địa bàn tỉnh; tổ chức hội thảo, rút kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp nhằm vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả các mô hình tự quản thông qua hương ước văn hóa trong xây dựng nông thôn mới.

Trang 2

DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH NINH BÌNH

CƠ QUAN QUẢN LÝ CƠ QUAN THỰC HIỆN

SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ BAN DÂN VẬN TỈNH UỶ GIÁM ĐỐC PHÓ TRƯỞNG BAN kiêm

Chủ nhiệm đề tài

Đinh Quốc Luật Nguyễn Văn Biên

Ninh Bình, tháng 12 năm 2011

Trang 3

PHẦN THỨ NHẤT

TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC TRIỂN KHAI

NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

I THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI

1 Tên đề tài: “Nghiên cứu các mô hình nhân dân tự quản xây dựng nông

thôn mới ở tỉnh Ninh Bình”.

2 Thời gian thực hiện: Năm 2011 (từ tháng đến tháng 12/2011).

3 Cơ quan quản lý: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Ninh Bình.

4 Kinh phí thực hiện: 60.000.000đồng (Sáu mươi triệu đồng)

- Từ ngân sách SNKH: 50.000.000đồng

- Từ nguồn tự có của cơ quan: 10.000.000đồng

5 Thuộc chương trình: Hỗ trợ cho nghiên cứu triển khai.

6 Chủ nhiệm đề tài.

- Họ và tên: Nguyễn Văn Biên

- Học vị: Cử nhân Luật, Kỹ sư điện tử, Cử nhân Chính trị.

- Chức vụ: Phó Trưởng Ban Dân vận Tỉnh uỷ.

- Điện thoại: CQ: 030.3886.011; NR: 030.3874.764; Mobile: 0912.030.112

- Địa chỉ cơ quan: Ban Dân vận Tỉnh uỷ Ninh Bình.

- Địa chỉ nhà riêng: Phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình.

7 Cơ quan chủ trì đề tài:

- Tên cơ quan: Ban Dân vận Tỉnh ủy Ninh Bình.

- Điện thoại: 030.3871.188 Pax: 0303.876.732

- Địa chỉ: Phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình.

- Họ và tên thủ trưởng cơ quan: Nguyễn Thị Thanh, Uỷ viên dự khuyết BCHTW, UV Ban Thường vụ, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh uỷ

- Số tài khoản: 932.010000026

Trang 4

8 Cơ quan phối hợp nghiên cứu:

Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hội Nông dân tỉnh, Sở Văn hóaThể thao và Du lịch, Liên minh các hợp tác xã tỉnh và một số xã thuộc 7 huyện, thị

xã trên địa bàn tỉnh

II NỘI DUNG KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI.

1 Mục tiêu của đề tài là:

- Đánh giá thực trạng công tác tự quản của nhân dân tại các thôn, xóm, bản

(gọi chung là thôn) trên cơ sở hương ước ở tỉnh Ninh Bình từ năm 2005 đến nay

- Nghiên cứu một số mô hình nhân dân tự quản theo hương ước văn hóa tạicác vùng, miền trên địa bàn tỉnh; tổ chức hội thảo, rút kinh nghiệm và đề xuấtnhững giải pháp nhằm vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả các mô hình tựquản thông qua hương ước văn hóa trong xây dựng nông thôn mới

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu, luận giải về mục tiêu và những nội dung nghiên cứu của đề tài.

Đề tài “Nghiên cứu các mô hình nhân dân tự quản xây dựng nông thôn mới

ở tỉnh Ninh Bình” được Ban Dân vận Tỉnh ủy Ninh Bình triển khai đồng thời vớichủ trương của Trung ương, của tỉnh Ninh Bình về Chương trình mục tiêu quốc giaxây dựng nông thôn mới (Viết tắt là NTM) Xây dựng Nông thôn mới là chủ trươnglớn của đảng và nhà nước ta “về Nông nghiệp, nông thôn, nông dân” tại Hội nghịlần thứ VII Ban chấp hành Trung ương khóa X Với mục tiêu “Không ngừng nângcao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sựchuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn…xây dựng nông thôn mới

có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và gắn nông nghiệp vớiphát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn ổnđịnh, giàu bản sắc văn hóa dân tộc…." Xây dựng NTM là một quá trình lâu dài,đòi hỏi phải có sự chỉ đạo đồng bộ, chặt chẽ và sự vào cuộc của cả hệ thống chínhtrị Sau khi nghiên cứu 19 tiêu chí về xây dựng NTM chúng tôi nhận thấy: trong

xây dựng NTM cần phải phát huy hơn nữa vai trò tự quản của nhân dân, đặc

Trang 5

biệt là hình thức tự quản thông qua hương ước, quy ước, nếu có sự chỉ đạo, tổ

chức thực hiện khoa học, hợp lý vấn đề này chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả to lớntrong công cuộc xây dựng NTM cũng như mọi mặt của đời sống xã hội Căn cứmục đích, yêu cầu, trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu

một vấn đề có tính cơ bản, đó là: “Những giải pháp vận động nhân dân thực

hiện các mô hình tự quản trên cơ sở những nội dung của hương ước, quy ước trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Ninh Bình”.

Với mục tiêu được xác định như trên, báo cáo của đề tài được chia làm cácphần chính như sau:

- Phần thứ nhất: Tổng quan về tổ chức triển khai nghiên cứu đề tài.

- Phần thứ hai: Kết quả nghiên cứu của đề tài, trong đó gồm các nội dung

+ Kết quả xây dựng các mô hình tự quản tại một số địa phương

+ Những khó khăn, tồn tại và nguyên nhân

- Phần thứ ba: Những giải pháp vận động nhân dân thực hiện các mô hình

tự quản trong quá tình xây dựng NTM

- Phần thứ tư: Kết luận, kiến nghị và đề xuất.

3 Nội dung nghiên cứu của đề tài.

3.1 Xây dựng thuyết minh đề tài, phân công nhiệm vụ cho các thành viên.3.2 Xây dựng đề cương tổng quát

3.3 Tổ chức tham quan, học tập kinh nghiệm:

- Đã tham quan một số mô hình nhân dân tự quản: “về vệ sinh môi trường”,

“về an ninh trật tự”, “tổ dân vận tự quản” ở huyện Kiến Xương và huyện Vũ Thư,

Trang 6

3.4 Xây dựng mẫu phiếu điều tra.

- Loại phiếu: 02 loại: ( 01 loại phiếu dành cho cán bộ cấp thôn; 01 loại phiếu dành cho nhân dân).

