1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành trồng tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)

106 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành trồng tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành trồng tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành trồng tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành trồng tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành trồng tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành trồng tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành trồng tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

TRẦN THÁI THUẬN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG CAM SÀNH TRỒNG

TẠI HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN – 2017

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thế Huấn

THÁI NGUYÊN – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Giang, ngày 10 tháng 7 năm 2017 Tác giả luận văn

Trần Thái Thuận

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan, các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và gia đình

Trước tiên tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thế Huấn

người đã tận tình hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Nông học và Phòng Đào tạo - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Trần Thái Thuận

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2

3 Yêu cầu đề tài 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới và trong nước 5

1.2.1 Tổng quan tình hình sản xuất trên thế giới 5

1.2.2 Tình hình sản xuất cam quýt trong nước 7

1.3 Đặc điểm sinh vật học và yêu cầu ngoại cảnh của cây cam quýt 8

1.3.1 Một số đặc điểm thực vật học chính của cam quýt 8

1.3.1.1 Đặc điểm rễ cam quýt 8

1.3.1.2 Đặc điểm thân, cành 9

1.3.1.3 Đặc điểm lá cam quýt 10

1.3.1.4 Đặc điểm hoa và tỷ lệ đậu quả ở cam quýt 11

1.3.2 Một số yêu cầu sinh thái và dinh dưỡng của cam quýt 12

1.4 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón cho cam Sành 21

1.4.1 Sử dụng Phân bón lá 21

Trang 6

1.4.2 Sử dụng các chất điều hoà sinh trưởng 23

1.4.3 Sử dụng bón phân hữu cơ vi sinh 25

1.5 Sâu bệnh hại cam quýt 26

1.6 Kết luận rút ra từ tổng quan tài liệu 27

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng phạm vi và vật liệu nghiên cứu 29

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 29

2.1.3 Dụng cụ 30

2.2 Địa điểm nghiên cứu 30

2.3 Thời gian nghiên cứu 30

2.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 30

2.4.1 Nội dung nghiên cứu 30

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 31

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 36

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh học ở giống cam Sành trồng tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 37

3.1.2 Đặc điểm hình thái lá giống cam Sành 38

3.1.3 Đặc điểm hình thái quả cam Sành 39

3.1.4 Khả năng sinh trưởng của các đợt lộc trong năm 40

3.1.5 Động thái ra hoa và tỷ lệ đậu quả của giống cam Sành 41

3.2 Ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng và phân bón đến sự đậu hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng cam Sành 42

3.2.1 Ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng đến sự đậu hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng cam Sành 42

Trang 7

3.2.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến sự đậu hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng

cam Sành 47

3.2.3 Ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh đến sự đậu hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng cam Sành 52

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58

1 Kết luận 58

2 Đề nghị 59

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVTV

CAQ

CC

CT

ĐBSCL ĐK NCCAQ FAO

TB

TG

TT

GAP

IPM

: Bảo vệ thực vật : Cây ăn quả : Chiều cao : Công thức : Đồng bằng sông Cửu Long : Đường kính

: Nghiên cứu cây ăn quả : Food and Agricultural Organization of the United National

: Trung bình : Thời gian : Thứ tự : Good Agricultural Practices : Quản lý dịch hại tổng hợp

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới 6

Bảng 1.2: Mức phân bón đối với cam quýt 19

Bảng 1.3: Yêu cầu về dinh dưỡng đối với cam quýt 20

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu về đặc điểm hình thái của cam Sành tại huyện Vị Xuyên – tỉnh Hà Giang 37

Bảng 3.2: Đặc điểm hình thái lá giống cam Sành 38

Bảng 3.3: Đặc điểm hình thái quả cam Sành 39

Bảng 3.4: Khả năng sinh trưởng của các đợt lộc trong năm 40

Bảng 3.5: Động thái ra hoa và tỷ lệ đậu quả của giống cam Sành 41

Bảng 3.6: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng ra hoa 42

Bảng 3.7a: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến động thái rụng quả 43

Bảng 3.7b: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến động thái rụng quả 44

Bảng 3.8: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến năng suất quả khi thu hoạch của giống cam Sành 45

Bảng 3.9: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến chất lượng quả khi thu hoạch 46

Bảng 3.10 : Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng ra hoa 47

Bảng 3.11a: Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái rụng quả 48

Bảng 3.11b: Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái rụng quả 49

Bảng 3.12: Ảnh hưởng của phân bón lá đến năng suất quả khi thu hoạch 49

Bảng 3.13 : Ảnh hưởng của phân bón lá đến chất lượng quả khi thu hoạch 50

Bảng 3.14:Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến khả năng ra hoa 52

Bảng 3.15a: ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái rụng quả 53

Bảng 3.15b : ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái rụng quả 54

Bảng 3.16: ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến năng suất quả khi thu hoạch 55

Bảng 3.17: Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến chất lượng quả khi thu hoạch 56

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cam (Citrus sinensis Osbeck) là một loại quả á nhiệt đới và nhiệt đới

có giá trị cao trên thị trường quốc tế, là một sản phẩm lý tưởng đã được nghiên cứu trong mậu dịch thương mại và ở Việt Nam cây cam đã trở thành một cây trồng phổ biến trong các vườn cây ăn quả

Hiện nay phong trào trồng cây ăn quả có xu hướng tăng nhanh và phát triển mạnh mẽ ở mọi vùng miền trong cả nước Trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội như hiện nay thì đời sống đã được cải thiện, nhu cầu ăn

no mặc ấm không còn nữa mà thay vào đó là nhu cầu ăn ngon mặc đẹp Để đáp ứng được những bữa ăn đảm bảo dinh dưỡng và an toàn thì quả tươi là một phần rất cần thiết trong mỗi bữa ăn, tăng khẩu phần quả tươi trong mỗi bữa ăn là mức phấn đấu của các nước có nền kinh tế đã và đang phát triển Trước những yêu cầu thực tại của xã hội việc phát triển cây ăn quả cũng như những nghiên cứu nhằm đưa ra các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm quả là điều hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân [38]

Ngoài việc đem lại hiệu quả kinh tế cao cam còn có hàm lượng dinh dưỡng khá lớn có ý nghĩa trong việc bồi bổ sức khoẻ ví dụ như: Hàm lượng đường tổng số là 6 - 12%, vitamin C là 49 - 90%; đạm là 0.9%, chất béo là 0.1%, sắt 0.2mg/100g tươi, năng lượng 430 - 460cal/kg, canxi 26 - 40mg (Ngô Xuân Bình, Đào Thanh Vân (2003)) [3]; (Trần Như Ý, Đào Thanh Vân, Nguyễn Thế Huấn (2000) [38]

Ở nước ta cam, quýt được trồng hầu hết khắp các tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt đã hình thành những vùng cam cổ truyền mang tính đặc sản của địa phương như: Cam Sành Bắc Quang, Cam sành Hàm Yên, cam sành

Trang 11

Bố Hạ, Cam Vinh Ở các địa phương đó cam, quýt được coi là cây trồng nông nghiệp chính, với giá trị thu nhập hàng năm cao hơn gấp nhiều lần so với lúa và một số cây trồng khác, đồng thời cũng được coi là lợi thế so sánh với các địa phương khác trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp

Vị Xuyên trong một thời gian dài, cây cam sành đem lại hiệu quả kinh

tế cao nên nhân dân phát triển tự phát về diện tích bằng cách tự chiết cành

nhân giống để trồng

Diện tích cam ngày một thu hẹp do nhiều nguyên nhân: Cây vào giai đoạn già cỗi, nguồn cây giống không đảm bảo chất lượng, diện tích trồng cam sành chủ yếu trên các sườn đồi do đó công tác quản lý dinh dưỡng, đặc biệt là nước tưới cho cam rất hạn chế dẫn tới năng suất và chất lượng sản phẩm thấp Khâu bảo vệ thực vật chưa được chú trọng, phòng trừ sâu bệnh hại không kịp thời để sâu bệnh lây lan, phát sinh trên diện rộng thành dịch, đặc biệt là dịch Rầy chổng cánh chích hút là nguồn lây lan bệnh vàng lá gân xanh Greenning và sâu đục thân khiến cây cam chết hàng loạt

Nhằm góp phần thực hiện định hướng phát triển kinh tế xã hội huyện

Vị Xuyên, theo đó quyết tâm phục hồi và phát triển vùng sản xuất cam theo hướng đầu tư đồng bộ từ công tác quy hoạch, sản xuất giống, thâm canh tăng năng suất để khôi phục vùng sản xuất cam hàng hóa, thương hiệu cam Vị Xuyên, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất Xuất phát từ thực tế

trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh

học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam Sành trồng tại huyện

Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang”

