Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM –––––––––––––––––––––––
TRẦN THẾ PHƯƠNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO
HỘ NÔNG DÂN NGHÈO HUYỆN GIA BÌNH
TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THẾ PHƯƠNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO
HỘ NÔNG DÂN NGHÈO HUYỆN GIA BÌNH
TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số ngành: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS.NGUYỄN THỊ YẾN
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và hoàn toàn chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trần Thế Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời trân
trọng cảm ơn đến cô giáo TS Nguyễn Thị Yến - Người trực tiếp hướng dẫn và giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thày giáo, cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, các Thầy Cô phòng Đào tạo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn các các hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin trân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu đề tài
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Thế Phương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số khái niệm liên quan 3
1.1.1 Khái niệm về hộ 3
1.1.2 Khái niệm hộ nông dân 4
1.1.3 Đặc điểm của nông hộ 5
1.1.4 Khái niệm kinh tế nông hộ 6
1.2 Thu nhập của hộ nông dân 8
1.2.1 Khái niệm về thu nhập của hộ nông dân 15
1.2.2 Phân loại thu nhập hộ nông dân 16
1.2.3.Vai trò của thu nhập 17
1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng thu nhập của hộ nông dân 17
1.3 Nghèo đói 8
1.3.1 Khái niệm về nghèo đói 8
1.3.2 Các lý thuyết liên quan đến nghèo đói 10
1.3.3 Nguyên nhân của nghèo đói 14
1.4 Cơ sở thực tiễn về nâng cao thu nhập cho hộ nghèo của một số địa phương của Việt Nam……… 19
1.4.1 Vấn đề đói nghèo ở Việt Nam 19
1.4.2 Kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân tại một số địa phương 25
1.4.3 Bài học kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh 28
1.5 Một số nghiên cứu liên quan về thu nhập của nông hộ tại Việt Nam 29
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
Trang 62.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 31
2.2 Nội dung nghiên cứu 31
2.3 Phương pháp tiếp cận 31
2.4 Phương pháp nghiên cứu 32
2.4.1 Chọn điểm và mẫu nghiên cứu 32
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 33
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu 34
2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 35
Chương 3 THỰC TRẠNG THU NHẬP HỘ NÔNG DÂN NGHÈO HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH 37
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh 37
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của huyện Gia Bình 37
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Gia Bình 39
3.1.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến thu nhập của hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh 45
3.2 Thực trạng về thu nhập của hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh 46
3.2.1 Văn bản quy phạm pháp luật về giảm nghèo và kết quả thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về giảm nghèo của huyện Gia Bình 46
3.2.2 Khái quát về hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh 49
3.2.3.Thực trạng về thu nhập của hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh 57
3.3 Đánh giá chung thực trạng thu nhập của các hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình 76
3.3.1 Kết quả đạt được 76
3.3.2 Hạn chế 76
3.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 77
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình 78
3.4.1 Yếu tố chủ quan 78
3.4.2 Yếu tố khách quan 79
Trang 73.5 Quan điểm, mục tiêu nâng cao thu nhập hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh
Bắc Ninh 81
3.5.1 Quan điểm về giảm nghèo của huyện Gia Bình 82
3.5.2 Quan điểm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình 83 3.5.3 Mục tiêu nâng cao thu nhập hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình 84
3.6 Giải pháp nhằm nâng cao thu nhập hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh 84
3.6.1 Tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng của hộ nông dân nghèo 84
3.6.2 Tăng cường bồi dưỡng đội ngũ khuyến nông cơ sở và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất 91
3.6.3 Đổi mới nhận thức và nâng cao trình độ cho lao động tại các hộ nghèo 88 3.6.4 Đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế chủ yếu trong nông thôn 92
3.6.5 Giải pháp về đất đai đối với các hộ nông dân nghèo 90
3.6.6 Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và thúc đẩy phát triển ngành nghề phi nông nghiệp 86
3.6.7 Tạo điều kiện cho các hộ nông dân nghèo tiếp cận với sản xuất hàng hóa 88
3.6.8 Giải pháp về quy mô hộ 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
1 Kết luận 95
2 Khuyến nghị 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
13 GTCCSX Giá trị cơ cấu sản xuất
21 NN - BBDV Nông nghiệp – Buôn bán dịch vụ
22 NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, 30 năm qua nông nghiệp và nông thôn liên tục giành được những thành tựu to lớn và toàn diện, tất cả các lĩnh vực sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản đều có bước phát triển rất mạnh mẽ Sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn đã góp phần quan trọng vào thành công của công cuộc xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nông dân, làm cơ
sở ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trong nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, nổi bật là những thành tựu trong việc giải quyết vấn đề an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, xuất khẩu nông sản với một số mặt hàng có vị thế cao trên thế giới Trong những thành tựu to lớn về nông nghiệp, nông thôn có sự đóng góp không nhỏ của các hộ nông dân Mặc dù được hỗ trợ nhiều trong sản xuất nông nghiệp nhưng thu nhập và đời sống của nhiều hộ nông dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ
hộ nông dân nghèo vẫn còn lớn Trong giai đoạn phát triển mới, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng vấn đề “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, coi đó là vấn đề không thể tách rời trong chiến lược phát triển của đất nước Do đó vấn đề nâng cao thu nhập
và đời sống cho hộ nông dân, đặc biệt là hộ nông dân nghèo là hết sức cần thiết
Gia Bình là huyện thuần nông nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc Ninh So với các huyện khác thì Gia Bình là huyện có điều kiện và mức độ phát triển thấp nhất trong tỉnh Trong những năm gần đây, cùng với nhịp độ phát triển chung của cả tỉnh, kinh tế huyện Gia Bình đã có bước tăng trưởng khá ổn định và vững chắc; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 là 10,56%.Năm 2015 cơ cấu nông lâm nghiệp của huyện là 32,1% với giá trị sản xuất đạt 387,5 tỷ đồng Vấn đề “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, và công tác xóa đói giảm nghèo luôn được huyện coi trọng, quan tâm thực hiện và đạt được nhiều thành tựu quan trọng Giai đoạn 2014 - 2016, tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm dần từng năm theo hướng bền vững, từ 8,44% năm 2014 xuống còn 3,84% năm 2016 [38, 39]
Hiện tại huyện Gia Bình có 14.360 hộ nông dân sản xuất nông nghiệp (chiếm 17,81% hộ nông dân toàn tỉnh), trong đó số hộ nông dân thuộc diện hộ nghèo chiếm 8,76% (tương ứng với 1.258 hộ) Nhận thức được tầm quan trọng của sản xuất nông
Trang 11nghiệp cũng như vai trò của hộ nông dân đối với sự phát triển kinh tế của huyện, thời gian qua Gia Bình đã thực hiện nhiều chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến khích các hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp nói riêng, nâng cao thu nhập nói chung Các chính sách như hỗ trợ vay vốn ưu đãi phục vụ sản xuất, hỗ trợ về con giống, phân bón, hỗ trợ cán bộ kỹ thuật, hộ trợ phát triển ngành nghề nông thôn…nhằm đa dạng hóa thu nhập cho hộ nông dân nghèo Tuy nhiên, thu nhập của các hộ nông dân nghèo của huyện Gia Bình thời gian qua vẫn còn thấp, chưa đa dạng và thiếu ổn định [38, 39, 40]
Vậy, các chính sách hỗ trợ hộ nông dân nghèo của huyện thời gian qua được thực hiện như thế nào? Thực trạng thu nhập và đời sống của hộ nông dân nghèo của huyện ra sao? Cần có những giải pháp gì nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân nghèo của huyện thời gian tới? Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó tác giả đã lựa chọn đề
tài: “Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh
Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sỹ
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng về thu nhập của hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh
- Xác định các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới thu nhập của các hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình
