1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề đạo đức cách mạng của sinh viên ở tỉnh Hưng Yên hiện nay

117 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 476,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Các luận án, luận văn có liên quan đến đề tài: + “Giáo dục đạo đức với sự hình thành và phát triển nhân cách sinhviên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của Trần Sỹ Phán, Luận án Tiến

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN AN BÌNH

VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA SINH VIÊN

Ở TỈNH HƯNG YÊN HIỆN NAY

Chuyên ngành : Triết học

Mã số : 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học : PGS TS TRẦN SỸ PHÁN

Hµ Néi - 2011

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công cuộc đổi mới xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đãđem lại những kết quả to lớn trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.Những kết quả đó là do sự nỗ lực phấn đấu, đoàn kết một lòng của toàn Đảng,toàn dân ta Trong đó phải kể đến vai trò của lực lượng thanh niên - lực lượng

xã hội đặc biệt có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng, pháttriển đất nước ở bất kì giai đoạn cách mạng nào, thanh niên luôn là lực lượng

đi đầu trong các phong trào cách mạng, họ là “mùa xuân của nhân loại” Khiđánh giá vai trò của thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Thanhniên là người chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay suy, yếu haymạnh, một phần lớn là do thanh niên

Phát huy vai trò người chủ tương lai của đất nước, sinh viên là một bộ phậnkhá đông đảo trong lực lượng thanh niên nước ta hiện nay, họ đã và đang cónhững đóng góp tích cực đối với sự phát triển của đất nước Sinh viên lànhững người có tri thức, năng động, nhạy bén trong việc tiếp thu cái mới.Trong tương lai họ chính là nguồn nhân lực có trí tuệ, có tay nghề phục vụđắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Sau hai mươi lăm năm đổi mới, đất nước ta đã có nhiều thay đổi căn bản.Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội đã và đang tạo điều kiện, cơ hộithuận lợi cho sinh viên được rèn luyện, phấn đấu vươn lên và để khẳng địnhmình Bên cạnh những chuyển biến tích cực, thì sự tác động mạnh mẽ từ mặttrái của cơ chế thị trường đã và đang làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực,ảnh hưởng không tốt đến lối sống của thanh niên nói chung và sinh viên cáctrường đại học, cao đẳng nước ta nói riêng

Bên cạnh đa số thanh niên - sinh viên say mê tích cực học tập, trau dồi phẩmchất đạo đức, mong muốn trở thành những công dân có ích cho đất nước, vẫncòn một bộ phận không nhỏ có thái độ tiêu cực xa rời truyền thống tốt đẹp mà

Trang 3

bao thế hệ sinh viên nước nhà tạo dựng nên Đó là lối sống thực dụng, buôngthả, bất chấp đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, phai nhạt lítưởng, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên

Làm thế nào để góp phần khắc phục tình trạng xuống cấp đạo đức trong một

bộ phận sinh viên hôm nay Làm thế nào để đào tạo ra được những sinh viên

có nhân cách phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Đây là câu hỏi lớn mà chúng ta đang tìm lời giải đáp.Việc tìm hiểu thực trạng đạo đức sinh viên, tìm ra những giải pháp để khắcphục mặt tiêu cực và phát huy mặt tích cực trong đời sống đạo đức sinh viên,

để sinh viên thực sự xứng đáng là những chủ nhân tương lai của đất nước đã

và đang trở thành cấp thiết hơn bao giờ hết Từ suy nghỉ đó tác giả chọn “Vấn

đề đạo đức cách mạng của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Hưng Yênhiện nay” để làm đề tài luận văn thạc sỹ triết học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề đạo đức nói chung và đạo đức thanh niên - sinh viên nói riêng trongnhững năm gần đây đã có nhiều công trình, bài viết, nhiều tác giả đi sâunghiên cứu:

- Các công trình đã in thành sách:

+ “Đạo đức mới” do GS Vũ Khiêu chủ biên (Nxb Khoa học xã hội,1974) Trong tác phẩm này vấn đề đạo đức, đạo đức mới và giáo dục đạo đứcmới đã được làm sáng tỏ trên những nét cơ bản

+ “Chủ động và tích cực xây dựng đạo đức mới” của Tương Lai(Nxb Sự thật, 1983) Trong cuốn sách này, tuy còn có những hạn chế nhấtđịnh nhưng có thể coi đây là tài liệu tham khảo bổ ích về lĩnh vực đạo đứchọc

+ “Giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên trong thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước” của Ban tư tưởng - Văn hoá Trungương (Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2004) Cuốn sách này đã đề cập một cách

Trang 4

hệ thống nội dung lý luận cũng như thực tiễn đạo đức xã hội của chủ nghĩaMác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời, đã khái quát một cách côđọng những chuẩn mực, truyền thống giá trị đạo đức của dân tộc ta, nhữngnguyên tắc phương hướng và giải pháp xây dựng đạo đức mới cho đội ngũcán bộ, đảng viên nhằm thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng Việt Nam

+ “Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa” của TS Trịnh Duy Huy (Nxb Chính trị Quốc gia, HN,2009) Công trình này tác giả đã tập trung xem xét tác động của kinh tế thịtrường đối với xã hội, chuẩn mực đạo đức hiện nay và thực trạng đạo đức ởnước ta, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần hạn chế mặt tiêu cực củakinh tế thị trường đối với đời sống đạo đức xã hội

+ “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc nâng cao đạo đức cáchmạng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay” Sách chuyên khảocủa PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt nxb CTQG năm 2011 Cuốn sách gồm haichương, chương I bàn về “Nguồn gốc bản chất và nội dung đạo đức cáchmạng Hồ Chí Minh”; chương II bàn về “Đạo đức người cán bộ lãnh đạo hiệnnay - thực trạng và giải pháp ( dưới ánh sáng đạo đức cách mạng Hồ ChíMinh)” Cuốn sách là tài liệu tham khảo có giá trị đối vối những ai nghiên cứu

về đạo đức cách mạng, đạo đức Hồ Chí Minh

- Các luận án, luận văn có liên quan đến đề tài:

+ “Giáo dục đạo đức với sự hình thành và phát triển nhân cách sinhviên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của Trần Sỹ Phán, Luận án Tiến sĩ,1999)

+ “Quan hệ kinh tế và đạo đức với việc xây dựng đạo đức mới chothế hệ trẻ hiện nay ở Việt Nam” của Nguyễn Đình Quế (Luận văn thạc sĩ,2000)

+ “Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ViệtNam hiện nay” của Doãn Thị Chín (Luận văn thạc sĩ, 2004)

Trang 5

+ “Đạo đức sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ởViệt Nam - Thực trạng và giải pháp” của Vũ Thanh Hương (Luận văn thạc sĩ,2004).

+ “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống với việc xây dựng nhân cáchđạo đức sinh viên Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Thanh Hà (Luận vănthạc sỹ, 2007)

+ “Giá trị đạo đức truyền thống với việc xây dựng đạo đức mới chothanh niên Bạc Liêu hiện nay” của Trần Tam Phương (Luận văn thạc sĩ,2008)

- Các bài viết nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức trong một sốtạp chí như:

+ “Tư tưởng đạo đức và việc giáo dục lý tưởng đạo đức cho thanhniên trong điều kiện hiện nay” của Đoàn Văn Khiêm (Tạp chí Triết học, số 2,2001)

+ “Vấn đề xây dựng đạo đức trong bối cảnh phát triển kinh tế thịtrường” của Đỗ Lan Hiền (Tạp chí Triết học, số 4, 2002)

+ “Kết hợp chặt chẽ giáo dục lý luận với xây dựng đạo đức mới củangười cán bộ quản lý” của Nguyễn Ngọc Long (Tạp chí Lý luận chính trị số

+ “Về tính quy luật của sự hình thành hệ giá trị và chuẩn mực đạođức mới” của Nguyễn Văn Phúc (Tạp chí Triết học số 3, 2007)

Trang 6

+ “Giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống cho Thanh niên” của Ngô VănThạo (Tạp chí Lý luận chính trị số 1- 2010)

+ “Thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ, Đảng viên nước ta hiện nayqua Văn kiện Đại hội XI của Đảng” của Trần Sỹ Phán (Tạp chí Triết học, số 8– 2011)

Nhìn chung, những công trình và bài viết nêu trên không chỉ đã đề cậpđến vấn đề đạo đức cách mạng và giáo dục đạo đức trong điều kiện phát triểnhiện nay, góp phần vào việc xây dựng và phát triển đạo đức ở nước ta Là cácnguồn tư liệu quý giá để chúng tôi tham khảo và thừa kế trong quá trình thựchiện đề tài luận văn của mình Vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng cho sinhviên là vấn đề cấp thiết, phức tạp vì thế cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở phân tích thực trạng đạo đức cách mạng của sinh viên ở tỉnh HưngYên trong những năm gần đây và những nguyên nhân của nó, từ đó đề xuấtphương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao đạo đức cáchmạng cho đối tượng này

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên luận văn cần giải quyết cỏc nhiệm vụ sau:

- Làm rõ khái niệm đạo đức cách mạng và nội hàm của nó

- Phân tích thực trạng đạo đức cách mạng của sinh viên các trường đạihọc, cao đẳng ở Hưng Yên hiện nay và tìm hiểu nguyên nhân của thực trạngđó

- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nõng cao đạođức cách mạng cho sinh viên ở Hưng Yên hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng đạo đức cách mạng của sinh viên các trường đại học, cao đẳng

Trang 7

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử và logic; phân tích vàtổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát thực tế, điều tra xã hội học

6 Đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn

6.1 Đóng góp khoa học của luận văn

Luận văn góp phần làm sỏng tỏ thực trạng đạo đức cách mạng của sinh viên ởHưng Yên Trên cơ sở đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếunhằm nâng cao đạo đức cách mạng cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng

ở Hưng yên trong điều kiện hiện nay

6.2 ý nghĩa của luận văn

- Góp phần luận chứng về mặt lý luận cho công tác giáo dục đạo đức cáchmạng cho thanh niên, học sinh, sinh viên

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo chocông tác nghiên cứu, giảng dạy triết học, đạo đức, tổng kết thực tiễn, kháiquát lý luận liên quan đến đạo đức

7 Kết cấu của luận văn

Trang 8

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, luận vănđược bố cục gồm 2 chương 4 tiết.