- Số lượng: 400 phiếu, trong đó

+ Phiếu dành cho cán bộ thôn: 8 thôn x 10 phiếu = 80 phiếu

+ Phiếu dành cho nhân dân các thôn: 08 thôn x 40 phiếu = 320 phiếu

3.5 Điều tra, khảo sát và thu thập thông tin

- Khảo sát tại 08 thôn của 08 xã thuộc 07 huyện, thị xã Dự kiến phân bổ sốphiếu như sau:

+ Vùng đồng bằng: Điều tra, khảo sát tại 03 thôn của 03 xã thuộc 03 huyệnYên Khánh, Gia Viễn, Hoa Lư Mỗi thôn có 40 phiếu dành cho nhân dân và 10phiếu dành cho cán bộ Tổng số: 150 phiếu

+ Vùng có đông đồng bào theo đạo công giáo: Điều tra, khảo sát tại 02 thôncủa 02 xã, thuộc huyện Kim Sơn và 01 thôn của 01 xã, thuộc huyện Yên Mô Mỗithôn 40 phiếu dành cho nhân dân và 10 phiếu dành cho cán bộ Tổng số: 150 phiếu

+ Vùng miền núi, có đông đồng bào dân tộc: Điều tra, khảo sát tại 01 thôncủa 01 xã của huyện Nho Quan và 01 thôn của 01 xã, thuộc TX Tam Điệp Mỗithôn 40 phiếu dành cho nhân dân và 10 phiếu dành cho cán bộ thôn, bản Tổng số:

100 phiếu

- Người thực hiện: 05 người (Ban chủ nhiệm phân công)

- Thời gian: 03 ngày

3.6 Xây dựng và báo cáo kết quả thực hiện 03 mô hình

- Vùng đồng bằng: xây dựng mô hình tại xóm 10, xã Khánh Nhạc, huyệnYên Khánh

- Vùng có đông đồng bào theo đạo Công giáo: xây dựng mô hình tại xómĐông Cường, xã Văn Hải, huyện Kim Sơn

- Vùng miền núi, có đông đồng bào dân tộc thiểu số: xây dựng mô hình tạithôn Lý Nhân, xã Yên Bình, thị xã Tam Điệp

Trang 7

3.7 Viết 03 báo cáo chuyên đề theo các vùng, miền trên địa bàn tỉnh

- Chuyên đề 1: “Thực trạng và giải pháp vận động nhân dân thực hiệnhương ước trong xây dựng NTM ở vùng đồng bằng”

- Chuyên đề 2: “Thực trạng và giải pháp vận động nhân dân thực hiệnhương ước trong xây dựng NTM ở vùng có đông đồng bào theo đạo công giáo”

- Chuyên đề 3: “Thực trạng và giải pháp vận động nhân dân thực hiệnhương ước trong xây dựng NTM ở vùng miền núi, vùng có đông đồng bào dântộc thiểu số”

3.8 Tổ chức hội thảo khoa học

* Hội thảo nội bộ

- Thời gian: 01 buổi

- Thành phần: 17 người, gồm các đồng chí lãnh đạo, cán bộ Ban Dân vậnTỉnh uỷ và các thành viên trong Ban chủ nhiệm đề tài

* Hội thảo các sở, ngành, huyện, thị

- Thời gian: 01 buổi

- Thành phần: 17 người, gồm đại diện UBND tỉnh; đại diện Sở Nông nghiệp

& Phát triển nông thôn; Lãnh đạo Sở Nội vụ; Lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao & Dulịch; Lãnh đạo Sở Tư pháp; Lãnh đạo UB Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Ban Dân vận Tỉnhủy; lãnh đạo ban dân vận 07 huyện, thị xã Tam Điệp

3.9 Xây dựng báo cáo khoa học

- Cơ sở lý luận về xây dựng, tổ chức thực hiện các mô hình tự quản củanhân dân; chủ trương của đảng và nhà nước, của tỉnh về xây dựng NTM

- Đánh giá thực trạng các mô hình nhân dân tự quản tại các thôn, xóm,bản… trên cơ sở thực hiện hương ước tại 03 vùng, miền đặc thù của tỉnh NinhBình

- Đề xuất những nhiệm vụ, giải pháp vận động nhân dân nâng cao ý thức

tự quản trong xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh

Trang 8

3.11 Nghiệm thu cấp tỉnh.

4 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng.

- Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vàcác quan điểm, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước về công tác dân vận

và công tác vận động nhân dân thực hiện chủ trương xây dựng NTM của đảng

- Sử dụng phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp những văn bản, tư liệu;tiếp cận các công trình đã được nghiên cứu của Trung ương và các tỉnh về vấn đềxây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ, xây dựng và thực hiện hương ước và xâydựng NTM

- Tổ chức khảo sát điều tra xã hội học (bằng phiếu thăm dò, hỏi trực tiếp, lấy

ý kiến người quản lý, cán bộ có kinh nghiệm và nhân dân…).

- Phương pháp hội thảo (có tham vấn ý kiến của các chuyên gia).

Đề tài liên quan đến Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM làmột nội dung mới, đối tượng và phạm vi nghiên cứu rộng, cơ sở dữ liệu còn hạnchế, đề tài được thực hiện trong thời gian 1 năm, kinh phí bảo đảm còn hạn hẹp.Mặc dù vậy, Ban Chủ nhiệm đề tài đã cố gắng liên hệ mật thiết với các cấp, cácngành và đặc biệt là tổ chức điều tra, khảo sát, chỉ đạo thực hiện mô hình điểm tạicác khu dân cư để rút kinh nghiệm Trong quá trình triển khai không tránh khỏinhững hạn chế, khiếm khuyết, Ban chủ nhiệm đề tài mong nhận được sự đóng góp

ý kiến của các tổ chức và cá nhân để chúng tôi hoàn thành đề tài này

Trang 9

1 1 Một số khái niệm có liên quan khi nghiên cứu đề tài.

- Nông thôn: là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố,

thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã (1)

- Thôn (xóm): là khu dân cư ở nông thôn, nhỏ hơn làng, gồm nhiều nhà ở

liền nhau, là một phần của làng hoặc xã

- Quần chúng nhân dân: Là bộ phận có cùng chung lợi ích căn bản, bao

gồm những thành phần, những tầng lớp và những giai cấp liên kết lại thành tập thểdưới sự lãnh đạo của một cá nhân, tổ chức hay đảng phái nhằm giải quyết nhữngvấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của một thời đại nhất định (2)

- Dân chủ là gì: Là chính phủ được thành lập bởi nhân dân trong đó quyền

lực tối cao được trao cho nhân dân và được thực hiện bởi nhân dân hoặc bởi các đạidiện được bầu ra từ một hệ thống bầu cử tự do

- Hương ước, quy ước: là bản ghi chép các điều lệ (những quy tắc xử sự

chung) mang tính bắt buộc phải tuân thủ, liên quan đến đời sống của cộng đồng dân

cư sinh sống trong làng Các điều lệ này hình thành dần trong lịch sử, được điềuchỉnh và bổ sung mỗi khi cần thiết.(3)

- Tự quản: là việc tự trông coi, quản lí với nhau công việc của mình.

1 Thông tư 54 /2009/TT –BNNPTNT, ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.

2 Từ điển bách khoa toàn thư

3 Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT - BTP - BVHTT - BTTUBTUMTTQVN ngày 31/3/2000 hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp,

Trang 10

1 2 Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ của nhân dân;

về nông nghiệp và nông thôn.

Hồ Chí Minh là người đã kế thừa tư tưởng dân chủ trong triết học phươngTây và phương Đông đề cao vai trò của nhân dân, Người viết “Trong bầu trờikhông có gì quý bằng nhân dân”1, nhân dân có vị thế rất lớn chỉ có thể so sánh vớitrời, đất Tất cả mọi việc trong đời dù khó khăn đến mấy, nhưng nếu biết dựa vàonhân dân thì bao giờ cũng thành công:

“Dễ mười lần không dân cũng chịuKhó trăm lần dân liệu cũng xong”2

Từ vị thế của nhân dân, ngay từ khi thành lập nước, Người xác định chính thể Nhà nước ta “Việt Nam dân chủ cộng hoà” và nguồn gốc sâu xa của quyền lực Nhà nước là “…đều ở nơi dân”3

Đối với nông dân, trong thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam ngày

1-1-1946, Hồ Chí Minh viết: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp Nền kinh

tế của ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, chính phủtrông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn Nông dân tagiầu thì nước ta giầu Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” Bởi “…Đồng bàonông dân sẵn có lực lượng to lớn, sẵn có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn có chí khíkiên quyết đấu tranh và hy sinh”4

Đối với nông nghiệp, nông thôn Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Muốnphát triển tốt nông nghiệp thì phải làm tốt thủy lợi” và “Đắp đường lớn là do Trungương phụ trách, Bộ Giao thông chịu trách nhiệm Nhưng địa phương có thể làmnhững đường nhỏ Làng này qua làng khác thì xã tự động làm, nhiều xã đã làm tốt.Nên cho đồng bào thấy rõ lợi ích của việc làm thêm đường xá”

1 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia HN 1996, tập 8, trang 276

2 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia HN 2000, tập 12, trang 212.