- Nghiên cứu các quan điểm, định hướng kết hợp với thực trạng từ đó đề xuất các giải pháp, gợi ý một số chính sách nhằm nâng cao thu nhập hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh
3 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài có ý nghĩa cả trong lý luận và thực tiễn:
- Về lý luận: Đề tài góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lý luận thực tiễn về hộ
nông dân, thu nhập và tình trạng nghèo của hộ nông dân
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là một tài liệu quan trọng góp phần
gợi ý chính sách cho huyện Gia Bình nói riêng, tỉnh Bắc Ninh nói chung trong việc nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo, đặc biệt là hộ nông dân nghèo trên địa bàn Ngoài ra đề tài cũng là một tài liệu tham khảo phục vụ học tập, nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm liên quan về hộ nông dân
1.1.1 Khái niệm về hộ
Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển Trải qua mỗi thời
kỳ khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau son
vẫn có bản chất chung đó là “Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên
trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội” Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan niệm
của các nhà khoa học về hộ:
Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “Hộ là tất cả những
người cùng sống chung trong một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công”
Theo Liên hợp quốc “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà,
cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”
Theo như giáo trình kinh tế phát triển nông thôn có trích dẫn thì tác giả Martin (1988) có định nghĩa, “Hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”
Theo Harris, ở viện nghiên cứu phát triển trường Đại học tổng hợp Susex (Luân Đôn - Anh) cho rằng: “Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động” Theo như giáo trình kinh tế phát triển nông thôn có trích dẫn thì tác giả Raul Iturna của trường đại học tổng hợp Liôbon khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một
số nước châu Á đã chứng minh “Hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc
có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân hộ và cộng đồng” [44]
Những quan điểm trên mới chủ yếu nêu lên những khía cạnh về khái niệm hộ tiêu biểu nhất, mạnh khía cạnh này hoặc khía cạnh khác hoặc tổng hợp khái quát chung nhưng vẫn còn có chỗ chưa đồng nhất Tuy nhiên, từ các quan niệm trên cho thấy hộ được hiểu như sau:
- Trước hết, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có
Trang 13chung huyết thống, tuy vậy cũng có cá biệt trường hợp thành viên của hộ không phải cùng chung huyết thống (con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài )
- Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động và phân công lao động chung; có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình Hộ không phải là một thành phần kinh tế đồng nhất,
mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế các thể, tư nhận, tập thể, Nhà nước,
- Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống bởi vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế (ví dụ gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại độc lập với nhau )
1.1.2 Khái niệm hộ nông dân
Theo tác giả Frank Ellis định nghĩa “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao” [43]
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo nhà khoa
học Đào Thế Tuấn (2000) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động
nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” [35]
Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn
năm 2001 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động
thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp” [14]
Những nghiên cứu trên cho thấy:
- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động
Trang 14nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia hoạt động phi nông nghiệp (tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, buôn bán…) ở các mức độ khác nhau
- Hộ nông dân là một đơn vị kính tế cơ sở (Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 05/04/1988 của Bộ Chính trị ra đời đã khẳng định hộ nông dân là một đơn vị kinh tế
cơ sở) và là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Do vậy hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thị trường xã hội càng mở rộng đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ một vùng, một nước
Khái niệm nông hộ gần đây được định nghĩa như sau: “Nông hộ là các hộ nông dân thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình
độ hoàn chỉnh không cao” [43]
1.1.3 Đặc điểm của nông hộ
Nông hộ là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn
vị tiêu dùng
- Trình độ phát triển của hộ quyết định quan hệ giữa nông hộ và thị trường
- Ngoài hoạt động nông nghiệp, nông hộ còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp ở các mức độ khác nhau:
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ rất khác nhau
Lý thuyết về doanh nghiệp gia đình nông dân, coi hộ nông dân là một doanh nghiệp không dùng lao động làm thuê, chỉ sử dụng lao động gia đình Do đó các khái niệm kinh tế thông thường không áp dụng được cho kiểu doanh nghiệp này Do không thuê lao động nên hộ nông dân không có khái niệm tiền lương và tiếp theo là không tính được lợi nhuận, địa tô và lợi tức Hộ nông dân chỉ có thu nhập chung của tất cả các hoạt động kinh tế của gia đình là giá trị sản lượng hàng năm trừ đi chi phí Mục tiêu của hộ nông dân là có thu nhập cao không kể thu nhập ấy do nguồn gốc nào, trồng
Trang 15trọt, chăn nuôi, ngành nghề, đó là kết quả chung của lao động gia đình
Khái niệm gốc để phân tích kinh tế gia đình là sự cân bằng lao động - tiêu dùng giữa sự thoả mãn các nhu cầu của gia đình và sự nặng nhọc của lao động Giá trị sản lượng chung của hộ gia đình trừ đi chi phí sẽ là giá trị sản lượng thuần mà gia đình sử dụng cho tiêu dùng, đầu tư tái sản xuất và tích luỹ Người nông dần không tính giá trị tiền công lao động đã sử dụng, mà chỉ lấy mục tiêu là có thu nhập thuần cao Bởi vậy, muốn có thu nhập cao hơn thì các hộ nông dân phải tăng thời gian lao động của gia đình Số lượng lao động bỏ ra gọi là trình độ tự bóc lột của lao động gia đình Mỗi một
hộ nông dân cố gắng đạt được một thu nhập thoả mãn nhu cầu thiết yếu bằng cách tạo một sự cân bằng giữa mức độ thoả mãn nhu cầu của gia đình với mức độ nặng nhọc của lao động Sự cân bằng này thay đổi theo thời gian, theo quy luật sinh học do tỷ lệ giữa Người tiêu dùng và Người lao động quyết định Một hộ nông dân sau khi một cặp
vợ chồng cưới nhau và ra ở riêng, đẻ con thì Người tiêu dùng tăng lên, gia đình gặp khó khăn, nhưng dần dần con cái lớn lên số lao động tăng thêm, gia đình trở nên khá hơn Đến lúc con lớn lên thành lập hộ mới thì chu kỳ bắt đầu lại từ đầu Sự cân bằng này phụ thuộc rất nhiều yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội mà tác giả đã nghiên cứu rất
kỹ Chính nhờ quy luật này mà các doanh nghiệp gia đình có sức cạnh tranh mạnh hơn các nông trại tư bản chủ nghĩa vì trong điều kiện mà nông trại lớn phá sản thì hộ nông dân làm việc nhiều giờ hơn, chịu bán sản phẩm rẻ hơn, không tính đến lãi, hạn chế tiêu dùng để qua được các thời kỳ khó khăn
1.1.4 Khái niệm kinh tế nông hộ
Ellis (1988) cho rằng kinh tế nông hộ khác với những người làm kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường ở 3 yếu tố: đất đai, lao động và vốn: Kinh tế nông hộ là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền kinh tế xã hội Các nguồn lực đất đai, tư liệu sản xuất, vốn, lao động được góp chung, chung một ngân sách, ở chung một mái nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống đều do chủ hộ đưa ra.[43]
* Động thái kinh tế hộ nông dân:
Nền kinh tế nông dân vẫn tồn tại như một hình thái sản xuất đặc thù nhờ các đặc điểm:
Trang 16- Khả năng của nông dân thoả mãn nhu cầu của tái sản xuất đơn giản nhờ sự kiểm soát tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất Nhờ giá trị xã hội của nông dân hướng vào quan hệ qua lại hơn là vào việc đạt lợi nhuận cao nhất
- Nhờ việc chuyền giao ruộng đất từ thế hệ này sang thế hệ khác chống lại sự tập trung ruộng đất vào tay một số ít nông dân
- Khả năng của nông dân thắng được áp lực của thị trường bằng cách tăng thời gian lao động vào sản xuất (khả năng tự bóc lột sức lao động)
- Đặc trưng của nông nghiệp không thu hút việc đầu tư vốn do có tính rủi ro cao
và hiệu quả đầu tư thấp
- Khả năng của nông dân kết hợp được hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp để sử dụng hết lao động và tăng thu nhập Tuy vậy, ở tất cả các xã hội nền kinh
tế nông dân phải tìm cách để tồn tại trong các điều kiện rất khó khăn do áp lực của các chế độ hiện hành gây ra