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

- Đánh giá được đặc điểm nông sinh học của giống cam Sành tại huyện Vị Xuyên – tỉnh Hà Giang Xác định được một số biện pháp kỹ thuật bón phân Từ đó đề xuất phương pháp bón phân thích hợp

Trang 12

3 Yêu cầu đề tài

- Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của cam Sành được trồng tại huyện Vị Xuyên – tỉnh Hà Giang

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng, phân bón qua lá, phân hữu cơ vi sinh đến sự ra hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng quả cam Sành trồng tại huyện Vị Xuyên – tỉnh Hà Giang

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

Từ kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ xung thêm những tài liệu khoa học, phục vụ cho công tác giảng dạy cũng như nghiên cứu trên cây cam ở Việt Nam

Vì vậy, việc nghiên cứu về các đặc điểm của cam Sành cùng với các biện pháp kỹ thuật tác động đến cây sẽ đem lại cho chúng ta thêm hiểu biết

về cây trồng Từ đó đưa ra các biện pháp kỹ thuật mới để phát triển cam sành lâu dài và phù hợp hơn với khu vực tỉnh Hà Giang nói chung và huyện

Vị Xuyên nói riêng

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá được tình hình sản xuất, đặc điểm sinh vật học của cam sành tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

Tìm ra biện pháp bón phân phù hợp với cây cam sành đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Cây cam thuộc họ cam quýt (Citrus) là loại cây ăn quả lâu năm có giá

trị kinh tế cao, quá trình sinh trưởng và phát triển chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại và các yếu tố ngoại cảnh như: Nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, biểu hiện qua sinh trưởng, ra hoa kết quả, năng suất và phẩm chất quả

Cây ăn quả có múi có phạm vi thích nghi sinh thái rộng, ở Việt Nam cây có múi có mặt hầu hết ở các tỉnh thành trong cả nước, mỗi vùng miền đều có những cây ăn quả có múi đặc sản Điều này cho thấy Việt Nam là nước có tập đoàn cây có múi rất phong phú với nhiều loại cây có múi khác nhau Hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu để nâng cao năng suất chất lượng quả cam, tuy nhiên cây có múi là loại cây trồng có chu kỳ kinh doanh dài, mỗi nghiên cứu chỉ áp dụng cho một loại cây có múi nhất định, do vậy trong thực tiễn sản xuất hiện nay các nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học, nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm phục vụ cho nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lượng quả

cam là hết sức cần thiết (Đường Hồng Dật (2003) [9]

Cây trồng nói chung và cam quýt nói riêng luôn tồn tại các cơ chế điều khiển các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống Chất điều hòa sinh trưởng chính là các chất điều tiết các cơ chế này và thông qua tác động của các chất điều hòa sinh trưởng phôi có thể hình thành phát triển thành quả không qua quá trình thụ phấn thụ tinh do vậy quả được tạo thành do tác động của các chất này thường không hạt hoặc ít hạt Các chất này được tổng hợp với một lượng rất nhỏ ở các cơ quan đến một bộ phận nhất định của cây, từ đó chuyển sang các bộ phận

Trang 14

khác để điều tiết hoạt động sinh lý của cây Trong chất điều hòa sinh trưởng có Gibberellin (GA3) và Naphthaleneaceticd (NAA) được tổng hợp ở tất cả các bộ phận còn non của cây và được vận chuyển không phân cực Tác dụng sinh lý của GA3 là ảnh hưởng đến quá trình ra hoa, sự lớn lên của quả, tạo quả không hạt, ngăn cản sự rụng của các cơ quan như lá, hoa, quả, làm chậm quá trình già hóa của toàn cây và sự chín của quả, kích thích kéo dài thân, dóng, kích thích sự nảy mầm của hạt, củ NAA có tác dụng kích thích cây trồng ra rễ, ra hoa đồng loạt, kết nhiều trái, trái có phẩm chất tốt, ngăn ngừa rụng trái non, cho sản lượng tốt (Chu Đình Lâm, Vũ Cao Thái (1980) [21]

Việc áp dụng biện pháp kỹ thuật bón phân trong từng giai đoạn là rất cần thiết vì cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo

hoa, nuôi quả (Hoàng Ngọc Thuận (2002) [27]

1.2 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới và trong nước

1.2.1 Tổng quan tình hình sản xuất trên thế giới

Hiện nay cây ăn quả có múi được phát triển khắp các lục địa, sự phát triển của các vùng cây ăn quả có múi trên thế giới có sự tương quan với các cuộc cách mạng công nghiệp ở các vùng Vùng nào sớm phát triển công nghiệp thì nghề cây ăn quả có múi cũng sớm phát triển và ngược lại Kết quả được trình bày qua bảng 1.1

Qua bảng 1.1 cho thấy: Năm 2010 diện tích cây ăn quả có múi của toàn thế giới là 4.127,0 nghìn ha, năng suất trung bình đạt 168,4 tấn/ha, sản lượng đạt

Trang 15

6.9516,0 nghìn tấn Đến năm 2014 tổng diện tích giảm xuống còn 3.885,9 nghìn

ha nhưng năng suất lại tăng lên 182,3 tấn/ha, sản lượng tăng lên 70.856,3 nghìn tấn

So sánh về diện tích của 5 châu lục năm 2014, châu Á có tổng diện tích lớn nhất (1.562,2 nghìn ha) sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và vùng có diện tích nhỏ nhất là châu Đại Dương 19,2 nghìn ha

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới

Chỉ

tiêu Năm

Các châu lục trên thế giới

Thế giới Châu

Trang 16

- Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa, Costarica, Braxin, Achentina tuy vùng cam, quýt châu Mỹ được hình thành muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đẩy ngành cây ăn quả có múi ở đây phát triển rất mạnh Về năng suất được ổn định từ năm 2010 đến năm 2014 năng suất đạt từ 195,9 đến 203,8 tấn/ha

- Vùng lãnh thổ châu Á sản xuất cam, quýt gồm các nước (Trung Quốc,

Ấn Độ, Inđônêsia, Philippin, Thái Lan…) đây là vùng có diện tích lớn nhất năm

2014 là 1.562,2 nghìn ha, chiếm 40,2% tổng diện tích toàn thế giới So với châu

Mỹ sản lượng châu Á các năm từ 2000 đến 2014 thấp hơn châu Mỹ Nguyên nhân

là do tổng diện tích châu Á lớn nhưng năng suất lại thấp hơn so với chau Mỹ Tuy châu Á có tổng diện tích trồng cam đến năm 2014 là cao nhất thế giới (chiếm 40,2%) nhưng lại có năng suất trung bình thấp nhất

1.2.2 Tình hình sản xuất cam quýt trong nước

Cam quýt được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ XVI, cho đến nay đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và đã chọn ra được nhiều giống cho năng suất cao, phẩm chất tốt đem trồng ở một số vùng trên cả nước

Từ những năm hòa bình lập lại đến những năm 60 của thế kỷ 20 cam quýt ở Việt Nam còn rất hiếm, cây cam mới chỉ tập trung ở một số vùng chuyên canh như Xã Đoài (Nghệ An), Bố Hạ (Bắc Giang) đây là 2 vùng chuyên canh cam lớn của Việt Nam mà nhiều người biết đến

Từ những năm 1960 ở miền Bắc thành lập một loạt các nông trường quốc doanh, trong đó có rất nhiều các nông trường trồng cây ăn quả có múi như Sông Lô, Cao Phong, Sông Bôi, Thanh Hà, Sông Con đã hình thành một số vùng trồng cam chính ở nước ta (Bùi Huy Đáp (1960) [11]

Vùng Nghệ An khoảng 1.000ha, vùng tây Thanh Hoá 500ha, vùng Xuân Mai (Hoà Bình) 500ha, vùng Việt Bắc 500ha và các vùng còn lại khác 500ha (Nguyễn Quốc Hiếu (1993) [20]

Trang 17

Ở nước ta hiện nay, có nhiều vùng trồng cây ăn quả có múi, song những vùng cho năng suất cao, phẩm chất tốt có tiếng trong nước phải kể đến vùng cam đồng bằng sông Cửu Long, vùng cam Trung du miền núi phía Bắc với nhiều giống cam đặc sản, chất lượng như: cam Yên Bái, cam Bắc Quang, quýt Bắc Sơn, cam Sành Hàm Yên với tổng diện tích của cả nước năm 2013 là 70.400 ha Phân bố ở 8 vùng sản xuất bao gồm Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long Các vùng trồng cam có diện tích lớn là Đồng bằng sông Cửu Long 36.800 ha, vùng Trung du và miền núi phía bắc 13.800 ha và vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 7.700 ha (Trần Như Ý (2000) và cs [33]