3 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia HN 1976 , tập 9, trang 519.

4 Thư gửi hội nghị cán bộ Nông dân cứu quốc toàn quốc, tháng 11/1949.

Trang 11

Đây là những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ, nôngnghiệp, nông dân và nông thôn để Đảng, Nhà nước ta bổ sung, hoàn thiện chủtrương chính sách trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá đất nước, hiện đại hóanông nghiệp, xây dựng nông thôn mới hiện nay

1 3 Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về thực hiện dân chủ; phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.

Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ khi ra đời cho đến nayĐảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách phù hợp để thực hiện vàphát huy dân chủ của nhân dân để xây dựng và phát triển đất nước, phát triển nôngthôn trong những bước ngoặt của lịch sử đất nước

Ngày 18-2-1998 Bộ Chính trị khoá VIII đã có Chỉ thị số 30/CT-TW, Chínhphủ có Nghị định số 29/NĐ – CP và Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 22/CT/TTg

về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn Sau đó, Chỉ thị

số 46/CT –TW khoá IX của Bộ Chính trị ghi rõ: “…yêu cầu mở rộng dân chủ, pháthuy trí tuệ của cán bộ, đảng viên và nhân dân” Báo cáo Chính trị tại Đại hội X củaĐảng tiếp tục khẳng định “Hoàn thiện những thiết chế thực hiện dân chủ hoá đờisống xã hội, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Thực hiện có hiệuquả quy chế dân chủ ở cơ sở”

Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 của BCH TW Đảng (khóa VII) đã nêu rõnhiệm vụ xây dựng hương ước thôn, xóm: “Phát huy những truyền thống văn hoátốt đẹp, thuần phong mỹ tục, bài trừ hủ tục mê tín di đoan, tệ nạn xã hội, phát huytình làng nghĩa xóm, đảm bảo đoàn kết nông thôn, khuyến khích xây dựng và thựchiện các hương ước và các quy ước về nếp sống văn minh ở các thôn xóm, Nhànước cần sớm nghiên cứu đề ra quy chế thích hợp với chức năng vai trò của xã hội,của thôn, xóm, làng, bản trong tình hình mới, trong khuôn khổ pháp luật và dựa vàonhững quy định này làng xã có thể xây dựng hương ước… khuyến khích việc biênsoạn hương ước để làm cơ sở tổ chức quản lý trên địa bàn cơ sở” Tiếp đến Thủ

Trang 12

tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 24/CT-TTg, ngày 19/6/1998 về xây dựng và thựchiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư

Đối với nông nghiệp và nông thôn Nghị quyết số 26- NQ/TW ngày

05-8-2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) khẳng định: “Nông nghiệp,nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triểnkinh tế- xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng;giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đấtnước” Với mục tiêu: “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân

cư nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng cònnhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với cácnước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nôngthôn mới Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bềnvững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnhtranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài.Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế

và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanhcông nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắcvăn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thốngchính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Xây dựng giaicấp nông dân, củng cố liên minh công nhân- nông dân- trí thức vững mạnh, tạo nềntảng kinh tế- xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”; phấn đấu đến năm

2020 cả nước có 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới

Để cụ thể hóa mục tiêu Nghị quyết số 26, Thủ tướng Chính phủ đã ban hànhQuyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 -6 - 2010 phê duyệt chương trình mục tiêuQuốc gia về xây dựng nông thôn mới Nội dung của 19 tiêu chí trên 5 lĩnh vực (quyhoạch, hạ tầng kinh tế - xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất, văn hóa - xã hội, môi

Trang 13

trường và hệ thống chính trị ) của 7 vùng kinh tế khác nhau Xã đạt chuẩn nôngthôn mới là xã đạt được 19 tiêu chí cụ thể đó Huyện nông thôn mới có 75% số xãtrong huyện đạt nông thôn mới Tỉnh nông thôn mới có 80% số huyện trong tỉnhđạt nông thôn mới

2 Cơ sở thực tiễn

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước luôn tạo điều kiện để phát huy quyền làmchủ của nhân dân, mở rộng các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp,thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở và hương ước ở thôn, xóm đây lànhững cơ sở thực tiễn để các mô hình tự quản của nhân dân phát triển thể hiện trênnhững điểm chính sau:

2.1 Hương ước góp phần tham gia quản lý xã hội, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc.

Lệ làng xưa, hay hương ước ngày nay là hình thức tự quản của nhân dân dùtồn tại ở thời kỳ nào, chế độ xã hội ra sao Từ thế kỷ XV, lệ làng đã xuất hiện vàtham gia điều chỉnh ở hầu hết các mặt hoạt động của làng xã người Việt như hội hè,đình đám, tế lễ, tuần phòng, khao vọng, giao hiếu Sau Cách mạng tháng Támnăm 1945, chức sắc, chức dịch trong làng xã phong kiến bị bãi bỏ, hương ước gầnnhư không còn tồn tại, nhưng nhiều nội dung của nó vẫn được duy trì dưới hìnhthức bảo tồn nét đẹp văn hóa truyền thống, sinh hoạt cộng đồng, các phong tục, tậpquán lành mạnh của nhân dân

Từ cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ 20, khi Nhà nước tathực hiện chủ trương theo Nghị quyết 10, thực hiện giao khoán ruộng đất cho các

hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài, thì hộ gia đình trở thành tác nhân quan trọngđối với sự phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn Các mặt tích cực trong sinh hoạtcộng đồng ở các thôn, làng được đẩy mạnh, đồng thời các yếu tố tiêu cực kháccũng được dịp trỗi dậy, trong khi đó hệ thống pháp luật Nhà nước chưa đủ để điềuchỉnh các quan hệ vốn rất đa dạng và phong phú Do vậy, hương ước có điều kiện

Trang 14

(Hà Bắc, Hà Tây, Thái Bình…) rồi sau phát triển sang các địa phương khác Từnăm 1998, sau khi có Chỉ thị số 30 của Bộ Chính trị và Nghị định 29 của Chínhphủ về thực hiện Quy chế dân chủ, hương ước tiếp tục phát triển mạnh trên phạm vitoàn quốc với nhiều tên gọi khác nhau: “Quy ước làng văn hóa”, “Quy ước làng”,

“Quy ước nông thôn”, “Quy ước xây dựng nếp sống văn minh”