- Việc huy động thặng dư của nông nghiệp để thực hiện các lợi ích của toàn xã hội thông qua địa tô, thuế và sự lệch lạc về giá cả Các tiến bộ kỹ thuật làm giảm giá trị của lao động nông nghiệp thông qua việc làm giảm giá thành và giá cả của sản phẩm nông nghiệp Vì vậy, nông dân chỉ còn có khả năng tái sản xuất đơn giản nếu không có sự hỗ trợ từ bên ngoài
- Mục tiêu sản xuất của hộ quyết định sự lựa chọn sản phẩm kinh doanh, quyết định mức độ đầu tư, phản ứng với giá cả vật tư, lao động và sản phẩm của thị trường
Như vậy, sản xuất của hộ nông dân tiến hoá từ tình trạng tự cấp sang sản xuất hàng hoá ở các mức độ khác nhau Trong quá trình tiến hoá ấy hộ nông dân thay đổi mục tiêu và cách thức kinh doanh cũng như phản ứng với thị trường
Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp theo lý thuyết của Tchayanov có mục tiêu tối đa
hoá lợi ích Lợi ích ở đây là sản phẩm cần để tiêu dùng trong gia đình Người nông dân phải lao động để sản xuất lượng sản phẩm cho đến lúc không đủ sức để sản xuất nữa,
do vậy nông nhàn (thời gian không lao động) cũng được coi như một lợi ích Nhân tố ảnh hưởng nhất đến nhu cầu và khả năng lao động của hộ là cấu trúc dân số của gia đình (Tỷ lệ giữa tay làm và miệng ăn)
Hộ nông dân tự cấp hoạt động như thế nào còn phụ thuộc vào các điều kiện sau:
Trang 17Khả năng mở rộng diện tích (có thể bằng tăng vụ) có hay không:
- Có thị trường lao động không, vì Người nông dân có thể bán sức lao động để
tăng thu nhập nếu có chi phí cơ hội của lao động cao
- Có thị trường vật tư không vì có thể tăng thu nhập bằng cách đầu tư thêm một
ít vật tư (nếu có tiền để mua và có lãi)
- Có thị trường sản phẩm không vì Người nông dân phải bán đi một ít sản phẩm
để mua các vật tư cần thiết hay một số hàng tiêu dùng khác
Trong các điều kiện này người nông dân có phản ứng một ít với thị trường, nhất
là thị trường lao động và thị trường vật tư
Tiến lên một bước nữa, hộ nông dân bắt đầu phản ứng với thị trường, tuy vậy
mục tiêu chủ yếu vẫn là tự cấp Đây là kiểu hộ nông dân “nửa tự cấp” có tiếp xúc với thị trường sản phẩm, thị trường lao động, thị trường vật tư Hộ nông dân thuộc kiểu này vẫn chưa phải một xí nghiệp kiểu tư bản chủ nghĩa hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường Các yếu tố tự cấp vẫn còn lại rất nhiều và vẫn quyết định cách sản xuất của hộ
Vì vậy, trong điều kiện này nông dân có phản ứng với giá cả, với thị trường chưa
nhiều Tuy vậy, thị trường ở nông thôn là những thị trường chưa hoàn chỉnh, đó đây
vẫn có những giới hạn nhất định
Cuối cùng đến kiểu hộ nông dân sản xuất hàng hoá là chủ yếu: Người nông dân
với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của gia đình Kiểu nông dân này phản ứng với thị trường vốn, thị trường ruộng đất, thị trường vật tư, lao động
và thị trường sản phẩm Tuy vậy, giả thiết rằng
Người nông dân là người sản xuất có hiệu quả không được chứng minh trong nhiều công trình nghiên cứu Điều này, có thể giải thích do hộ nông dân thiếu trình độ
kỹ thuật và quản lý, do thiếu thông tin thị trường, do thị trường không hoàn chỉnh Đây
là một vấn đề đang còn tranh luận Vấn đề ở đây phụ thuộc vào trình độ sản xuất hàng hoá, trình độ kinh doanh của nông dân
1.2 Nghèo đói
1.2.1 Khái niệm về nghèo đói
Việt Nam sử dụng khái niệm về nghèo đói theo chủ trương của Ủy ban Kinh tế
xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương (tổ chức ở Thái Lan năm 1993) và được các
Trang 18quốc gia trong khu vực thống nhất Khái niệm này cho rằng: “ Nghèo đói là tình trạng
một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy đã được thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”
Một khái niệm khác nhưng cụ thể hơn về nghèo đói được đưa ra tại hội nghị
thượng đỉnh thế giới tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995: “Người nghèo là tất cả
những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la Mỹ (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”
Theo Ngân hàng Thế giới, nghèo là tình trạng không có khả năng để có mức sống tối thiểu, chúng bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng
Quan niệm đói nghèo của Việt Nam:
Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu thông qua thu nhập Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định Cụ thể, theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/01/2011 “Về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015”1 quy định: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
Tuy nhiên, chuẩn nghèo này của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới Trên thực tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo, do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ
3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo
Chính vì vậy, ngày 15/9/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.” Chuẩn nghèo giai đoạn
1614/QĐ-2016 - 2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo
Trang 19về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở:
(1) Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập Cụ thể: Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị
(2) Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, gồm:
- Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin;
- Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin
Nhìn chung, khái niệm nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng Nghèo đói thường được phản ánh dưới ba khía cạnh:
+ Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu của con người
+ Mức sống thấp dưới mức trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú
+ Không được hưởng cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng
1.2.2 Các lý thuyết liên quan đến nghèo đói
a Mối quan hệ tăng trưởng nông nghiệp và sự nghèo đói ở nông thôn
Rao CHH và Chopra K (1991) tranh luận về mối quan hệ này như sau: Trong quá trình tăng trưởng nông nghiệp, hai phương thức chủ yếu được thực hiện là quảng canh (tăng sản lượng do mở rộng diện tích) và thâm canh (tăng năng suất trên đơn vị diện tích bằng cách tăng cường sử dụng các yếu tố đầu vào do ngành công nghiệp hóa chất sản xuất)
Trang 20Phương thức quảng canh, do bóc lột chất dinh dưỡng tự nhiên trong đất, mở rộng diện tích do phá rừng thì tăng trưởng nông nghiệp có thể đạt trong ngắn hạn, nhưng khi môi trường tự nhiên bị suy thoái, sản lượng và thu nhập sẽ sụt giảm trong khi dân số tăng và hệ quả là thất nghiệp và sự nghèo đói xuất hiện
Phương thức thâm canh, để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng nhanh trong nông nghiệp, tình trạng lạm dụng các hóa chất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng làm suy thoái tài nguyên đất và nước Khi sự suy thoái này xuất hiện thì năng suất
và thu nhập giảm dần, trong khi dân số tăng, nông thôn không thu hút được việc làm
và hệ quả là thất nghiệp và sự nghèo đói xuất hiện
Shepherd A (1998) cho rằng ngay cả việc đảm bảo không suy thoái tài nguyên môi trường bằng kỹ thuật tốt cũng xuất hiện sự nghèo đói, do đặc điểm tự nhiên khác nhau theo vùng và hiệu quả áp dụng tiến bộ kỹ thuật cũng đem lại kết quả khác nhau Giai đoạn đầu áp dụng kỹ thuật mới, do đòi hỏi tăng nhanh đầu tư về giống, phân bón, thuốc sâu, làm đất, thủy nông nội đồng … nên cũng gắn với rủi ro cao, và như vậy chỉ các hộ giàu ở vùng nông thôn mới có khả năng thực hiện và hưởng lợi ích lớn từ việc
đi tiên phong đầu tư các kỹ thuật mới Sau đó, với sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua tài trợ giá đối với các yếu tố sản xuất đầu vào và ưu đãi về tín dụng thì nông dân nghèo mới có điều kiện áp dụng rộng rãi những kỹ thuật đó Tuy nhiên, khi đại bộ phận nông dân có thể áp dụng được mô hình này, sản lượng sẽ tăng nhanh và giá sẽ rớt xuống làm giảm hiệu quả đầu tư của nông dân Nếu quá trình này tiếp tục, họ sẽ bị rơi vào gánh nặng nợ nần, từ bỏ việc đầu tư, trong khi dân số tăng, làm tăng thất nghiệp và tình trạng nghèo đói sẽ trầm trọng
Trong bối cảnh như vậy, những người nông dân sẽ sẵn sàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa tự nhiên của bộ phận dân cư có thu nhập cao bằng cách khai thác nguồn lực tự nhiên (hàng hóa công) như săn bắn, phá rừng để tăng thu nhập Hệ quả là môi trường tự nhiên tiếp tục bị suy thoái, thu nhập người dân giảm, và lại rơi vào vòng lẩn quẩn của nghèo đói
Như vậy, một hệ thống nông nghiệp mà không đảm bảo sinh kế bền vững trên mức nghèo đói cho người dân nông thôn thì không thể nào là hệ thống nông nghiệp bền vững được Hay nói cách khác, mô hình nông nghiệp bền vững là mô hình sử dụng các
Trang 21phương thức sản xuất tiến bộ như ng không làm suy thoái môi trường, mất cân bằng tự
nhiên và vẫn đảm bảo được sinh kế bền vững trên mức nghèo đói cho nông dân Biểu
hiện của nông nghiệp bền vững trên khía cạnh này có thể đo lường bằng các chỉ tiêu: tỷ
lệ hộ nghèo đói, tỷ lệ lao động thất nghiệp ở nông thôn
b Nông nghiệp với phát triển kinh tế
