Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống cam không hạt và ảnh hưởng của phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng đối với cam sành Hàm Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống cam không hạt và ảnh hưởng của phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng đối với cam sành Hàm Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống cam không hạt và ảnh hưởng của phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng đối với cam sành Hàm Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống cam không hạt và ảnh hưởng của phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng đối với cam sành Hàm Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống cam không hạt và ảnh hưởng của phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng đối với cam sành Hàm Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống cam không hạt và ảnh hưởng của phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng đối với cam sành Hàm Yên (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống cam không hạt và ảnh hưởng của phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng đối với cam sành Hàm Yên (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1TRẦN THỊ VÂN ANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA MỘT SỐ GIỐNG CAM KHÔNG HẠT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ, CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG ĐỐI VỚI CAM SÀNH HÀM YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2TRẦN THỊ VÂN ANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA MỘT SỐ GIỐNG CAM KHÔNG HẠT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ, CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG ĐỐI VỚI CAM SÀNH HÀM YÊN
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS ĐÀO THANH VÂN
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tuyên Quang, ngày 09 tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Thị Vân Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan, các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp, gia đình
Trước tiên tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đào Thanh Vân
người đã tận tình hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Nông học và Phòng đào tạo
- Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Trần Thị Vân Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Yêu cầu của đề tài 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
4.1 Ý nghĩa khoa học 2
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1.Cơ sở khoa học và lý luận của đề tài 3
1.1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và đặc tính không hạt của cam quýt 3
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá 3
1.1.3 Cơ sở khoa học của việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng 4
1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang 4
1.3 Nguồn gốc cam quýt và phân loại 5
1.4 Những nghiên cứu về cây cam 6
1.4.1 Những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây ăn quả có múi 6
1.4.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cây cam quýt 9
1.4.3 Những nghiên cứu chọn tạo cam quýt không hạt 11
1.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt 12
1.5.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới 12
1.5.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt tại Việt Nam 12
1.5.3.Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt tại Hàm Yên 15
Trang 61.6.1 Thu thập, đánh giá và khai thác nguồn gen cây có múi 16
1.6.2 Những nghiên cứu cải tiến, nâng cao năng suất, chất lượng giống cam quýt 18 1.6.3 Nghiên cứu về phân bón qua lá và sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho cây cam 23
1.7 Tình hình nghiên cứu cây ăn quả có múi ở Việt Nam 26
1.7.1 Thu thập, bảo tồn, đánh giá và sử dụng nguồn gen cây ăn quả có múi 26
1.7.2 Những nghiên cứu cải tiến, nâng cao năng suất, chất lượng 28
1.8 Tình hình nghiên cứu cây ăn quả có múi tại Hàm Yên 29
1.9 Xuất xứ, đặc điểm một số giống cam quýt không hạt 30
1.9.1 Cam Sành không hạt LĐ6 30
1.9.2 Cam Mật 31
1.9.3 Cam V2 32
1.9.4 Cam Sành 32
1.10 Kết luận rút ra từ tổng quan 33
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 34
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: Các nghiên cứu tiến hành đối với một số giống cam không hạt và trên giống cam Sành Hàm Yên 34
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 34
2.2 Nội dung nghiên cứu 35
2.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 35
2.4 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 36
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 39
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1 Tình hình sinh trưởng phát triển của các giống cam không hạt 40
3.1.1 Đặc điểm hình thái thân lá cành các giống cam không hạt 40
3.1.2 Tình hình sinh trưởng, phát triển của các giống cam không hạt tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 44
3.1.3 Tình hình sâu bệnh hại của các giống cam tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 48
Trang 73.1.4 Tình hình năng suất và chất lượng của của một số giống cam không hạt tại
Hàm Yên, Tuyên Quang 50
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và phân bón lá đến số hạt/quả và chất lượng cam Sành tại Hàm Yên, Tuyên Quang 53
3.2.1 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và phân bón lá đến thời gian ra hoa, tỷ lệ đậu hoa và quả của cam Sành 53
3.2.2 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng đối với năng suất cây cam Sành tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 55
3.2.3 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng đối với các chỉ tiêu về quả của cây cam Sành tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 56
3.2.4 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng đối với tình hình sâu bệnh hại cây cam Sành tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 59
3.2.5 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng đối với hiệu quả kinh tế trong sản xuất cây cam Sành tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 62
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 63
1.Kết luận 63
2 Đề nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới năm 2014 13
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất cam quýt ở Việt Nam 14
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất cam quýt ở các vùng năm 2014 15
Bảng 1.4 Tình hình sản xuất 1 số xã trồng cam tại huyện Hàm Yên, Tuyên Quang năm 2016 16
Bảng 3.1: Đặc điểm hình thái cây của các giống cam không hạt 40
Bảng 3.2 Đặc điểm phân cành của các giống cam không hạt 42
Bảng 3.3: Đặc điểm hình thái lá của các giống cam không hạt 43
Bảng 3.4 Tình hình sinh trưởng lộc Xuân của các giống cam (ngày) 44
Bảng 3.5 Tình hình sinh trưởng lộc Hè của các giống cam (ngày) 45
Bảng 3.6 Tình hình sinh trưởng lộc Thu của các giống cam (ngày) 45
Bảng 3.7 Tình hình sinh trưởng lộc Đông của các giống cam (ngày) 46
Bảng 3.8 Tỷ lệ đậu quả của các giống cam 47
Bảng 3.10 Tình hình sâu hại của các giống cam không hạt tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 49
Bảng 3.11 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất các giống cam 50
Bảng 3.12 Một số chỉ tiêu về quả của các giống cam 52
Bảng 3.13 Một số chỉ tiêu về chất lượng quả của các giống 52
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và phân bón lá đến thời gian ra hoa 53
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng và phân bón lá đến tỷ lệ đậu quả cam Sành huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 54
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cam Sành 55
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và phân bón lá đến động thái tăng trưởng kích thước quả cam Sành tại huyện Hàm Yên năm 2016 56
Bảng 3.18 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và phân bón là đến một số chỉ tiêu về quả cam Sành tại huyện Hàm Yên 57
Trang 10Bảng 3.19 Ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng và phân bón lá đến chất lượng
của cam Sành Hàm Yên 59 Bảng 3.20 Tình hình sâu hại của các giống cam Sành Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 60 Bảng 3.21 Tình hình bệnh hại của các giống cam Sành Hàm Yên, tỉnh Tuyên
Quang 61 Bảng 3.22: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và phân bón qua lá đến hiệu
quả kinh tế trong sản xuất cam 62
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây cam Sành (Quýt Kinh) (Citrus nobilis Lour) có nguồn gốc ở vùng nhiệt
đới nóng ẩm, ưa khí hậu ẩm nhưng cũng có thể chịu rét, vùng có thể trồng được cây cam Sành từ 35 vĩ độ bắc đến 40 vĩ độ Nam Nhiệt độ cây có thể sinh trưởng được
là 12 – 39 OC, nhiệt độ thích hợp là 23 – 29 OC, cây ngừng sinh trưởng khi có nhiệt
độ nhỏ hơn 10 OC và lớn hơn 40 OC, cây bị hại khi nhiệt độ -5 OC và nhiệt độ lớn hơn 40 OC các giống thích nghi với điều kiện nhiệt độ thấp thường có chất lượng,
mã quả tốt hơn các giống chịu nhiệt độ cao