CHƯƠNG 1

ĐạO ĐứC cách mạng Và THựC TRạNG ĐạO ĐứC cách mạng CủA SINHVIÊN ở TỉNH HƯNG YÊN HIệN NAY

Trang 9

1.1 Đạo đức cách mạng và yêu cầu đạo đức cách mạng đối với sinh viên ởtỉnh Hưng Yên hiện nay.

1.1.1 Đạo đức cách mạng - cuộc cách mạng trong lĩnh vực đạo đức

Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội xuất hiện sớm nhất tronglịch sử tư tưởng loài người Ngay từ trong xó hội cộng sản nguyờn thủy, tuycũn ở trong “trạng thỏi mờ” Nghĩa là nó chưa được phõn xuất, phõn chia rathành một hỡnh thỏi ý thức xó hội riờng biệt, từ những nguyờn tắc, chuẩnmực đạo đức như: không được lấy phần của cải của nhau, không được đàn ápnhau…đó xuất hiện Đây chính là những nguyờn tắc, chuẩn mực đạo đức đầutiờn của con người

Bước sang xó hội chiếm hữu nụ lệ, lần đầu tiờn xó hội cú sự phõn chia giaicấp, vỡ vậy đạo đức cũng mang tớnh giai cấp Điều như Ph Ăng ghen gọi đâylà: “một bước thụt lùi tương đối” về mặt đạo đức

Theo quan niệm phương Đông trong cỏc học thuyết của phật giỏo, của đạogiỏo, của nho giáo đều lấy đạo đức làm cơ sở trong đối nhõn xử thế và tự rốnluyện mỡnh, khuyờn con người làm điều thiện, tránh điều ỏc Cỏc học thuyết

đề xuất cỏc quy tắc cỏc chuẩn mực, những ràng buộc trong cỏc hoạt độngsống của con người Cú thể núi, khỏi niệm đạo đức ở phương Đông có nghĩa

là đạo làm người, bao gồm rất nhiều chuẩn mực về cỏc mối quan hệ vua tụi,cha con, vợ chồng, anh em, làng xúm, bạn bè, tu thân dưỡng tõm, rốn luyệnkhớ tiết theo những giỏ trị định hướng nhất định

ở phương Tây, khỏi niệm đạo đức bắt nguồn từ chữ “mos” trong ngữ vựng Latinh, cú nghĩa là lề thúi “Moralis” cú nghĩa là thúi quen Ngoài ra trong tiếng

Hy lạp cũn cú khỏi niệm ethicos cũng cú nghĩa là tập tục gắn với thúi quen

Cả hai từ này đều chỉ đạo đức của xó hội, tức là núi về tập quỏn, tập tục, lềthúi trong cỏc quan hệ giao tiếp giữa con người với con người

Với thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, dựa trên cơ sở kếthừa có chọn lọc những quan niệm về đạo đức trước đó, đạo đức học mác xít

Trang 10

cho rằng: đạo đức là sản phẩm của điều kiện kinh tế - xã hội, trong đó nhân tốquy định đạo đức là các quan hệ lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế - cái chiphối trực tiếp, là cơ sở khách quan của đạo đức Đúng như các nhà duy vậtPháp quan niệm: “lợi ích hiểu một cách đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộđạo đức"

Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức, nhưng ở mức độ kháiquát nhất, chúng ta có thể hiểu: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tậphợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánhgiá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội,chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống dõn tộc và sứcmạnh của dư luận xã hội [1, tr.7]

Trong quan niệm này, có mấy điểm cần chú ý sau đây:

Thứ nhất, đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, một bộ phận củakiến trúc tầng, tư tưởng đạo đức vừa phản ánh tồn tại xã hội, vừa có mối liên

hệ mật thiết với tư tưởng của các hình thái ý thức xã hội khác Theo quanniệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử tư tưởng đạo đức cũng như tư tưởng chínhtrị, tư tưởng pháp quyền, tư tưởng nghệ thuật, đều là sự phản ánh một cơ sởkinh tế – xã hội nhất định, vừa có quan hệ chặt chẽ với nhau Dưới các hìnhthức phản ánh khác nhau, các tư tưởng ấy đều biểu hiện các lợi ích kinh tế,chính trị , pháp quyền, đạo đức của một dân tộc, một giai cấp, một thời đạinhất định Sự tương tác giữa tư tưởng chính trị, tư tưởng đạo đức, tư tưởngpháp quyền, tư tưởng triết học, tư tưởng tôn giáo, tư tưởng khoa học tạo nên

sự thống nhất trong đa dạng của các hình thái ý thức xã hội

Cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, tư tưởng đạo đức có tính độc lậptương đối so với cơ sở kinh tế và trong tương quan với tư tưởng của các hìnhthái ý thức xã hội khác Biểu hiện rõ rệt nhất của tính độc lập tương đối ấy làchỉ một số truyền thống, ít nhiều phong tục, tập quán và thước đo giá trị đạođức tồn tại lâu dài khi cơ sở kinh tế, các thiết chế chính trị đã mất đi Nhiều

Trang 11

quan hệ đạo đức vẫn còn tác dụng gìn giữ sự phát triển của các mối quan hệnhân bản giữa con người với con người, khi điều kiện kinh tế – chính trị – xãhội đã qua đi lâu rồi

Có thể nói khái niệm đạo đức mang một dung lượng rất rộng bao gồm cáchành vi đạo đức, tư tưởng đạo đức, giá trị đạo đức, lý tưởng đạo đức…

Thứ hai, Sự biến đổi của các quan hệ đạo đức trong xã hội phụ thuộc vàophương thức sản xuất của xã hội Đạo đức phát sinh và phát triển do nhu cầucủa xã hội, đặc biệt là các nhu cầu về lao động, về sản xuất, về sinh tồn, vềgiao tiếp Trong thời kỳ đầu của xã hội loài người, dưới chế độ cộng sảnnguyên thủy, chế độ công hữu về tư liệu sản xuất đã tạo ra các quan hệ đạođức bình đẳng nguyên thủy Lúc ấy cá nhân con người hòa nhập với cuộcsống cộng đồng nguyên thủy Chủ nghĩa tập thể nguyên thủy tạo ra các quan

hệ đạo đức gắn con người với tự nhiên và với cộng đồng của mình, cá nhânkhông tách khỏi cộng đồng C.Mác và Ph Ăngghen thường nói đến đạo đứcvới các hình thái xã hội cổ điển, ở đó con người vẫn gắn chặt với cuống rốncộng đồng

Trong hình thái xã hội mà ở đó chưa có sự phân chia giai cấp không có hiệntượng người bóc lột người Con người cùng nhau hái lượm đánh bắt muôngthú, chim cá và ăn ở tập thể Các phong tục, tập quán, uy tín, sự tôn kínhnhau, sự giúp đỡ nhau tự nguyện là hiện tượng đạo đức phổ biến trong xã hộinguyên thủy Trong các thị tộc nguyên thủy, các quan hệ đạo đức bình đẳng,nhất trí, đoàn kết là nghĩa vụ Nhiều nhà nghiên cứu đạo đức nguyên thủy đềucùng có chung một nhận xét rằng: các quan hệ giữa người và người trong xãhội nguyên thủy rất thẳng thắn, trung thực, kiên cường, dũng cảm, theo đúngnghĩa vụ

Khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi, đòi hỏi đời sống đạo đức cũng phảithay đổi theo Có thể nói, lịch sử tư tưởng nhân loại cũng là lịch sử phát triểncủa đạo đức, những thời đại khác nhau, cộng đồng khác nhau có những kiểu

Trang 12

đạo đức khác nhau Chẳng hạn, ứng với chế độ phong kiến, là đạo đức phongkiến; ứng với chế độ tư bản, dựa trên cơ sở bóc lột người công nhân làm thuê

là đạo đức tư sản; chế độ Xã hội chủ nghĩa tạo ra nền đạo đức thông qua mốiquan hệ hợp tác trên tình đồng chí, quan hệ tương trợ lẫn nhau của người laođộng đã được giải phóng khỏi áp bức bóc lột