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân Hoạt động này không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội
mà còn gắn liền với các yếu tố tự nhiên Nông nghiệp nếu xét theo đối tượng sản xuất của nó sẽ bao gồm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản
Vẫn còn một bộ phận lớn dân cư sống ở vùng nông thôn với thu nhập chủ yếu
từ nông nghiệp Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp vẫn ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế và công nghiệp chưa đủ sức để lôi kéo hết lao động thặng dư trong nông nghiệp thì nông nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của nhiều nước đang phát triển Nông nghiệp chỉ có thể phát huy được vai trò tích cực đối với quá trình phát triển kinh tế khi được quan tâm đầu tư đúng mức và thoát khỏi sự trì trệ lạc hậu Do đó, phát triển nông nghiệp cũng đặt trong mối quan hệ với phát triển kinh tế
Những năm qua, nông nghiệp là “lá chắn” vững chắc bảo vệ nền kinh tế nước ta trước các tác động bất lợi từ bên ngoài Ngay cả trong những thời điểm đất nước gặp khó khăn nhất, nông nghiệp và kinh tế nông thôn vẫn có mức tăng trưởng đều và là nhân tố tạo sự bình ổn cho kinh tế - xã hội của nước nhà Michael Porter, chuyên gia
về lợi thế cạnh tranh quốc gia của Đại học Harvard, Hoa Kỳ, khi được hỏi điều gì đáng nói nhất về Việt Nam, Ông đã trả lời: Lao động và nông nghiệp
Ruộng đất sử dụng trong nông nghiệp được coi là tư liệu sản xuất đặc biệt, nên việc bảo tồn quỹ đất và nâng cao chất lượng đất là vấn đề tồn tại của nông nghiệp Nông nghiệp có địa bàn sản xuất rộng lớn, nhưng lại mang tính khu vực nên các chính sách kinh tế xã hội cho phát triển nông nghiệp phải thích hợp cho từng khu vực
Lý giải cho tình trạng tụt hậu của nhiều nước đang phát triển, các nhà kinh tế
mô tả “Vòng lẩn quẩn của nghèo đói”
Trang 22Tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập cho dân cư là cơ sở
để thoát khỏi vòng lẩn quẩn này Trong chiến lược phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, nông nghiệp cũng được chọn là một lĩnh vực sản xuất quan trọng để tác động đến tăng trưởng Điều này càng quan trọng hơn đối với những nước có ưu thế
về tiềm năng tự nhiên gắn với nông nghiệp Nông nghiệp tham gia giải quyết những khó khăn của tình trạng kém phát triển ở các nước đang phát triển thông qua vai trò kích thích tăng trưởng và đóng góp của nông nghiệp vào mức tăng trưởng GDP của nền kinh tế
c Lý thuyết về thay đổi và chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp:
Theo Nicolas Kaldor (1957), nguồn gốc tăng trưởng kinh tế không chỉ duy nhất phụ thuộc vào gia tăng vốn sản xuất mà còn tùy thuộc vào sự phát triển tiến bộ kỹ thuật tức trình độ công nghệ
Khác với Kaldor, năm 1976, trong nghiên cứu thực nghiệm, Sung Sang Park cho rằng nguồn gốc của sự tăng trưởng phụ thuộc vào kỹ năng của lực lượng lao động
Kỹ năng này được tích lũy qua quá trình phát triển của con người Vì vậy, theo Park, vốn đầu tư của quốc gia cần được phân bổ cho đầu tư phát triển con người (văn hóa kiến thức, kỹ năng, đời sống vật chất - tinh thần)
Ngoài yếu tố kỹ thuật và con người, Hayami và Ruttan (1971) phát biểu rằng,
Trang 23nông nghiệp do sự phát triển theo thời gian, một vài nguồn lực trở nên khan hiếm và chi phí của chúng nâng cao tương đối so với một số nguồn lực khác Đối với những nước có nguồn lao động dồi dào nhưng khan hiếm về đất nông nghiệp, con đường phát triển nông nghiệp là tìm kiếm những công nghệ nhằm tăng năng suất trên một đơn vị diện tích (sử dụng công nghệ sinh học, phân bón, giống, nước)
Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp sẽ mang lại sự gia tăng năng suất cho cây trồng và các cán bộ khuyến nông là những người giúp bà con nông dân có được những kiến thức đó
1.2.3 Nguyên nhân của nghèo đói
Hiện rất khó để có thể chỉ ra được tất cả những nguyên nhân của nghèo và cũng khó để phân biệt trong những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến nghèo, đâu là nguyên nhân còn đâu là kết quả Tuy nhiên nhìn chung, nghèo ở Việt Nam cũng có những nét riêng biệt được tạo nên từ nhiều nguyên nhân tổng hợp có nguồn gốc từ những khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội và điều kiện lịch sử
Theo báo cáo của diễn đàn miền núi Ford (2004), các yếu tố có thể tác động mạnh đến tình trạng đói nghèo tại các địa phương miền núi, vùng biên giới bao gồm: sống ở khu vực nông thôn, người dân tộc, quy mô hộ gia đình, tỉ lệ phụ thuộc, tình trạng giáo dục, khả năng tiếp cận đường ô tô, giao thông chở khách, tiếp cận được chương trình khuyến nông và hộ sinh sống gần trung tâm chợ xã hoặc liên xã
Theo chương trình Phân tích hiện trạng nghèo đói vùng KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC (2003) do AusAID tài trợ, tình trạng nghèo đói có thể từ những nguyên nhân sau: mất đất đai hay không có đất để canh tác, tình trạng thiếu việc làm, những yếu tố có liên quan tới thành phần dân tộc, chất lượng nguồn nhân lực, cơ hội tiếp cận thị trường, hạ tầng ở nông thôn
Theo Đinh Phi Hổ - Chiv Vann Dy (2008) các yếu tố có thể ảnh hưởng đến nghèo đói bao gồm: Nghề nghiệp, tình trạng việc làm, trình độ học vấn, giới tính của chủ hộ, quy mô hộ và số người sống phụ thuộc, quy mô diện tích đất của hộ gia đình, những hạn chế của người dân tộc thiểu số và khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng
Theo Nguyễn Trọng Hoài (2005) trong nghiên cứu về tình trạng đói nghèo ở các tỉnh Đông Nam Bộ cho thấy các nhóm yếu tố tác động chính đến tình trạng đói
Trang 24nghèo bao gồm: tình trạng việc làm, tình trạng sở hữu đất đai, khả năng tiếp cận các nguồn vốn chính thức, vấn đề dân tộc thiểu số, quy mô hộ và giới tính của chủ hộ
Theo Lilongwe và Zomba (2001), Tình trạng đói nghèo ở Malawi là do: tuổi người đứng đầu gia đình, tỉ lệ người phụ thuộc, quy mô hộ gia đình, tình trạng giáo dục của chủ hộ, việc làm nông nghiệp của chủ hộ, khả năng tiếp cận với các nguồn lực
và điều kiện địa lý mà hộ đang sinh sống
Theo Võ Tất Thắng (2004), tình trạng đói nghèo ở Ninh Thuận chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ 6 yếu tố, đó là: tình trạng việc làm, tình trạng sở hữu đất đai, khả năng tiếp cận nguồn vốn chính thức, vấn đề dân tộc thiểu số, quy mô hộ và giới tính của chủ hộ
Theo Trương Quang Vũ (2007), thì những yếu tố tác động đến nghèo đói tại khu vực ven biển đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2003 – 2004 bao gồm: Giới tính của chủ hộ, lao động không có hoạt động tạo thu nhập, số năm đi học của những người trưởng thành, loại việc làm của chủ hộ, có đường ô tô đến thôn và đất canh tác
Theo Trần Kỳ Việt (2009), tình trạng nghèo đói ở huyện An Phú, tỉnh An Giang là do các nguyên nhân: Giới tính của chủ hộ, thành phần dân tộc, trình độ học vấn, quy mô hộ gia đình, việc làm của chủ hộ, thiếu đất, hạn chế tiếp cận với các nguồn lực chính thức và khả năng phát triển kinh tế biên giới
1.3 Thu nhập của hộ nông dân
1.3.1 Khái niệm về thu nhập của hộ nông dân
Về bản chất, theo nghĩa rộng thu nhập gồm hai bộ phận hợp thành: thù lao cần thiết (tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương ) và phần
có được từ thặng dư sản xuất (hoặc lợi nhuận) Tuy nhiên, ở các cấp độ khác nhau – toàn bộ nền kinh tế, ngành kinh tế, doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân – biểu hiện của thu nhập có những đặc thù riêng biệt Sau đây là một số khái niệm về thu nhập của lao động:
Theo từ điển thuật ngữ kinh tế thị trường thì “Thu nhập cá nhân là tổng số thu nhập đạt được từ các nguồn thu khác nhau của các nhân trong thời gian nhất định, thu nhập cá nhân từ nhiều nguồn khác nhau đều từ thu nhập quốc doanh”.[3]
Theo Robert.Gorden thì “Thu nhập cá nhân là thu nhập mà các hộ gia đình nhận được từ mọi người bao gồm các khoản làm ra và các khoản chuyển nhượng Thu nhập
Trang 25cá nhân khả dụng là thu nhập cá nhân trừ đi các khoản thuế cá nhân”
Thu nhập là việc nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động nào đó hay là các khoản thu nhập được trong một khoảng thời gian nhất định thường tính theo tháng, năm
Thu nhập là phần nông hộ thu được sau quá trình sản xuất, bao gồm nhiều nguồn thu khác nhau
Thu nhập của hộ nông dân cũng được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà
hộ được hưởng đề bù đắp cho thù lao lao động của gia đình, cho tích lũy và tái sản xuất mở rộng nếu có Thu nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh mà hộ thực hiện
1.3.2 Phân loại thu nhập hộ nông dân
- Thu nhập từ sản xuất lâm nghiệp
- Thu nhập từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản
- Từ các hoạt động dịch vụ
- Từ các hoạt động là thuê
- Từ các hoạt động, sản xuất của các ngành nghề phi nông nghiệp
Bên cạnh đó thu nhập của hộ nông dân còn được chia theo 3 loại sau:
* Thu nhập nông nghiệp:
Thu nhập nông nghiệp bao gồm thu nhập từ các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản
* Thu nhập phi nông nghiệp:
Thu nhập phi nông nghiệp là thu nhập được tạo ra từ các hoạt động ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, bao gồm các ngành nghề chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khí….Ngoài ra, thu nhập phi nông nghiệp còn được tạo ra
từ các hoạt động thương mại dịch vụ như buôn bán, thu gom…
* Thu nhập khác:
Là các nguồn thu từ các hoạt động làm thêm, làm thuê, làm công ăn lương; từ các nguồn trợ cấp xã hội hoặc các nguồn thu bất thường khác
Trang 261.3.3.Vai trò của thu nhập
Thứ nhất, thu nhập là nguồn lực để chi tiêu cho mọi nhu cầu cần thiết trong đời
sống hàng ngày của mỗi nông hộ, mỗi người như lương thực thực phẩm, y tế, giáo dục…Đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao đời sống vật chất mỗi hộ
Thứ hai, thu nhập sẽ góp phần nâng cao dân trí của mỗi thành viên trong hộ
Khi có thu nhập cao, thì mỗi thành viên sẽ có điều kiện tiếp cận tới các dịch vụ giáo dục, các dịch vụ thông tin truyền thông
Thứ ba, thu nhập của hộ nông dân sẽ quyết định tới quy mô sản xuất, cũng như
loại hình sản xuất nông nghiệp của mỗi hộ Với những hộ nông dân có thu cập cao, các
hộ sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn các loại hình sản xuất nông nghiệp, cũng như qui mô sản xuất của họ
Thứ tư, thu nhập là thước đo mức sống, khả năng sẵn sàng tiêu dùng của mỗi hộ
nông dân đối với kinh tế thị trường
1.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng thu nhập của hộ nông dân
1.3.4.1 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn sinh kế cho người nông dân bởi lẽ trong bất kì loại hình sản xuất nào thì yếu tố con người luôn là sự quan tâm hàng đầu Con người là trung tâm, là nguồn vốn vô tận để tạo ra của cải vật chất, chính con người quyết định nên hình thức lao động Yếu tố con người trong sản xuất cũng được đánh giá bởi nhiều khía cạnh: độ tuổi, trình độ, số lượng lao động,
Độ tuổi của người lao động cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng lao động cũng như hình thức lao động Đặc biệt lao động ở nông thôn thì cần nguồn lao động trẻ, có sức khỏe tốt bởi vì hầu hết những công việc ở nông thôn thường là những việc làm nặng nhọc Chủ hộ là người trụ cột trong gia đình, quyết định mọi việc trong gia đình vì thế độ tuổi của chủ hộ sẽ có ảnh hưởng đến việc lựa chọn sinh kế của hộ
Trình độ học vấn là một khía cạnh rất quan trọng để đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực Một nguồn nhân lực được xem là có chất lượng cao khi trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, kỹ năng lao động thành thạo Trong đó, trình độ học vấn của người lao động là yếu tố rất đáng quan tâm, nó giúp cho người lao động nắm bắt được những kiến thức mới, nó còn là một công cụ giúp người lao động tiếp cận được những tri thức mới, nâng cao khả năng tư duy sáng tạo của người lao động
Trang 271.3.4.2 Nguồn lực tài chính
Nguồn lực tài chính như là một đòn bẩy góp phần phát huy các nguồn lực khác Nguồn lực tài chính được thể hiện ở chỗ khả năng huy động vốn của hộ, bao gồm tiền dành dụm, tiền vay từ các tổ chức tín dụng, hay vay của bạn bè, bà con,… Thực tế cho thấy, việc thiếu vốn để sản xuất kinh doanh dẫn đến kinh tế hộ chậm cải thiện vì khó
có khả năng tiếp cận và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, làm chậm tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn
Những khó khăn về tài chính làm cho khả năng trỗi dậy của kinh tế nông hộ bị giảm sút, muốn cải thiện được kinh tế nông hộ thì việc tăng đầu tư nhằm mở rộng quy
mô sản xuất, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm là một nhu cầu tất yếu Trong điều kiện như hiện nay, khi mà khả năng tích luỹ của hộ nông dân rất thấp, sự hỗ trợ của Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ ngày càng giảm, thì việc vay vốn để đầu
tư được coi là hành vi quan trọng nhất để thoả mãn về mặt tài chính
1.3.4.3 Nguồn lực vật chất
Nguồn vốn vật chất được phân chia làm 2 loại: Tài sản của cộng đồng và tài sản của hộ Tài sản cộng đồng là các cơ sở vật chất cơ bản phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt như: điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế, công trình thủy lợi, thông tin liên lạc Tài sản của hộ bao gồm cả các tài sản phục vụ sản xuất và các tài sản phục sinh hoạt của hộ như máy móc, thiết bị… Nguồn lực về tài chính có thể hình thành nên nguồn lực vật chất Tuy nhiên nếu nguồn lực vật chất sẵn có sẽ góp phần khuếch đại những nguồn lực khác
1.3.4.4 Nguồn lực tự nhiên
Nguồn lực tự nhiên bao gồm đất đai, nước và các nguồn tài nguyên khác phục
vụ cho sản xuất Đất sản xuất là một trong những nguồn lực vật chất quý giá giúp cho người dân phát triển kinh tế Đất sản xuất bao gồm đất trồng lúa, đất chuyên màu, đất trồng cây ăn trái, đất nuôi trồng thủy sản…
1.3.4.5 Nguồn lực xã hội
Nguồn lực xã hội được thể hiện ở khả năng hỗ trợ của các tổ chức xã hội trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình Nguồn vốn xã hội thường được xem xét trên các khía cạnh như: quan hệ trong gia đình, tập quán và văn hóa địa phương, các luật tục và
Trang 28thiết chế cộng đồng, vai trò của các tổ chức và chính trị xã hội cũng như sự tham của người dân vào các hoạt động tập thể, khả năng tiếp cận và cập nhật thông tin của người dân đối với sản xuất và đời sống
1.4 Cơ sở thực tiễn về nâng cao thu nhập cho hộ nghèo của một số địa phương của Việt Nam
1.4.1 Vấn đề đói nghèo ở Việt Nam
1.4.1.1 Tình hình nghèo đói của Việt Nam
Tại Việt Nam, xóa đói giảm nghèo được Đảng ta đặc biệt quan tâm, không chỉ đối với cộng đồng dân cư ở nông thôn mà còn đối với cộng đồng dân cư đô thị trên mọi miền tổ quốc, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa Với đường lối đổi mới, chủ trương hội nhập và mở cửa để phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh đã giúp tình trạng đói nghèo ở nước ta được giảm bớt Tuy nhiên, những thành quả xóa đói giảm nghèo ở một nước nông nghiệp còn chiếm đa số như nước ta thì đây vẫn là một kết quả chưa bền vững Vì vậy, việc học tập và tham khảo kinh nghiệm thành công trong xóa đói giảm nghèo ở các nước trên thế giới và trong khu vực là cần thiết cho việc nghiên cứu
và vận dụng đối với nước ta.Giảm đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước và cũng là một trong các chỉ tiêu/chỉ số trong Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Việt Nam Trong thời gian qua, hệ thống chính sách giảm đói, giảm nghèo ngày càng được hoàn thiện và hiệu quả hơn
Người nghèo đã tiếp cận thuận tiện hơn các trợ giúp của nhà nước; cơ sở hạ tầng nông thôn được tăng cường trên cơ sở triển khai thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới; tỷ lệ hộ nghèo của cả nước và các huyện nghèo giảm nhanh, đời sống của người nghèo được từng bước cải thiện, an sinh xã hội, trật tự an toàn xã hội được giữ vững
Ngày 22/08/2016, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ký Quyết định số 1095/QĐ-LĐTBXH phê duyệt kết quả tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2015 theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 Điều tra được thực hiện tại 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của cả nước, phân chia theo 8 vùng là: Miền núi Đông Bắc; miền núi Tây Bắc; đồng bằng sông Hồng; Bắc Trung bộ; Duyên hải miền Trung; Tây Nguyên; Đông Nam bộ; đồng bằng sông Cửu Long
Trang 29* Về tỷ lệ hộ nghèo:
Theo kết quả điều tra, theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020, tổng số
hộ nghèo trên toàn quốc là 2.338.569 hộ (chiếm 9,88%), hộ cận nghèo là 1.235.784 hộ (chiếm 5,22%).[2]
Trong đó, tổng số hộ nghèo trên địa bàn 64 huyện nghèo (62 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ và hai huyện nghèo theo Quyết định số
1791 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ) là 371.990 hộ chiếm tỷ lệ 50,43%, số hộ cận nghèo là 94.611 hộ chiếm tỷ lệ 12,83 %
Như vậy, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều đã tăng từ dưới 5% năm 2015 lên gần 10% năm 2016 do chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 tiếp cận dựa trên việc đo lường thu nhập nhưng chuẩn nghèo mới trong giai đoạn 2016-2020 nâng tiêu chí về thu nhập và đo lường thêm các mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản như: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin
Kết quả điều tra cũng cho thấy, khu vực miền núi Tây Bắc có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước với 34,52%, tiếp theo là miền núi Đông Bắc (20,74%) và Tây Nguyên (17,14%) Đông Nam Bộ có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất cả nước với 1,23%, tỷ lệ hộ nghèo của đồng bằng sông Hồng cũng chỉ 4,76%
Những tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước là: Điện Biên (48,14%), Hà Giang (43,65%), Cao Bằng (42,53%)
Thanh Hóa là tỉnh có số hộ nghèo nhiều nhất cả nước với 128.893 hộ, tiếp theo là Nghệ An là 95.205 hộ), Sơn La là 92.754 hộ