2.2 Tình hình xây dựng và thực hiện hương ước ở tỉnh Ninh Bình.

Sau 10 năm triển khai xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước Đến naytoàn tỉnh có 1678 khu dân cư của 146 xã, phường, thị trấn đã xây dựng hương ước(đạt 100%) Nội dung của các bản hương ước nhìn chung phù hợp với quy định củapháp luật và thể hiện được nguyện vọng của nhân dân, gữi gìn các phong tục tậpquán tốt đẹp của dân tộc Nhiều hương ước đã đưa ra các quy định chi tiết, cụ thểliên quan trực tiếp quyền lợi của nhân dân như: quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấtđai; quyết toán thu chi ngân sách; các khoản đóng góp xây dựng hạ tầng, công trìnhphúc lợi; chủ trương vay vốn phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, thực hiện nếpsống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội Đặc biệt, một số thôn ở vùng đồngbào dân tộc thiểu số huyện Nho Quan, thị xã Tam Điệp, vùng đồng bào theo đạohuyện Kim Sơn đã đưa vào hương ước những quy định về bảo vệ môi trường, pháttriển rừng, chống lại các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, lợi dụng tín ngưỡng, tôngiáo…

Thông qua việc thực hiện hương ước đã góp phần tích cực trong việc thamgia phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc ở nông thôn.Đặc biệt, khi thực hiện các quy định của hương ước, đã xuất hiện những mô hình tựquản trên một hoặc nhiều lĩnh vực, thu hút đông đảo nhân dân trong một khu vựcdân cư, các cơ quan, doanh nghiệp tham gia Điển hình là mô hình cưới văn minhtiết kiệm trong đoàn viên thanh niên (Thanh niên nam nữ khi kết hôn đã thực hiện,không thách cưới, không tổ chức ăn uống linh đình kéo dài tốn kém); mô hình vănminh trong việc tang (gia đình hiếu chủ thực hiện nghiêm túc quy định không đểngười quá cố trong nhà quá 24 tiếng đồng hồ, không mở loa đài quá 22 giờ đêm,

Trang 15

không sử dụng các hình thức khóc thuê); mô hình đóng góp xây dựng quỹ khuyếnhọc, khuyến tài của dòng họ; mô hình giúp giúp đỡ trẻ mồ côi, người già yếu, bệnhtật không nơi nương tựa và những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, người lầm lỗihòa nhập với cộng đồng; Hàng năm nhân dịp tổ chức ngày hội Đại đoàn kết toàndân, thôn, xóm khu dân cư đều tổ chức tổng kết đánh giá, khen thưởng những hộgia đình tiêu biểu, đồng thời cũng nhắc nhở, phê bình các gia đình vi phạm trongthực hiện hương ước Thông qua đó, đã góp phần giáo dục, động viên nhân dânđoàn kết gắn bó thành một cộng đồng chặt chẽ, đồng thời nâng cao trách nhiệm vànghĩa vụ của mọi thành viên trong cộng đồng dân cư.

Tuy nhiên việc thực hiện hương ước ở thôn, xóm còn có những tồn tại, hạnchế đó là:

- Đa số các bản hương ước gần như sao chép rập khuôn giống nhau, chưa thểhiện đặc trưng riêng của từng thôn, xóm; nội dung hương ước còn quá dài nhưngcác quy định lại sơ sài, lặp lại pháp luật và chủ trương, chính sách của Nhà nướcmột cách khô khan, thiếu cụ thể, chưa sát với điều kiện và đặc điểm của từng làng,câu chữ trong văn bản còn nặng tính hô hào, khẩu hiệu, khó hiểu, khó thực hiện Cábiệt có không ít bản hương ước có các quy định trái với quy định của pháp luật,hoặc can thiệp quá sâu vào đời sống cá nhân,

- Quy trình xây dựng hương ước đã được cụ thể hóa trong các văn bản Quyphạm pháp luật của Nhà nước nhưng việc soạn thảo hương ước vẫn chậm về tiến

độ so với yêu cầu; đối tượng điều chỉnh còn lẫn lộn; chủ thể ban hành của một sốhương ước chưa đúng quy định

- Thực hiện hương ước ở một số nơi còn hình thức, hàng năm chậm đánh giátổng kết và chưa thường xuyên sửa đổi bổ sung hương ước cho phù hợp với tìnhhình

Trang 16

II ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh

1 1 Điều kiện tự nhiên

- Tỉnh Ninh Bình có diện tích đất tự nhiên 1.400 km2, dân số có 898.459

người Ðịa hình, chia làm 3 vùng khá rõ: Vùng núi và bán sơn địa chiếm 40%;vùng đồng bằng và vùng ven biển chiếm 60% diện tích đất tự nhiên Ninh Bình còn

là tỉnh có nhiều tuyến đường giao thông huyết mạch quan trọng của đất nước (Quốc

lộ 1A, đường sắt Bắc Nam, đường quốc lộ 10,… ); có nhiều hệ thống sông ngòiquan trọng như sông Ðáy, sông Hoàng Long, sông Vạc

- Ninh Bình hiện nay, có 8 đơn vị hành chính cấp huyện (1 thành phố, 1 thị

xã và 6 huyện), 146 đơn vị hành chính cấp xã (125 xã, 15 phường và 6 thị trấn),trong đó 120 xã sẽ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, đếnnăm 2015 có 25 xã được chỉ đạo làm điểm để rút kinh nghiệm

1 2 Điều kiện kinh tế.

Về nông nghiệp: Năm 2010, năng suất lúa đạt 17 tạ/ha, sản lượng lương

thực cây có hạt đạt 51,4 vạn tấn Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất nông nghiệp đạt76,3 triệu đồng Chăn nuôi phát triển đa dạng và chuyển dần sang hướng sản xuấthàng hoá Thuỷ sản phát triển nhanh cả về nuôi trồng và đánh bắt, hình thành nênvùng nuôi trồng thuỷ sản nước lợ ven biển Kim Sơn Nhiều làng nghề, dịch vụthương mại hình thành và phát triển

Về công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 đạt 3.242 tỷ đồng,

chiếm 33,6% giá trị sản xuất toàn tỉnh, nộp ngân sách Nhà nước 665 tỷ đồng,chiếm 22% thu ngân sách toàn tỉnh; kim ngạch xuất khẩu đạt 39,6 triệu USD,chiếm 49% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh Các nghề thủ công truyền thống như:thêu ren ở Văn Lâm, đá mỹ nghệ ở Ninh Vân Hoa Lư, dệt chiếu và làm hàng cói mỹnghệ ở Kim Sơn, Yên Khánh, đan mây tre ở Gia Viễn, Nho Quan, làng nghề mộc ởPhúc Lộc, Ninh Phong, Thành phố Ninh Bình…tiếp tục phát triển

Trang 17

Về Thương mại, dịch vụ, du lịch: là một trong 3 thành phần cơ cấu kinh tế

của tỉnh đang trên đà phát triển Năm 2010, chiếm 35,3% tỷ trọng kinh tế toàn tỉnh.Đặc biệt kinh tế du lịch được quan tâm và đầu tư

1 3 Đặc điểm về văn hoá – xã hội.