Trong các xã hội dựa trên chế độ tư hữu, sự đối lập về lợi ích giữa các giaicấp tạo nên tính khụng thống nhất trong nhận thức, đánh giá, và do đó, tạonên tính không thống nhất trong điều chỉnh đạo đức Các giai cấp khác nhau,đối lập nhau có những nguyên tắc, những chuẩn mực điều chỉnh riêng phùhợp với lợi ích giai cấp mình Trong điều kiện đó, điều chỉnh hành vi đạo đứctrên toàn xã hội không thể thực hiện được theo một phương hướng thống nhất.Không một giai cấp nào, kể cả giai cấp thống trị, có thể kiểm soát được toàn

bộ đời sống đạo đức trên quy mô xã hội Do đó trong điều kiện của xã hội cóđối kháng giai cấp, sự điều chỉnh hành vi bằng pháp luật trở thành phươngthức điều chỉnh hành vi chiếm ưu thế

Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, lợi ích của công nhân, nông dân, trí thức,người lao động không những không đối lập mà càng thống nhất với nhau Cácgiai cấp, các tầng lớp trong xã hội đều có một mục tiêu, một lý tưởng chung làxây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, vănminh” Mục tiêu ấy vừa là mục tiêu kinh tế - xã hội, vừa là mục tiêu, lý tưởngđạo đức Phấn đấu cho mục tiêu đó không chỉ là đòi hỏi về mặt kinh tế - xãhội, mà còn là đòi hỏi về mặt đạo đức Những đòi hỏi này sẽ điều chỉnh hoạtđộng của xã hội theo một hướng thống nhất Đồng thời, trong quá trình này,các giai cấp, các tầng lớp nhân dân lao động vừa là chủ thể vừa là khách thểcủa điều chỉnh đạo đức Điều đó không chỉ cho phép mở rộng phạm vi mà cònnâng cao hiệu quả điều chỉnh của đạo đức trên bình diện xã hội rộng lớn Hơnthế, nó còn đặt ra yêu cầu cũng như tạo ra điều kiện để đưa điều chỉnh đạođức vào trong quá trình quản lý xã hội như một yếu tố hữu cơ Điều chỉnh đạo

Trang 13

đức, do vậy, vừa là động lực của quản lý xã hội, vừa là mục tiêu của quản lý

xã hội

- Thứ ba, đạo đức là một hệ thống các giá trị Sự hình thành, phát triển vàhoàn thiện hệ thống giá trị đạo đức không tách rời sự phát triển và hoàn thiệncủa ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức Nếu hệ thống giá trị đạo đứcphù hợp với sự phát triển, tiến bộ thì hệ thống ấy sẽ mang tính tích cực, mangtính nhân đạo Ngược lại, hệ thống ấy sẽ là tiêu cực, phản động, phản nhânđạo nếu nó đi ngược lại với sự phát triển, sự tiến bộ

Trước Mác và ăng ghen, phần lớn cỏc nhà triết học không thấy được tínhquy định của nhân tố kinh tế đối với sự vận động của xã hội nói chung và đạođức nói riêng Do vậy, đạo đức với tính cách là một lĩnh vực hoạt động đặcthù của con người, của xã hội được họ nhìn nhận tách rời cơ sở kinh tế - xãhội, cái sinh ra và quy định nó Các nhà triết học, đạo đức học trước Mác đãtìm nguồn gốc, bản chất của đạo đức hoặc ở ngay chính bản tính con người,hoặc ở bản tính siêu nhiên ở bên ngoài con người, bên ngoài xã hội Nétchung của các lý thuyết này là coi đạo đức không phải là cái phản ánh cơ sở

xã hội, hiện thực khách quan

Những nhà duy tâm khách quan, tiêu biểu là Platon, sau là Hêghen tuykhông mượn tới thần linh, nhưng lại nhờ đến “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối” để

lý giải bản chất và nguồn gốc đạo đức

Những nhà duy tâm chủ quan coi đạo đức như là những năng lực “tiênthiên” của lý trí con người ý chí đạo đức hay là “thiện ý” theo cách gọi củaCantơ, là một năng lực có tính nhất thành bất biến, có trước kinh nghiệm,nghĩa là có trước và độc lập với những hoạt động mang tính xã hội của conngười

Quan niệm của Phoiơbắc, đã nhìn thấy đạo đức trong quan hệ của con người,người với người Nhưng với ông, con người chỉ là một thực thể trừu tượng,

Trang 14

bất biến, nghĩa là con người ở bên ngoài lịch sử, đứng trên giai cấp, dân tộc

và thời đại

Khác với tất cả các nhà triết học trên đây, Mác và ăng ghen quan niệmđạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triểnlịch sử Hai ông cho rằng, con người khi sống có quan hệ song trùng Một mặtcon người có quan hệ với tự nhiên, tác động vào tự nhiên để thoả mãn cuộcsống của mình Mặt khác, khi tác động vào tự nhiên con người không thể đơnđộc, con người phải quan hệ với con người để tác động vào tự nhiên Sự tácđộng lẫn nhau giữa người và người là hệ quả của hoạt động vật chất và hoạtđộng tinh thần mà cơ bản là hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức

Khi bàn về vai trò của lao động đối với sự hình thành, tồn tại và pháttriển của xã hội loài người, Mác và Ăng ghen cho rằng “Lao động là điều kiện

cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người” [40, tr.641]; người ta phải

ăn, mặc, ở, đi lại trước khi làm chính trị, khoa học, nghệ thuật… Xuất phát từcon người thực tiễn, chứ không phải con người thuần tuý ý thức hay conngười sinh học, hai ông đi đến quan niệm về phương thức sản xuất quyết địnhtoàn bộ các hoạt động của con người, xã hội loài người Trong lời tựa của tácphẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, Mác viết “Phương thứcsản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị

và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định tồn tạicủa họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [34, tr.15].Luận điểm này chính là chìa khoá để khám phá tất cả các hiện tượng xã hộitrong đó có đạo đức

Như vậy, đạo đức không phải là sự biểu hiện của một sức mạnh nào đó ởbên ngoài xã hội, bên ngoài các quan hệ con người; cũng không phải là sựbiểu hiện của những năng lực “tiên thiên”, nhất thành bất biến của con người.Với tư cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức là sản phẩm của những điềukiện sinh hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế - xã hội Đúng như ăng

Trang 15

ghen viết: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đếnnay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” [40, tr.137].Tóm lại, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đạo đức sinh ratrước hết từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất,trong đấu tranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và pháttriển Cùng với sự phát triển của sản xuất, của các quan hệ xã hội, hệ thốngcác quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngàycàng phát triển, nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp.

Đạo đức có các chức năng cơ bản sau:

Thứ nhất, chức năng điều chỉnh hành vi: Theo quan niệm Mác xít, lợi ích cánhân là động lực trực tiếp nhất thúc đẩy con người hoạt động Nhưng sự thựchiện lợi ích cụ thể của mỗi người cụ thể nhiều khi lại cản trở, thậm chí lại triệttiêu lợi ích của người khác Vì thế để ổn định và phát triển của xã hội, nhữngphương thức điều chỉnh hành vi người nhằm giải quyết một cách hợp lý quan

hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội được hình thành Đạo đức là một trongnhững phương thức điều chỉnh hành vi người nhằm đảm bảo sự ổn định vàphát triển của xã hội loài người

Điều chỉnh đạo đức xuất hiện ngay từ thời nguyên thủy với tư cách là sự tiếptục, sự phát triển và mở rộng tập quán của các thị tộc, bộ lạc Đặc trưng của

sự điều chỉnh đạo đức là tính tự giác, tự nguyện Con người (cá nhân) lĩnh hộicác yêu cầu của xã hội dưới hình thức các nguyên tắc, các chuẩn mực đạođức, biến các nguyên tắc các chuẩn mực đó thành động cơ, tình cảm và nghĩa

vụ đạo đức Do đó, hành vi thực hiện các yêu cầu đạo đức xã hội trở thànhhành vi tự do

Điều chỉnh đạo đức được thực hiện thông qua tác động của ý thức đạo đức đốivới hành vi người Toàn bộ các thành tố của ý thức đạo đức đều tham gia vàoquá trình điều chỉnh đạo đức; trong đó, chuẩn mực đạo đức, lý tưởng đạo đức

và tình cảm đạo đức có vai trò cực kỳ quan trọng

Trang 16

Chuẩn mực đạo đức phản ánh những yêu cầu của xã hội với cá nhân Nó xácđịnh những giới hạn được phép và không được phép của hành vi Sự lĩnh hội

và quán triệt các chuẩn mực đạo đức sẽ điều chỉnh hoạt động của con ngườiphù hợp với các yêu cầu của xã hội Nói cụ thể hơn, nhờ sự lĩnh hội các chuẩnmực đạo đức, con người biết làm gì và không được làm gì trong những tìnhhuống cụ thể của cuộc sống