1.3 Đặc điểm sinh vật học và yêu cầu ngoại cảnh của cây cam quýt

1.3.1 Một số đặc điểm thực vật học chính của cam quýt

1.3.1.1 Đặc điểm rễ cam quýt

Rễ cam, quýt nói chung thuộc loại rễ nấm (Micorhiza), nấm

Micorhiza sống cộng sinh trên lớp biểu bì của rễ, có vai trò như những lông

hút ở các cây trồng và thực vật khác, cung cấp nước, muối khoáng và một lượng nhỏ chất hữu cơ cho cây, cây cung cấp hydrat carbon cho nấm (Trần Thế Tục (1990) [29], Viện Bảo vệ thực vật (2001) [30])

Do những đặc điểm trên mà cây ăn quả có múi không ưa trồng sâu, vì rễ cam quýt chủ yếu là rễ bất định, phân bố rất nông (10-30cm), phân bố tương đối rộng và tập trung ở tầng đất mặt Tuy nhiên, mức độ phân bố sâu hay rộng phụ thuộc vào loại đất, đặc tính của giống, cách nhân giống, chế độ chăm bón, tầng canh tác và mực nước ngầm Đặc biệt là biện pháp kỹ thuật canh tác như: Làm đất, bón phân, phương pháp nhân giống, giống gốc ghép và giống cây trồng

Trang 18

Nghiên cứu sự phát triển của bộ rễ cam trên một số loại đất ở vùng

Phủ Quỳ Nghệ An, tác giả Trần Thế Tục [29] nhận xét: “Trên ba loại đất

trồng cam: đất Bazan, đất phiến thạch, đất dốc tụ thì thấy trên đất bazan rễ cam ăn sâu và xa nhất Cùng trồng trên một loại đất và cùng có chế độ chăm sóc, các giống cam khác nhau có sự phân bố bộ rễ khác nhau Giống cam có bộ tán khoẻ tương ứng, có bộ rễ phát triển tốt và ngược lại”

Nhìn chung rễ cam quýt hoạt động mạnh ở thời kỳ 1- 8 năm tuổi sau trồng, sau đó giảm dần và khả năng tái sinh kém Trong một năm cam quýt có 3 thời kỳ rễ hoạt động mạnh: Trước khi ra cành xuân (tháng 2 đến đầu tháng 3); sau rụng quả sinh lý lần 1 (lúc cành hè xuất hiện) và cành thu đã sung sức (tháng 9-10) Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của bộ rễ cam quýt: Nhiệt độ thích hợp trên dưới 260C; Đất thoáng và đủ ẩm (60%); độ chua pH = 4-8 và tối thích là 5,5-6,5, nhiều mùn, đủ dinh dưỡng, đủ chất kích thích sinh trưởng vv (Lê Quý Đôn (1962) [15]

1.3.1.2 Đặc điểm thân, cành

Theo tác giả Phạm Thừa (1965) [26]: Đặc điểm thân, cành tuỳ thuộc giống, tuổi cây, điều kiện sinh sống, hình thức nhân giống mà cây có chiều cao và hình thái khác nhau Tán cây cam quýt rất đa dạng: Có loại tán thưa, tán rộng, có loại phân cành hướng ngang, có loại phân cành hướng ngọn Có loại tán hình cầu, hình bán cầu, hình tháp, hoặc hình chổi xể Cành có thể có gai hoặc không gai, có thể còn non thì có gai và rụng gai khi về già v.v

Trong một năm cam quýt có thể ra nhiều đợt lộc tuỳ vào từng vùng sinh thái, giống, tuổi cây và những tác động kỹ thuật của con người (Phạm Thừa [26]; Chapman H.D and S.M Brow (1950); Quyang Tao (1990), thông thường

có từ 2 - 4 hoặc 5 đợt lộc Loại cành mẹ và số đợt lộc trong năm liên quan khá nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm Ở những loài cây càng nhiều đợt lộc trong năm, tuổi thuần thục của cành mẹ để có thể sinh ra cành quả càng ngắn

Trang 19

thì hiện tượng ra quả cách năm càng ít hoặc không có, đó cũng là lý do có thể giải thích vì sao quất và một số giống chanh có thể cho quả quanh năm

Cành cam quýt sau khi mọc một thời gian, khi đã gần đến độ thuần thục thì tại các đỉnh sinh trưởng có hiện tượng các auxin giảm đột ngột làm cho các tế bào đỉnh sinh trưởng ngừng phân chia, phần mô ở đỉnh sinh trưởng bị chết Đây chính là nguyên nhân của hiện tượng “tự rụng ngọn” nghĩa là cành sinh trưởng một thời gian thì dừng lại và thuần thục, sau đó các mầm từ nách lá lại mọc ra và phát triển thành đợt lộc mới xuân, hạ, thu, đông Chính vì vậy, cành cam quýt không có thân chính rõ rệt, cành lá sum xuê rậm rạp

Cành của cam quýt gồm các loại cành chính đó là cành mẹ, cành dinh dưỡng, cành quả Sự phân loại này theo chức năng của từng loại cành Mối liên hệ giữa các loại cành và các đợt lộc khá khăng khít Cành dinh dưỡng có thể trở thành cành mẹ, hoa mọc ở mầm bất định trên thân chính hoặc cành dinh dưỡng cao tuổi làm cho tuổi của cành mẹ, của cành quả có độ dao động lớn Những năm ít hoa, hoa mọc từ cành cao tuổi vẫn có thể cho đậu quả rất tốt Nhìn tổng quan một năm ra lộc của cam quýt cho thấy lộc xuân thường được mọc từ cành năm trước hoặc mầm ngủ trên thân chính, lộc xuân có ý nghĩa (cành quả) nhất là lộc mọc từ cành hè, thu năm trước Lộc hè có thể mọc từ cành xuân, cành đông và cành thu năm trước Lộc thu cũng có thể mọc

từ cành xuân (cành quả vô hiệu) hoặc cành đông, thu năm trước Tuy nhiên mỗi điều kiện sinh thái khác nhau mối liên hệ giữa các đợt lộc trong năm cũng

có thay đổi

1.3.1.3 Đặc điểm lá cam quýt

Bộ lá của cam quýt được khá nhiều tác giả nghiên cứu: Lá cam quýt thuộc loại lá đơn, phần lớn mép lá có hình răng cưa, lá có eo Độ lớn của eo lá, hình dạng, kích thước lá, màu sắc lá, mật độ khí khổng, mật độ túi tinh dầu

Trang 20

vv… Bùi Huy Đáp (1960 - 1967), [12],[13] Tuỳ thuộc vào giống, vào mùa vụ Bình quân trên mặt lá có từ 400-500 khí khổng/mm2 Cây cam quýt trưởng thành thường có từ 150.000-200.000 lá, tương ứng với tổng diện tích khoảng 200m2 Tuổi thọ lá 2-3 năm tuỳ theo vùng sinh thái, vị trí và tình trạng sinh trưởng của cây và cành mang lá, vị trí của cấp cành Những lá hết thời gian sinh trưởng thường rụng nhiều vào mùa thu và mùa đông

Bộ lá trên cành quả và cành mẹ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất của cây ăn quả có múi Theo Nagai và cộng sự, quýt Ôn Châu có năng suất cao thì ít nhất phải có từ 40 lá trung bình cho một quả Tác giả Turrall cho rằng, ở cây ăn quả có múi 9 tuổi cần phải có ít nhất 2,3

m2 lá để sản xuất 1 kg quả (trích theo tác giả Batra R.C [37] và Huang Mingdu Ở giai đoạn đầu để đảm bảo đủ dinh dưỡng cho hoa đậu quả, cành

mẹ đóng vai trò quan trọng, sau khi quả lớn thì tổng diện tích lá bình quân trên 1 quả sẽ là yếu tố quyết định năng suất và phẩm chất quả Tuy nhiên mối liên hệ giữa số lá, sự sinh trưởng của lá và năng suất ở cây ăn quả có múi cần được nghiên cứu kỹ hơn nhằm xây dựng hệ thống các biện pháp kỹ thuật cần thiết Nagai, K., O Tanigawa (1928) [39]

1.3.1.4 Đặc điểm hoa và tỷ lệ đậu quả ở cam quýt

Cam quýt phân hoá hoa từ sau khi thu hoạch đến trước khi nảy lộc xuân (đa số từ tháng 11 đến đầu tháng 2 năm sau) Hoa cam quýt phần lớn có mùi thơm Xét về hình thái có 2 loại hoa: Hoa phát triển đầy đủ và hoa dị hình (Swingle, W T and Reece, P C (1967) Hoa đầy đủ có cánh dài màu trắng

và có công thức cấu tạo: K5 ; C5 ; A(20-40) ; G(8-15), thường thì số nhị gấp 4 lần số cánh hoa và xếp thành 2 vòng, nhị hợp Hoa dị hình: Là những hoa bị thiếu khuyết 1 trong các bộ phận của hoa