Việt Nam cây cam là một trong những loại cây ăn quả mang lại giá trị kinh
tế cao trên thị trường và được nhiều người tiêu dùng trong nước cũng như trên thế giới rất ưa chuộng bởi nó có mã quả đẹp, hương vị thơm ngon có giá trị dinh dưỡng cao, bảo quản được lâu trong quá trình sử dụng Hiện nay có rất nhiều giống cam ngon và nổi tiếng như: cam Sành Yên Bái, cam Sành Bắc Quang (Hà giang), cam Sành Hàm Yên (Tuyên Quang) các giống cam này cho năng suất cao, chất lượng tốt, vỏ dày dễ vận chuyển đặc biệt được sử dụng nhiều trong dịp tết
Huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang), nổi tiếng có vùng cam Sành rộng lớn, thương hiệu cam Sành Hàm Yên chính thức xuất hiện và được công bố rộng rãi từ cuối 2007 Năm 2013 Cam Sành Hàm Yên được bình chọn trong Top 10 Thương hiệu - Nhãn hiệu nổi tiếng và tới năm 2014 huyện Hàm Yên đã tổ chức được hội chợ cam đầu tiên để đưa thương hiệu cam Sành Hàm Yên giới thiệu ra thị trường rộng lớn Cây cam hiện đang chiếm vị trí quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân
Tuy nhiên quá trình phát triển vùng cam Sành của huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang trong những năm gần đây có nhiều diễn biến cần quan tâm, đó là: diện tích cam tăng, giống đưa vào trồng còn hạn chế chủ yếu là giống cam Sành địa phương, chất lượng cây giống còn thấp, giống bị thoái hoá, cây không cho thu hoạch, nhất là các vườn trồng bằng cành chiết trên đất trồng cam chu kỳ 2; đặc biệt chất lượng sản phẩm chính là cam Sành còn nhiều hạn chế như: vị quả chua, quả hạt
Trang 12nhiều, giá bán sản phẩm thấp dẫn đến hiệu quả sản xuất không cao, vì thế cần thiết phải phải bổ sung vào cơ cấu các giống cam mới đặc biệt là các giống cam không hạt để sản phẩm quả cam không chỉ nội tiêu mà còn xuất khẩu, đồng thời áp dụng các biện pháp kĩ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng quả cam Sành của huyện Hàm Yên
Xuất phát từ các lý do trên, chúng tôi đề xuất đề tài Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống cam không hạt và ảnh hưởng của phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng đối với cam Sành Hàm Yên
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đánh giá được đặc điểm hình thái và tình hình sinh trưởng, phát triển của một số giống cam không hạt và ảnh hưởng phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng đối với cam Sành Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
3 Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một
số giống cam không hạt tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng đối với cam Sành tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống cam không hạt và thử nghiệm một số loại phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng đối với cam Sành Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung thêm những tài liệu khoa học phục vụ cho công tác giảng dạy cũng như nghiên cứu trên cây cam ở nước
ta Là cơ sở khuyến cáo các biện pháp kỹ thuật hiệu quả áp dụng trong thực tế sản xuất cho người dân
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học giúp cho công tác xây dựng định hướng, quy hoạch, quản lý, chỉ đạo sản xuất quýt đạt hiệu quả hơn trong điều kiện đặc thù của địa phương cũng như các vùng có điều kiện tương tự
- Kết quả nghiên cứu giống mới và các biện pháp kỹ thuật được áp dụng trong sản xuất cam ở Hàm Yên sẽ góp phần nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất, từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học và lý luận của đề tài
1.1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và đặc tính không hạt của cam quýt
Cam quýt thuộc nhóm cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng phát triển của cây chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều yếu tố nội tại (di truyền, sinh lý) và yếu tố ngoại cảnh (nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, khí hậu, sâu bệnh…) tác động vào
Đối với cam quýt số hạt trong quả cao là một trong những đặc tính quan trọng làm giới hạn tiêu thụ quả tươi ở cây có múi cả thị trường trong và ngoài nước Một trong những mục tiêu chính của chương trình chọn tạo giống cây có múi ở nước ta và trên thế giới hiện nay là: giống không hạt, hình dạng đẹp, phẩm chất ngon, không mẫn cảm với các loại sâu, bệnh hại nguy hiểm Xu hướng chọn giống cam quýt trên thế giới ngoài việc chọn tạo các giống có năng suất, chất lượng cao, ổn định, chống chịu với điều kiện môi trường, sâu bệnh thì mục tiêu còn hướng tới chọn tạo ra các giống ít hạt hoặc không hạt
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá
Phân bón lá thường gồm 3 thành phần chính: các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, ngoài ra còn có một số chất kích thích sinh trưởng Vai trò của phân bón lá đối với cây trồng là tác động tổng hợp của từng nhóm các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, chúng có vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng
Trong cây trồng luôn tồn tại các cơ chế điều chỉnh các quá trình sinh trưởng
và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống Việc áp dụng biện pháp kỹ thuật bón phân trong từng giai đoạn là rất cần thiết vì cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh
Trang 14thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả
1.1.3 Cơ sở khoa học của việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng
Cây trồng nói chung và cam quýt nói riêng luôn tồn tại các cơ chế điều khiển các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống Chất điều hòa sinh trưởng chính là các chất điều tiết các cơ chế này
và thông qua tác động của các chất điều hòa sinh trưởng phôi có thể hình thành phát triển thành quả không qua quá trình thụ phấn thụ tinh do vậy quả được tạo thành do tác động của các chất này thường không hạt hoặc ít hạt Các chất này được tổng hợp với một lượng rất nhỏ ở các cơ quan đến một bộ phận nhất định của cây, từ đó chuyển sang các bộ phận khác để điều tiết hoạt động sinh lý của cây Trong chất điều hòa sinh trưởng có Gibberellin (GA3) và Naphthalene aceticd NAA được tổng hợp ở tất cả các bộ phận còn non của cây và được vận chuyển không phân cực Tác dụng sinh lý của GA3 là ảnh hưởng đến quá trình ra hoa, sự lớn lên của quả, tạo quả không hạt, ngăn cản sự rụng của các cơ quan như lá, hoa, quả, làm chậm quá trình già hóa của toàn cây và sự chín của quả, kích thích kéo dài thân, dóng, kích thích sự nảy mầm của hạt, củ NAA có tác dụng kích thích cây trồng ra rễ, ra hoa đồng loạt, kết nhiều trái, trái có phẩm chất tốt, ngăn ngừa rụng trái non, cho sản lượng tốt
1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang
Hàm Yên là một huyện miền núi phía Bắc giáp huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp huyện Yên Sơn, phía Đông giáp xã Tân Mỹ của huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang, phía Tây giáp huyện Yên Bình, Lục Yên, tỉnh Yên Bái Tổng diện tích đất tự nhiên trong toàn huyện là 90.092,53 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp của vùng sản xuất cam tập trung 64.661,9 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 12.447,4 ha (đất trồng cây hàng năm 4.937,4 ha, đất trồng cây lâu năm là 7.509,9 ha), đất lâm nghiệp 51.725,1 ha; diện tích nuôi trồng thuỷ sản, đất nông nghiệp khác 391,7 ha, địa hình đất đai chủ yếu là đồi núi
Kinh tế chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp và trồng cây ăn quả Với ưu điểm có hệ thống đường giao thông tương đối thuận đó là có trục đường quốc lộ 2
và đường tỉnh lộ ĐT 189, ĐT 178 chạy qua, thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá cũng như việc phát triển kinh tế xã hội trong vùng sản xuất cam tập trung
Trang 151.3 Nguồn gốc cam quýt và phân loại
Hiện nay ý kiến của các tác giả có khác nhau song về cơ bản đều thống nhất
là các loại cây ăn quả có múi trồng trên thế giới hiện nay đều có nguồn gốc từ vùng Đông Nam châu Á, bao gồm cả Nam Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ và Miến Điện Nằm trong khu vực này, Việt Nam cũng là nơi phát sinh của một số loài và giống cam, quýt tồn tại cho đến nay
Nguồn gốc cây có múi được ghi nhận là ở Đông Nam Á bao gồm cả Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ, trong đó có cả vùng Nam Nepal, nơi có những thung lũng và sườn đồi được bảo vệ khỏi những cơn gió lạnh khô và mưa vào mùa Hè [42] Tuy nhiên sự thuần hoá và trồng trọt cây ăn quả có múi lại bắt đầu ở Trung Quốc” Theo Trần Thế Tục (1980) nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có từ 3.000 - 4.000 năm
trước Một số tác giả cho rằng nguồn gốc quýt Kinh (Citrus nobilis Lour) và quất là ở
miền Nam Việt Nam, xứ Đông Dương
Các hệ thống phân loại cam quýt đầu tiên chủ yếu dựa trên các đặc điểm giải phẫu hoa, đặc điểm hình thái, phân bố địa lý và cả lịch sử phát triển của một số chi quan trọng Hệ thống phân loại được thừa nhận nhiều nhất hiện nay là của Swingle
và Reece (1967) Theo khoá phân loại của Swingle (1967) có 16 loài, phần lớn các