Lý tưởng đạo đức cũng phản ánh yêu cầu của xã hội đối với con người.Nhưng khác với chuẩn mực đạo đức, lý tưởng đạo đức chủ yếu phản ánh sựphát triển, phản ánh tương lai của xã hội những yêu cầu đặt ra trong lý tưởngđạo đức bao giờ cũng cao hơn các yêu cầu đặt ra trong chuẩn mực Vì thế, lýtưởng đạo đức tham gia vào điều chỉnh đạo đức vừa như là nhân tố bảo đảm

sự ổn định, sự bền vững, vừa như là nhân tố làm mở rộng và phát triển hàihòa các quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội Cácchuẩn mực đạo đức xã hội chỉ có thể thực hiện được vai trò điều chỉnh đạođức khi con người lĩnh hụụ̣i chúng

Con người là một thực thể hoạt động có ý thức Mọi hoạt động của con ngườiđều là hoạt động nhằm theo đuổi nhu cầu, lợi ích (vật chất và tinh thần) nhấtđịnh và nhằm hiện thực hoá nhu cầu đó Một động cơ đạo đức trong sáng,lành mạnh sẽ quy định tính lành mạnh, tính trong sáng của phương thức, củaphương tiện đạt mục tiêu phù hợp với chuẩn mực đạo đức tiên tiến; và ngượclại như Mác đã nói: mục tiêu nhân bản không thể sử dụng những phương tiệnphi nhân tính

Do đặc trưng “tự ý thức” như là thuộc tính trội trong đạo đức, con người

sẽ có sự cân nhắc cần thiết về phương diện đạo đức, hậu qủa đạo đức củahành vi trước khi thực hiện hành vi đó Nhờ vậy, nếu được chỉ đạo bởi quanniệm đạo đức đúng đắn, mối quan hệ giữa người và người có liên quan tớihành vi đó sẽ mang tính chất lành mạnh, trong sáng, tích cực Điều đó khôngchỉ góp phần củng cố, phát triển mối quan hệ hài hoà giữa người và người, đó

Trang 17

còn là phương thức quan trọng để tăng cường sự hoà hợp xã hội giữa cáccông dân, tạo ra sự lành mạnh và ổn định xã hội Bởi vì, suy cho cùng, nói tớichức năng điều chỉnh hành vi và tự điều chỉnh mối quan hệ giữa người vớingười, thực chất là nói tới chức năng tự điều chỉnh mối quan hệ lợi ích baogồm lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần giữa người với người Một ngườihoặc một cộng đồng xã hội có đạo đức cao sẽ không bao giờ thực hiện hành

vi mang lại lợi ích cho mình mà làm thiệt hại tới lợi ích chân chính, đúng đắncủa người khác, của cộng đồng khác; họ tự ý thức đúng đắn về sự công bằng,bình đẳng và biết tự kiềm chế hành vi của mình trong giới hạn đó

Như vậy, chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận xã hội vàlương tâm đòi hỏi từ tối thiểu tới tối đa, hành vi con người đã trở thành đặctrưng riêng để phân biệt đạo đức với các hình thái ý thức khác, các hiện tượng

xã hội khác và làm thành cái không thể thay thế của đạo đức

Thứ hai, chức năng giáo dục

Đạo đức là một trong những nụụ̣i dung cốt yếu nhất của nhân cách Người cóhọc vấn nhưng vô đạo đức hoặc có nhiều thói xấu đạo đức, không được coi làngười có nhân cách phát triển Năng lực đạo đức vừa là nhân tố cấu thànhnhân cách vừa là chỉ báo cho sự phát triển nhân cách Tuy nhiên năng lực đạođức hoặc những phẩm chất đạo đức của con người với tư cách cá nhân khôngphải tự nhiên mà có được Sự hình thành và phát triển đạo đức cá nhân bị quyđịnh bởi những điều kiện kinh tế - xã hội và bởi hệ thống đạo đức của xã hội.Tác động của hệ thống đạo đức xã hội tới sự hình thành đạo đức cá nhậnchính là sự thể hiện và thực hiện chức năng giáo dục của đạo đức Mặc dù đạođức xã hội tồn tại dưới một xã hội đặc thù và không phải tồn tại một cách biệtlập mà tồn tại thông qua cá nhân nhưng nó có tính độc lập tương đối, có mốiquan hệ, tương tác với cá nhân làm hình thành và phát triển nhân cách đạođức của con người

Trang 18

Nhân tố đầu tiên cấu thành đạo đức là ý thức đạo đức, trong đó có tri thức,niềm tin, tình cảm và ý chí đạo đức Việc cá nhân, cộng đồng xã hội nóichung thấm nhuần những bộ phận cấu thành nhân tố đó, rèn luyện cho mìnhmột hệ chuẩn đúng đắn trên những vấn đề vừa nêu sẽ góp phần tích cực vàoviệc hoàn thiện nhân cách của chủ thể tương ứng Chính trên cơ sở đó, đạođức giúp chủ thể lựa chọn, đánh giá đúng tư cách của người khác hay củacộng đồng cũng như tự đánh giá đúng bản thân mình.

Như vậy, chức năng giáo dục của đạo đức cần được hiểu, một mặt “giáodục lẫn nhau trong cộng đồng”; giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân vàcộng đồng Mặt khác, là sự “tự giáo dục” ở cả cấp độ cá nhân và cấp độ cộngđồng

Thứ ba, chức năng nhận thức (chức năng phản ánh) Với tư cách là một hìnhthái ý thức xã hội, đạo đức có chức năng nhận thức thông qua sự phản ánh tồntại xã hội Các nguyên tắc , các chuẩn mực đạo đức chính là sự phản ánh đặcthù các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội Đạo đức phản ánh hiện thực

có đặc điểm khác biệt với các hình thái ý thức khác Vì đạo đức là phươngthức đặc biệt của sự chiếm lĩnh thế giới con người Nếu xét dưới góc độ bảnthể luận, đạo đức là hệ thống tinh thần được quy định bởi tồn tại xã hội.Nhưng xét dưới góc độ xã hội học thì hệ thống tinh thần (nhận thức đạo đức)không tách rời thực tiễn - hành động của con người Do vậy, đạo đức là hiệntượng xã hội vừa mang tính tinh thần, vừa mang tính hành động hiện thực.Quan điểm mácxít cho rằng, tiến bộ xã hội, tự do của con người là tiêu chíkhách quan của nhận thức đạo đức Điều đó có nghĩa rằng, tất cả những gìgóp phần vào việc thúc đẩy tiến bộ xã hội và giải phóng con người đều hiệndiện trước nhận thức đạo đức của nhân loại như là những giá trị thiện đíchthực, trong trường hợp ngược lại, đó là điều ác Trong điều kiện xã hội phânchia giai cấp, bao giời cũng tồn tại một giai cấp tiến bộ đang lên Lợi ích củagiai cấp đó phù hợp với sự phát triển xã hội Vì thế lập trường của giai cấp

Trang 19

tiến bộ, cách mạng cho phép nhận thức và đánh giá một cách khách quan cáchiện tượng đạo đức Giai cấp vô sản hiện đại với tư cách là giai cấp có sứmệnh giải phóng nhân loại khỏi mọi sự phân biệt giai cấp, mọi áp bức bóc lột

là giai cấp có khả năng nhận chân những quy luật phát triển xã hội và nhữnggiá trị xã hội hiện đại Lập trường của nó là điều kiện tất yếu để nhận thức vàđánh giá một cách đúng đắn các giá trị đạo đức trong điều kiện hiện nay.Nhận thức đạo đức và kết quả của nó, các nguyên tắc các chuẩn mực đạođức chính là cơ sở điều chỉnh hành vi con người

Đạo đức cách mạng - Cuộc cách mạng trong lĩnh vực đạo đức

Đạo đức cách mạng là đạo đức của giai cấp công nhân, đạo đức cộng sản Xãhội loài người vận động, phát triển như một quá trình lịch sử - tự nhiên, từthấp đến cao qua các hình thái kinh tế - xã hội khỏc nhau Phự hợp với mỗihỡnh thỏi kinh tế - xó hội cụ thể có những quan điểm đạo đức tương ứng Đạođức xã hội cũng vận động, phát triển, đỉnh cao là đạo đức cộng sản

Về mặt lịch sử, đạo đức cách mạng đã tồn tại và phát triển trước khi tồn tại xãhội Xã hội chủ nghĩa, nó được hình thành từ cuộc đấu tranh cách mạng củagiai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản, nhằm thiết lập địa vị thống trịcủa mình Chính nội dung của cuộc đấu tranh đó quy định sự phát triển nộidung của đạo đức mới - đạo đức cách mạng Trong quá trình xây dựng chủnghĩa xã hội, đạo đức cách mạng hình thành và phát triển từ đạo đức của giaicấp vô sản và ngày càng trở thành đạo đức chung của xó hội Và trong tươnglai trở thành đạo đức chung của nhân loại và là đạo đức cộng sản sau khi đãqua giai đoạn đầu của nó là đạo đức Xã hội chủ nghĩa

Như vậy, khái niệm đạo đức cộng sản - đạo đức cách mạng - đạo đức mới - làhoàn toàn mới trong lịch sử xã hội Nó đối lập với đạo đức của giai cấp tư sản

và các giai cấp bóc lột khác Nó cũng khác với đạo đức của những người sảnxuất nhỏ, xét về bản chất V.I Lê nin nờu rừ rằng: đạo đức của chúng ta hoàntoàn phục vụ lợi ích đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản; đạo đức của chúng

Trang 20

ta là từ những lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản mà ra.