Trong khi đó, Bình Dương là địa phương duy nhất không có hộ nghèo và cận nghèo theo chuẩn nghèo mới, TP Hồ Chí Minh cũng có tỷ lệ hộ nghèo (0,02%) và cận nghèo (0,2%) rất thấp
Ngoài ra, có một số địa phương có tỷ lệ hộ nghèo thấp, như: Đồng Nai là 0,91%,
Bà Rịa - Vũng Tàu là 1,91%, Tây Ninh là 2,1%, Hà Nội là 2,97%
* Về tỷ lệ hộ cận nghèo: Kết quả điều tra cho thấy, trên toàn quốc năm 2012 có
1.235.784 hộ cận nghèo, chiếm 5,22% Tỷ lệ hộ cận nghèo phân theo vùng: vùng có tỷ
lệ hộ cận nghèo cao nhất là miền núi Tây Bắc 9,87%; vùng có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất
là Đông Nam bộ 0,92% Các vùng còn lại xếp theo thứ tự tỷ lệ hộ cận nghèo giảm dần
Trang 30là: Bắc Trung bộ 9,32%; Miền núi Đông Bắc 8,53%; Duyên hải miền Trung 7,34%; Đồng bằng Sông Cửu Long 4,82% và đồng bằng Sông Hồng 3,36%.[2]
Đối với các huyện nghèo của cả nước: Theo kết quả điều tra, tổng số hộ nghèo là 371.990 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ bình quân 50,43% Trong đó, hai huyện Trạm Tấu và
Mù Cang Chải của tỉnh Yên Bái có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất, lần lượt chiếm 75,10% và 75,13% Huyện Thường Xuân, Thanh Hóa có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất, với 22,18%,… Kết quả điều tra hộ nghèo, cận nghèo sẽ là cơ sở để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và các chính sách kinh tế - xã hội khác của các năm tiếp theo Đồng thời, trên cơ sở phân tích hệ thống cơ sở dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo, đánh giá chi tiết
về mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản ở các địa phương
1.4.1.2 Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở Việt Nam
Có thể nói có rất nhiều những nguyên nhân gây ra đói nghèo cho đồng bào, ở đây tôi chỉ xin đưa ra một số nhóm những nguyên nhân cơ bản nhất:
* Nguồn lực hạn chế
Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn lực Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của họ Ngược lại, nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói
Các hộ nghèo có rất ít đất đai và tình trạng không có đất đang có xu hướng tăng lên Thiếu đất đai ảnh hưởng tới việc đảm bảo an ninh lương thực của người nghèo, cũng như khả năng đa dạng hoá sản xuất, để hướng tới sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao hơn Đa số người nghèo lựa chọn phương án sản xuất tự cung, tự cấp là chính Họ vẫn sử dụng những phương thức sản xuất truyền thống, sử dụng những phương thức này dẫn đến giá trị sản phẩm không cao, năng suất các loại cây trồng, vật nuôi thấp nên thiếu tính cạnh tranh trên thị trường và vì vậy đưa họ vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói
Bên cạnh đó, đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư Nhiều những yếu tố đầu vào sản xuất như giống, phân bón, đã làm tăng chi phí, giảm nhu nhập tính trên đơn vị sản phẩm sản xuất ra
Trang 31Người nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng Sự hạn chế của nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ mới Mặc dù trong chương trình xoá đói giảm nghèo Quốc gia, khả năng tiếp cận tín dụng đã được tăng lên rất nhiều, song vẫn còn khá nhiều người nghèo không có khả năng tiếp cận tín dụng Một mặt họ không có tài sản để thế chấp, mặt khác họ không có kế hoạch sản xuất cụ thể, hoặc sử dụng đồng vốn không đúng mục đích, do vậy họ khó có điều kiện tiếp cận nguồn vốn và cuối cùng càng làm cho họ nghèo hơn
* Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định
Người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do đó không có điều kiện để nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát khỏi đói nghèo Bên cạch đó, trình độ học vấn thấp có ảnh hưởng tới các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái đến không những thế hệ hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai
Trình độ học vấn hạn chế cũng ảnh hưởng tới khả năng tìm kiếm việc làm trong những khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao hơn và ổn định hơn
* Người nghèo ít có cơ hội tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp
Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng đặc biệt thường có trình độ học vấn thấp nên không có khả năng tự giải quyết các vấn đề vướng mắc có liên quan tới pháp luật Nhiều văn bản pháp luật có cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo khó nắm bắt Mạng lưới các dịch vụ pháp lý, số lượng các luật gia, luật sư hạn chế, phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở các thành phố, thị xã chi phí dịch vụ pháp lý còn cao
* Các nguyên nhân về nhân khẩu học
Quy mô gia đình là “mẫu số” quan trọng có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao Đông con, ít lao động là
Trang 32một trong những đặc điểm của các gia đình nghèo Quy mô gia đình lớn, tỷ lệ người ăn theo cao
Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng Nguồn thu nhập của
họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống như (thiên tai, mất mùa, mất việc làm, mất sức khoẻ, tai nạn ) Với khả năng kinh tế mong manh của các hộ gia đình trong nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc sống của gia đình họ
và gây ra tình trạng nghèo đói cho hộ
Các rủi ro trong sản xuất kinh doanh cũng rất cao đối với người nghèo, do họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn Khả năng đối phó và khắc phục rủi ro của người nghèo cũng rất kém do nguồn thu nhập hạn hẹp làm cho hộ gia đình mất khả năng phục hồi rủi ro và có thể còn gặp rủi ro hơn nữa
Bệnh tật và sức khoẻ yếu cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng nghèo đói trầm trọng
Vấn đề bệnh tật và sức khoẻ kém ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập và chi tiêu của người nghèo, làm họ rơi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo Họ phải gánh chịu hai gánh nặng: Một là mất đi thu nhập từ lao động, hai là gánh chịu chi phí khám chữa bệnh, kể cả chi phí trực tiếp và gián tiếp
Những tác động của chính sách vĩ mô và chính sách cải cách (tự do hoá thương mại, cải cách doanh nghiệp nhà nước) đến nghèo đói
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới mức giảm nghèo Việt Nam đã đạt được những thành tích giảm nghèo rất đa dạng và trên diện rộng Tuy nhiên quá trình phát triển và mở cửa nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực đến người nghèo
- Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý: Tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp, chủ yếu mới tập trung cho thuỷ lợi, các trục công nghiệp chính, chú trọng nhiều vào đầu tư thay thế nhập khẩu, chưa chú trọng đầu tư cho những ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động
Trang 33- Cải cách các doanh nghiệp Nhà nước và các khó khăn về tài chính của các doanh nghiệp Nhà nước đã dẫn đến việc mất đi nhiều việc làm trong giai đoạn đầu cải cách Nhiều công nhân mất việc làm đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm việc làm mới và bị rơi vào nghèo đói Phần lớn số người này là phụ nữ, người có trình độ thấp
và người lớn tuổi
- Chính sách cải cách kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tự do hóa thương mại đã tạo ra những động lực tốt cho nền kinh tế, khuyến khích các doanh nghiệp phát triển Tuy nhiên một số ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động chưa được chú trọng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng tạo việc làm chưa được quan tâm và tạo cơ hội phát triển Tình trạng thiếu thông tin, trang thiết bị sản xuất, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp dẫn đến nhiều doanh nghiệp bị phá sản và đẩy công nhân vào thất nghiệp và dẫn đến nghèo đói
- Tăng trưởng kinh tế giúp xoá đói giảm nghèo trên diện rộng, song việc cải thiện tình trạng của người nghèo (về thu nhập, khả năng tiếp cận, phát triển các nguồn lực) lại phụ thuộc vào loại hình tăng trưởng kinh tế Việc phân phối lợi ích tăng trưởng giữa các tầng lớp dân cư không bình đẳng, điều này dẫn đến khoảng cách giàu nghèo trong xã hội ngày càng tăng lên
- Kết cấu hạ tầng giao thông đến các vùng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo vừa thiếu vừa yếu Việc tiếp cận các vùng này còn hết sức khó khăn Vốn đầu tư của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, đóng góp nguồn lực của toàn dân còn hạn chế, chủ yếu bằng lao động
Trên đây là một số những nguyên nhân và ảnh hưởng tới tình hình nghèo đói trong dân cư Tuy nhiên, đối với những địa phương khác nhau thì có thể có những nguyên nhân khác nhau Ngay trong bản thân các hộ nông dân cũng có thể có một hay một số những nguyên nhân tác động gây ra tình trạng nghèo đói, có những nguyên nhân chủ quan những cũng có những nguyên nhân khách quan Điều mấu chốt trong nghiên cứu đói nghèo là phải tìm ra được những nguyên nhân tác động tới hộ cũng như đâu là nguyên nhân cơ bản nhất?