loài cây cam, quýt, chanh, bưởi… thuộc chi Citrus (gồm 2 chi phụ là Eucitrus và
Papeda), tộc Citreae, họ phụ Aurantoideae, họ Rutaceae, bộ Geranial
Ở Việt Nam chi Citrus có 11 loài (Võ Văn Chi (1997))[5] Theo Phạm Hoàng Hộ (1999)[11] chi Citrus ở Việt Nam có 25 loài cả trồng trọt và hoang dại
(có 4 loài có tên quýt), phần lớn là cây thích nghi rộng, được trồng rộng rãi ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam từ vùng núi cao Sa Pa, Đà Lạt tới các vùng thấp đồng bằng Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Hải Dương… đến đồng bằng Nam Bộ
Tóm lại cam quýt là cây ăn quả có nhiều loài, nhiều chủng khác nhau, được loài người thuần dưỡng lâu đời Qua quá trình chọn lọc đã tạo ra được nhiều loại quả ngon, giàu chất dinh dưỡng nhất là vitamin và chất khoáng Việt Nam nằm trong vùng Đông Nam Á có điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho cam quýt phát triển Trong những năm gần đây do trủ trương phát triển của nhà nước, nhu cầu tiêu
Trang 16dùng các loại quả ngày càng tăng, được các cấp chính quyền quan tâm, nhiều vườn cây ăn quả, nhiều trang trại trồng cây ăn quả ra đời, những vùng trồng cam quýt nhiều đang có dự án khôi phục lại các vườn cam như Hà Giang, cải tạo vườn tạp thành vườn chuyên canh ở đồng Bằng Nam Bộ bước đầu đã mang lại những thành
tích nhất định (Nguyễn Hữu Đống và cs, 2003) [9]
1.4 Những nghiên cứu về cây cam
1.4.1 Những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây
ăn quả có múi
Cam quýt là cây kém chịu hạn và không chịu được ngập úng do có bộ rễ cộng sinh với nấm Vì vậy đất trồng cam quýt cần đủ ẩm, thoáng khí, mực nước ngầm sâu dưới 1m là những điều kiện tốt cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ cam quýt Về mặt dinh dưỡng, bên cạnh các nguyên tố đa lượng như N, P, K cam quýt còn cần các nguyên tố trung lượng, vi lượng như: Ca, S, Zn, B, Mo, Mn, Mg, Fe, Cu v.v Nếu thiếu hụt một trong các nguyên tố dinh dưỡng trên đều làm cho cam quýt sinh trưởng
và phát triển kém, khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh kém, làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm
- Nhiệt độ
Theo Trần Thế Tục (1980) [18] và nhiều tác giả khác cho rằng cây cam, quýt, chanh, bưởi sinh trưởng được trong phạm vi nhiệt độ từ 12 – 39 oC, nhiệt độ thích hợp nhất từ 23 - 27 oC Tại nhiệt độ thấp - 5 oC có một số giống có thể chịu được trong thời gian rất ngắn Khi nhiệt độ cao 40 oC kéo dài trong thời gian dài trong nhiều ngày cam quýt sẽ ngừng sinh trưởng, biểu hiện bên ngoài là lá rụng, cành khô héo Tuy nhiên cũng có giống chỉ bị hại khi nhiệt độ không khí lên đến 50 – 57 oC
Nhìn chung nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cam quýt như: Sự phát lộc, quá trình quang hợp, sự hoạt động của bộ rễ,
sự lớn lên của quả.v.v Bằng những nghiên cứu của mình Vũ Công Hậu (1996) [10] cho rằng rễ cam quýt hoạt động tốt khi nhiệt độ tăng dần từ 9 – 23 oC Khi nhiệt độ tới 26 oC cây hút đạm mạnh Ngoài ra sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn làm quả phát triển mạnh, đồng thời có ảnh hưởng đến khả năng tích luỹ, vận chuyển đường bột và axit trong cây vào quả Tuy nhiên, khi nhiệt độ ban đêm quá thấp làm
Trang 17cho hoạt động này kém đi Những giống có khả năng thích ứng với nhiệt độ thấp thường có phẩm vị ngon, mã quả đẹp, hấp dẫn, ngược lại những giống chịu nhiệt có phẩm chất kém hơn
Ở các vùng đất tốt, có nhiệt độ mùa Hè không quá nóng, mùa Đông không quá lạnh với nhiệt độ bình quân năm >15 oC, tổng tích ôn từ 2.500 - 3.500 cũng có thể trồng cam quýt Ở các vùng lục địa xa biển không nên trồng cam quýt ở độ cao
từ 1.700 - 1.800 m so với mực nước biển vì những vùng này mùa Đông thường có tuyết rơi và nhiệt độ xuống tới âm 4 OC Về phương diện nhiệt độ, cam quýt có thể phát triển khắp các miền sinh thái ở Việt Nam nhưng lý tưởng nhất là khí hậu ở vùng núi cao phía Bắc (Hoàng Ngọc Thuận, 2002) [21]
- Ánh sáng
Cây cam quýt là cây ưa ánh sáng tán xạ, nơi có cường độ ánh sáng từ 10.000
- 15.000 lux, tương ứng với 0,6 cal/cm2, ứng với ánh sáng lúc 8 – 9 h sáng và 4 – 5
h chiều hoặc những ngày trời quang mây mùa Hè Tuy nhiên để có được lượng ánh sáng như vậy chúng ta cần bố trí mật độ hợp lý như không quá dày cũng không quá thưa, vườn cam quýt nhất thiết phải bố trí nơi thoáng, có thể trồng cây chắn gió đồng thời có tác dụng che bớt ánh sáng để có ánh sáng trực xạ vào những ngày trời nắng gắt, khi đủ ánh sáng cây sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh (Vũ Công Hậu, 1996) [10]
- Ẩm độ và lượng mưa
Cam quýt yêu cầu độ ẩm không khí 75% và độ ẩm đất 60%, độ ẩm này không những đảm bảo cho cây sinh trưởng phát triển tốt mà còn cho năng suất cao, phẩm chất quả tốt, mẫu mã quả đẹp, quả to, vỏ mỏng Nếu độ ẩm không khí quá cao hoặc quá thấp đều có hại cho cam quýt, ẩm độ không khí quá cao và kèm theo nắng
to vào tháng 8, tháng 9 hàng năm thường gây hiện tượng rám nắng và nứt quả Lượng mưa thích hợp cho các vùng trồng cam quýt trên dưới 2.000 mm, Cam cần 1.200 - 1.500 mm, quýt cần nhiều hơn từ 1.500 - 2.000 mm, chanh cần ít nước hơn quýt, lượng nước trong đất có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của bộ rễ, lượng nước được coi là đủ khi nước tự do bằng 1% và độ ẩm đất bằng 60% độ ẩm bão hòa đồng ruộng (Hoàng Ngọc Thuận, 2002) [20]
Trang 18Nhìn chung lượng mưa ở các vùng sản xuất nông nghiệp Việt Nam đủ thoả mãn cho nhu cầu sinh trưởng, phát triển của cây cam quýt (1.400 mm - 2.500 mm), nhưng lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm, do đó ảnh hưởng không tốt đến năng suất, phẩm chất quả
- Gió
Quy luật hoạt động của gió là một vấn đề cần lưu ý trong việc bố trí các vùng trồng cam quýt Tốc độ gió vừa phải có ảnh hưởng tốt đến việc lưu thông không khí, điều hòa độ ẩm, giảm sâu bệnh hại, cây sinh trưởng tốt Tuy nhiên tốc độ gió có ảnh hưởng đến khả năng đồng hóa của cây, đặc biệt là gió lớn
Ở nước ta, đồng bằng sông Hồng và ven biển miền Trung về mùa mưa thường có gió bão gây đổ cây, gẫy cành, rụng quả làm cho khả năng sinh trưởng và năng suất của cây giảm rõ rệt Do vậy cần chú ý đến việc trồng các đai rừng chắn gió cho các vườn trồng cam quýt ở những vùng hay có bão lớn
- Đất đai
Ở nước ta, theo Trần Thế Tục (1980) [19] và một số tác giả cho rằng cây cam quýt có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất thịt nặng ở đồng bằng, đất phù sa châu thổ, đất đồi núi, đất phù sa cổ, đất thịt nhẹ, đất cát pha, đất bạc màu Tuy nhiên nếu trồng cam quýt trên đất xấu, nghèo dinh dưỡng cần phải đầu
tư thâm canh cao, hiệu quả kinh tế sẽ tốt hơn
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2002) [21], cây cam quýt có thể trồng được trên
đa số các loại đất trồng trọt ở Việt Nam: Đất thịt nặng, đất pha cát, đất bạc màu Tuy nhiên ở những vùng đất xấu phải đầu tư nhiều, thâm canh cao, hiệu quả kinh tế
sẽ thấp hơn Không nên trồng cam quýt ở đất sét nặng, đất cát già hoặc có lớp đất mặt nông, đất ong, đất có mực nước ngầm cao mà khó thoát nước Cũng theo tác giả này, đất trồng cam quýt tốt là đất bằng phẳng, có cấu tượng, nhiều mùn, thoáng khí, giữ ẩm tốt, khi cần dễ tháo nước và có tầng đất dày (hơn 1 m càng tốt), mực nước ngầm thấp (tối thiểu phải sâu hơn 80 cm) Như vậy, phần lớn đất đai vùng đồi núi phía Bắc, phía Tây Nghệ An, Hà Tĩnh, miền Đông Nam Bộ đều thoả mãn các yêu cầu của cây cam quýt
Cây cam quýt có thể trồng được trên đất có độ pH từ 4 - 8 nhưng thích hợp nhất là từ 5,5 - 6, điện thế oxy hóa khử Eh > 300 mV Ở độ pH này các nguyên tố
Trang 19khoáng cần thiết cho cây cam quýt phần lớn ở dạng dễ tiêu, nếu là đất chua nhất thiết phải bón vôi để nâng cao độ pH cho đất Đất trồng cam quýt cần có độ thoáng cao, nồng độ oxy phải lớn hơn 4% cây mới sinh trưởng và phát triển bình thường, nếu hàm lượng oxy nhỏ hơn 2% cây sẽ ngừng sinh trưởng Nếu chúng ta đánh giá mức độ thích nghi của đất đối với cam quýt thì đất phù sa cổ là tốt nhất, sau đó đến đất phù sa mới bồi hàng năm, đất Bazan, đất dốc tụ và đất đá phiến sét Không nên trồng cam quýt trên đất thịt nặng, đất có tầng canh tác mỏng, đất đá ong và đá lộ đầu hoặc những nơi có mực nước ngầm cao mà không thể thoát được nước (Bùi Huy Kiểm, 2000) [12]
Tóm lại, cam quýt có thể sinh trưởng, phát triển tốt ở khắp các miền sinh thái ở Việt Nam, nhưng lý tưởng nhất là khí hậu các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam
1.4.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cây cam quýt
Thực vật nói chung và cam quýt nói riêng, muốn sinh trưởng và phát triển tốt cần phải được cung cấp đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng đa lượng cũng như
vi lượng
+ Đạm (Nitơ): là nguyên tố vô cùng quan trọng và không thể thiếu được trong quá trình sinh trưởng đặc biệt trong sự hình thành bộ lá và có vai trò quyết định đến năng suất, phẩm chất của quả Nitơ tham gia vào quá trình hình thành và phát triển cành, lá, xúc tiến hình thành các đợt lộc mới trong năm, có tác dụng giữ cho bộ lá xanh lâu Nhiều nghiên cứu cho thấy một quả cam Washington Navel muốn phát triển bình thường cần có 45 lá, cam Chanh cần 50 lá, bưởi Chùm cần 60