“Đạo đức cộng sản là đạo đức phục vụ cuộc đấu tranh ấy, là đạo đức nhằmđoàn kết những người lao động chống mọi sự bóc lột, chống mọi chế độ tưhữu nhỏ, vỡ chế độ tư hữu nhỏ trao cho một cá nhân thành quả lao động dotoàn thể xó hội sáng tạo ra Ruộng đất đối với chúng ta là tài sản chung” [48,tr.369] Vì vậy, “đối với một người cộng sản, tất cả đạo đức là nằm trong cái

kỷ luật đoàn kết keo sơn đó và trong cuộc đấu tranh tự giác của quần chúngchống bọn bóc lột…Đạo đức giúp xó hội loài người tiến lên cao hơn, thoátkhỏi ách bóc lột lao động” [48, tr 371]

Sự khác nhau căn bản giữa đạo đức cách mạng với các hệ thống đạo đức khác

là ở tính cách mạng và khoa học của nó Đạo đức cách mạng là đạo đức phảnánh lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và các giai cấp, tầng lớp nhân dânlao động khác, nó mang bản chất giai cấp công nhân

Giai cấp công nhân Việt Nam có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Namgiành lại độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Mục tiêu

lý tưởng đó phù hợp với quy luật vận động tất yếu của lịch sử xã hội và quyluật tiến bộ của đạo đức nhân loại; vì nó hướng tới mục tiêu giải phóng triệt

để con người khỏi khổ đau, áp bức bóc lột, bất công trong xã hội hiện thực Tính cách mạng và khoa học của đạo đức cách mạng thể hiện trong hệ thốngnhững nguyên tắc cơ bản, nó không mang tính cố định, giáo điều, mà đòi hỏiphải được bổ sung, phát triển cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cáchmạng ở các giai đoạn khác nhau của cách mạng, trên cơ sở những nguyên tắc

cơ bản của đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã bổ sung và pháttriển những nội dung đạo đức cách mạng để phù hợp với thực tiễn

Thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc trước Cách mạng tháng Tám năm

1945, Đảng yêu cầu cán bộ phải “Am hiểu con đường chính trị ” [2, tr.528]

và Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến niềm tin cộng sản: “Giữ chủ nghĩa chovững”, ý thức giữ “bí mật”, trách nhiệm tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và

Trang 21

cổ động quần chúng theo Đảng nhằm chuẩn bị tinh thần và lực lượng chotổng khởi nghĩa thắng lợi Sau thắng lợi chiến dịch Đông Xuân năm 1947,cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển sang thời kỳ mới - Thời kỳcầm cự, khó khăn gian khổ, quyết liệt hơn Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ vừakháng chiến vừa kiến quốc, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, khiviết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao tinh thầnhọc tập, nhất là học tập lý luận Mác - Lênin; đề cao chuẩn mực đạo đức “Cần,kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; nhấn mạnh lề lối, tác phong làm việc khoahọc nhằm khắc phục tình trạng đội ngũ cán bộ còn yếu kém về lý luận, tácphong công tác, đạo đức lối sống Khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bướcvào khôi phục kinh tế, chuẩn bị tiền đề cho chủ nghĩa xã hội, tạo hậu phươngvững chắc để giải phóng miền Nam, trước yêu cầu mới của thực tiễn xâydựng chủ nghĩa xã hội, trong nhiều tác phẩm, đặc biệt là tác phẩm “Đạo đứccách mạng”, Người đề cập nhiều đến chủ nghĩa tập thể, đấu tranh loại trừ chủnghĩa cá nhân, nhất là các biểu hiện quan liêu, đặc quyền, đặc lợi

Như vậy, lý luận đạo đức cách mạng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng

ta bổ sung và phát triển theo yêu cầu thực tiễn cách mạng nước ta Từ “Tưcách người cách mệnh” đến “Đạo đức cách mạng”, đến “Di chúc” được coi lànhững mốc đánh dấu sự phát triển về nội dung đạo đức cách mạng trong tưtưởng Hồ Chí Minh

Từ những phân tích trên, cho phép tác giả luận văn đưa ra quan niệm về đạođức cách mạng như sau:

Đạo đức cách mạng là đạo đức của giai cấp công nhân phản ánh lợi ích cơ bảncủa họ trong quá trình vận động của lịch sử tiến lên xã hội XHCH, góp phầnđoàn kết tất cả các lực lượng cách mạng, thủ tiêu tận gốc mọi sự bóc lột và ápbức, xây dựng xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa

Đạo đức cách mạng được hiểu với nội dung là tổng hòa các phẩm chất đạođức của người cách mạng Đó là lòng trung thành vô hạn với mục tiêu, lý

Trang 22

tưởng cách mạng, chủ nghĩa tập thể, lao động tự giác, sáng tạo, chủ nghĩa yêunước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản và nhữngphẩm chất đạo đức cá nhân như tính trung thực, tính nguyên tắc, tính khiêmtốn, tinh thần dũng cảm Những phẩm chất đạo đức cách mạng trên thốngnhất hữu cơ trong nhân cách của người cách mạng Đạo đức cách mạng khôngngừng được củng cố và phát triển cùng với sự thắng lợi ngày càng to lớn củacách mạng Xã hội chủ nghĩa, của phương thức sản xuất Xã hội chủ nghĩa, trởthành nền đạo đức chung của loài người Đạo đức vô sản như Ph.Ăngghen nói

là thứ đạo đức: “đang tiêu biểu cho sự lật đổ hiện tại, biểu hiện cho lợi ích củatương lai là thứ đạo đức có một số lượng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹnmột sự tồn tại lâu dài” [40, tr.136]

Đạo đức cộng sản là đạo đức của giai cấp công nhân và nhân dân lao động,

nó khẳng định những giá trị tốt đẹp, đồng thời phê phán, đấu tranh chống lạinhững khuynh hướng, tàn dư của đạo đức cũ, những biểu hiện không lànhmạnh, đi ngược lại lợi ích chân chính của con người

Lênin đã khẳng định: “Đối với chúng ta, đạo đức phải phục tùng lợi ích củacuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản” [47, tr.368] Từ đó, Người đã đưa

ra định nghĩa và những nội dung cách mạng của đạo đức cộng sản “Đó lànhững gì góp phần phá huỷ xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất

cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hộimới của những người cộng sản” [47, tr.369 - 371]

Lênin còn khẳng định vai trò cách mạng của đạo đức cộng sản trong xã hộihiện tại: “Đạo đức giúp xã hội loài người tiến lên cao hơn, thoát khỏi ách bóclột lao động” [47, tr.371]

Bản thân sự nghiệp cách mạng và cuộc đời hoạt động của các nhà kinh điểnchủ nghĩa Mác là những tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức cáchmạng

Trang 23

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét một cách sâu sắc về tấm gương đạo đứccủa Lênin: “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính tính coi khinh sự

xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại làđạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dântộc Châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăncản nổi” [54, tr.295]

Như vậy, với tính khoa học, cách mạng và cuộc đời của chính những ngườisáng lập, đạo đức cộng sản là sự thể hiện triệt để nhất và đầy đủ nhất nhữngkhuynh hướng tiến bộ trong sự phát triển đạo đức của loài người

Xõy dựng hoàn thiện và phỏt triển đạo đức cỏch mạng cho sinh viờn là mộtquỏ trỡnh tự giỏc quỏ trỡnh ắt phải tuõn thủ những nguyờn tắc cơ bản sau đâyThứ nhất, chủ nghĩa tập thể là cơ sở của đạo đức cách mạng

Chủ nghĩa tập thể được hình thành từ trong lao động và trong sinh hoạt củacon người Chính lao động và nhờ lao động mà con người ngày càng pháttriển, hoạt động của con người ngày càng phong phú và đa dạng hơn Ngay từđầu, trong lao động và sinh hoạt con người đã mang trong mình bản tính xãhội Xã hội càng phát triển, tính cộng đồng, tính tập thể càng mở rộng

Tinh thần tập thể một khi được thừa nhận là một giá trị cao đẹp, được coi như

là một triết lý sống, một nguyên tắc sống thì phát triển thành chủ nghĩa tậpthể Chủ nghĩa tập thể là sự thống nhất tự giác giữa các cá nhân vì lý tưởngcao quý của con người Đây là sự thống nhất của tình đồng chí, tinh thần tráchnhiệm, thái độ tôn trọng, tương trợ, giúp đỡ, chăm lo cho nhau nhằm bảo đảmcho mỗi cá nhân, tập thể cộng đồng và xã hội phát triển

Chủ nghĩa tập thể vừa là nguyên tắc, vừa là cơ sở và trung tâm của đạo đứcmới, ở đây tập thể vừa là phương tiện, vừa là hình thức để cho các cá nhânphát triển

Tính tập thể được hình thành rất sớm trong lịch sử, nhưng tính tập thể đó cònmang nặng tính tự phát chưa trở thành ý thức của toàn xã hội Chỉ khi giai cấp