1.3.1 Về văn hóa:

- Văn hóa Ninh Bình tương đối năng động, nhưng mang đậm nét đặc trưng

của nền văn minh châu thổ sông Hồng do nằm ở vùng giao thoa giữa các khu vực:

- Ninh Bình là kinh đô của ba triều đại Đinh – Tiền Lê – Lý với nhiều sự

kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích lịch sử còn để lại trong các đình,chùa, đền, miếu, từng ngọn núi, con sông Đây còn là vùng đất chiến lược để bảo

vệ Thăng Long của triều đại Tây Sơn, là căn cứ để nhà Trần 2 lần chiến thắng giặcNguyên - Mông, là đất dựng nghiệp của nhà Hậu Trần Ninh Bình còn là vùng đất nổi

tiếng với nhiều công trình kiến trúc văn hóa độc đáo (đền vua Đinh Tiên Hoàng,đền vua Lê Đại Hành, Nhà thờ Phát Diệm, chùa Bái Đính…) và các lễ hội văn hóa đặc sắcnhư Lễ hội Hoa Lư, Lễ hội Chùa Bái Đính, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ, lễ hội đền Tháivi

1.3.2 Về xã hội:

- Ninh Bình có 23,33 % dân số là tín đồ của 2 tôn giáo (Phật giáo và Cônggiáo); 2,1% dân số là đồng bào các dân tộc thiểu số Mường, Tày, Nùng, Thái,Dao… Đồng bào các dân tộc, tôn giáo sống đan xen hòa đồng trong mỗi cộngđồng dân cư, đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hànhcủa các cấp chính quyền, hăng hái tham gia các hoạt động xã hội, tích cực hưởngứng các phong trào thi đua phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, phong trào toàndân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, đẩy mạnh các hoạt độngnhân đạo, từ thiện giúp đỡ những người neo đơn, có hoàn cảnh khó khăn, lũ lụt,cùng góp sức xây dựng quê hương

Trang 18

- Đến năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh còn 6,15% (theo tiêu chí năm 2005).80% số hộ dân được dùng nước sạch trong sinh hoạt, 90% kênh mương được kiên

cố hoá, 95% đường thôn, ngõ xóm được bê tông, hoặc cứng hoá Hệ thống chính trịvững mạnh, an ninh chính trị - trật tự an toàn xã đảm bảo, xã hội đồng thuận Đây

là những điều kiện thuận lợi để tỉnh ta phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nôngthôn mới

2 Tình hình triển khai xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.

Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM, Tỉnh uỷ NinhBình đã thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh giai đoạn 2010 – 2020; chỉ đạo thành lậpban chỉ đạo ở 7 huyện, thị xã và ban quản lý ở 120 xã để thống nhất về mặt tổ chứctriển khai thực hiện Đến tháng 8, toàn tỉnh đã hoàn thành công tác tập huấn nghiệp

vụ cho 1.861 cán bộ thuộc Ban Chỉ đạo cấp huyện và Ban quản lý các xã; in ấn vàcấp phát 2500 cuốn tài liệu, đồng thời tổ chức tuyên truyền trên hệ thống cácphương tiện thông tin đại chúng về mục đích, nội dung, tư tưởng chỉ đạo, cơ chếchính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng NTM Chỉ đạo việc khảo sát, đánhgiá thực trạng nông thôn ở tất cả 120 xã theo 19 tiêu chí NTM của Trung ương Kếtquả như sau:

- Toàn tỉnh có 35 xã khó khăn (chiếm 29,17%) đạt và cơ bản đạt dưới 7 tiêuchí (trong đó: có 01 xã đạt và cơ bản đạt 3 tiêu chí; 05 xã đạt và cơ bản đạt 4 tiêuchí; 06 xã đạt và cơ bản đạt 5 tiêu chí;…); có 42 xã (chiếm 35,%) đạt và cơ bản đạt8-9 tiêu chí; có 43 xã (chiếm 35,83%) đạt và cơ bản đạt từ 10-15 tiêu chí

- 4 tiêu chí cơ bản đạt theo tiêu chí quốc gia là: có trên 80% hộ dân nôngthôn mua điện trực tiếp từ ngành Điện; 100% xã có điểm Bưu điện văn hóa xã vàđường truyền Internet đến trung tâm xã; hình thức tổ chức sản xuất và an ninh, trật

tự xã hội

- 7 tiêu chí đạt mức từ 50-80% tiêu chí Quốc gia là: có 90% kênh mươngđược kiên cố hóa, hệ thống đê điều, công trình thủy lợi được quan tâm đầu tư, đáp

Trang 19

ứng yêu cầu phòng, chống lụt bão và sản xuất, dân sinh; nhà ở dân cư; cơ cấu laođộng; giáo dục, y tế, văn hóa và hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh

- 8 tiêu chí đạt mức dưới 50% tiêu chí Quốc gia là quy hoạch, giao thông,trường học, cơ sở vật chất, văn hóa, chợ nông thôn, thu nhập, hộ nghèo và môitrường

Từ thực trạng nông thôn hiện nay ở Ninh Bình, có thể thấy rõ để đạt được 19tiêu chí NTM của Chính phủ cần phải có nguồn lực đầu tư của Nhà nước và đâyđược coi là nhân tố đóng vai trò quyết định Nhưng bên cạnh đó, còn rất nhiều tiêuchí muốn thực hiện thành công Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nôngthôn mới lại do ý thức, sự tự nguyện, tự giác tham gia của nhân dân quyết định

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ MÔ HÌNH NHÂN DÂN TỰ

QUẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH.

Kết quả khảo sát hỏi trực tiếp xác xuất ý kiến một số quần chúng nhân dântại 3 vùng, miền đặc trưng của tỉnh bằng phiếu điều tra xã hội học và kết quả tổngkết 2 năm thực hiện phong trào thi đua Dân vận khéo cho thấy, trên địa bàn tỉnhđang có nhiều mô hình tự quản của nhân dân hoạt động hiệu quả Cụ thể là:

1 Đánh giá chung về các mô hình tự quản của nhân dân.

Từ năm 2008 đến nay, trên địa bàn tỉnh có 1.126 mô hình đang hoạt động donhân dân tự tổ chức hay do cán bộ đảng, cán bộ chính quyền, cán bộ MTTQ và cácđoàn thể, các hội quần chúng tổ chức trên tất cả các lĩnh vực: phát triển kinh tế;đảm bảo an ninh quốc phòng; xây dựng hệ thống chính trị và thực hiện an sinh xãhội, từ thiện nhân đạo Các mô hình đã đem lại hiệu quả thiết thực, tạo hướng pháttriển tích cực ở cơ sở, đồng thời tạo sự chuyển biến mới về nhận thức, trách nhiệmcủa cán bộ, đảng viên và nhân dân, huy động nhiều nguồn lực và lực lượng cùngtham gia xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, góp phần thực hiện có hiệu quảcác chủ trương của Đảng, nhiệm vụ chính trị của tỉnh, giải quyết tốt các vấn đề bức

Trang 20

xúc, nguyện vọng và kiến nghị chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận trong

xã hội

1.1 Trên lĩnh vực phát triển kinh tế: hoạt động của 462 mô hình, đã khơi

dậy tinh thần lao động cần cù, sáng tạo của nhân dân, làm thay đổi nếp nghĩ, cáchlàm, tập quán canh tác của nhân dân, từng bước đưa nông nghiệp phát triển theohướng sản xuất hàng hóa, chuyển dịch mạnh cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ với diệntích lúa có năng suất cao, chất lượng cao được mở rộng, vụ đông dần trở thành vụsản xuất chính, góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, tích cực chuyển dịch cơ cấukinh tế, thu hút đầu tư, huy động tiềm năng, lợi thế của tỉnh Những mô hình tựquản do nhân dân tự tổ chức trong sản xuất nông nghiệp đang diễn ra khá phổ biếnnhư: tổ đổi công giúp việc theo mùa vụ (đổi công cấy, đổi công gặt, đổi công phunthuốc diệt cỏ…); mô hình hợp tác xã,… Những mô hình do các đoàn thể nhân dânhướng dẫn nhân dân thực hiện như: mô hình trồng 30 ha khoai lang Nhật Bản củaHội Nông dân tỉnh; mô hình mượn 5,5 ha ruộng trên đất 2 lúa để làm đỗ tương vụđông, cho thu nhập bình quân 35 kg/sào của chị Phạm Thị Thảo, Phó chủ tịchUBND thị trấn Yên Thịnh (Yên Mô); mô hình “nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ

và phát triển kinh tế rừng”; mô hình trình diễn với cây trồng có giá trị kinh tế cao;

mô hình thành lập tổ tiết kiệm cho hội viên nghèo vay với số tiền trên 95 tỉ đồng);