lá cho một quả [19]
Tuy nhiên nếu thừa đạm sẽ làm cho lá và lộc sinh trưởng quá tốt, quả lớn nhanh nhưng vỏ dày, quả bị nứt và phẩm chất quả kém, màu sắc quả đậm hơn, hàm lượng vitamin C có chiều hướng giảm Nhưng nếu thiếu đạm lộc non không phát sinh đúng lúc hoặc ra ít, lá nhỏ, lá mất diệp lục, bị ngả vàng, cành quả nhỏ, mảnh và
bị rụng lá, quả nhỏ, vỏ mỏng, năng suất giảm
Ở điều kiện thời tiết nước ta cam quýt hấp thu đạm quanh năm, nhưng cây hút đạm mạnh nhất vào các tháng có thời tiết ấm, đồng thời cũng là thời điểm cây cam quýt trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng đến khi thu hoạch Ngoài ra khả
Trang 20năng hút đạm chịu sự tác động của độ pH đất, nếu pH từ 4 - 4,5 cây hấp thu mạnh dạng NO3, pH từ 6 - 6,5 cây hấp thu mạnh dạng NH4+,
+ Phân lân (Phospho):
Là nguyên tố dinh dưỡng rất cần cho cây sinh trưởng và phát triển đặc biệt là giai đoạn phân hóa mầm hoa
Phân lân có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng quả, đủ lân lượng axit trong quả giảm, tỷ lệ đường/axit cao, hàm lượng Vitamin C giảm, vỏ quả mỏng, mã đẹp, lõi quả chặt, màu sắc quả hơi kém nhưng chuyển màu nhanh
+ Kali:
Kali là loại phân bón rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển của cam quýt, đặc biệt
là thời kỳ ra lộc non và thời kỳ quả phát triển mạnh Kali ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất
và phẩm chất quả cam quýt, vì kali tham gia vào quá trình vận chuyển các sản phẩm quang hợp về các cơ quan tích lũy trên cây Nếu cây được cung cấp đầy đủ kali quả to, ngọt, nhanh chín, có khả năng chịu được lâu dài khi vận chuyển đi xa hoặc cất giữ lâu ngày Tuy nhiên nếu thừa kali cây sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây còi cọc, đặc biệt nếu quá nhiều kali sẽ gây nên hiện tượng hấp thu caxi, magie kém, quả to nhưng xấu mã, vỏ quả dày, lâu chín (Vũ Công Hậu, 1996) [10]
Ngoài các nguyên tố đa lượng N,P,K, các nguyên tố trung lượng và vi lượng cũng có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng phát triển, năng suất và phẩm chất cam quýt
Theo các nhà nghiên cứu đã chứng minh được rằng cây hoàn toàn không thể phát triển một cách bình thường nếu như thiếu các nguyên tố trung và vi lượng như:
Bo, Mangan, Canxi, Kẽm, Molipden v.v các nguyên tố này hết sức cần thiết cho cây, chúng có tác dụng thúc đẩy và kích thích khả năng sinh trưởng, phát triển của cây một cách mạnh mẽ
+ Canxi (Ca): được ví như xi măng gắn kết các tế bào lại với nhau, hàm lượng Ca trong cây cao sẽ ngăn cản sự rụng ngược lại khi hàm lượng Ca trong cây thấp sẽ tăng sự rụng
+ Kẽm (Zn): rất cần cho sự tổng hợp Triptophan - tiền thân của auxin Khi thiếu Zn sẽ thiếu auxin và sẽ làm tăng sự rụng
+ Bore: là nguyên tố dùng cho cây ăn quả khá tốt Nó có vai trò quan trọng trong việc hình thành màng sinh học Đặc biệt khi Bore kết hợp với Ca làm ổn định
Trang 21thành tế bào Thiếu Bore ảnh hưởng lớn đến mô phân sinh và sự nảy mầm của hạt phấn Chính vì vậy, Bore có tác dụng hạn chế rụng quả trên nhiều đối tượng cây trồng trong đó có cây cam Khi thiếu Bore làm cho hàm lượng nước trong quả ít, hình dạng quả không bình thường Để khắc phục có thể phun dung dịch axit boric nồng độ 300 g/100 l nước
Khi cây thiếu Cu quả dễ bị nứt, nhất là khi còn xanh Để khắc phục thì cần giữ
ẩm cho đất, phun 0,2 - 0,5% CuSO4 lên lá kết hợp với phun boocdo càng tốt
Khi cây thiếu Fe làm cho lá chồi non bị vàng đi dẫn đến rụng quả khi còn xanh
Để khắc phục thì cần cải tạo đất, bón phân hữu cơ, phun phân vi lượng 0,5% FeSO4 Khi thiếu Mo làm cho lá lốm đốm vàng Để khắc phục có thể phun dung dịch chứa 100 - 150 g molybdate natri trong 1.000 l nước
Để nâng cao năng suất, chất lượng cam quýt, bón phân như thế nào và để đạt hiệu quả kinh tế cao, cần phải căn cứ vào những cơ sở khoa học đã được các nhà nghiên cứu khoa học đúc kết Đa phần khi bón phân cần căn cứ vào nhu cầu dinh dưỡng của cây ở các thời kỳ sinh trưởng và phát triển cụ thể
1.4.3 Những nghiên cứu chọn tạo cam quýt không hạt
Số hạt trong một quả nhiều là một trong những đặc tính quan trọng ảnh hưởng đến việc tiêu thụ, xuất khẩu quả tươi ở cây có múi ra thị trường trong và ngoài nước Hiện nay một trong những mục tiêu chính của chương trình chọn tạo giống cây có múi ở nước ta và trên thế giới là: giống không hạt, ít hạt, hình dạng đẹp, phẩm chất ngon, không mẫn cảm với các loại sâu, bệnh hại nguy hiểm
Có rất nhiều phương pháp chọn tạo giống khác nhau, nhưng bằng phương pháp chọn lọc từ các đột biến tự nhiên, Trần Thị Oanh Yến, Nguyễn Ngọc Thi và
cs (2006) [29] đã tuyển chọn được 3 dòng cam Mật không hạt: CMKH - 01, CMKH - 02, CMKH - 03 Hiện các dòng này đang được trồng khảo nghiệm, đánh giá tính ổn định, năng suất và chất lượng tại các tỉnh phía Nam
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng các nghiên cứu chọn tạo giống cam quýt không hạt đã đạt được một số kết quả quan trọng Ngoài việc chọn tạo ra các giống cam có năng suất, chất lượng cao, ổn định, chống chịu với điều kiện môi trường, sâu bệnh thì ngày nay mục tiêu còn hướng tới chọn tạo các giống
ít hạt hoặc không hạt
Trang 22Ở Việt Nam, các phương pháp chọn tạo giống cam không hạt vẫn chủ yếu là chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính, gây đột biến và ứng dụng công nghệ sinh học Đây là những phương pháp chọn tạo cơ bản mang tính hiện đại mới chỉ thực hiện mấy năm gần đây ở các Viện nghiên cứu, Trường Đại học do vậy một số kết quả thu được mới chỉ là tiền đề hoặc vật liệu khởi đầu cho những chọn tạo tiếp theo
Hiện nay hạn chế lớn nhất đối với cây ăn quả có múi nói chung và cam nói riêng ở nước ta vẫn là chất lượng kém, trong đó vấn đề nhiều hạt luôn được xem là yếu tố quyết định đến chất lượng hàng hóa Chính vì vậy, mục tiêu chọn các giống năng suất chất lượng và ít hạt hoặc không hạt luôn là mục tiêu xuyên suốt trong công tác chọn tạo giống cam quýt
Cam quýt với sự đa dạng về chủng loại, giống là một trong những cây ăn quả quan trọng có giá trị dinh dưỡng và kinh tế ở Việt Nam Diện tích và sản lượng cam quýt không ngừng tăng trong những năm trở lại đây, mặc dù có một số hạn chế về sinh thái, cam quýt vẫn được quan tâm phát triển ở Việt Nam Những năm qua ở nước ta đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển cây ăn quả
có múi, bao gồm các lĩnh vực thu thập bảo tồn, đánh giá và khai thác sử dụng nguồn gen, cải tiến giống (phục tráng và chọn tạo), nhân giống và các biện pháp kỹ thuật thâm canh, phòng trừ sâu bệnh hại cũng như xử lý và bảo quản sau thu hoạch Mặc
dù đã có nhiều kết quả đáng kích lệ nhưng cho đến nay, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung trên cây bưởi, cây quýt chưa có nhiều nghiên cứu hệ thống cho cây cam, đặc biệt là cây cam Sành Hàm Yên Do vậy việc trồng thử nghiệm các giống cam mới ít hạt, không hạt và việc áp dụng biện pháp khoa học kỹ thuật (bón phân qua lá
và chất kích thích sinh trưởng) nhằm giảm số hạt/quả, nâng cao năng suất chất lượng cam Sành tại huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang là những vấn đề chính trong
đề tài nghiên cứu của chúng tôi
1.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt
1.5.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới
Hiện nay cam quýt được phát triển khắp các lục địa, sự phát triển của các
vùng cam quýt trên thế giới có sự tương quan với các cuộc cách mạng công nghiệp
ở các vùng Vùng nào sớm phát triển công nghiệp thì nghề cam quýt cũng sớm phát triển và ngược lại
Năm 2010 diện tích cam quýt của toàn thế giới là 4.127,0 nghìn ha, năng suất trung bình đạt 168,4 tấn/ha, sản lượng đạt 69.516,0 nghìn tấn Đến năm 2014 tổng diện tích giảm
Trang 23xuống còn 3885,9 nghìn ha nhưng năng suất lại tăng lên 182,3 tấn/ha, sản lượng tăng lên 70.856,3 nghìn tấn
So sánh về diện tích của 5 châu lục năm 2014, châu Á có tổng diện tích lớn nhất (1.562,2 nghìn ha) sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và vùng có diện tích nhỏ nhất
là châu Đại Dương 19,2 nghìn ha
- Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa, Costarica, Braxin, Achentina tuy vùng cam, quýt châu Mỹ được hình thành muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa
Kỳ đã thúc đẩy ngành cam quýt ở đây phát triển rất mạnh Về năng suất được ổn định từ năm 2010 đến năm 2014 năng suất đạt từ 195,9 đến 203,8 tấn/ha
Vùng lãnh thổ châu Á sản xuất cam, quýt gồm các nước (Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêsia, Philippin, Thái Lan…) đây là vùng có diện tích lớn nhất năm 2014 là 1.562,2 nghìn ha, chiếm 40,2% tổng diện tích toàn thế giới So với châu Mỹ sản lượng châu Á các năm từ 2000 đến 2014 thấp hơn châu Mỹ Nguyên nhân là do tổng diện tích châu Á lớn nhưng năng suất lại thấp hơn so với chau Mỹ Tuy châu Á có tổng diện tích trồng cam đến năm 2014 là cao nhất thế giới (chiếm 40,2%) nhưng lại có năng suất trung bình thấp nhất.