Trang 24

vô sản bước lên vũ đài chính trị và chủ nghĩa Mác công khai tuyên bố mụcđích, lý tưởng của mình thì chủ nghĩa tập thể mới có nội dung đầy đủ và trởthành tư tưởng dẫn đường cho nhân loại Bởi vì cách mạng Xã hội chủ nghĩa

là cuộc cách mạng triệt để, sự thay đổi lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuấtdẫn đến sự thay đổi các mặt đời sống xã hội Chủ nghĩa xã hội đem giá trị củacon người trả lại cho con người, coi con người là mục đích cao nhất Chủnghĩa tập thể coi quan hệ của con người với con người là tình đồng chí, trong

đó sự phát triển tự do cá nhân của mỗi người là điều kiện phát triển tự do chomọi người

Ngày nay, bằng hình thức thích hợp, chủ nghĩa tập thể quy định tính chất hoạtđộng của người lao động, con người không chỉ nghĩ về mình mà còn vì ngườikhác với một tinh thần trách nhiệm chăm sóc lẫn nhau thực hiện mục tiêuchung phù hợp với tiến bộ xã hội Chủ nghĩa tập thể luôn có sự thống nhấtgiữa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội Giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa các

cá nhân một cách hợp lý là điều quan trọng, mang lại nội dung của chủ nghĩatập thể

Xây dựng ý thức tập thể, cộng đồng đòi hỏi phải cương quyết chống chủnghĩa cá nhân Tập thể phải chăm lo lợi ích chính đáng của cá nhân, nhưngkhông tuyệt đối hoá lợi ích của cá nhân, phải đặt lợi ích của cá nhân trong lợiích chung của tập thể, cộng đồng, xã hội, tuy nhiên, cũng không được giàyxéo lên lợi ích cá nhân

Phát huy chủ nghĩa tập thể trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xãhội chủ nghĩa càng phải chống chủ nghĩa cá nhân Chủ nghĩa tập thể hoàntoàn đối lập với chủ nghĩa cá nhân Lý tưởng của chủ nghĩa tập thể là đem lại

tự do, hạnh phúc cho mọi người trong xã hội Như Mác đã nói: giải phóng xãhội là điều kiện để giải phóng cá nhân, xã hội có được giải phóng thì mọingười mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc

Thứ hai, lao động tự giác, sáng tạo là cội nguồn của đạo đức cách mạng

Trang 25

Tính quy định sâu xa của lao động đối với sự hình thành đạo đức biểu hiệntrước hết ở vai trò của lao động trong sự hình thành của con người Trong tácphẩm Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thànhngười, bằng sự khái quát các tài liệu sinh học, nhân học đương thời,Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng; “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn

bộ đời sống loài người, và như thế, dến một mức độ mà trên một ý nghĩa nào

đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”(40 tr.641)Nhưng, lao động không chỉ sáng tạo ra con người với tư cách là con ngườisinh vật, nghĩa là làm phát triển bộ não, hoàn thiện các quan năng Cùng vớidiều đó và quan trọng hơn là lao động đã sáng tạo ra con người với tư cách làcon người xã hội có các năng lực, các phẩm chất như: nhận thức, thẩm mỹ,đạo đức

C Mác từng chỉ ra rằng, hành động lịch sử đầu tiên của con người là lao độngthì không bao giờ là hành động đơn lẽ, cá biệt Trong các quan hệ giữa ngườivới người, nghĩa là trong các quan hệ xã hội, con người tiên hành lao động đểthỏa mãn nhu cầu sống cũng như các lợi ích của mình Nhờ có tư duy, conngười nhận ra sự cần thiết của sự tương trợ lẫn nhau trong lao động Tính tấtyếu này đòi hỏi một sự hy sinh nhất định lợi ích cá nhân cho lợi ích của ngườikhác, lợi ích của cộng đồng Nhưng đổi lại lao động của con người có hiệuquả hơn Sự tương trợ đó, ban đầu được thể hiện trên cơ sở con người ý thứcđược tính tất yếu về mặt lợi ích của sự tương trợ lẫn nhau Nhưng, sự tươngtrợ một khi đã trở thành thói quen, tập quán thì khi đó con người nảy sinhkhát vọng tương trợ tự nguyện Khát vọng đó chính là tình cảm đạo đức đầutiên của con người Hành vi được điều chỉnh bởi ý thức và khát vọng tươngtrợ tự nguyện chính là hành vi đạo đức đầu tiên của con người Từ lao động

và cùng với lao động, sự tương trợ lẫn nhau được mở ra các lĩnh vực sống củacon người, xã hội Đó chính là cơ chế của sự hình thành đạo đức Như vậy,đạo đức có nguồn gốc từ lao động và các hoạt động sống của con người Nó

Trang 26

hiện diện như một phương thức đặc thù của sự điều chỉnh hành vi người Sựđiều chỉnh ấy dựa trên cơ sở tự giác, tự nguyện và ưu tiên lợi ích của cộngđồng, xã hội

Xuất phát từ vai trò của lao động đối với sự hình thành, tồn tại và phát triểncon người, C Mác đi đến quan niệm về tính quy định, xét đến cùng, củaphương thức sản xuất, của tồn tại xã hội đối với toàn bộ các lĩnh vực còn lạicủa xã hội Trong lời tựa của tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chínhtrị, C Mác viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quátrình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức củacon người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ýthức của họ”(34, tr15) Luận điểm này chính là chìa khóa để giải thích bảnchất của tất cả hiện tượng xã hội, trong đó có đạo đức

Như vậy, đạo đức không phải là sự biểu hiện của một sức mạnh nào đó bênngoài xã hội, bên ngoài các quan hệ người; cũng không phải là sự biểu hiệncủa những năng lực tiên nghiệm, nhất thành bất biến của con người Với tưcách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội, và do đó,đạo đức có bản chất xã hội Bản chất xã hội của đạo đức biểu hiện ở tính thờiđại, tính dân tộc và tính giai cấp của đạo đức

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa,truyền thống lao động cần cù, tự giác, sáng tạo tiếp tục được phát huy và biểuhiện trên tầm cao mới với những nội dung mới đáp ứng yêu cầu sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tinh thần lao động cần cù và ý thứcsáng tạo trong lao động đang là chìa khoá của sự thành công trong sự nghiệpđổi mới ngày nay

Thứ ba, chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế Yêu nước là tìnhcảm phổ biến của nhân dân các dân tộc trên thế giới và như Lê nin nói: chủnghĩa yêu nước là một trong những tình cảm sâu sắc nhất đã được củng cốqua nhiều năm tồn tại của mỗi quốc gia độc lập

Trang 27

Lòng yêu nước một khi phát triển thành một triết lý nhân sinh, triết lý xã hội,một lối sống, một trình độ nhận thức sâu sắc và có hệ thống, chi phối mọihành vi ứng xử của mỗi con người thì trở thành chủ nghĩa yêu nước Nói vềchủ nghĩa yêu nước Việt Nam, Giáo sư Trần Văn Giàu đã khẳng định “Tìnhcảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân, củadân tộc Việt Nam” và “Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộlịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại ở đây, bản chất Việt Nam biểu lộ đầy

đủ và tập trung nhất, hơn bất cứ chỗ nào khác Yêu nước trở thành một triết lý

xã hội và nhân sinh của người Việt Nam” [41, tr.100 -101]

Yêu nước là tình cảm thiêng liêng của nhân dân ta từ trước đến nay Lòng yêunước có nguồn gốc sâu xa từ ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng

xã và Tổ quốc Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết,

là chăm lo xây dựng quê hương, đất nước, bảo vệ, giữ gìn toàn vẹn lãnh thổquốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Đối với mỗi người,lòng yêu nước phát triển từ tình cảm bình dị và gần gũi với những người ruộtthịt, dần dần phát triển thành tình cảm gắn bó với làng xóm, quê hương và caohơn là tình yêu với Tổ quốc, lòng tự hào dân tộc

Đất nước ta sau hơn 25 năm đổi mới, việc vận hành nền kinh tế thị trường đã

và đang tạo ra những biến đổi to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội và từ đócũng làm biến đổi nội dung của chủ nghĩa yêu nước Yêu nước không chỉdừng lại ở tình cảm thuần tuý, mà còn được thể hiện trong hành động thựctiễn lao động, học tập sáng tạo góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước

Từ ý chí không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, không chịu lệ thuộc,nay chuyển thành ý chí không chịu đói nghèo, lạc hậu

Ngày nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, cơ sở để xác định giá trị của mỗi

cá nhân yêu nước là năng lực và hiệu quả lao động, cống hiến của mỗi người

vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Yêunước Xã hội chủ nghĩa chính là lòng tự hào dân tộc, về sức sáng tạo trong lao

Trang 28

động sản xuất, tự hào về những tấm gương anh hùng bất khuất bảo vệ lợi íchcủa Tổ quốc, của nhân dân, là tinh thần và sự nghiệp cách mạng Xã hội chủnghĩa và độc lập tự do của Tổ quốc Yêu nước trên lập trường của giai cấpcông nhân, yêu nước gắn với tinh thần quốc tế Sự thống nhất giữa chủ nghĩayêu nước và chủ nghĩa quốc tế trở thành một nguyên tắc cơ bản của đạo đứccách mạng.