Về hoa tự cũng có 2 loại: Hoa đơn và hoa chùm Hoa đơn: Có 2 dạng: Dạng cành đơn có nhiều lá và 1 hoa ở đầu cành, dạng này có khả năng đậu quả

Trang 21

cao nhất, trong điều kiện được chăm sóc tốt thì cây sẽ có nhiều loại cành này; Dạng cành không có lá, thường có nhiều cành quả/1 cành mẹ, cuống ngắn dễ lẫn với dạng hoa chùm

Hoa chùm: Có 3 dạng là: Dạng trên cành ở mỗi nách lá có 1 hoa và 1 hoa ở ngọn cành, trên mỗi cành có từ 3-7 hoa và khả năng đậu từ 1-2 quả; Dạng trên ngọn cành có 1 hoa và mỗi nách lá có 1 hoa và có 1 số lá không hoàn chỉnh, chỉ ở dạng vảy, dạng này tỷ lệ đậu quả không cao; Dạng hoa chùm không có lá có từ 4-5 hoa, loại này tỷ lệ đậu quả rất thấp hoặc không đậu (Trần Thế Tục, Vũ Mạnh Hải, Đỗ Đình Ca (1995) [30]

Đa số các giống quýt có dạng hoa đơn nên tỷ lệ đậu quả của quýt thường cao hơn cam Theo Wakana A Kia: Cam quýt thường ra hoa tập trung nhưng tỉ lệ đậu quả tương đối thấp vì tất cả các hoa, nụ và quả nhỏ đều

bị rụng trước khi quả tăng trưởng Những cây cam ở vị trí độc lập, tỉ lệ đậu quả từ 2,33 - 5,33% (giống Shamouti) Yếu tố ảnh hưởng đến rụng quả là nhiệt độ cao trên 370C trong tháng 6 Tác giả Chapot H nhận định: Sự rụng quả xảy ra trong thời gian 1 - 2 ngày ngay sau khi hình thành quả và tăng dần đến tháng 6 Hiện tượng trên được các nhà khoa học nghiên cứu và cùng thống nhất, đó là hiện tượng rụng quả sinh lý Trong năm, quá trình phát triển quả có 2 đợt rụng quả sinh lý:

- Đợt 1 (rụng cả cuống): Sau khi ra hoa 1 tháng (tháng 3 và đầu tháng 4)

- Đợt 2: Rụng khi quả đạt 3- 4cm (cuối tháng 4 trở đi), để lại cuống Sau 2 đợt rụng quả sinh lý quả lớn rất nhanh (tốc độ trung bình đường kính quả tăng 0,5 - 0,7mm/ngày), trước khi hình thành hạt tốc độ chậm lại ít ngày, sau đó lại tăng nhanh đến khi đạt kích thước tối đa

1.3.2 Một số yêu cầu sinh thái và dinh dưỡng của cam quýt

* Một số yêu cầu về sinh thái

Cam quýt là cây kém chịu hạn và không chịu được ngập úng do có bộ rễ cộng sinh với nấm Vì vậy, đất trồng cam quýt cần đủ ẩm, thoáng khí, mực

Trang 22

nước ngầm sâu dưới 1m là những điều kiện tốt cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ cam quýt Về mặt dinh dưỡng, bên cạnh các nguyên tố đa lượng như

N, P, K cam quýt còn cần các nguyên tố trung lượng, vi lượng như: Ca, S, Zn,

B, Mo, Mn, Mg, Fe, Cu v.v Nếu thiếu hụt một trong các nguyên tố dinh dưỡng trên đều làm cho cam quýt sinh trưởng và phát triển kém, khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh kém, làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm (Viện Bảo vệ thực vật (2001), [32]

- Nhiệt độ

Theo Trần Thế Tục (1990) [29] và nhiều tác giả khác cho rằng cây cam, quýt, chanh, bưởi sinh trưởng được trong phạm vi nhiệt độ từ 12 - 39oC, nhiệt độ thích hợp nhất từ 23-27oC Tại nhiệt độ thấp -5oC có một số giống

có thể chịu được trong thời gian rất ngắn Khi nhiệt độ cao 400C kéo dài trong thời gian dài trong nhiều ngày cam quýt sẽ ngừng sinh trưởng, biểu hiện bên ngoài là lá rụng, cành khô héo Tuy nhiên cũng có giống chỉ bị hại khi nhiệt độ không khí lên đến 50 - 570C

Nhìn chung nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cam quýt như: Sự phát lộc, quá trình quang hợp, sự hoạt động của bộ rễ, sự lớn lên của quả.v.v Bằng những nghiên cứu của mình Vũ Công Hậu (1996) [19] cho rằng rễ cam quýt hoạt động tốt khi nhiệt độ tăng dần từ 9 - 23oC Khi nhiệt độ tới 26oC cây hút đạm mạnh Ngoài ra sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn làm quả phát triển mạnh, đồng thời có ảnh hưởng đến khả năng tích luỹ, vận chuyển đường bột và axit trong cây vào quả Tuy nhiên, khi nhiệt độ ban đêm quá thấp làm cho hoạt động này kém đi Những giống có khả năng thích ứng với nhiệt độ thấp thường có phẩm vị ngon, mã quả đẹp, hấp dẫn, ngược lại những giống chịu nhiệt có phẩm chất kém hơn

Trang 23

Theo Hoàng Ngọc Thuận (2002)[27], ở các vùng đất tốt, có nhiệt độ mùa hè không quá nóng, mùa đông không quá lạnh với nhiệt độ bình quân năm >150C, tổng tích ôn từ 2.500 - 3.500 cũng có thể trồng cam quýt Ở các vùng lục địa xa biển không nên trồng cam quýt ở độ cao từ 1.700 - 1.800m

so với mực nước biển vì những vùng này mùa đông thường có tuyết rơi và nhiệt độ xuống tới âm 40C Về phương diện nhiệt độ, cam quýt có thể phát triển khắp các miền sinh thái ở Việt Nam nhưng lý tưởng nhất là khí hậu ở vùng núi cao phía Bắc

- Ánh sáng

Theo Vũ Công Hậu và một số tác giả thì cam quýt là cây ưa ánh sáng tán xạ, nơi có cường độ ánh sáng từ 10.000 - 15.000 lux, tương ứng với 0,6 cal/cm2, ứng với ánh sáng lúc 8 - 9h sáng và 4 - 5h chiều hoặc những ngày trời quang mây mùa hè Tuy nhiên để có được lượng ánh sáng như vậy chúng ta cần bố trí mật độ hợp lý như không quá dày cũng không quá thưa, vườn cam quýt nhất thiết phải bố trí nơi thoáng, có thể trồng cây chắn gió đồng thời có tác dụng che bớt ánh sáng để có ánh sáng trực xạ vào những ngày trời nắng gắt, khi đủ ánh sáng cây sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh (Nguyễn Mạnh Chinh (2005 )[6]

- Ẩm độ và lượng mưa

Cam quýt yêu cầu độ ẩm không khí 75% và độ ẩm đất 60%, độ ẩm này không những đảm bảo cho cây sinh trưởng phát triển tốt mà còn cho năng suất cao, phẩm chất quả tốt, mẫu mã quả đẹp, quả to, vỏ mỏng Nếu độ

ẩm không khí quá cao hoặc quá thấp đều có hại cho cam quýt, ẩm độ không khí quá cao và kèm theo nắng to vào tháng 8, tháng 9 hàng năm thường gây hiện tượng rám nắng và nứt quả

Theo Hoàng Ngọc Thuận (2002)[27], lượng mưa thích hợp cho các vùng trồng cam quýt trên dưới 2.000mm, Cam cần 1.200 - 1.500, quýt cần

Trang 24

nhiều hơn từ 1.500 - 2.000, chanh cần ít nước hơn quýt, lượng nước trong đất có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của bộ rễ, lượng nước được coi là đủ khi nước tự do bằng 1% và độ ẩm đất bằng 60% độ ẩm bão hòa đồng ruộng Nhìn chung lượng mưa ở các vùng sản xuất nông nghiệp Việt Nam đủ thoả mãn cho nhu cầu sinh trưởng, phát triển của cây cam quýt (1.400 mm - 2.500 mm), nhưng lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm,

do đó ảnh hưởng không tốt đến năng suất, phẩm chất quả

- Gió

Quy luật hoạt động của gió là một vấn đề cần lưu ý trong việc bố trí các vùng trồng cam quýt Tốc độ gió vừa phải có ảnh hưởng tốt đến việc lưu thông không khí, điều hòa độ ẩm, giảm sâu bệnh hại, cây sinh trưởng tốt Tuy nhiên tốc độ gió có ảnh hưởng đến khả năng đồng hóa của cây, đặc biệt

là gió lớn

Ở nước ta, đồng bằng sông Hồng và ven biển miền Trung về mùa mưa thường có gió bão gây đổ cây, gẫy cành, rụng quả làm cho khả năng sinh trưởng và năng suất của cây giảm rõ rệt Do vậy cần chú ý đến việc trồng các đai rừng chắn gió cho các vườn trồng cam quýt ở những vùng hay có bão lớn