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới Chỉ tiêu Năm
Các châu lục trên thế giới
Thế giới Châu Phi Châu Mỹ Châu Á Châu Âu Châu Đại
Trang 24Vùng Nghệ An khoảng 1.000 ha, vùng tây Thanh Hoá 500 ha, vùng Xuân Mai (Hoà Bình) 500 ha, vùng Việt Bắc 500 ha và các vùng còn lại khác 500 ha [10]
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất cam quýt ở Việt Nam
2010 2011 2012 2013 2014
2 Diện tích cho thu hoạch (ha) 60.900 56.300 55.600 56.600 58.300
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2017) [2]
Với số liệu thống kê ở bảng 1.3 thì diện tích sản xuất cam quýt tăng mạnh từ năm 2010 là 60.900 ha đến năm 2011 là 68.900 ha Từ năm 2011 đến năm 2012 giảm nhẹ từ 68.900 ha xuống 67.500 ha Sau đó ổn định qua các năm từ 2012 đến
2014 Diện tích cao nhất đạt 75.600 ha (năm 2014) Cùng với tổng diện tích thì diện tích cho thu hoạch sản phẩm cũng thay đổi qua các năm, từ năm 2010 đến năm
2012 diện tích cho thu hoạch giảm liên tục từ 60.900 ha xuống 55.600 ha, tuy nhiên đến năm 2013 diện tích cho thu hoạch tăng lên 56.600 ha và năm 2014 là 58.300 ha Năng suất trung bình tăng dần qua các năm 2010 từ 118,00 tạ/ha lên 127,64 tạ/ha năm 2014 Tổng sản lượng cam quýt đạt cao nhất vào năm 2014 đạt 736.100 tấn, từ năm 2010 đến năm 2013 giảm từ 720.100 tấn xuống còn 706,0 tấn do diện tích cho thu hoạch giảm dần theo các năm từ 60.900 (năm 2010) xuống còn 56.600 (năm 2013), đến năm 2014 tăng nhẹ lên 58.300 ha
Ở nước ta hiện nay, có nhiều vùng trồng cam quýt, song những vùng cho năng suất cao, phẩm chất tốt có tiếng trong nước phải kể đến vùng cam đồng bằng sông Cửu Long, vùng cam Trung du miền núi phía Bắc với nhiều giống cam đặc sản, chất lượng như: cam Yên Bái, cam Bắc Quang, quýt Bắc Sơn, cam Sành Hàm Yên với tổng diện tích của cả nước năm 2014 là 75.600 ha Phân bố ở 8 vùng sản xuất bao gồm Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc, Bắc Trung
Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long Các vùng trồng cam có diện tích lớn là Đồng bằng sông Cửu Long 39.200 ha, vùng
Trang 25Trung du và miền núi phía Bắc 15.700 ha và vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 8.100 ha
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất cam quýt ở các vùng năm 2014
Tình hình sản xuất Tổng diện
tích (nghìn ha)
Diện tích cho thu hoạch (nghìn ha)
Tổng sản lượng (nghìn tấn)
3 Bắc Trung Bộ và duyên hải
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2017) [2]
Tổng diện tích cây cam cao nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 39,2 nghìn ha chiếm 51,8% toàn quốc, thấp nhất là vùng cam Tây Nguyên có tổng diện tích là 1,0 nghìn ha chiếm 1,3% diện tích toàn quốc Tổng sản lượng cam năm 2014 đạt 736,1 nghìn tấn, riêng vùng cam của Đồng bằng sông Cửu Long đạt 496,0 nghìn tấn chiếm 67,4% tổng sản lượng, cao nhất trong 8 vùng trồng cam trên cả nước Thấp nhất là vùng Tây Nguyên đạt 4,5 nghìn tấn chiếm 0,6% tổng sản lượng
1.5.3.Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt tại Hàm Yên
Toàn huyện hiện có 7.022 ha đất trồng cam, trong đó diện tích cam đã trồng
và cho thu hoạch là 4.065 ha với tổng số 5.874 hộ tham gia trồng; tập trung nhiều ở
9 xã: Yên Thuận, Bạch Xa, Minh Khương, Minh Dân, Phù Lưu, Tân Thành, Yên Lâm, Yên Phú và thị trấn Tân Yên Qua tổng hợp, thu nhập từ trồng cam đạt giá trị
từ 100 triệu đồng trở lên có gần 4.690 hộ, trong đó số có thu nhập từ 500 triệu đồng trở lên là gần 1.640 hộ
Trang 26Bảng 1.4 Tình hình sản xuất 1 số xã trồng cam tại huyện Hàm Yên,
Tuyên Quang năm 2016
Stt Vùng trồng
Tình hình sản xuất Diện tích
(ha)
Diện tích cho sản phẩm (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tuyên Quang[16]
+ Diện tích trồng cam tại huyện Hàm Yên tập trung chủ yếu tại xã Phù Lưu
là 2.579,4 chiếm 36,73% toàn huyện, diện tích cho thu hoạch là 1.997,7 ha, năng suất đạt bình quân 284,1 tạ/ha, sản lượng là 56.751,9 tấn
+ Đứng thứ 2 là xã Tân Thành có tổng diện tích trồng cam là 953 ha chiếm 13,57% toàn huyện, diện tích cho thu hoạch là 369 ha, năng suất trung bình đạt 236,7 tạ/ha, tổng sản lượng là 8.733,3 tấn, thấp nhất là xã Bạch có tổng diện tích là 185,4 ha, chiếm 2,6% toàn huyện, diện tích cho thu hoạch là 55 ha, năng suất trung bình đạt 224,6 tạ/ha, tổng sản lượng là 1.235,4 tấn/ha
1.6 Tình hình nghiên cứu cây ăn quả có múi trên thế giới
1.6.1 Thu thập, đánh giá và khai thác nguồn gen cây có múi
Những thập kỷ qua, bằng các phương pháp chọn giống khác nhau (lai tạo, đột biến, công nghệ sinh học nuôi cấy mô, nuôi cấy tế bào, chuyển gen di truyền ADN ) các nhà khoa học nghiên cứu cây ăn quả có múi trên thế giới đã chọn tạo
Trang 27được nhiều giống tốt, trên cơ sở sử dụng hiệu quả các vật liệu, nguồn gen khởi đầu Càng ở những nước có ngành sản xuất cây có múi phát triển thì việc thu thập, lưu
giữ và đánh giá, sử dụng các nguồn gen càng được quan tâm (Singh và cs ,1980;
Zhusheng, 2000; Anderson, 2000) [45], [51], [31] Không kể những nước có kỹ nghệ trồng cây ăn quả có múi phát triển như: Mỹ, BradXil, Italia, Nhật Bản mà một số nước trồng cây ăn quả có múi như: Ấn Độ, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á như: Thái Lan, Malaysia, Philippin kể cả Việt Nam cũng đã thu thập cho mình một ngân hàng gen cây có múi khá đa dạng, phong phú và bước đầu sử dụng các kỹ thuật hiện đại, tiến hành đánh giá đưa vào khai thác sử dụng các nguồn gen quý phục vụ sản xuất Xu hướng chung là tập trung vào lưu giữ, đánh giá sử dụng các giống bản địa, địa phương nhằm khai thác những đặc trưng, đặc tính tốt của giống phục vụ cho việc phục tráng, thương mại hoá sản phẩm và lai tạo giống, đặc biệt là lai tạo giống chống chịu với điều kiện sinh thái, khí hậu và sâu bệnh
Ở Trung Quốc tập đoàn cây ăn quả có múi đang được lưu giữ, khai thác có tới
1041 mẫu giống, Ấn Độ tập đoàn cây ăn quả có múi khoảng 667 mẫu giống, Malaysia có khoảng 236 mẫu giống Tại Thái Lan và Philippine tập đoàn cây ăn quả
có múi cũng khá đa dạng với hơn 100 mẫu giống nhưng đa phần là các giống nhập nội (IPGRI, 2004)
Giai đoạn 2000 – 2003, được sự tài trợ của Ngân hàng châu Á (ADB), trong khuôn khổ Dự án “Bảo tồn và sử dụng bền vững cây ăn quả bản địa ở châu Á”, một
số nước châu Á đã thu thập bổ sung thêm 555 mẫu giống cây ăn quả có múi, trong
đó Bangladesh thu thập mới 59 mẫu giống, Trung Quốc thu thập mới 115 mẫu giống, Ấn Độ thu thập mới 68 mẫu giống, Nepal thu thập mới 32 mẫu giống, Philippine thu thập mới 93 mẫu giống và Việt Nam thu thập mới 188 mẫu giống Trong giai đoạn này 983 mẫu giống cây ăn quả có múi đã được mô tả đánh giá và tư liệu hoá Từ các nguồn gen thu thập được, 51 dòng ưu trội đã được chọn lọc giới thiệu vào sản xuất [39]
Những năm gần đây, ngoài phương pháp phân tích các đặc điểm hình thái, các phương pháp phân tích đẳng gen (Isozyme analysic) và đánh giá bằng chỉ thị ADN (RFLP, RAPD, SSR) đã được phát triển và sử dụng trong công tác phân loại, đánh
Trang 28giá đa dạng di truyền và xác định nguồn gốc các loài thuộc chi Citrus [35], [33],
[37] Các chỉ thị ADN và chỉ thị đẳng gen đã có những thông tin giá trị về mối quan
hệ di truyền giữa các giống và loài của chi Citrus, cho phép thiết lập các bản đồ gen của chi Citrus (Singh, Shyam Sing, 2003) [44] Việc thiết lập được các gen chỉ thị
cho những đặc tính mong muốn sẽ làm tăng hiệu quả của công tác chọn tạo giống cũng như tạo cây chuyển nạp gen của cây có múi [41], [42]
1.6.2 Những nghiên cứu cải tiến, nâng cao năng suất, chất lượng giống cam quýt
a Về cải tiến giống và nhân giống
Nhiều nước trên thế giới, nhất là những nước có nghề trồng cam quýt phát triển, công tác chọn tạo giống được đặc biệt chú ý, trong đó tập trung theo hướng tuyển chọn từ nguồn biến dị trong tự nhiên, chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính, phương pháp xử lý đột biến tác nhân vật lý, hoá học và ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo giống
Để tạo ra các giống quýt mới người đã áp dụng nhiều phương pháp khac nhau như: chọn lọc cây phôi tâm trong quá trình lai xa, chọn lọc từ các đột biến mầm (cam Washington Navel ), tuyển chọn các cây đầu dòng trong sản xuất (Janick Moore,1981)[40]
Các nhà chọn giống người Nga đã chọn được hàng loạt giống cam chịu lạnh tốt, năng suất cao và phẩm chất không thua kém các giống ban đầu bằng phương pháp lai xa (Hoàng Ngọc Thuận, (1990)) [23]
Ở Nhật Bản, Trung Quốc và Tây Ban Nha những năm gần đây có xu hướng
chọn tạo những giống quýt có thời gian chín kéo dài hơn giống Satsuma gốc (Dong
và cs 2000) Tại Nhật Bản đã tạo ra giống mới có thời gian chín quả sớm hơn
Satsuma như Miyagawa và Okitsu Wase, Clauselina Tại Trung Quốc các giống
mới chọn tạo ra như Xinjin, Gongchuan và Nangan đã có thời gian chín quả kéo dài hơn Satsuma Giống Wenzho của Trung Quốc và giống Owaisi của Nhật Bản đều cho thu hoạch sớm từ tháng 11 đến tháng 12 Hai giống đều có phẩm chất quả tốt, ít hạt và khối lượng quả trung bình 100 – 140 gr/quả