Đặc biệt, trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp xuất hiện nhiều tổ, nhóm sảnxuất tự quản Trong đó các tổ góp vốn, nhóm tự quản thực hiện liên kết một số hộgia đình để sản xuất sản phẩm hàng hoá Khi nhận được đơn đạt hàng sản xuất sảnphẩm, đại diện của tổ, nhóm đứng ra nhận trách nhiệm cung ứng nguyên, vật liệu,tiêu thụ sản phẩm cho cả tổ, nhóm Điển hình có các nhóm thêu ren ở Văn Lâm, xãNinh Hải, huyện Hoa Lư; sản xuất các sản phẩm thủ công mây, tre đan, chiếu cói ởhuyện Kim Sơn, huyện Yên Khánh, huyện Yên Mô…

1.2 Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội: thông qua hoạt động của 435 mô hình

đã khơi dậy được ý thức tự lực, tự cường, tinh thần tương thân của các tầng lớpnhân dân, từng bước xã hội hóa và nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức

Trang 21

khỏe nhân dân, làm thay đổi nhận thức của nhân dân về thực hành tiết kiệm, thựchiện nếp sống văn minh, gìn giữ nét đẹp văn hóa, xóa bỏ dần các hủ tục lạc hậu,bảo vệ môi trường Rất nhiều mô hình tự quản tiêu biểu như: mô hình tự quản giữgìn vệ sinh môi trường của xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn; mô hình đám cưới vănminh, tiết kiệm “6 không” của huyện đoàn Yên Mô; mô hình vận động nhân dânđóng góp 2,357 tỉ đồng xây dựng 21 nhà văn hóa thôn xóm của xã Khánh Cường,huyện Yên Khánh; mô hình vận động nhân dân làm đường giao thông của phườngPhúc Thành, thành phố Ninh Bình); mô hình Khuyến học khuyến tài, xây dựng xãhội học tập của Hội khuyến học tỉnh; mô hình văn minh du lịch của khối dân vận

xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư; mô hình huy động cộng đồng dân cư, cán bộ lựclượng vũ trang, các đoàn thể tham gia hỗ trợ xóa nhà dột nát (đã huy động đónggóp được gần 3,5 tỉ đồng, hỗ trợ trên 49.900 lượt ngày công giúp cho 2.996 hộchính sách, hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số có khó khăn về nhà ở của tỉnh); môhình giúp nhau cải tạo vườn tạp; mô hình giúp nhau xây bể chứa nước mưa, giếngkhoan, công trình vệ sinh;…

1.3 Trên lĩnh vực an ninh quốc phòng: 229 mô hình được triển khai với

nhiều cách làm sáng tạo, phong phú như: thành lập các tổ đội làm công tác tuyêntruyền giáo dục pháp luật cho nhân dân tại các xã vùng sâu, vùng xa; phối hợp xâydựng các cụm giáp ranh liên kết về giữ gìn an ninh trật tự; tăng cường hoạt độngkết nghĩa giữa đơn vị quân đội, công an với các đoàn thể cơ sở; thực hiện chươngtrình quân dân y kết hợp đã phát huy được trách nhiệm của nhân dân trong việctham gia phát hiện, đấu tranh phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninhtrật tự, thắt chặt tình đoàn kết quân dân

Tiêu biểu là các mô hình: Diễn đàn “Công an nhân dân lắng nghe ý kiến nhândân” của Công an tỉnh; “Vành đai địa phương, đơn vị an toàn” của kho Quân khíphòng Kỹ thuật, BCH Quân sự tỉnh; “Cụm 3 xã giáp ranh an toàn” của xã LaiThành (Kim Sơn); khám bệnh, phát thuốc miễn phí của BCĐ công tác vận động

Trang 22

Hải, Kim Tân (Kim Sơn); mô hình “An ninh nhân dân tự quản” của thành phố NinhBình

2 Kết quả hoạt động của một số mô hình tự quản tiêu biểu trên một số lĩnh vực.

2.1 Mô hình Tổ liên gia đoàn kết, thôn Trinh Phú, xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn:

- Quy mô: 31 hộ dân tham gia.

- Về tổ chức: thành lập Ban quản lý tổ gồm 5 người và chia tổ thành các

nhóm hộ tự quản mỗi nhóm từ 5-6 hộ gia đình

- Nội dung: Tự quản trong xây dựng một số công trình nhỏ thuộc kết cấu hạ

tầng thôn, xóm; tự quản về thực hiện chính sách dân số, KHHGĐ; tự quản giúpnhau xoá đói, giảm nghèo; khuyến học, khuyến tài; giữ gìn vệ sinh môi trường, anninh trật tự…

- Kết quả hoạt động:

+ Thôn Trinh Phú là địa bàn thuộc xã miền núi đất chật người đông, nhữngnăm trước đây, đường giao thông của xóm 1, thôn Trinh Phú đi lại rất khó khăn,mưa thì lầy lội, nắng thì bụi bẩn làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, sinh hoạt của ngườidân Trên địa bàn xã lại có một số điểm thăm quan, nghỉ dưỡng nên phát sinh nhiềuvấn đề phức tạp về an ninh trật tự Từ thực tế đó, đầu năm 2006 Tổ liên gia đoànkết được thành lập theo nguyện vọng của đa số các hộ dân trong thôn Tổ đượcthành lập với mục đích để làm đầu mối vận động nhân dân đóng góp sức người, sứccủa làm đường giao thông, giúp nhau xoá đói, giảm nghèo, bảo đảm an ninh trật tự

và tương trợ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống

+ Hằng tháng, Tổ thường xuyên tổ chức sinh hoạt định kỳ xem xét, đánh giánhững việc đã làm và chưa làm được, đề ra biện pháp trong thời gian tiếp theo.Trước mỗi buổi sinh hoạt, Ban quản lý đến từng gia đình để trao đổi, nắm tình hìnhtâm tư, nguyện vọng của từng hộ Đối với những kiến nghị thuộc thẩm quyền của

Trang 23

xã, Tổ sẽ kiến nghị chính quyền xã giải quyết Những nguyện vọng mà Tổ có thểgiải quyết được thì cùng dân chủ bàn bạc, trao đổi, tìm biện pháp thực hiện.