- Đất đai

Ở nước ta, theo Trần Thế Tục (1990)[29] và một số tác giả cho rằng cây cam quýt có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất thịt nặng ở đồng bằng, đất phù sa châu thổ, đất đồi núi, đất phù sa cổ, đất thịt nhẹ, đất cát pha, đất bạc màu Tuy nhiên nếu trồng cam quýt trên đất xấu, nghèo dinh dưỡng cần phải đầu tư thâm canh cao, hiệu quả kinh tế sẽ tốt hơn

Theo Hoàng Ngọc Thuận (2002)[27], cây cam quýt có thể trồng được trên đa số các loại đất trồng trọt ở Việt Nam: Đất thịt nặng, đất pha cát, đất bạc màu Tuy nhiên ở những vùng đất xấu phải đầu tư nhiều, thâm canh cao,

Trang 25

hiệu quả kinh tế sẽ thấp hơn Không nên trồng cam quýt ở đất sét nặng, đất cát già hoặc có lớp đất mặt nông, đất ong, đất có mực nước ngầm cao mà khó thoát nước Cũng theo tác giả này, đất trồng cam quýt tốt là đất bằng phẳng, có cấu tượng, nhiều mùn, thoáng khí, giữ ẩm tốt, khi cần dễ tháo nước và có tầng đất dày (hơn 1m càng tốt), mực nước ngầm thấp (tối thiểu phải sâu hơn 80cm) Như vậy, phần lớn đất đai vùng đồi núi phía Bắc, phía Tây Nghệ An, Hà Tĩnh, miền Đông Nam Bộ đều thoả mãn các yêu cầu của cây cam quýt

Cây cam quýt có thể trồng được trên đất có độ pH từ 4 - 8 nhưng thích hợp nhất là từ 5,5 - 6,0, điện thế oxy hóa khử Eh > 300mV Ở độ pH này các nguyên tố khoáng cần thiết cho cây cam quýt phần lớn ở dạng dễ tiêu, nếu là đất chua nhất thiết phải bón vôi để nâng cao độ pH cho đất Đất trồng cam quýt cần có độ thoáng cao, nồng độ oxy phải lớn hơn 4% cây mới sinh trưởng và phát triển bình thường, nếu hàm lượng oxy nhỏ hơn 2% cây sẽ ngừng sinh trưởng Nếu chúng ta đánh giá mức độ thích nghi của đất đối với cam quýt thì đất phù sa cổ là tốt nhất, sau đó đến đất phù sa mới bồi hàng năm, đất Bazan, đất dốc tụ và đất đá phiến sét Không nên trồng cam quýt trên đất thịt nặng, đất có tầng canh tác mỏng, đất đá ong và đá lộ đầu hoặc những nơi có mực nước ngầm cao mà không thể thoát được nước (Đường

Hồng Dật (2003) [9]

Tóm lại, cam quýt có thể sinh trưởng, phát triển tốt ở khắp các miền sinh thái ở Việt Nam, nhưng lý tưởng nhất là khí hậu các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam

* Dinh dưỡng đối với cam quýt

Thực vật nói chung và cam quýt nói riêng, muốn sinh trưởng và phát triển tốt cần phải được cung cấp đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng đa lượng cũng như vi lượng

Trang 26

+ Đạm (Nitơ): là nguyên tố vô cùng quan trọng và không thể thiếu được trong quá trình sinh trưởng đặc biệt trong sự hình thành bộ lá và có vai trò quyết định đến năng suất, phẩm chất của quả Nitơ tham gia vào quá trình hình thành và phát triển cành, lá, xúc tiến hình thành các đợt lộc mới trong năm, có tác dụng giữ cho bộ lá xanh lâu Nhiều nghiên cứu cho thấy một quả cam Washington Navel muốn phát triển bình thường cần có 45 lá, cam Chanh cần 50 lá, bưởi Chùm cần 60 lá cho một quả (Vũ Mạnh Hải và

Cs (2000) [17]

Tuy nhiên nếu thừa đạm sẽ làm cho lá và lộc sinh trưởng quá tốt, quả lớn nhanh nhưng vỏ dày, quả bị nứt và phẩm chất quả kém, màu sắc quả đậm hơn, hàm lượng vitamin C có chiều hướng giảm Nhưng nếu thiếu đạm lộc non không phát sinh đúng lúc hoặc ra ít, lá nhỏ, lá mất diệp lục, bị ngả vàng, cành quả nhỏ, mảnh và bị rụng lá, quả nhỏ, vỏ mỏng, năng suất giảm

Ở điều kiện thời tiết nước ta cam quýt hấp thu đạm quanh năm, nhưng cây hút đạm mạnh nhất vào các tháng có thời tiết ấm, đồng thời cũng là thời điểm cây cam quýt trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng đến khi thu hoạch Ngoài ra khả năng hút đạm chịu sự tác động của độ pH đất, nếu pH từ

4 - 4,5 cây hấp thu mạnh dạng NO3, pH từ 6-6,5 cây hấp thu mạnh dạng NH4+, + Phân lân (Phospho):

Là nguyên tố dinh dưỡng rất cần cho cây sinh trưởng và phát triển đặc biệt là giai đoạn phân hóa mầm hoa

Phân lân có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng quả, đủ lân lượng axit trong quả giảm, tỷ lệ đường/axit cao, hàm lượng Vitamin C giảm, vỏ quả mỏng, mã đẹp, lõi quả chặt, màu sắc quả hơi kém nhưng chuyển màu nhanh + Kali:

Theo Vũ Công Hậu (1996)[18] kali rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển của cam quýt, đặc biệt là thời kỳ ra lộc non và thời kỳ quả phát triển mạnh

Trang 27

Kali ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và phẩm chất quả cam quýt, vì kali tham gia vào quá trình vận chuyển các sản phẩm quang hợp về các cơ quan tích lũy trên cây Nếu cây được cung cấp đầy đủ kali quả to, ngọt, nhanh chín, có khả năng chịu được lâu dài khi vận chuyển đi xa hoặc cất giữ lâu ngày Tuy nhiên nếu thừa kali cây sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây còi cọc, đặc biệt nếu quá nhiều kali sẽ gây nên hiện tượng hấp thu caxi, magie kém, quả to nhưng xấu mã, vỏ quả dày, lâu chín

Ngoài các nguyên tố đa lượng N,P,K, các nguyên tố trung lượng và vi lượng cũng có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng phát triển, năng suất

và phẩm chất cam quýt

Theo các nhà nghiên cứu đã chứng minh được rằng cây hoàn toàn không thể phát triển một cách bình thường nếu như thiếu các nguyên tố trung và vi lượng như: Bo, Mangan, Canxi, Kẽm, Molipden v.v các nguyên tố này hết sức cần thiết cho cây, chúng có tác dụng thúc đẩy và kích thích khả năng sinh trưởng, phát triển của cây một cách mạnh mẽ

+ Canxi (Ca): được ví như xi măng gắn kết các tế bào lại với nhau, hàm lượng Ca trong cây cao sẽ ngăn cản sự rụng ngược lại khi hàm lượng

Ca trong cây thấp sẽ tăng sự rụng

+ Kẽm (Zn): rất cần cho sự tổng hợp Triptophan - tiền thân của auxin Khi thiếu Zn sẽ thiếu auxin và sẽ làm tăng sự rụng

+ Bore: là nguyên tố dùng cho cây ăn quả khá tốt Nó có vai trò quan trọng trong việc hình thành màng sinh học Đặc biệt khi Bore kết hợp với Ca làm ổn định thành tế bào Thiếu Bore ảnh hưởng lớn đến mô phân sinh và sự nảy mầm của hạt phấn Chính vì vậy, Bore có tác dụng hạn chế rụng quả trên nhiều đối tượng cây trồng trong đó có cây cam Khi thiếu Bore làm cho hàm lượng nước trong quả ít, hình dạng quả không bình thường Để khắc phục có thể phun dung dịch axit boric nồng độ 300g/100 lít nước

Khi cây thiếu đồng (Cu) quả dễ bị nứt, nhất là khi còn xanh Để khắc

Trang 28

phục thì cần giữ ẩm cho đất, phun 0,2-0,5% CuSO4 lên lá kết hợp với phun boocdo càng tốt

Khi cây thiếu sắt (Fe) làm cho lá chồi non bị vàng đi dẫn đến rụng quả khi còn xanh Để khắc phục thì cần cải tạo đất, bón phân hữu cơ, phun phân vi lượng 0,5% FeSO4