1.4.1.3 Những giải pháp trong chiến lược xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
Để xây dựng được những giải pháp xoá đói giảm nghèo của một vùng, một quốc gia phải được dựa trên điều kiện thực tế của địa phương Trong chiến lược toàn diện
về tăng trưởng xoá đói giảm nghèo của Việt Nam Dựa vào những bài học kinh nghiệm trong quãng thời gian thực hiện xoá đói giảm nghèo vừa qua với những thành
Trang 34công đã đạt được Việt Nam đã đúc kết lại một số giải pháp mang tính chất chính sách
và định hướng để xoá đói giảm nghèo sau:
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, đường, trường, trạm cho các
xã nghèo và các xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, xã vùng cao Đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng là một giải pháp mang tính chiến lược để XĐGN, thu hẹp khoảng cách giữa vùng phát triển và vùng chậm phát triển Việt Nam thực hiện thành công giải pháp này thông qua các chương trình như 134, 135, 156
Hoàn thiện hệ thống các chính sách xoá đói giảm nghèo
Để công tác xoá đói giảm nghèo được thành công mang tính bền vững, đòi hỏi Nhà nước và các cơ quan quản lý cần xây dựng một hệ thống chính sách đồng bộ từ Trung ương đến địa phương
Xây dựng đào tạo đội ngũ cán bộ xóa đói giảm nghèo đầy đủ về năng lức và phẩm chất
Bố trí thời vụ cây trồng vật nuôi hợp lý với điều kiện thời tiết khí hậu cụ thể của vùng
Thực hiện tốt chính sách cho vay vốn ưu đãi đối với hộ nghèo, nâng cao hiệu quả
Thực hiện tốt các chính sách xã hội khác như y tế, giáo dục, an ninh
1.4.2 Kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân tại một số địa phương
1.4.2.1 Kinh nghiệm của huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
Xóa đói, giảm nghèo, tăng thu nhập cho người dân là vấn đề then chốt, là một trong những tiêu chí cơ bản, cốt lõi, tạo sự chuyển biến rõ nét của nông thôn mới Sau
4 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, bằng sự vào cuộc tích cực của các cấp, ngành, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, tỷ lệ hộ
Trang 35nghèo của huyện Kiến Xương đã giảm đáng kể, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi thay tích cực, đời sống của người dân được nâng cao Năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện
là 11,1% thì đến năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 4,36%
Từ đẩy mạnh tuyên truyền, vận động
Ðể thực hiện tiêu chí hộ nghèo, huyện Kiến Xương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt nhiều chủ trương, biện pháp để giảm nghèo nhanh, bền vững Trước hết tập trung thực hiện tốt các chính sách, chương trình, dự án của Ðảng, Nhà nước đối với hộ nghèo; xây dựng và ban hành các kế hoạch, đề án, nghị quyết chuyên đề để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo Trong Nghị quyết đại hội Ðảng bộ huyện đặt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo ít nhất 1% mỗi năm Theo đó, các cơ quan, ban ngành, hội, đoàn thể trong huyện đã cụ thể hóa bằng những việc làm thiết thực Hội Nông dân huyện tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên về giảm nghèo bền vững, xây dựng NTM, đẩy mạnh hội viên đăng ký tham gia phong trào
“Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi”
Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện tổ chức các phong trào “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế”; Hội Cựu chiến binh giúp cho các hộ cựu chiến binh vay vốn, góp phần giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động của các gia đình hội viên Mỗi năm, huyện tổ chức tập huấn cho hàng nghìn lượt cán bộ làm công tác giảm nghèo cơ sở về phổ biến chủ trương, chính sách giảm nghèo, đồng thời xây dựng và giới thiệu các mô hình xóa đói giảm nghèo có hiệu quả, bền vững; phổ biến những kinh nghiệm hay trong công tác xóa đói giảm nghèo… Những hoạt động này góp phần không nhỏ giúp các hộ nghèo thay đổi nhận thức, vươn lên thoát nghèo Nhờ vậy, tính đến tháng 8/2014, tỷ lệ hộ nghèo của huyện ước còn 4,59%, giảm 6,51% so với năm 2010
đến cơ chế, chính sách hỗ trợ
Nâng cao thu nhập cho hộ nghèo là biện pháp hữu hiệu nhằm giảm nghèo bền vững Công tác cho vay vốn phát triển sản xuất được đẩy mạnh, từ đầu năm 2014 đến nay, toàn huyện có 1.163 lượt hộ nghèo được vay vốn với tổng dư nợ trên 19 tỷ đồng Hàng nghìn lượt hộ được tham gia các chương trình tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, dự án khuyến nông - khuyến ngư, phát triển sản xuất 100% người nghèo được cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế, học sinh, sinh viên nghèo được miễn giảm học phí
Trang 36Bên cạnh đó, mỗi cơ quan, ban, ngành, đoàn thể trên địa bàn huyện cũng là những địa chỉ đỏ cho người nghèo có cơ hội thoát nghèo Lê Lợi là một trong những địa phương được chọn làm điểm trong thực hiện giảm nghèo của huyện Tỷ lệ hộ nghèo toàn xã hiện còn 4,67%, phấn đấu hết năm 2016 sẽ giảm xuống dưới 3%, đạt tiêu chí hộ nghèo trong xây dựng NTM
Ðể tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm nhanh và bền vững, đáp ứng tiêu chuẩn trong xây dựng NTM, thời gian tới, huyện Kiến Xương sẽ tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về công tác giảm nghèo, tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ
xã, thôn về thực hiện công tác giảm nghèo Tổ chức điều tra, rà soát hộ nghèo bảo đảm khách quan; tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách, chương trình hỗ trợ hộ nghèo như học nghề, giải quyết việc làm, cho vay ưu đãi giúp hộ nghèo phát triển sản xuất Ðặc biệt là biểu dương, khen thưởng đối với cá nhân, tập thể có những đóng góp giúp cho công tác giảm nghèo tại địa phương, tạo chính sách ưu tiên đối với những hộ nghèo có ý chí vươn lên thoát nghèo [45]
1.4.2.2 Kinh nghiệm của huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Công tác giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ được huyện Yên Dũng chú trọng hàng đầu trong những năm qua nhằm cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân Bằng các chương trình hỗ trợ, giải pháp thiết thực cùng sự tập trung nguồn lực cao độ để xóa đói giảm nghèo, diện mạo và chất lượng cuộc sống nhiều của nhân dân trong huyện đã có nhiều “thay da đổi thịt” đáng kể
Để tạo điều kiện tốt nhất và phát huy tính chủ động của người dân, các chính sách dự án hỗ trợ được thực hiện đồng bộ và phủ rộng trên địa bàn huyện Các hộ dân
có hoàn cảnh khó khăn có điều kiện tốt để tiếp cận với nguồn vốn phát triển kinh tế và các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, văn hóa… Chất lượng cũng được cải thiện, nâng cao, bộ mặt nông thôn tiếp tục có nhiều đổi mới Đặc biệt tại các xã còn nhiều khó khăn như Lão Hộ, Tân Liễu đã có sự chuyển biến đáng kể về cơ sở hạ tầng, cơ cấu kinh tế chuyển đổi theo hướng mở rộng với các loại hình sản xuất nhằm tạo thêm việc làm cho lao động tại địa phương
Sau gần 3 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 – 2015, kết quả đạt được trên các lĩnh vực đều vượt kế hoạch đề ra, đến
Trang 37năm 2014 tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm còn 5,35%, giảm gần 4% so với năm 2011,
tỷ lệ hộ cận nghèo giảm còn 8,85%, phấn đấu trong năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm còn 4,75 – 4,5%
Phát huy hiệu quả, thành tựu đạt được, công tác giảm nghèo đã được cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân trong toàn huyện tích cực tham gia thực hiện, khuyến khích, tạo sự chuyển biến về nhận thức tự vươn lên Đa số hộ nghèo, hộ cận nghèo đã cố gắng tự học nghề, kinh nghiệm trong sản xuất để tự vươn lên thoát nghèo Bằng nguồn vốn hỗ trợ cùng sự ủng hộ, góp sức của người thân, hộ nghèo và cận nghèo