Lựa chọn hướng nghiên cứu chọn tạo cây cam quýt kháng bệnh virus tristeza (CTV) bằng chuyển nạp gen CTV cũng đang được một số nước như Trung Quốc,
Trang 29Nhật Bản thực hiện [39] Beatriz và cs., 2001 đã tạo được 5 cây lai xoma có khả năng chống chịu bệnh do vi khuẩn và virus tristeza gây ra bằng dung nạp tế bào trần
giữa Caipira sweet orange (Citrus sinensis L Osbeck) với Volkamer lemon (C
Volkameriana Pasquale), Cleopatra mandarin (C Reticulata Blanco), và Rough
lemon (C.jambhiri Lushington)
Về gốc ghép cho cam quýt, đã có nhiều công trình nghiên cứu, chọn tạo được các giống gốc ghép thích hợp với từng giống, có khả năng thích ứng tốt với những điều kiện bất thuận như: hạn, mặn, lạnh, kháng bệnh virut Những gốc ghép lùn được đặc biệt quan tâm để tạo cây giống lùn có khả năng tăng mật độ trồng và hạn chế ảnh hưởng của gió bão Một số giống gốc ghép quan trọng cho cam quýt hiện nay đang được sử dụng tại nhiều nước là: Troyer và Carrizo và Carrizo Trifoliata (Cam ba lá), Swingle Citrumelo (dạng lai giữa Bưởi chùm và Cam ba lá),
Volkameriana (Chanh Volkamer); Rough lamon (Citronella), quýt Cleopatra, cam
ngọt, Benton Citrange, C – 35 Citrange, quýt lai Cox (Ngô Hồng Bình (2010) [1] Mỗi giống gốc ghép trên đều có những ưu thế về đặc điểm sinh trưởng, tính chống chịu riêng và cũng có một số hạn chế cho từng trường hợp cụ thể khi ghép với các loài cam quýt khác nhau, vì vậy khi lựa chọn gốc ghép phải căn cứ vào điều kiện sinh thái vùng trồng và loài, giống cây ghép để cây gốc ghép phù hợp
b Về dinh dưỡng khoáng và sử dụng phân bón lá cho cây cam quýt
Cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết
Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun phân bón cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, nhất là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả (Bùi Huy Kiểm, 2000) [12]
Phân bón lá thực chất là các chế phẩm mà trong đó chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dạng đa lượng, trung lượng và vi lượng Mỗi chất có vai trò khác nhau đối với cây nhưng nếu thiếu cây trồng sẽ sinh trưởng và phát triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm rõ rệt
Trang 30Bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng lá dựa trên 4 nguyên tắc: chức năng của
lá, quy luật bù hoãn giảm dần, chức năng của các nguyên tố dinh dưỡng và sự đối kháng ion Từ 4 nguyên tắc này Emblenton và Reuther (1973)[36] đã xây dựng được tiêu chuẩn về thành phần dinh dưỡng lá gồm 5 cấp: thiếu, thấp, tối thích, cao và thừa Dựa vào thang tiêu chuẩn này người ta thường xuyên phân tích lá để biết được có cần hay không cần phải bón phân
Căn cứ vào tình trạng dinh dưỡng đất, thông qua phân tích và đối chiếu với nhu cầu dinh dưỡng của cây theo từng độ tuổi, từng giai đoạn sinh trưởng người ta
có thể định ra được chế độ bón phân phù hợp Từ kết quả nghiên cứu, Trạm thí nghiệm cam quýt Gainsville, Florida đề nghị tỷ lệ bón phân N:P2O5:K2O; MgO:MnO:CuO là 1:1:1; 0,5:0,125:0,063 Tỷ lệ này tương đương với công thức 8:8:8:4:1:0,5 Tuỳ tuổi cây, từ năm thứ nhất đến năm thứ 6 bón mỗi cây số lượng phân bón hỗn hợp theo công thức trên từ 0,5 - 5,0 kg/năm [49] Theo Trung tâm kỹ thuật thực phẩm và phân bón (FFTC), (Đài Loan, 2005) [26], từ năm thứ nhất đến năm thứ 5 lượng phân bón tính theo tuổi cây là như nhau đối với 3 nguyên tố N,
P2O5 và K2O từ 50 g/cây năm thứ nhất tăng dần đến 140 g/cây năm thứ 5 Khi cây
đã cho thu hoạch, lượng phân bón theo năng suất thu được Đó cũng là một căn cứ tương đối chính xác Người ta tính được rằng nếu năng suất 50 tấn/ha sẽ lấy đi một khoảng dinh dưỡng 74,5 kg N/ha, 27,5 kg P2O5/ha và 123,5 kg K2O/ha, do vậy khi bón phân cần bón đủ lượng dinh dưỡng trên cộng với số lượng cần để tạo chồi mới,
lá mới và số lượng mất đi do rửa trôi Một nghiên cứu khác cho biết cứ thu 40 kg quả thì phải bón trả lại cho đất 180 kgN, 135 kg P2O5, 160 kg K2O và 90 kg MgO Theo Sam son (1986), bón phân cho cây non, cây chưa ra quả khác với bón phân cho cây trưởng thành, cây cho quả Công thức chung hợp lý để bón phân là N:P2O5:K2O = 8:2:8 với lượng bình quân là 0,75 kg/cây trong năm đầu tiên và tăng dần cho đến 3,15 kg/cây khi cây được 10 năm tuổi
c Về quản lý độ ẩm và tưới nước cho cây
Các nghiên cứu cho thấy, chi phí cho việc trừ cỏ, sâu bệnh, đốn tỉa và bón phân không có kết quả làm năng suất cao hơn nếu tưới nước không đầy đủ Nhiều nước trên thế giới hiện nay sử dụng máy đo trương lực thuỷ phần đất làm chỉ tiêu để tưới Mức độ
Trang 31khô ẩm của đất được biểu thị bằng trương lực (sức căng) thuỷ phần đất Để đo độ ẩm đất trong vườn người ta chôn máy ở độ sâu 30 cm Trên máy khắc số từ 0 – 100 Số 100 tương đương 1 atmosphe Từ giai đoạn phát lộc Xuân đến giai đoạn quả nhỏ cần tưới giữ
ẩm đất đảm bảo trương lực trên máy đo được từ 33 – 60 Từ quả nhỏ đến trước thu hoạch
1 tháng là 60 – 90 [25]
Một số nước sử dụng phương pháp chỉ thị sinh học (Biological indicators) để xác định thời gian tưới cho cây Một trong những phương pháp đó kiểm tra mối quan hệ của nước với sự tăng trưởng của cành hoặc phát hiện những dao động tạm thời trong chúng Những hệ thống đo tốc độ dòng chảy của nhựa mủ trong cành cây bằng phương pháp xung động nhiệt (heat pulse method) hiện nay đã khá hoàn thiện
và có sẵn trên thị trường Những hệ thống đo dòng chảy của nhựa này có thể định lượng được sử dụng nước của cây Về lý thuyết nó có thể cung cấp những thông số cho hệ thống tưới tự động
d Về kỹ thuật cắt tỉa và quản lý cây
Cắt tỉa là biện pháp tác động cơ giới được áp dụng phổ biến trên nhiều loại cây ăn quả nói chung trong đó có cây cam quýt Việc sử dụng biện pháp cắt tỉa, cưa đốn là để loại trừ ưu thế ngọn của các chồi bên phát triển theo hướng có lợi về năng suất và chất lượng quả, đảm bảo sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây cân đối, điều chỉnh thời gian cho lộc quả sang năm, hạn chế sâu bệnh hại, nâng cao năng suất, mẫu mã quả, quản lý được kích thước quả của cây luôn có độ lớn vừa phải tiện lợi cho thu hái
Hiện nay trong sản xuất cây ăn quả có múi, xu hướng trồng dày, chu kỳ khai thác ngắn đang được ứng dụng ở nhiều nước trên thế giới, bởi vậy đốn tỉa lại càng trở lên quan trọng giúp cho việc duy trì năng suất ổn định và được tập trung vào 3 loại đốn tỉa: 1) Đốn tỉa tạo hình, thực hiện ngay từ những năm đầu từ 1 – 3 tuổi Mục đích là tạo bộ khung tán có khả năng hấp thụ tối đa ánh sáng mặt trời cho quang hợp Trước kia cây thường được tạo hình theo kiểu hình cầu và bán cầu, song hiện nay phần lớn các nước trồng cây ăn quả có múi phát triển như Mỹ, Úc, Đài Loan, Trung Quốc, Ixrael đã chuyển sang cắt tỉa kiểu hình chữ Y, thậm chí theo kiểu rẻ quạt phục vụ cho thu hoạch bằng máy; 2) Đốn tỉa sau thu hoạch: loại bỏ
Trang 32cành vượt, cành sâu bệnh, những đầu cành quả vừa cho thu hoạch để tạo điều kiện cho cành hè thu sinh trưởng tốt Cắt tỉa sau thu hoạch là biện pháp rất quan trọng có tác dụng tích cực trong việc điều hoà sự ra quả hàng năm và duy trì chế độ ánh sáng thích hợp cho các vườn trồng mật độ dày; 3) Tỉa quả: là việc tỉa bớt quả ngay sau rụng quả sinh lý đợt 2 (cuối tháng 5 đầu tháng 6) để điều chỉnh số lượng quả một cách hợp lý, giúp cho quả đạt được độ lớn tối đa và duy trì năng suất năm sau Ngoài ra việc cắt tỉa vẫn phải tiến hành thường xuyên làm cho cây luôn giữ được thông thoáng cần thiết, ngăn ngừa sâu bệnh
e Về phòng trừ sâu bệnh hại
Cây ăn quả có múi nói chung và cây cam quýt nói riêng có khá nhiều sâu bệnh hại, đặc biệt có những bệnh rất nguy hiểm gây huỷ diệt hàng loạt như bệnh tristeza, greening ở Braxin, Tây Ban Nha và Veneauela (Whiteside và cs., 1988) [50]
Ở Nhật Bản đã ghi nhận 240 loài côn trùng và nhện hại; tại 14 tỉnh miền nam Trung Quốc ghi nhận 489 loài chân khớp gây hại trên cam quýt; Đài Loan có 167 loài, Malaysia có 174 loài, ở Ấn Độ có 250 loài (Nobumasa Nito (2004)) [42]
Kết hợp các biện pháp hoá học và sinh học tạo ra một hình thức gọi là quản
lý phòng trừ tổng hợp (IPM) đang là xu hướng chung các nước hướng tới Ở Cu Ba
áp dụng IPM trên cam quýt đã giảm được 50% lượng thuốc hoá học và làm tăng 20% lượng quả xuất khẩu Một số nước có kỹ thuật sản xuất cây ăn quả có múi tiên tiến như: Úc, Hàn Quốc đã áp dụng IPM trên cây ăn quả có múi trên cơ sở sử dụng dầu khoáng PSO để phòng trừ tập đoàn chích hút, sâu vẽ bùa kết hợp với phòng trừ các loại bệnh hại khác, bảo vệ tập đoàn thiên địch trên các vườn quả, hạn chế ô nhiễm môi trường
Tiến bộ đáng ghi nhận nhất trong phòng chống bệnh đó là kỹ thuật xét nghiệm chuẩn đoán các bệnh virus, siêu vi khuẩn bằng PCR và ELISA Hiện nay những kỹ thuật này đã được sử dụng như là 1 phương tiện chủ yếu để xét nghiệm chuẩn đoán bệnh cũng như sàng lọc bệnh trong sản xuất cây sạch bệnh, đồng thời việc kết hợp các phương pháp vi ghép đỉnh sinh trưởng, nuôi cấy mô phân sinh với xét nghiệm sàng lọc bệnh bằng PCR và ELISA đã trở thành một khâu bắt buộc trong sản xuất cây sạch bệnh ở các nước trồng cam quýt trên thế giới (Timmer, Duncan, 1999)[48]