Khi thiếu Molipden (Mo) làm cho lá lốm đốm vàng Để khắc phục có thể phun dung dịch chứa 100-150g molybdate natri trong 1.000 lít nước

Để nâng cao năng suất, chất lượng cam quýt, bón phân như thế nào và

để đạt hiệu quả kinh tế cao, cần phải căn cứ vào những cơ sở khoa học đã được các nhà nghiên cứu khoa học đúc kết Đa phần khi bón phân cần căn

cứ vào nhu cầu dinh dưỡng của cây ở các thời kỳ sinh trưởng và phát triển

cụ thể

Dựa vào tuổi cây: Đã có nhiều đề xuất, nhưng các đề xuất này không hoàn toàn đồng nhất Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2006) [4], cho biết (bảng 1.2):

Bảng 1.2: Mức phân bón đối với cam quýt Quốc gia Tuổi cây (năm)

N/cây (gam)

P205/cây (gam)

K20/cây (gam)

Việt Nam: Các đề xuất

40-80 80-165 50-140 100-200 50-100 150-200

45

75 50-80 100-300

0-240 320-480

20-160 320-480

4 - 6

200-440 500-640

200-440 500-640

200-440 500-640

( Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2006)[4]

Trang 29

Dựa vào kết quả phân tích lá: một số tác giả khác, đã nghiên cứu và đề xuất Ngưỡng dinh dưỡng thông qua việc phân tích lá cam quýt để quyết định tăng hoặc giảm lượng phân bón, cụ thể như bảng 1.3

Bảng 1.3: Yêu cầu về dinh dưỡng đối với cam quýt

Các nguyên tố đa lượng

Đủ 2.50-2.70 0.12-0.16 1.20-1.70 0.30-0.49 3.00-4.90 0.20-0.39 Cao 2.80-3.00 0.17-0.29 1.80-2.30 0.50-0.70 5.00-7.00 0.40-0.60 Ngộ độc >3.00 >0.30 >2.40 >0.80 >7.00 >0.60

Nguyên tố vi lượng Ngưỡng

dinh dưỡng

Hàm lượng trong 100g chất khô (ppm)

Thiếu nhiều <35 <17 <17 <3 <20 <0.05 Thiếu ít 36-59 18-24 18-24 3-4 21-35 0.06-0.09

Đủ 60-120 25-100 25-100 5-16 36-100 0.10-1.0 Cao 121-200 101-300 101-300 17-20 101-200 2.0-5.0 Ngộ độc >200 >500 >500 >20 >250 >5.0

( Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2006)[4]

Dựa vào năng suất thu hoạch quả vụ trước: Cũng theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2006) [4], khuyến cáo:

Nếu thu hoạch 15 tấn quả/ha (600 cây) thì bón trở lại cho mỗi cây là: 30kg phân chuồng + 400g Urea + 1.000g Super lân + 1.000g vôi bột + 500g K2S04

Nếu thu hoạch 60 tấn quả/ha (600 cây) thì bón trở lại cho mỗi cây là: 60kg phân chuồng + 800g Urea + 2.000g Super lân + 2.000g vôi bột + 1.000g K2S04

Trang 30

Tóm lại, công thức bón phân tùy thuộc vào nhiều yếu tố như loại đất, thành phần dinh dưỡng trong đất, giống cây, tuổi cây, mật độ, năng suất ở mỗi vùng sinh thái khác nhau, với trình độ canh tác khác nhau, dựa trên cơ sở khác nhau để đề xuất mức phân bón phù hợp, hiệu quả nhất vẫn cần những kết luận từ thực nghiệm thì đề xuất mới có ý nghĩa

1.4 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón cho cam Sành

1.4.1 Sử dụng Phân bón lá

Phân bón lá thực chất là các chế phẩm mà trong đó chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dạng đa lượng, trung lượng và vi lượng, nhằm cung cấp kịp thời cho cây Mỗi chất có vai trò khác nhau đối với cây nhưng nếu thiếu cây trồng

sẽ sinh trưởng và phát triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm rõ rệt

Theo Hoàng Minh Tấn và cộng sự (2000) [25], trong thế giới thực vật nói chung và cam quýt nói riêng, lá cây ngoài chức năng là thoát hơi nước, quang hợp còn có vai trò quan trọng trong việc hấp thu các chất dinh dưỡng cho cây, sự hấp thu này được thực hiện qua lỗ khí khổng và qua các khoảng gian bào, các chất dinh dưỡng được di chuyển theo hướng từ trên xuống dưới với tốc độ 30cm/giờ, chất dinh dưỡng di chuyển một cách tự do trong cây

Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định rằng khi bón phân qua lá dạng hòa tan thì lá cây sẽ hấp thu hết 95% lượng phân Vì vậy, việc cung cấp các chất dinh dưỡng dạng vi lượng cho cây thông qua lá là việc làm đem lại hiệu quả rất cao, có thể nói cao gấp 8 - 10 lần so với cung cấp vào đất Ngoài tác dụng bổ sung các chất dinh dưỡng kịp thời cho cây, phân bón lá còn tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi khác như nóng, lạnh, khô, hạn Tuy nhiên, hiệu quả của phân bón lá phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây, loại phân, nồng độ phân, liều lượng và thời gian sử dụng Các loại phân bón lá đang được sử dụng rộng rãi hiện nay là Komix FT, Komix, Superzin K, Thiên nông Poster (Hoàng Ngọc Thuận (1994) [28]

Trang 31

Ở những vườn cây ăn quả không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ, thì việc cung cấp các loại phân bón qua lá giúp cho cây sinh trưởng mạnh hơn, ngăn ngừa các bệnh về thiếu dinh dưỡng và giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn

Các loại phân bón lá như Komix FT, Komix Superzin K, Thiên nông, FoFer và Pomior, đã có tác dụng tốt trên một số loại cây trồng như: Rau, cà phê và một số cây ăn quả

Trong những năm qua, sự ra đời của phân bón lá đã giúp cây trồng ngăn ngừa được các loại bệnh hại trên cây ngay cả trong giai đoạn cây đang sinh trưởng Phân bón lá ngoài cung cấp chất dinh dưỡng cho cây còn có bổ sung thuốc bảo vệ thực vật được áp dụng rộng rãi trong việc trồng cây ăn quả, đặc biệt là họ cây cam quýt Tuy nhiên, hiện nay khi việc áp dụng rộng rãi phương pháp phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp cho cây thì việc sử dụng các dạng phân bón lá cho cây cam quýt là rất cần thiết

Bộ môn Sinh lý thực vật - Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội đã nghiên cứu và tạo được chế phẩm đậu hoa, đậu quả cho nhiều loại cây trồng

và sử dụng có hiệu quả trong sản xuất Chế phẩm dạng bột gồm α-NAA dưới dạng hoà tan trong nước là nguồn auxin bổ xung cho nguồn nội sinh, một số nguyên tố vi lượng cần thiết như B, Cu và còn có thêm một lượng nhỏ nguyên tố đa lượng N, P, K Phun chế phẩm này đã làm tăng quá trình đậu quả, hiệu quả này được tăng lên khi cung cấp đủ nước và các chất dinh dưỡng cho cây trồng

Tác giả Hoàng Ngọc Thuận (2000) [27] cho biết: phân bón lá dạng phức hữu cơ Pomior là một loại phân tổng hợp có chứa các nguyên tố đa, trung và vi lượng với 20 axit amin cùng với một số chất điều hòa sinh trưởng Loại phân này đã được tiến hành thử nghiệm và đạt hiệu quả cao trên nhiều loại cây trồng Đặc biệt một số kết quả thử nghiệm những năm gần đây

Trang 32

Pomior đã thể hiện tác dụng xúc tiến râ rệt đến khả năng sinh trưởng, tăng khả năng ra hoa, tăng khả năng đậu quả, tăng trọng lượng và phẩm chất quả trên cây có múi

1.4.2 Sử dụng các chất điều hoà sinh trưởng

Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật, sự hình thành hoa là dấu hiệu cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng sang giai đoạn sinh trưởng sinh sản, chuyển hướng từ hình thành mầm lá sang hình thành mầm hoa Sau thụ phấn thụ tinh là quá trình đậu quả, tuy nhiên sự đậu quả còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố nội tại và ngoại cảnh Hàm lượng auxin

và các chất kích thích sinh trưởng thấp là nguyên nhân dẫn đến sự rụng sau khi hoa nở Để tăng cường sự đậu quả người ta bổ sung thêm auxin và gibbrellin ngoại sinh cho hoa và quả non, hai chất này có tác dụng bổ sung thêm cho nguồn phytohoocmon có trong phôi hạt vốn không đủ cho quá trình nảy mầm Vì vậy, mà sự sinh trưởng của quả được kích thích và quả khó có thể rụng ngay được