Thứ tư, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản

Chủ nghĩa nhân đạo là tổng hợp những quan niệm, quan điểm biểu hiện tưtưởng thừa nhận và đề cao quyền sống và phẩm giá của con người, đấu tranhtích cực cho sự tồn tại và phát triển của con người

Chế độ cộng sản nguyên thuỷ đã hình thành tư tưởng nhân đạo sơ khai, tựphát, thể hiện tình yêu thương giữa con người với con người, những thànhviên trong thị tộc và bộ lạc Tình yêu thương ấy còn được thể hiện trong ước

mơ và hành động trong việc cứu vớt, giải thoát con người khỏi những bấthạnh

Chủ nghĩa nhân đạo chỉ thực sự được hình thành về mặt tư tưởng khi cóphong trào Phục hưng ở một số nước Tây Âu thế kỷ XV-XVI Những nhà tưtưởng của chủ nghĩa nhân đạo thời kỳ này là các đại biểu tư tưởng của giaicấp tư sản đang lên chống lại hệ tư tưởng phong kiến, đòi quyền tự do của cánhân phản đối chủ nghĩa khổ hạnh, tôn giáo, đề cao cuộc sống chân thực củacon người Những tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa thời Phục hưng được các nhàKhai sáng thế kỷ XVIII và sau đó là những tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa thế

kỷ XIX tiếp thu và phỏt triển Đó là những tư tưởng tiến bộ phù hợp với yêucầu của quần chúng nhân dân, vì thế nó trở thành ngọn cờ tư tưởng của cáchmạng tư sản Các khuynh hướng nhân đạo chủ nghĩa tuy khác nhau, đềuchống phong kiến, chống giáo hội, nhưng có nhược điểm chung là trừu tượng,kêu gọi tình thương chung chung, không thực hiện được trong thực tế

Trang 29

Chủ nghĩa nhân đạo cộng sản đối lập với chủ nghĩa nhân đạo tư sản và cũngkhác về bản chất so với tư tưởng nhân đạo Kitô giáo, Phật giáo Nó kế thừa vàphát triển trên quan điểm biện chứng, những tinh hoa trong lịch sử nhân loại;

là sự thể hiện thái độ có thiện chí, có sự cảm thông, có tình thương yêu sâusắc của con người đối với con người Sự tận tuỵ phục vụ lợi ích của conngười, đem lại tự do hạnh phúc cho con người, thủ tiêu áp bức bất công trong

xã hội, mọi người đều được tự do, được thực hiện đầy đủ quyền làm người.Đây là chủ nghĩa nhân đạo có tính chất hiện thực và trực tiếp nhằm vào hànhđộng, nhằm giải phóng con người, chứ không phải chỉ là những cảm nhậnthương xót về thân phận con người Trên ý nghĩa đó, chủ nghĩa nhân đạo cộngsản là nội dung cơ bản của đạo đức mới, vì cái gốc của đạo đức, của luân lý làlòng nhân ái

Chủ nghĩa nhân đạo cộng sản cũng mang tính giai cấp, tính dân tộc và tínhlịch sử - cụ thể Tinh thần nhân đạo cộng sản - một nội dung quan trọng củađạo đức mới mà chúng ta đang xác lập và hoàn thiện là nhân đạo trên lậptrường của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Vì vậy, mỗi cá nhân phảibiến tinh thần, tư tưởng và tình cảm nhân đạo thành hành động cụ thể, nỗ lựctrong lao động, học tập, rèn luyện để cống hiến và đem lại lợi ích ngày càngnhiều cho bản thân, gia đình và xã hội

1.1.2 Sinh viên và những yêu cầu đạo đức cách mạng đối với sinh viên ở tỉnhHưng Yên hiện

Sinh viên tầng lớp xã hội đặc thù

Sinh viên là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Students” dùng để chỉnhững người đang học tập ở các trường đại học và cao đẳng, với độ tuổi chủyếu trong khoảng từ 18 đến 25 Đây là lứa tuổi mà con người đã có sự trưởngthành nhất định về mặt sinh học lẫn quan hệ xã hội Họ có khả năng tự ý thức,

tự đánh giá, tự khẳng định mình và hoàn thiện dần về thể lực, nhân cách, trí

Trang 30

tuệ của mình Do đó, có thể nói sinh viên chính là một tầng lớp xã hội đặc thù.Tính đặc thù đó được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, về đặc điểm tâm - sinh lý, với độ tuổi chủ yếu từ 18 đến 25 sinhviên đang ở giai đoạn thanh niên của đời người Lúc này cơ thể con ngườiđang ở thời kỳ hài hoà, đẹp đẽ với sinh lực dồi dào nhất Cơ thể họ đang dần

đi đến hoàn thiện về mọi mặt, các đặc điểm sinh lý, giới tính phát triển đến độchín muồi Do vậy, khả năng hoạt động trí tuệ ở sinh viên khá cao, là điềukiện tốt cho việc lĩnh hội tri thức và rèn luyện năng lực nghề nghiệp trong nhàtrường Họ cũng rất năng động và nhạy cảm với những biến đổi của đời sốngkinh tế - xã hội Với tâm lý thích cái mới lạ, ưa tìm tòi, khám phá, sáng tạosinh viên là những người giàu ước mơ, hoài bão, giàu trí tưởng tượng, luônmong muốn được tự khẳng định mình Họ luôn nêu cao khả năng tự ý thức, tựđánh giá, có nhu cầu cao về học vấn, về tình bạn, tình yêu, thích sự côngbằng, ghét bất công, thích giao lưu và các hoạt động xã hội Từ những đặcđiểm trên sẽ giúp sinh viên có những hiểu biết và thái độ đối với bản thânmình để chủ động định hướng nhân cách theo yêu cầu của xã hội

Tuy nhiên, sinh viên lại đang ở giai đoạn chuyển dần từ sự chín muồi về thểlực tâm sinh lý sang trưởng thành về phương diện xã hội Thời kỳ này tâm lýcủa họ chưa ổn định, đang có sự biến đổi mạnh mẽ về động cơ, về thang giátrị xã hội có liên quan đến nghề nghiệp Vì thế, trong thế giới nội tâm của sinhviên có nhiều phức tạp và mâu thuẫn Điều này cũng tác động lớn tới quátrình hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên, khiến trong nhận thức,thái độ, hành vi của họ thường có mâu thuẫn, nhận thức dễ xa rời với hành vi.Thứ hai, về đời sống xã hội, ở sinh viên có sự phong phú, phức tạp, được bộc

lộ qua nhiều mối quan hệ khác nhau như mối quan hệ với gia đình, với bạn

bè, thầy cô, xã hội… thông qua đó phản ánh cuộc sống nhiều vẻ và đa dạngcủa họ Sinh viên hiện nay sống trong môi trường sôi động, khá phức tạp nênkhông chỉ có điều kiện để tạo ra những bước phát triển mới về nhận thức và

Trang 31

kinh nghiệm mà còn phát triển cả về các chức năng tâm lý, tình cảm Vì vậy,

về mặt xã hội, sinh viên đã biết quan tâm đến tương lai của bản thân và suynghĩ đến sự phát triển của đất nước ở họ bước đầu đã ý thức được tráchnhiệm của người công dân cũng như nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc.Nhiều sinh viên đã biết tự xây dựng kế hoạch để thực hiện nghề nghiệp mình

đã chọn Đây là cơ sở đảm bảo cho niềm tin đúng đắn của họ vào nghề nghiệptrong tương lai

Thứ ba, về hoạt động, với sinh viên khi bước vào cổng trường đại học hoặccao đẳng thì hoạt động chính của họ là học tập và rốn luyện Đây là giai đoạnquá độ chuyển từ vị trí là học trò sang vị thế những nhà trí thức của tương lai,một cuộc sống tự lập Do vậy, hoạt động của sinh viên đã có bước phát triểnhơn trước Việc học tập của họ có tính chất nghiên cứu nhằm nắm lấy tri thức,các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho nghề nghiệp sau này Đồng thời, đồng hànhvới quá trình học tập để trau dồi tri thức là quá trình trau dồi và rèn luyệnnhững phẩm chất đạo đức cần thiết phục vụ cho mục tiêu phát triển trongtương lai

Hoạt động học tập, rèn luyện của nhà trường làm cho người sinh viên lớn lênmọi mặt, đặc biệt khả năng trí tuệ, tư duy độc lập, sáng tạo ngày càng pháttriển, năng lực khái quát hoá, trừu tượng hoá ngày càng được nâng cao, khốilượng tri thức trở nên phong phú theo thời gian Từ đó, gỳp cho sinh viờnngày càng trưởng thành và tham gia nhiều hơn vào các hoạt động xã hội, đoànthể, ý thức được trách nhiệm của mình đối với cộng đồng

Như vậy, sinh viên là một lực lượng xã hội đặc thù, là một bộ phận của thanhniên Khi nói đến sinh viên là nói đến tầng lớp trí thức trẻ trong tương lai, cótrình độ học vấn, năng động, sáng tạo, có khả năng tiếp thu những cái mới, cólòng nhiệt tình, có ước mơ, hoài bão lớn… Đây chính là động lực chắp cánhcho sinh viên hiện nay bay cao, bay xa, vượt qua những khó khăn, thử tháchcủa cuộc sống để vươn lên học tập và lao động