+ Để tăng tình đoàn kết, nêu cao tinh thần tương thân tương ái, giúp nhaucùng phát triển; chú trọng chăm lo thế hệ trẻ, động viên khuyến khích các em họcgiỏi, hướng các em vào những hoạt động lành mạnh, bổ ích, tránh xa tệ nạn xã hội.Các thành viên luôn gần gũi động viên, chia sẻ; những chuyện vui, buồn, tổ đềuđứng ra giúp lo liệu, đảm bảo văn minh, tiết kiệm Khi các gia đình có "vấn đề",lãnh đạo tổ đến tận nhà nắm bắt, phân giải kịp thời, vì vậy những năm qua không

có gia đình nào trong tổ xảy ra xích mích, thực hiện tốt hương ước của thôn và nộiquy của tổ

+ Hằng năm Tổ luôn duy trì hoạt động thăm hỏi các gia đình khi có việchiếu, ốm đau, động viên, tặng quà con cháu khi xây dựng gia đình, lên đường làmnghĩa vụ quân sự; tổ chức tổng vệ sinh thôn xóm vào chiều ngày 30 hàng tháng,tuần tra an ninh ban đêm Tổ còn vận động tổ viên đóng góp công sức làm đoạnđường dài gần 400 m và hệ thống đèn chiếu sáng với tổng kinh phí gần 30 triệuđồng Kết quả đánh giá, bình xét năm 2009: có 100% số hộ trong tổ đều đạt danhhiệu gia đình văn hoá, không có hộ sinh con thứ 3 Nhiều năm liền trong Tổ không

có tệ nạn xã hội, mất an ninh trật tự

+ Để giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, Tổ đã vận động các hộ kinh tế khá hơngiúp đỡ kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi; các thành viên trong tổ đã thực hiện dồnđiền, đổi thửa để phát triển mô hình lúa - cá kết hợp với nuôi lợn, gà và trồng cây

ăn quả Nhờ đó, đến nay cả 5 hộ đã thoát nghèo vững chắc, từng bước vươn lênkhá

Sau 4 năm hoạt động, mô hình này đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần

thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

2.2 Mô hình tự quản về an ninh trật tự ở xã Lai Thành, huyện Kim Sơn.

- Tổ chức: thành lập 17 tổ tự quản của 17 thôn, xóm Mỗi tổ từ 5 đến 7 thành

Trang 24

- Quy mô: Trong toàn xã

- Kết quả hoạt động:

+ Lai Thành là xã đông dân của huyện Kim Sơn Xã nằm ở vị trí giáp ranhvới các xã Yên Lâm, huyện Yên Mô và xã Nga Điền, huyện Nga Sơn, tỉnh ThanhHóa Nhân dân trong xã chủ yếu làm nông nghiệp, điều kiện kinh tế, văn hóa cònnhiều khó khăn Một bộ phận nhân dân do nhận thức về pháp luật hạn chế nên dễ bịcác phần tử xấu lôi kéo xúi dục làm những việc vi phạm pháp luật, một bộ phậnnhân dân đi làm ăn xa, đào đãi vàng khi trở về địa phương mang theo các tệ nạn matuý, trộm cắp, gây rối trật tự công cộng gây mất an ninh trật tự ở cơ sở

+ Bên cạnh đó, xã có các đường Quốc lộ 10, Đường DT - 480 chạy qua vớilưu lượng xe ngày một nhiều, hệ thống đường giao thông xuống cấp dẫn đến tìnhhình trật tự ATGT diễn biến phức tạp, tai nạn giao thông có chiều hướng gia tănglàm thiệt hại về tính mạng và tài sản của người dân

+ Trước tình hình đó năm 2007 cấp ủy, chính quyền xã Lai Thành xác địnhmuốn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trước hết phải ổn định tình hình an ninhtrật tự, xóa bỏ mê tín dị đoan, tăng cường khối đoàn kết lương - giáo Đảng ủy xã

đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về an ninh trật tự, UBND xã xây dựng kế hoạchthực hiện Nghị quyết bằng nhiều biện pháp cụ thể, sát thực với tình hình địaphương Công an xã là lực lượng nòng cốt tham mưu cho UBND xã phát độngphong trào toàn dân tham gia bảo vệ ANTQ, nội dung tập trung vào các phong trào

“Xây dựng thôn xóm bình yên, gia đình hòa thuận”, “Phòng, chống tội phạm matúy, đảm bảo trật tự ATGT”

+ Phong trào nhanh chóng được triển khai tới tận các thôn, xóm 100% hộdân đều ký cam kết thực hiện trong gia đình không có người nghiện ma túy, không

vi phạm trật tự ATGT Ban công an xã tiến hành rà soát, phân loại các đối tượngtrên địa bàn Các thôn, xóm, chi bộ, ngành, đoàn thể công bố quyết định của UBND

xã về những đối tượng cần quản lý, giáo dục, cảm hóa tại cộng đồng Từ năm 2007đến nay các tổ tự quản đã phát hiện và đề xuất với chính quyền xã đưa một số đối

Trang 25

tượng đi cai nghiện tập trung và cai nghiện thành công cho 6 đối tượng tại cộngđồng; bắt, xử lý đúng qui định của pháp luật 6 đối tượng hình sự

+ Các vụ đánh nhau, trộm cắp vặt, tranh chấp đất đai được các xã tập trungphối hợp giải quyết dứt điểm, nhân dân yên tâm phát triển kinh tế Năm 2009, tỷ lệ

hộ nghèo của xã giảm xuống còn 6,84%, 17/17 khu dân cư đạt danh hiệu khu dân

cư tiên tiến, 76% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá Nhiều năm liền xãkhông có đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp, các sự việc tranh chấp, tệ nạn xã hội

đã giảm hẳn, không phát sinh những điểm phức tạp ở cơ sở

2.3 Mô hình tự quản về văn minh Du lịch ở Khu di tích lịch sử Cố Đô Hoa Lư.

- Tổ chức: MTTQ và các đoàn thể xã Trường Yên chỉ đạo xây dựng.

- Nguyên tắc hoạt động: Tự giác chấp hành nội quy, quy định tại khu di

xả ngay trên sân, lối đi trong khu du tích… đã tác động không tốt đến hình ảnh của

Trang 26

+ MTTQ và các đoàn thể ở xã đã chỉ đạo Ban công tác mặt trận, các chiđoàn, chi hội tuyên truyền vận động đến từng hội viên, đoàn viên về những hành viứng xử, giao tiếp; tập huấn cho người dân kỹ năng làm du lịch; kết hợp giữa làmdịch vụ với quảng bá nét văn hóa đặc sắc của địa phương.

Khu di tích lịch sử Cố đô Hoa Lư

(Nguồn Báo Ninh Bình)

+ Song song với công tác tự quản, MTTQ và các đoàn thể xã Trường Yênthường xuyên vận động nhân dân thực hiện tốt nội quy về nếp sống văn minh, vănhoá du lịch, giữ gìn an ninh trật tự với các quy định cụ thể Kịp thời biểu dươngnhững việc làm tốt, phê phán những biểu hiện tiêu cực trong phục vụ khách du lịch.các cấp còn phối hợp với các hội, đoàn thể gặp gỡ nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, ýkiến đề xuất của những người trực tiếp làm dịch vụ tại các khu du lịch để có nhữngbiện pháp tuyên truyền và vận động thích hợp, tạo sự đồng bộ, thống nhất tronghoạt động quản lý

+ Thông qua các hoạt động tự quản đã góp phần nâng cao nhận thức , tạo sựchuyển biến mạnh mẽ về suy nghĩ và hành động cho những người làm dịch vụ dulịch và nhân dân Đến nay tình trạng chèo kéo khách, chèn ép giá bán hàng, hiệntượng xin tiền du khách đã giảm; ý thức bảo vệ môi trường tại Khu di tích đã được

Trang 27

cải thiện; người dân trong xã đã xác định dịch vụ du lịch là một nghề mang tính bềnvững và nêu cao ý thức giữ gìn cảnh quan môi trường, chung tay tu bổ, tôn tạo các

di tích lịch sử, văn hóa, đưa Khu di tích lịch sử văn hoá Cố đô Hoa Lư trở thànhmột không gian văn hóa để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng du khách

2.4 Mô hình đám cưới văn minh, tiết kiệm tại xã Ninh Giang, huyện Hoa Lư

- Tổ chức: Đoàn Thanh niên xã phối hợp với gia đình tổ chức.