+ Au xin

Auxin có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây đặc biệt là quá trình đậu quả và sự sinh trưởng của quả Nó được sử dụng khá rộng rãi trong sản xuất nhất là với ngành trồng cây ăn quả

Ở Hawai nhiều cánh đồng dứa được tiến hành phun dung dịch muối natri của α -NAA ở nồng độ 25ppm thì dứa ra hoa sớm hơn 2-3 tuần Auxin kìm hãm sự rụng của lá, hoa và quả, nồng độ sử dụng tuỳ thuộc vào từng loại quả ví dụ: Cà chua, bầu, bí, cam, chanh nồng độ α -NAA 10-20ppm, 2,4D nồng độ 5-10ppm

Dùng chất kích thích sinh trưởng với liều lượng cao để phun cho cam làm hoa rụng bớt đi để tránh hiện tượng ra quả cách năm Chẳng hạn như NAA nồng độ từ 100ppm, 200ppm 500ppm thấy kết quả như sau:

Trang 33

Nồng độ 500ppm: số hoa rụng đi 50%, nồng độ 250ppm: số hoa rụng đi 23%, nồng độ 200ppm: số hoa rụng đi 20% Số lượng quả tuy giảm, nhưng do trọng lượng quả tăng lên cho nên sản lượng ổn định và tránh hiện tượng cách năm

Cũng theo Ngô Xuân Bình (2001 [36] đã bổ xung thêm α -NAA với nồng độ 10-20ppm để làm giảm sự rụng quả táo Sử dụng α -NAA ở nồng

độ 40ppm hay phun kết hợp với GA3 nồng độ 40ppm đã làm giảm sự rụng quả, gia tăng số quả có ý nghĩa khi thu hoạch so với đối chứng, làm cho năng suất của giống xoài Tommy atkins ở Nam Phi Đối với giống xoài Langra và Ewais, phun α -NAA ở nồng độ 40ppm vào tháng 4 có ý nghĩa làm giảm sự rụng quả so với đối chứng

Ở Trung Quốc phun 2,4D ở nồng độ 5-10ppm vào mùa hoa cam đang nở rộ thấy tỷ lệ đậu quả tăng so với đối chứng, đường kính quả tăng 9%, sản lượng tăng 34,2% [34]

+ GA3 (Gibberllin)

Lịch sử phát hiện ra gibberellin gắn liền với những nghiên cứu bệnh lúa von mà các nhà nghiên cứu người Nhật đã quan tâm từ lâu Triệu chứng điển hình là cây lúa tăng trưởng chiều cao quá mức, làm cây yếu, giảm năng suất trên 40% Các nhà bệnh cây Nhật bản cho rằng bệnh von là do loại nấm

ký sinh ở cây lúa có tên là gibberela fujikuroi gây nên, loại nấm này đã tiết

ra một chất nào đó kích thích sự sinh trưởng chiều cao của cây lúa và gây nên bệnh lý

Trong nhiều trường hợp GA3 kích thích sự ra hoa rõ rệt, ảnh hưởng đặc trưng của GA3 đến sự ra hoa là kích thích sự sinh trưởng và phát triển của trụ nằm dưới hoa (ngồng), nó được coi là thành phần hoocmon ra hoa,

có thể xử lý GA3 để có hoa quả trái vụ

GA3 cũng có tác dụng trong việc phân hóa các cơ quan sinh sản đặc biệt là sự phân hóa giới tính đực và cái, kích thích sự hình thành hoa đực và

Trang 34

ức chế quá trình hình thành hoa cái, chính vì vậy mà người ta đã sử dụng

GA3 để điều khiển số lượng hoa đực của các cây họ bầu bí

Theo Hoàng Ngọc Thuận (1994) [28], phun chất kích thích sinh trưởng thực vật cho cam, quýt để nhằm: Nâng cao tỷ lệ đậu quả, làm quả to hơn, làm cho quả ít hạt hay không có hạt, làm rụng bớt hoa những năm cây

ra quả nhiều, tránh hiện tượng ra quả cách năm, hạn chế rụng quả

Trong thí nghiệm về sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng: chế phẩm Antonik, kích phát tố thiên nông và GA3 trên cây cam sành tại Bắc Quang

Hà Giang cho thấy việc sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng làm tăng tỷ lệ đậu hoa đậu quả lên cao so với đối chứng, chất lượng của quả cũng được cải thiện Cũng tương tự trong thí nghiệm về sử dụng chất điều hòa sinh trưởng trên cam Vinh tại Lục Ngạn - Bắc Giang (Nguyễn Danh Đức, 2014) làm giảm tỷ lệ rụng quả, làm tăng năng suất thu hoạch từ 36,4 - 47,6 % và giúp tăng thu nhập trên đơn vị diện tích Trong đó, chế phẩm phân bón lá Rong biển và chất điều hòa sinh trưởng Atonik làm tăng năng suất đến 47,6% so với đối chứng [5]

1.4.3 Sử dụng bón phân hữu cơ vi sinh

Phân hữu cơ vi sinh: Có nguồn nguyên liệu và quy trình công nghiệp như phân hữu cơ sinh học nhưng có một hoặc nhiều chủng vi sinh vật vẫn còn sống và sẽ hoạt động khi được bón vào đất

Nghiên cứu của Võ Thị Gương và cs, (2004)[16] trên nhiều vườn trồng cây cam quýt có tuổi liếp khác nhau cho thấy các liếp vườn trên 20 năm tuổi có pH đất thấp, hàm lượng chất hữu cơ rất thấp, N tổng số nghèo,

N hữu cơ dễ phân hủy, N hữu dụng, cation trao đổi như Mg, Ca và độ bão hòa base đều rất thấp so với các liếp vườn 7 năm tuổi Mật số nấm và vi khuẩn giảm thấp trong các liếp vườn 20 năm tuổi cũng cho thấy hàm lượng chất hữu cơ trong đất bị suy giảm Sự nghèo kiệt chất hữu cơ trong đất sẽ làm cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng bị giới hạn, điều này dẫn đến năng suất kém

Trang 35

Chất mùn hữu cơ trong đất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năng suất của cây trồng thông qua các đặc tính lý, hóa và sinh của đất như:

(a) Cung cấp đạm, lân, lưu huỳnh và các vi lượng một cách từ từ cho cây; (b) Tích trữ dưỡng chất từ phân hóa học Vai trò này rất quan trọng, giúp hạn chế việc mất phân sau khi bón vì nếu không chúng bị bốc hơi hoặc rửa trôi Những chất dinh dưỡng được giữ lại sau đó được phóng thích cho cây hấp thụ khi cần thiết;

(c) Cải thiện cấu trúc của đất, làm đất có nhiều lỗ rỗng hơn vì thế đất trở nên thông thoáng, giúp sự di chuyển của nước trong đất dễ dàng, giữ được nhiều nước hơn;

(d) Làm tăng mật độ vi sinh vật trong đất, bao gồm cả vi sinh vật có lợi Ngoài ra, mùn còn có vai trò kích thích cho cây trồng phát triển Đặc tính này là do sự hiện diện của những chất có chức năng như chất điều hòa sinh trưởng thực vật có trong mùn hữu cơ, có hoạt tính tương tự như IAA, gibberillin, cytokinin, hoặc là những chất ngăn cản sự phân hủy auxin

Ngoài các tác dụng cơ bản trên, việc bón phân hữu cơ còn làm tăng hiệu quả sử dụng của phân vô cơ, dinh dưỡng vô cơ tạm thời được giữ lại để cung cấp từ tử cho cây trồng, hạn chế rửa trôi Từ đấy mà làm giảm số lượng

sử dụng phân vô cơ tạo nên nền nông nghiệp bền vững và hiệu quả

1.5 Sâu bệnh hại cam quýt

Cam quýt được trồng rộng rãi trên thế giới, những vùng cam quýt phát triển nhiều thì sâu bệnh hại cũng rất phong phú về chủng loại và mức độ hại Chính

vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được các nhà khoa học trên thế giới đề cập và công bố (Ngô Xuân Bình, Đào Thanh Vân (2003) [3]; Viện bảo vệ thực vật (1997) [32];

Tác giả Phí Văn Ba (1976) [2] cho biết: Nhật Bản đã công bố có tới

240 loài côn trùng và nhện nhỏ gây hại trên cam quýt, trong đó có 217 loài

Trang 36

côn trùng thuộc 8 bộ, 54 họ Malayxia điều tra và thu thập được 174 loài sâu hại thuộc 57 họ của 10 bộ côn trùng và 01 bộ của lớp nhện Indonecia cũng phát hiện được 68 loài thuộc 32 họ tập trung ở 7 bộ côn trùng và 2 loài nhện hại cam quýt Myanmar cũng công bố có 20 loài sâu gây hại trên cam quýt, trong đó có 2 loài gây hại nghiêm trọng là Ruồi đục quả và Bướm Phượng chấm đỏ