Trang 331.6.3 Nghiên cứu về phân bón qua lá và sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho cây cam
1.6.3.1 Nghiên cứu về phân bón qua lá cho cây cam
Phân bón lá thực chất là các chế phẩm mà trong đó chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dạng đa lượng, trung lượng và vi lượng, nhằm cung cấp kịp thời cho cây Mỗi chất có vai trò khác nhau đối với cây nhưng nếu thiếu cây trồng sẽ sinh trưởng và phát triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm rõ rệt
Theo Hoàng Minh Tấn và cs (2000) [17], trong thế giới thực vật nói chung
và cam quýt nói riêng, lá cây ngoài chức năng là thoát hơi nước, quang hợp còn có vai trò quan trọng trong việc hấp thu các chất dinh dưỡng cho cây, sự hấp thu này được thực hiện qua lỗ khí khổng và qua các khoảng gian bào, các chất dinh dưỡng được di chuyển theo hướng từ trên xuống dưới với tốc độ 30cm/giờ, chất dinh dưỡng di chuyển một cách tự do trong cây
Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định rằng khi bón phân qua lá dạng hòa tan thì
lá cây sẽ hấp thu hết 95% lượng phân Vì vậy việc cung cấp các chất dinh dưỡng dạng vi lượng cho cây thông qua lá là việc làm đem lại hiệu quả rất cao, có thể nói cao gấp 8 - 10 lần so với cung cấp vào đất Ngoài tác dụng bổ sung các chất dinh dưỡng kịp thời cho cây, phân bón lá còn tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi khác như nóng, lạnh, khô, hạn Tuy nhiên, hiệu quả của phân bón lá phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây, loại phân, nồng độ phân, liều lượng và thời gian sử dụng Các loại phân bón lá đang được sử dụng rộng rãi hiện nay là Komix FT, Komix, Superzin K, Thiên nông (Nguyễn Thị Thuận và cs (1966)) [24]
Ở những vườn cây ăn quả không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ, thì việc cung cấp các loại phân bón qua lá giúp cho cây sinh trưởng mạnh hơn, ngăn ngừa các bệnh về thiếu dinh dưỡng và giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn
Các loại phân bón lá như Komix FT, Komix Superzin K, Thiên nông, FoFer
và Pomior, đã có tác dụng tốt trên một số loại cây trồng như: Rau, cà phê và một số cây ăn quả Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Nhuận, Bùi Thị Mỹ Hồng, Nguyễn Trịnh Nhất Hồng, Huỳnh Văn Tần tại Tiền Giang (1995 - 1996) cho thấy
Trang 34chúng đều có tác dụng hạn chế rụng quả non, góp phần làm tăng năng suất đồng thời không làm ảnh hưởng đến chất lượng và mẫu mã quả
Trong những năm qua, sự ra đời của phân bón lá đã giúp cây trồng ngăn ngừa được các loại bệnh hại trên cây ngay cả trong giai đoạn cây đang sinh trưởng Phân bón lá ngoài cung cấp chất dinh dưỡng cho cây còn có bổ sung thuốc bảo vệ thực vật được áp dụng rộng rãi trong việc trồng cây ăn quả, đặc biệt là họ cây cam quýt Tuy nhiên, hiện nay khi việc áp dụng rộng rãi phương pháp phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp cho cây thì việc sử dụng các dạng phân bón lá cho cây cam quýt
là rất cần thiết
Bộ môn Sinh lý thực vật - Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nghiên cứu và tạo được chế phẩm đậu hoa, đậu quả cho nhiều loại cây trồng và sử dụng có hiệu quả trong sản xuất Chế phẩm dạng bột gồm α-NAA dưới dạng hoà tan trong nước là nguồn auxin bổ sung cho nguồn nội sinh, một số nguyên tố vi lượng cần thiết như B, Cu và còn có thêm một lượng nhỏ nguyên tố đa lượng N, P, K Phun chế phẩm này đã làm tăng quá trình đậu quả, hiệu quả này được tăng lên khi cung cấp
đủ nước và các chất dinh dưỡng cho cây trồng
Tác giả Hoàng Ngọc Thuận (2000) cho biết phân bón lá dạng phức hữu cơ Pomior là một loại phân tổng hợp có chứa các nguyên tố đa, trung và vi lượng với
20 axit amin cùng với một số chất điều hòa sinh trưởng Loại phân này đã được tiến hành thử nghiệm và đạt hiệu quả cao trên nhiều loại cây trồng Đặc biệt một số kết quả thử nghiệm những năm gần đây Pomior đã thể hiện tác dụng xúc tiến rõ rệt đến khả năng sinh trưởng, tăng khả năng ra hoa, tăng khả năng đậu quả, tăng trọng lượng
và phẩm chất quả trên cây có múi
1.6.3.2 Nghiên cứu về sử dụng chất điều hòa sinh trưởng trên cam quýt
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật, sự hình thành hoa là dấu hiệu cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng sang giai đoạn sinh trưởng sinh sản, chuyển hướng từ hình thành mầm lá sang hình thành mầm hoa Sau thụ phấn thụ tinh là quá trình đậu quả, tuy nhiên sự đậu quả còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố nội tại và ngoại cảnh Hàm lượng auxin và các chất kích thích sinh trưởng thấp là nguyên nhân dẫn đến sự rụng sau khi hoa nở Để tăng cường sự đậu quả
Trang 35người ta bổ sung thêm auxin và gibbrellin ngoại sinh cho hoa và quả non, hai chất này có tác dụng bổ sung thêm cho nguồn phytohoocmon có trong phôi hạt vốn không đủ cho quá trình nảy mầm Vì vậy mà sự sinh trưởng của quả được kích thích
và quả khó có thể rụng ngay được
+ Au xin
Auxin có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây đặc biệt là quá trình đậu quả và sự sinh trưởng của quả Nó được sử dụng khá rộng rãi trong sản xuất nhất là với ngành trồng cây ăn quả
Ở Hawai nhiều cánh đồng dứa được phun dung dịch muối natri của α -NAA
ở nồng độ 25 ppm thì dứa ra hoa sớm hơn 2 - 3 tuần Auxin kìm hãm sự rụng của
lá, hoa và quả, nồng độ sử dụng tuỳ thuộc vào từng loại quả ví dụ: Cà chua, bầu,
bí, cam, chanh nồng độ α -NAA 10 - 20 ppm, 2,4D nồng độ 5 - 10 ppm
Theo Skoong, (1940) [46] có thể dùng chất kích thích sinh trưởng với liều lượng cao để phun cho cam làm hoa rụng bớt đi để tránh hiện tượng ra quả cách năm Chẳng hạn như NAA nồng độ từ 100 ppm, 200 ppm 500 ppm thấy kết quả như sau:
Nồng độ 500 ppm: số hoa rụng đi 50%, nồng độ 250 ppm: số hoa rụng đi 23%, nồng độ 200 ppm: số hoa rụng đi 20% Số lượng quả tuy giảm, nhưng do khối lượng quả tăng lên cho nên sản lượng ổn định và tránh hiện tượng cách năm
Cũng theo Skoong, (1940) đã bổ xung thêm α - NAA với nồng độ 10 - 20 ppm để làm giảm sự rụng trái táo Sử dụng α - NAA ở nồng độ 40 ppm hay phun kết hợp với GA3 nồng độ 40 ppm đã làm giảm sự rụng quả, gia tăng số quả có ý nghĩa khi thu hoạch so với đối chứng, làm cho năng suất của giống xoài Tommy atkins ở Nam Phi Đối với giống xoài Langra và Ewais, phun α -NAA ở nồng độ 40 ppm vào tháng 4 có ý nghĩa làm giảm sự rụng quả so với đối chứng
Ở Trung Quốc phun 2,4D ở nồng độ 5 - 10 ppm vào mùa hoa cam đang nở rộ thấy tỷ lệ đậu quả tăng so với đối chứng, đường kính quả tăng 9%, sản lượng tăng 34,2% Singh và Iyer (1980) [45]
+ GA3 (Gibberllin)
Lịch sử phát hiện ra gibberellin gắn liền với những nghiên cứu bệnh lúa von
mà các nhà nghiên cứu người Nhật đã quan tâm từ lâu Triệu chứng điển hình là cây lúa tăng trưởng chiều cao quá mức, làm cây yếu, giảm năng suất trên 40% Các nhà
Trang 36bệnh cây Nhật Bản cho rằng bệnh von là do loại nấm ký sinh ở cây lúa có tên là gibberela fujikuroi gây nên, loại nấm này đã tiết ra một chất nào đó kích thích sự sinh trưởng chiều cao của cây lúa và gây nên bệnh lý
Trong nhiều trường hợp GA3 kích thích sự ra hoa rõ rệt, ảnh hưởng đặc trưng của GA3 đến sự ra hoa là kích thích sự sinh trưởng và phát triển của trụ nằm dưới hoa (ngồng), nó được coi là thành phần hoocmon ra hoa, có thể xử lý GA3 để có hoa quả trái vụ
GA3 cũng có tác dụng trong việc phân hóa các cơ quan sinh sản đặc biệt là sự phân hóa giới tính đực và cái, kích thích sự hình thành hoa đực và ức chế quá trình hình thành hoa cái, chính vì vậy mà người ta đã sử dụng GA3 để điều khiển số lượng hoa đực của các cây họ bầu bí
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000) [22], phun chất kích thích sinh trưởng thực vật cho cam, quýt để nhằm: Nâng cao tỷ lệ đậu quả, làm quả to hơn, làm cho quả ít hạt hay không có hạt, làm rụng bớt hoa những năm cây ra quả nhiều, tránh hiện tượng ra quả cách năm, hạn chế rụng quả
Theo Bàn Thúy Nga (2013) [15] trong thí nghiệm về sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng: chế phẩm Antonik, kích phát tố Thiên Nông và GA3 trên cây cam Sành tại Bắc Quang, tỉnh Hà Giang cho thấy việc sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng làm tăng tỷ lệ đậu hoa đậu quả lên cao so với đối chứng, chất lượng của quả cũng được cải thiện
Cũng tương tự trong thí nghiệm về sử dụng chất điều hòa sinh trưởng trên cam Vinh tại Lục Ngạn - Bắc Giang (Nguyễn Danh Đức, 2014) làm giảm tỷ lệ rụng quả, làm tăng năng suất thu hoạch từ 36,4 - 47,6 % và giúp tăng thu nhập trên đơn vị diện tích Trong đó, chế phẩm phân bón lá Rong biển và chất điều hòa sinh trưởng Atonik làm tăng năng suất đến 47,6% so với đối chứng (Nguyễn Danh Đức (2014))[8]
1.7 Tình hình nghiên cứu cây ăn quả có múi ở Việt Nam
1.7.1 Thu thập, bảo tồn, đánh giá và sử dụng nguồn gen cây ăn quả có múi
Hoạt động thu thập bảo tồn, đánh giá và sử dụng nguồn gen cây ăn quả có múi nói chung và cây cam nói riêng ở nước ta bắt đầu từ rất sớm, nhiều nguồn gen cam quýt đã được thu thập và nhập nội (Bùi Huy Đáp (1960)) [7] Tuy nhiên công việc này thực sự được quan tâm và tiến hành bài bản từ đầu những năm 90 của thế