- Nguyên tắc hoạt động: Tự nguyện, không tính tiền công.

- Quy mô: Trên toàn xã.

- Kết quả hoạt động:

+ Từ cuối năm 2007, thực hiện Chỉ thị 27 của Bộ Chính trị (khóa VIII) vềxây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, Tỉnh đoàn đãchọn Ninh Giang là một trong ba đơn vị làm điểm của tỉnh thực hiện mô hình cướivăn minh, tiết kiệm Thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy xã, Ban chấp hành Đoàn

xã đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp “dân vận khéo”, phối hợp vớicác ban, ngành, đoàn thể, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong xã nhằm đẩymạnh tuyên truyền trong đoàn viên, thanh niên thực hiện mô hình cưới văn minh,tiết kiệm

+ Ban chấp hành Đoàn xã phối hợp cùng gia đình chuẩn bị sẵp xếp bàn ghế,loa đài, tiếp khách và trực tiếp đảm nhận chương trình văn nghệ “cây nhà lá vườn”đặc sắc để chúc mừng hạnh phúc của đôi bạn trẻ, đồng chí Bí thư Đoàn xã kiêmluôn vai trò chủ hôn lễ Đoàn Thanh niên xã đã vận động đôi bạn trẻ Minh và Thảo

tổ chức đám cưới mẫu thực hiện theo mô hình cưới văn minh, tiết kiệm “5 không”

mà Đoàn xã đang triển khai phát động trong đoàn viên, thanh niên

+ Từ đám cưới điểm của đôi bạn trẻ Minh và Thảo, nhiều đoàn viên, thanhniên trong xã đã lựa chọn tổ chức đám cưới theo mô hình văn minh, tiết kiệm vớitiêu chí “5 không”, đó là: Không vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình; không tổ

Trang 28

không sử dụng thuốc lá để tiếp khách, không uống rượu, bia say; không vi phạmhương ước, quy ước ở khu dân cư, không vi phạm các quy định về an toàn giaothông Mô hình cưới văn minh, tiết kiệm ở Ninh Giang đã trở thành phong tràomạnh, lan tỏa đến khắp các thôn, xóm Đến nay, toàn xã đã có 150 đám cưới tổchức theo mô hình này, trong đó có 40 đám cưới của các đoàn viên, thanh niên doBan chấp hành Đoàn xã phối hợp cùng gia đình tổ chức.

+ Những kinh nghiệm rút ra qua việc thực hiện mô hình cưới theo nếp sốngvăn minh, tiết kiệm ở Ninh Giang là: Hàng năm, Ban chấp hành Đoàn xã chủ độngkhảo sát độ tuổi đoàn viên, thanh niên để nắm số lượng đoàn viên, thanh niên trong

độ tuổi xây dựng gia đình; Ban chấp hành Đoàn xã phân công nhiệm vụ cụ thể chocác chi đoàn có đối tượng sắp kết hôn để quan tâm dành thời gian, phương pháp đểtuyên truyền vận động đoàn viên, thanh niên thực hiện mô hình; tham mưu vớiĐảng ủy, UBND xã chỉ đạo trong các cuộc họp chi bộ, họp thôn, họp đội sản xuấtgắn với tuyên truyền, vận động ông bà, cha mẹ thông suốt và ủng hộ mô hình này;

để ngày vui của cô dâu, chú rể được chọn việc, Đoàn xã đã trực tiếp xây dựng kịchbản tổ chức lễ thành hôn sáng tạo, phù hợp với đặc điểm của từng gia đình nhưngvẫn mang phong cách trẻ trung, sôi nổi đầy ý nghĩa theo nghi lễ truyền thống củadân tộc

Với sự năng động, sáng tạo và nhiệt tình của các cán bộ Đoàn, phong tràocưới văn minh, tiết kiệm ở xã Ninh Giang đã và đang phát triển cả về bề rộng vàchiều sâu Các cán bộ Đoàn đã nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, giải đáp những bănkhoăn, thắc mắc, giới thiệu cho các đôi bạn trẻ những dịch vụ cưới (loa đài, phôngrạp, trang phục cưới) có chất lượng, giá cả hợp lý; khai thông tư tưởng cho giađình, họ tộc của đôi bạn trẻ nên cưới theo nếp sống mới để tiết kiệm được thời giancũng như tiền bạc trong việc tổ chức đám cưới Nhờ đó nhiều gia đình trong xã đã

tổ chức đám cưới trong một ngày, không tổ chức ăn uống linh đình kéo dài, việc ănuống chỉ tập trung trong họ, không sử dụng thuốc lá trong tiệc cưới

Trang 29

2.5 Mô hình tự quản về văn hóa văn nghệ ở xã Khánh Thủy, huyện Yên Khánh.

- Quy mô: Các thôn, xóm.

- Tổ chức: Nhân dân tự quản lý.

- Kết quả hoạt động:

+ Khánh Thủy là xã thuần nông, kinh tế - xã hội nhìn chung vẫn còn nhiềukhó khăn, tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 còn 17% (theo tiêu chí năm 2005), song cấp ủy,

Đường thôn, xóm ở xã Khánh Thủy

(nguồn báo Ninh Bình)

Ngày đăng: 09/04/2018, 14:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Báo cáo tổng kết 2 năm thực hiện phong trào thi đua “Dận vận khéo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dận vận khéo
1. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia HN 1976 , tập 9 Khác
2. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia HN 1996, tập 8 Khác
2. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia HN 2000, tập 12 Khác
3. Thư gửi hội nghị cán bộ Nông dân cứu quốc toàn quốc, tháng 11/1949 Khác
4. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng Khác
5. Nghị Quyết số 26 –NQ/BCHTW, ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Khác
4. Nghị quyết Trung ương 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Khác
5. Chỉ thị số 30/CT –TW, ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ Khác
6. Chỉ thị 46/CT – TW của Bộ Chính trị (khoá X) Khác
7. Nghị định số 29/1998/NĐ –CP ngày 11/5/1998 và Nghị định số 79/2003/NĐ –CP ngày 07/7/2003 của Chính phủ về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Khác
8. Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Khác
9. Chỉ thị 24 –CT/TTg, ngày 19/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư Khác
10. Quyết định 491 –QĐ/TTg, ngày của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới Khác
11. Thông tư 54 /2009/TT –BNNPTNT, ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Khác
13. Chương trình hành động số 20 –CTr/TU, ngày21/10/2008 của Tỉnh uỷ Ninh Bình về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khác
14. Công văn số 78 /UBND – VP3 của UBND tỉnh Ninh Bình về việc xây dựng bộ tiêu chí về nông thôn mới tỉnh Ninh Bình Khác
15. Báo cáo sơ kết thực hiện Quy chế dân chủ tỉnh Ninh Bình 6 tháng đầu năm 2011 Khác
16. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình năm 2010 Khác
17. Tổng hợp kết quả khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn của các huyện, thị xã Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w