Trong những năm 1967 - 1968 Bộ Nông nghiệp công bố về sâu bệnh hại trên cam quýt đã ghi nhận được 105 loài gồm 67 loài côn trùng, trong đó có 30

loài thuộc bộ Cánh đều (Homoptera), 11 loài bộ Cánh vảy (Lepidoptera), 11 loài

bộ Cánh cứng (Coleoptra), 10 loài bộ Cánh nửa (Hemiptera), 4 loài bộ Cánh thẳng (Ortoptera) và 1 loài bộ hai cánh (Diptera) Nấm có 21 loài, trong đó có

13 loài thuộc lớp Bất toàn (Deuteromycetes) và 7 loài thuộc lớp Tử nang (Phytopthora)

Điều tra thành phần sâu hại cam quýt tỉnh Hà Giang ghi nhận, có 33 loài côn trùng và nhện hại thuộc 7 bộ và 20 họ Rầy chổng cánh, Bọ xít xanh, Bọ nhớt, Câu cấu, Bướm phượng chấm đỏ, Sâu vẽ bùa, Ruồi đục quả, Nhện đỏ, Nhện trắng to được đánh giá là mức độ hại phổ biến (Đỗ Đình Ca (1995) [5]

Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về sâu bệnh hại cam quýt đều khẳng định bệnh Greening là bệnh nguy hại nhất, gây thiệt hại đáng kể cho nhiều quốc gia, nhiều vùng Các vùng trồng cam quýt ở Việt Nam đã và đang đối diện về mức độ phổ biến cũng như tác hại do bệnh Greening gây hại (Trần Như Ý, Đào Thanh Vân và Nguyễn Thế Huấn (2000), [32]

1.6 Kết luận rút ra từ tổng quan tài liệu

Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cam Sành phụ thuộc vào dinh dưỡng, giống, tuổi cây, kỹ thuật canh tác và điều kiện tự nhiên Xác định được thời kỳ sâu bệnh để có biện pháp phòng trừ tạo tiền đề cho năng suất cao

Trang 37

Bón phân qua lá, chất điều hòa sinh trưởng và bón phân hữu cơ vi sinh

là một trong những biện pháp kỹ thuật mang lại hiệu quả lớn giúp tăng năng suất chất lượng cho cam Sành

Mặc dù đây là biện pháp kỹ thuật rất quan trọng nhưng lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, trình độ áp dụng các biện pháp kỹ thuật, điều kiện sinh thái của từng vùng… Bởi vậy, cần có các công trình nghiên cứu để tìm cách bón phân hợp lý thích hợp nhất phù hợp nhất là vấn đề cần phải thực hiện thường xuyên của các nhà nghiên cứu

Trang 38

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng phạm vi và vật liệu nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

+ Nghiên cứu được tiến hành trên giống cam Sành từ 5- 6 tuổi trồng tại huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang Nhân giống bằng phương pháp chiết (thông qua kết quả điều tra tại các hộ nông dân và cán bộ quản lý kỹ thuật) được trồng tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu

- Kích thích tố IBA (Indole-3-butyric acid (IBA)): indole-3-butyric acid (IBA) được dùng để hạn chế sự rụng hoa, quả, tăng tỉ lệ đậu quả và tạo quả không hạt cho cây, tăng năng suất thu hoạch Kích thích nhanh sự sinh trưởng của cây tăng chiều cao, tăng sinh khối

-GA3 (Gibberellic Acid) dạng bột, tan trong nước GA3 là một hoocmon thuộc nhóm Gibberellin có tác dụng điều chỉnh sự phát triển ở thực vật Kích thích sự sinh trưởng kéo dài của thân, sự vươn dài của lóng Thúc đẩy sự phân chia tế bào Kích thích hạt nảy mầm Kích thích sự

ra hoa Làm tăng kích thước của quả và tạo quả không hạt

- Kích phát tố hoa trái thiên nông

+Dạng bột, dễ tan trong nước, hàm lượng gồm: Alpha-Naphthalene Acetic Acid 2%, Beta-Naphtoxy Acetic Acid 0.5%, Gibberrellic Acid GA-3 0.1%

- Phân bón lá Kali - Bo: Thành phầng N 2%, P2O5 2%, K2O 35%,

Bo 3% Cu 100ppm, MgO 100ppm, GA3 2000ppm

- Phân bón lá Đầu trâu 902:

+ Sản xuất tại CÔNG TY CP BÌNH ĐIỀN- MEKONG;

Trang 39

+ Thành phần: 17% đạm (N); 21% lân (P205); 21% kali (K20); 0,03% Canxi (Ca); 0,03% Magiê (Mg); 0,05% Kẽm (Zn); 0,05% Đồng (Cu); 0,03%

Bo (B); 0,01% sắt, 0,01% Mangan (Mn); 0,001% Molipđen (Mo); 0,002% PENAC P; GA3; αNAA; βNOA

- Phân bón lá MĐ 101 % N-P2O5-K2O: 7,5-2-0,3 ppm Cu: 900; Zn: 900; B: 900; Mg: 400; K-Humat 18.000ppm

- Phân hữu cơ Mặt Trời Xanh: SiO2:0,5% ; Nts: 0,5%; P2O5his0,3%

- Phân hữu cơ Quế Lâm HC: 15; N: 3; P2O5: 3; K2O: 2; độ ẩm: 20

+ Hữu cơ=15%, độ ẩm=30%, VSV Cố định đạm: 1*10⁶ CFU/g

+VSV Phân giải lân: 1*10⁶ CFU/g, VSV phân giải xenlulozo: 1*10⁶ CFU/g

- Phân hữu cơ Sông Gianh

+ Độ ẩm: 30%; Hữu cơ: 15%; P2O5hh: 1,5%; Acid Humic: 2,5%; Trung lượng: Ca, Mg, S; Các chủng vi sinh vật hữu ích: 3 × 106CFU/g

2.1.3 Dụng cụ

Thước kẹp Panme, thước mét, cân v.v

2.2 Địa điểm nghiên cứu

- Thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

2.3 Thời gian nghiên cứu

- Từ tháng 2 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017

2.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Nội dung nghiên cứu

2.4.1.1 Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học của giống cam Sành trồng tại huyện Vị Xuyên thông qua các chỉ tiêu về hình thái, sức sinh trưởng, khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất, chất lượng quả khi thu hoạch

2.4.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sự rụng hoa, rụng quả và khả năng cho năng suất của giống cam Sành trồng tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

Trang 40

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu

2.4.2.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học

Tổng số cây trong thí nghiệm 15 cây, đồng đều về sinh trưởng, phát triển, cùng hình thức nhân giống và chế độ chăm sóc, theo dõi các chỉ tiêu sau:

* Đặc điểm sinh trưởng bộ tán cây:

- Chiều cao cây: Đo toàn bộ 15 cây làm thí nghiệm, tính trung bình Theo dõi mỗi tháng 1 lần

- Đường kính tán: Đo toàn bộ 15 cây làm thí nghiệm, tính trung bình Theo dõi mỗi tháng 1 lần

- Chu vi gốc: Đo toàn bộ 15 cây làm thí nghiệm, tính trung bình Theo dõi mỗi tháng 1 lần

- Số cành cấp 1, số cành cấp 2

- Đặc điểm lá: Kích thước, chiều dài, chiều rộng (cm), màu sắc, gân lá,

eo lá Đo và quan sát 30 lá đã hoàn chỉnh/1 giống, tính trung bình (lấy mỗi cây 3 lá bánh tẻ)

- Đặc điểm hình thái hoa Mầu sắc hoa, số lượng nhị, nhụy, số hoa/chùm Đặc điểm chùm hoa (hoa có lá hoặc không có lá)? Hình thức nở hoa (từ dưới lên trên hoặc từ trên xuống dưới? Dạng hoa khi nở (chùm hoa chúc xuống hay hướng lên)?

- Đặc điểm hình thái quả: khối lượng, mầu sắc, hình dạng quả Đo và quan sát 30 quả /1 giống, tính trung bình (lấy mỗi cây 3 quả)

* Đặc điểm sinh trưởng cành

- Số đợt lộc, theo dõi các đợt lộc ra trong năm 2016 và 2017

- Tỷ lệ cành của từng đợt lộc so với tổng số cành lộc trong năm

- Thời gian bắt đầu ra lộc Được tính từ khi có 5% số cành/cây bật lộc

- Thời gian lộc ra rộ được tính khi 50% số cành/cây bật lộc

- Thời gian kết thúc ra lộc Được tính khi trên 80% số lộc trên cây thành thục

Ngày đăng: 09/04/2018, 10:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w