kỷ XX (Đỗ Đình Ca (1996))[3]
Trang 37Năm 1992, Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả Phú Hộ đã tiến hành điều tra thu thập nguồn gen cây ăn quả có múi ở các tỉnh miền Bắc, đã thu thập mô tả được
185 mẫu giống thuộc 11 loài Tuy nhiên đến năm 2000, tập đoàn quỹ gen cây ăn quả có múi chỉ còn lại 24 giống (Đỗ Đình Ca (1996))[3]
Trong 2 năm từ 1996 – 1997, Viện Nghiên cứu rau quả hợp tác với Viện Nghiên cứu cây ăn quả quốc gia Nhật Bản tiến hành điều tra nghiên cứu thu thập nguồn gen cây ăn quả có múi ở những vùng trọng điểm trên lãnh thổ Việt Nam, đã thu thập được 267 mẫu giống Trên cơ sở đánh giá đa dạng di truyền và dựa theo khoá phân loại của Swingle đã xác định được 68 giống và một số dạng lai thuộc 6 loài riêng biệt:
- Cam ngọt: Citrus sinensis Osbeck
- Bưởi: Citrus grandis (L.) Osbeck
- Quýt: Citrus reticulata Blanco
- Chanh: Citrus limon Burn (Swingle)
- Cam chua, cam đắng: Citrus aurantium Linn
- Bòng/chanh yên/ phật thủ: Citrus medica
Và một số dòng lai như cam bù, cam Sành, cam voi, chấp, cam Đồng Đình (A report of exploration in Việt Nam, 1996 NIAR/DSTPQ/IPGRI, 1977)
Từ năm 1994 – 2000 Trung tâm cây ăn quả Long Định, nay là Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đã tiến hành điều tra thu thập, bảo tồn và đánh giá giống cây ăn quả ở hầu hết các tỉnh miền Nam, kết hợp với nhập nội đã thu thập được 155 mẫu giống cây ăn quả có múi Đã đánh giá và đưa vào sử dụng 17 giống (chủ yếu là nhập nội)
Trong giai đoạn 2001 – 2003 trong khuôn khổ dự án IPGRI – ADB – TFT project, Trung tâm Tài nguyên thực vật kết hợp với Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đã thu thập được 188 nguồn gen cây có múi (IPGRI, 2004)
Việc tiếp cận kỹ thuật mới, hiện đại đặc biệt là áp dụng kỹ thuật chỉ thị ADN (AFLP, SSR) vào việc nhận diện một số giống cây ăn quả đặc sản, xác định đa dạng và quan hệ di truyền, tìm ra bộ chỉ thị phân tử đặc hiệu cho các giống cây ăn quả có múi đặc sản cũng đã được tiến hành ở một số viện, trường Đại học và trung tâm tài nguyên
Trang 38thực vật Năm 2004, Trịnh Hồng Kiên và cs [13]; đã sử dụng kỹ thuật SSR để nghiên cứu đa dạng di truyền 285 mẫu giống cây ăn quả có múi đã thu thập được tại Việt Nam, hiện đang được bảo tồn trên đồng ruộng hoặc trong nhà lưới của các trung tâm và
Viện nghiên cứu trong nước bằng phương pháp SSR (Simple Sequence Repeat) Kết quả cho thấy nguồn gen chi citrus ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú có đủ 3 nhóm loài của chi Citrus đó là: nhóm C.medica (Citron), nhóm C.reticulata (Mandarin) và
nhóm C.maxima (pomelo) hay còn gọi là nhóm C.grandis (bưởi) Trần Thị Oanh Yến
và cs (Viện Nghuên cứu Cây ăn quả miền Nam), năm 2003 cũng đã sử dụng maker SSR để xác định tính đa dạng di truyền của một số giống cam quýt ở các tỉnh phía Nam (Trích theo Đỗ Đình Ca, 2009) [4] Đại học Cần Thơ năm 2005 đã tiến hành đề tài
“Phân loại, đánh giá và in dấu ADN các giống cây ăn quả có múi ở Việt Nam”
Năm 2009, Đỗ Đình Ca đã sử dụng kỹ thuật RAP để đánh giá đa dạng di truyền 30 mẫu giống cây đầu dòng tuyển chọn thuộc bưởi Thanh Trà và Phúc Trạch Kết quả cho thấy giữa các dòng của từng giống bưởi Thanh Trà hay bưởi Phúc Trạch tại các vùng nguyên sản tuy có sự khác nhau ít nhiều về đặc điểm hình thái nhưng đều có mối quan hệ di truyền khá gần gũi với hệ số đồng dạng của bưởi Thanh Trà trong khoảng 0,75 – 1 và bưởi Phúc Trạch là 0,89 – 1 [4]
1.7.2 Những nghiên cứu cải tiến, nâng cao năng suất, chất lượng
Công tác nghiên cứu chọn tạo cây ăn quả có múi đạt được trong thời gian qua tập trung chủ yếu theo hướng tuyển chọn cây ưu tú của các giống đang trồng trong sản xuất, tuyển chọn từ nguồn qũy gen trong tự nhiên và khảo nghiệm các giống nhập nội Các tài liệu đã công bố, tập trung khá nhiều vào kết quả điều tra, đánh giá tuyển chọn các dòng, giống bưởi địa phương, trong đó tập trung chủ yếu vào các giống bưởi nổi tiếng của Việt Nam như: bưởi Năm Roi, bưởi Thanh Trà, bưởi Phúc Trạch, bưởi Da Xanh, bưởi Đường Lá Cam (Vũ Công Hậu, 1996; Trịnh Xuân Vũ, 1996; Trần Thế Tục, 1995; Đào Thanh Vân, 1997; Phạm Ngọc Liễu và Nguyễn Ngọc Thi, 1999; Trần Thị Oanh Yến, 2006) [10], [28], [18], [27], [14], [29] Riêng viện Nghiên cứu rau quả Hà Nội, thời gian vừa qua đã chọn được 30 dòng bưởi Phúc Trạch, 20 dòng bưởi Diễn, 25 cây đầu dòng bưởi Đoan Hùng, 12 cây đầu dòng cam Sành, và 5 cây đầu dòng cam Xã Đoài từ các nghiên cứu và các hội thi bình
Trang 39tuyển (Trích theo TS Ngô Hồng Bình, Dự án “Hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh cam Xã Đoài ở các tỉnh phía Bắc”)
Trong qúa trình điều tra đánh giá, tuyển chọn cây đầu dòng giống cam quýt tại Hàm Yên, Tuyên Quang năm 1988 – 1999, Nguyễn Duy Lam, Lương Thị Kim Oanh,
Lê Hồng Sơn đã kết luận: “trong các loại cam Sành, quýt Đỏ, quýt Vàng, quýt Chum, quýt Sen thì cam Sành có khối lượng quả cao nhất, vỏ dày, thô, múi tinh dầu to, tỷ lệ ăn được thấp hơn các giống khác” Các tác giả đã tuyển chọn được 8 cây cam Sành, 6 cây quýt các loại ở lứa tuổi từ 7 – 15 tuổi sau trồng có một số đặc điểm tốt về hình thái, năng suất và phẩm chất, đủ tiêu chuẩn làm cây đầu dòng để tiếp tục nghiên cứu đánh giá, làm cơ sở cho việc nhân và sản xuất giống phục vụ sản xuất
Trần Thế Tục, Hoàng Ngọc Thuận, Trịnh Duy Tiến (2001) đã tuyển chọn được 16 cây đầu dòng thuộc các giống cam Sành, quýt Đỏ, quýt vỏ Vàng và quýt Chum ở lứa tuổi 8 năm và trên 30 năm sau trồng
Thông qua phương pháp chọn lọc từ các đột biến tự nhiên, Trần Thị Oanh Yến, Nguyễn Ngọc Thi và cs (2006) đã tuyển chọn được 3 dòng cam Mật không hạt: CMKH – 01, CMKH – 02, CMKH – 03 Hiện các dòng này đang được trồng khảo nghiệm, đánh giá tính ổn định, năng suất và chất lượng tại các tỉnh phía Nam [30]
1.8 Tình hình nghiên cứu cây ăn quả có múi tại Hàm Yên
Hàm Yên là huyện miền núi phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang, có điều kiện về đất đai, khí hậu phù hợp cho cây ăn quả sinh trưởng phát triển như: Mơ, mận, hồng, sấu, vải, nhãn đặc biệt là cam quýt Trong những năm qua nhiều đề tài đã tiến hành điều tra tuyển chọn, nhân giống và áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng cây ăn quả, đặc biệt là cây cam quýt như;
- Năm 2002 Dự án đầu tư nhân giống cam quýt sạch bệnh và triển khai mô hình trình diễn cho các huyện Bắc Quang, Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
- Năm 2008 Dự án quy hoạch phát triển vùng cam 9 xã huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2007 – 2010 và tầm nhìn đến năm 2015
- Năm 2008 triển khai Dự án trồng khảo nghiệm các giống cam mới: Valencia, cam Xã Đoài, quýt Phủ Quỳ, cam Sành Hàm Yên làm đối chứng
Trang 40- Năm 2014 triển khai Đề án phát triển vùng sản xuất cam Sành tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2014 - 2020
Tóm lại: Cam quýt với sự đa dạng về chủng loại, giống là một trong những
cây ăn quả quan trọng có giá trị dinh dưỡng và kinh tế ở Việt Nam Diện tích và sản lượng cam quýt không ngừng tăng trong những năm trở lại đây, mặc dù có một số hạn chế về sinh thái, cam quýt vẫn được quan tâm phát triển ở Việt Nam nói chung
và tỉnh Tuyên Quang nói riêng
Những năm qua ở nước ta Việt Nam và trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển cây ăn quả có múi, bao gồm các lĩnh vực thu thập bảo tồn, đánh giá và khai thác sử dụng nguồn gen, cải tiến giống (phục tráng và chọn tạo), nhân giống và các biện pháp kỹ thuật thâm canh, phòng trừ sâu bệnh hại cũng như xử lý và bảo quản sau thu hoạch Mặc dù đã có nhiều kết quả đáng kích lệ nhưng cho đến nay, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung trên cây bưởi, cây quýt chưa có nhiều nghiên cứu hệ thống cho cây cam, đặc biệt là việc nghiên cứu các giống cam không mới và cam Sành Hàm Yên Do vậy việc nghiên cứu đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển của một số giống cam mới và việc áp dụng một số biện pháp khoa học kỹ thuật nhằm giảm số hạt/quả, nâng cao năng suất chất lượng cam Sành tại huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang là những vấn đề chính trong
đề tài nghiên cứu của chúng tôi
1.9 Xuất xứ, đặc điểm một số giống cam quýt không hạt
1.9.1 Cam Sành không hạt LĐ6
- Giống cam Sành không hạt LĐ6, được Viện Cây ăn quả miền Nam chọn tạo nhằm mục đích làm giảm số lượng hạt/quả, gia tăng giá trị của quả cam Sành trên thị trường đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong và ngoài nước
- Cam Sành không hạt LĐ6 có nguồn gốc từ dòng cam Sành (CS8) có số lượng 10 - 23 hạt/quả được xử lý chiếu xạ tia gamma trên mầm ngủ của giống cam Sành thương phẩm Giống cam này đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận cho sản xuất tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam bộ từ tháng 12 năm 2010 Hiện giống cam Sành không hạt đang được Viện Cây ăn quả miền Nam nhân giống đưa vào sản xuất.[52]