đã đầu tư phát triển kinh tế Trong những năm qua, bên cạnh việc trang trải cho cuộc sống bớt khó khăn, hộ nghèo và cận nghèo cũng cũng nhau trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với các hộ nghèo khác để thoát nghèo vươn lên làm giàu”
Theo phòng LĐTBXH huyện Yên Dũng cho biết trong thời gian tới sẽ tập trung cao cho công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức nhằm nâng cao nhận thức của người dân, trách nhiệm của chính quyền để người dân có điều kiện tiếp cận với nhiều nguồn vốn chính sách của ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng, quỹ tín dụng… đồng thời định hướng công tác thoát nghèo tại cơ sở, thực hiện các giải pháp thiết thực phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương hướng đến mục tiêu giảm nghèo tích cực, hiểu quả cao hơn nữa trong tương lai [47]
1.4.3 Bài học kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
Từ thực tế, có thể rút ra một số kinh nghiệm để nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh như sau:
Một là, thường xuyên quản lý, nắm chắc diễn biến hộ nông dân nghèo trên địa
bàn, đặc biệt nắm chắc nguyên nhân dẫn đến nghèo của từng hộ để có các biện pháp
cụ thể, kịp thời, phù hợp với từng nhóm nghèo
Hai là, thực hiện tốt các chính sách tạo điều kiện cho hộ nông dân nghèo ổn
định, phát triển sản xuất, việc làm, tăng thu nhập, nhất là tín dụng ưu đãi cho hộ nghè, dạy nghề, khuyến nông, khuyến công và hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật, kiến thức về tổ chức sản xuất, tổ chức cuộc sống, hỗ trợ ổn định sản xuất
Trang 38Ba là, tăng cường tuyên truyền và hỗ trợ hộ nông dân nghèo tiếp cận các dịch
vụ xã hội, tập trung hoạt động truyền thông giảm nghèo, hỗ trợ người nghèo tiếp cận với các dịch vụ về y tế, giáo dục, nhà ở, an sinh xã hội, trợ giúp người có công và các đối tượng người yếu thế
Bốn là, đa dạng hóa các phương thức huy động các nguồn lực từ nhân dân, tổ
chức, nhà nước và quốc tế; trước hết và chủ yếu là chủ động phát huy nguồn lực tại chỗ Huy động cả hệ thống chính trị và cộng đồng tham gia nâng thu nhập cho hộ nông dân nghèo
Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, định kỳ sơ kết, tổng kết, đề ra
biện pháp phù hợp trong từng giai đoạn
1.5 Một số nghiên cứu liên quan về thu nhập của nông hộ tại Việt Nam
Bài viết của Huỳnh Thị Đan Xuân và Mai Văn Nam thuộc khoa Kinh tế - Quản
trị kinh doanh trường ĐH Cần Thơ về: “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các
hộ chăn nuôi gia cầm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” Nghiên cứu này đã mô tả thực
trạng thu nhập, cơ cấu thu nhập và đa dạng thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ Kết quả phân tích cho thấy rằng, thu nhập của hộ chủ yếu dựa vào hoạt động nông nghiệp chiếm 95% Nông hộ quan tâm đến việc đa dạng nguồn thu nhập Tuy nhiên, chỉ là tự phát nên chưa hiệu quả Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ là tổng diện tích đất của hộ, vay vốn, kiểm dịch, thu nhập từ chăn nuôi gia cầm, thu nhập
từ chăn nuôi khác và thu nhập từ phi nông nghiệp Xuất phát từ một số vấn đề thu thập
từ quá trình khảo sát và phân tích số liệu thực tế cho thấy rằng để nâng cao thu nhập của hộ chăn nuôi cần sử dụng nguồn lực đất đai hợp lý, mạnh dạn vay vốn đầu tư khi thiếu vốn, tham gia đầy đủ quá trình kiểm dịch đàn vật nuôi, quan tâm đến nguồn thu nhập từ chăn nuôi và phi nông nghiệp [42]
Bài viết “Nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân
có vốn vay ở huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình” của 2 tác giả là Nguyễn Việt Anh
và Trần Thị Thu Thủy thuộc trường ĐH Kinh Tế - ĐH Huế Bài viết đã đưa ra các yếu
tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân như: điều kiện tự nhiên, loại hộ sản xuất, loại hình sản xuất cũng tác động đến thu nhập của các hộ nông dân Qua kết quả phân
Trang 39tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ nông dân thông qua mô hình Cobb-Douglas ở huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình cho thấy các yếu tố đầu vào tác động mạnh đến thu nhập của các hộ nông dân Bên cạnh đó các yếu tố như: điều kiện tự nhiên, loại hộ sản xuất; loại hình sản xuất cũng tác động đến thu nhập của các hộ nông dân Điều này chứng tỏ các yếu tố đầu vào được các hộ nông dân đưa vào
sử dụng để phát triển sản xuất nâng cao thu nhập và thúc đẩy kinh tế hộ phát triển Vì thế để phát triển kinh tế hộ gia đình cần phát huy những thuận lợi và thế mạnh của từng vùng, từng địa phương, từng hoạt động sản xuất [1]
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của
người dân tộc thiểu số ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” của Nguyễn Quốc Nghi và Bùi
Văn Trịnh Với việc điều tra trực tiếp từ 150 hộ Khmer ở tỉnh Trà Vinh, 90 hộ Chăm ở
tỉnh An Giang và áp dụng mô hình phân tích hồi qui tuyến tính cho thấy, các nhân tố tác động đến thu nhập bình quân/người của hộ dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là: trình độ học vấn của chủ hộ, trình độ học vấn của lao động trong
hộ, số nhân khẩu trong hộ, số hoạt động tạo thu nhập của hộ, độ tuổi của lao động trong hộ và tiếp cận với các chính sách hỗ trợ Trong đó, nhân tố số nhân khẩu và độ tuổi của lao động trong hộ tỷ lệ nghịch với thu nhập bình quân/người của hộ dân tộc, nhân tố số hoạt động tạo ra thu nhập của hộ có tác động mạnh nhất đến thu nhập bình quân/người của hộ dân tộc thiểu số ở ĐBSCL [28]
Kết quả nghiên cứu đề tài của tác giả Trần Chí Thiện về “Thực trạng và giải
pháp xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc vùng núi cao tỉnh Thái Nguyên” Tác
giả và nhóm nghiên cứu đề tài cấp Bộ đã lựa chọn ba huyện Định Hóa, Đại Từ và Võ Nhai là nơi thu thập tài liệu; quy mô mẫu lựa chọn là 400 hộ; trong đó nhóm hộ nghèo
199 (58 hộ dân tộc Kinh, 115 dân tộc Tày, 26 dân tộc khác) và 201 hộ không nghèo (69 hộ dân tộc Kinh, 101 hộ dân tộc Tày và 31 hộ dân tộc khác) Nhóm nghiên cứu sử dụng Hàm sản xuất Cobb - Douglas để chỉ ra một số nguyên nhân ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình các dân tộc vùng núi cao là: tuổi bình quân của chủ hộ, học vấn; nhân khẩu; diện tích đất nông nghiệp; phương tiện sản xuất; vốn vay và hoạt động của
tổ chức khuyến nông Các biến số giải thích này đều có ý nghĩa thông kê và được nhóm nghiên cứu rút ra kết luận là các nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng đói nghèo của đồng bào dân tộc miền núi tỉnh Thái Nguyên [32]
Trang 40Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thu nhập của hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu thu nhập hộ nông dân nghèo tại huyện
Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi thời gian: Số liệu, tài liệu phục vụ nghiên cứu đề tài được thu thập
trong giai đoạn từ 2014 – 2016 và định hướng đến 2020
- Phạm vi nội dung: Đề tài phân tích, đánh giá thu nhập, các nguồn lực và
cách thức sử dụng nguồn lực hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nội dung 1: Thực trạng thu nhập hộ nông dân nghèo trên địa bàn huyện Gia Bình
- Nội dung 2: Các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình
- Nội dung 3: Những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong việc nâng cao thu nhập hộ nông dân nghèo trên địa bàn huyện Gia Bình
- Nội dung 4: Giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo huyện Gia Bình
2.3 Phương pháp tiếp cận
Để nghiên cứu, đề tài này sử dụng 3 tiếp cận, đó là tiếp cận từ dưới lên, tiếp cận
hệ thống và tiếp cận vùng miền; cụ thể như sau:
Tiếp cận từ dưới lên: Cách tiếp cận từ dưới lên với sự tham gia của hộ nông
dân, cán bộ chủ chốt và các cấp chính quyền tại địa bàn nghiên cứu
Tiếp cận hệ thống: Cách tiếp cận này dựa trên những phân tích, đánh giá các
chỉ tiêu về thu nhập, cũng như mối quan hệ biện chứng giữa thu nhập với các yếu tố