Trang 32

Tuy nhiên, do tính đặc thù của lứa tuổi, nhận thức về cuộc sống, quan điểmsống còn ít, chưa từng trải, thiếu kinh nghiệm nên còn có những hạn chế nhấtđịnh: bồng bột, chủ quan, thiếu thực tế, dễ bốc đồng, ham chuộng hình thức,

dễ bị kích động, lôi kéo vào các hoạt động xấu Một bộ phận sinh viên còn mơ

hồ về lý tưởng cách mạng, có lối sống cá nhân thực dụng, xa rời đạo đứctruyền thống dân tộc, sùng ngoại, sùng bái đồng tiền

Đại hội đại biểu Toàn quốc Hội Sinh viờn Việt Nam lần thứ VIII (nhiệm kỳ

2009 – 2013) chỉ rừ: “một bộ phận sinh viờn chưa xác định mục tiêu, động cơhọc tập đúng đắn, thiếu kiên trỡ, quyết tõm, chưa chăm chỉ học tập…tinh thầntrách nhiệm xó hội cũn hạn chế, cú những biểu hiện chưa tốt về lối sống, mắc

tệ nạn xó hội, vi phạm phỏp luật…” (Bỏo cỏo của BCHTW Hội Sinh viờnViệt nam khóa VIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc HSVVN lần thứ VIII – Hànội 2-2009 tr 3) Đứng trước thực trạng đó, đòi hỏi những người làm công tácgiáo dục phải nắm vững và hiểu rõ đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi của sinhviên để có phương pháp giáo dục, vận động sinh viên một cách khoa học,thiết thực, phù hợp nhằm phát huy điểm mạnh, hạn chế những điểm yếu của

họ Góp phần đào tạo ra những con người đủ đức, đủ tài, thực sự là nguồnnhân lực có chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước

Để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng xã hội ViệtNam ngày càng giàu mạnh đũi hỏi phải có nguồn lực con người có trình độcao, được đào tạo một cách có hệ thống Đó là những con người mới, pháttriển toàn diện về mọi mặt, đủ đức và tài Muốn vậy chúng ta cần phải cóchiến lược đào tạo, bồi dưỡng và phát triển thế hệ trẻ một cách toàn diện.Trong đó, đối tượng cần phải chú ý là đội ngũ sinh viên, bởi lẽ họ chính là

“người chủ tương lai của nước nhà”, có vai trò hết sức quan trọng đối với sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và là một tỉnh đồng bằngthuần tuý (không có rừng, không có biển) Diện tích tự nhiên của tỉnh hiện

Trang 33

nay là 923,09km2, chiếm 2,8% diện tích cả nước Hưng Yên là tỉnh tiếp giápvới 5 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương đó là: Bắc Ninh, Hà Nội, HảiDương, Hà Nam, Thái Bình, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Vớiđặc điểm này, Hưng Yên vừa có nét chung, vừa có những nét đặc thù của mộttỉnh đồng bằng Bắc bộ

Cú thể núi vùng đất Hưng Yên từ rất lâu đó có con người cư trú, theo quátrình bồi tụ của sông Hồng Đây cũng là vùng đất phù sa màu mỡ có truyềnthống văn hiến của dân tộc ta Những truyền thống dân tộc tốt đẹp có ý nghĩatích cực đối với việc hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức cách mạng củangười Hưng Yên nói chung và của sinh viên nói riêng Đó là:

Thứ nhất, truyền thống lao động cần cù, sáng tạo xây dựng quê hương, đấtnước

Ngày nay, tầng canh tác trên đồng ruộng Hưng Yên là tầng đất thuộc, bằngphẳng, đó là thành quả của bao đời ông cha ta đấu tranh cải tạo tự nhiên, biếnđổi những đầm lầy bãi hoang lau sậy, sú vẹt thành những cánh đồng “tamthiên mẫu” thẳng cánh cò bay, cấy lúa, trồng khoai, cây dược liệu, nhãn lồngnổi tiếng Song, kiên cường và bền bỉ nhất là công cuộc chống lũ lụt, hạn hán

để bảo vệ mùa màng và đời sống Tuyến đê sông Hồng, sông Luộc dài hơn80km trên địa bàn tỉnh đó là công trình thuỷ lợi khổng lồ, là biểu dương cho ýchí và nghị lực của hàng triệu người nông dân đời này qua đời khác, gánh đấtđắp đê phòng lụt

Hòa bình lập lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Hưng Yên, phát động phongtrào thi đua làm thủy lợi Người kêu gọi: “nhân định thắng thiên”, “Làm thủylợi khó nhọc vài năm để sung sướng muôn đời” Từ công trình đại thủy nôngBắc - Hưng - Hải cùng hệ thống kênh mương dẫn thủy nhập điền và tiếp đó làcải tạo và nâng cấp hệ thống đê cũ thành hệ thống đê mới đồ sộ hơn, kiên cốhơn Đó là những công trình dồn tụ công sức, trí tuệ của người Hưng Yên thờiđại Hồ Chí Minh Ngày nay, Hưng Yên tiếp tục hoàn thành sự nghiệp đó với

Trang 34

việc hoàn thiện hệ thống thủy nông, kiên cố hóa kênh mương, thực hiện côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, không chỉ đảm bảo đủ ăn

mà còn tăng nhanh sản phẩm hàng hóa xuất khẩu Tất cả đó đó ảnh hưởngchính con người nơi đây đặc biệt là giới trẻ trong đó có sinh viên Bước vàothời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhiều vựng nụng thụn ở Hưng Yên trởthành nhà mỏy xớ nghiệp Những thanh niờn nụng thụn trở thành cụng nhõn,sinh viờn ở các trường đại học, cao đẳng, cao đẳng nghề Chớnh vỡ vậy sốlượng sinh viên cao đẳng nghề ở Hưng Yên chiếm một tỷ lệ đáng kể khoảng1/3 số lượng sinh viờn toàn tỉnh Được đào tạo ở 2 trường cao đẳng nghề vàcác trường đại học, cao đẳng trong tỉnh đều cú hệ đào tạo nghề Trong thực tếcác cơ sở đào tạo nghề ở trỡnh độ cao đẳng đó đáp ứng được phần lớn nhucầu lao động cú tay nghề cao trong tỉnh, cung cấp nguồn nhõn lực các địaphương trong vùng khi có nhu cầu Nhiều tập đoàn công ty xớ nghiệp khắp cảnước đó xem cỏc cơ sở đào tạo nghề ở Hưng Yên là đối tỏc tin cậy như công

ty Ford, tập đoàn Hũa Phỏt, cụng ty Canon, tổng cụng ty lắp mỏy Lilama…Sinh viên Hưng Yên đó và đang phát huy truyền thống lao động, cần cự, sángtạo của quê hương trong nhiều lĩnh vực, trờn mọi miền đất nước

Thứ hai, truyền thống đấu tranh cách mạng

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, nhân dân HưngYên luôn sát cánh cùng nhân dân cả nước, chống thiên tai, địch họa, trong bốicảnh đó đất nước xuất hiện nhiều anh hùng dân tộc vĩ đại cùng với nhữngchiến công lịch sử hiển hách Tại đầm Dạ Trạch, Triệu Quang Phục đã lập căn

cứ đánh thắng giặc Lương, giành lại độc lập cho dân tộc trong 20 năm NgôQuyền đã từng đóng đại bản doanh ở phố Vương (phố Giác - Tiên Lữ), chuẩn

bị cho trận thủy chiến đánh quân Nam Hán ở cửa sông Bạch Đằng Thời nào,trong nhân dân ta cũng xuất hiện những tấm gương yêu nước, anh dũng sángngời Phạm Ngũ Lão nung nấu ý chí đánh giặc, giáo đâm vào người mà khônghay biết Nữ kỹ Đào Thị Huệ diệt giặc bằng tiếng hát Khi thành Hưng Yên

Trang 35

thất thủ lần thứ hai (28/3/1883), Nguyễn Thiện Thuật kháng mệnh triều đìnhdựng cờ khởi nghĩa, chiêu mộ nghĩa binh lập căn cứ chống Pháp ở Bãi Sậy.Khởi nghĩa Bãi Sậy tuy chỉ tồn tại được chín năm (1883 - 1892), nhưng đã thểhiện ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Hưng Yên, tô đậm trang sử hàohùng chống giặc ngoại xâm của dân tộc, chính kẻ thù cũng phải nể phục.Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, những du kích Tô Hiệu,đội nữ du kích Hoàng Ngân đòn gánh đánh Tây, làng kháng chiến Tam Nông,những trận mìn như “tiếng sấm đường 5” đã làm cho kẻ thù khiếp sợ Trongkháng chiến chống Mỹ, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu mộtngười” tỉnh đã thành lập “Trung đoàn Bãi Sậy”, cùng lớp lớp thanh niên lênđường vào Nam đánh giặc.

Ngày nay, truyền thống yêu quê hương, đất nước của nhân dân Hưng Yên lạitiếp tục được phát huy cao độ, tạo nên sức mạnh và điểm tựa vững chắc đểchiến thắng nghèo nàn, lạc hậu Bằng ý chớ và nghị lực vươn lờn trong cuộcsống nhiều sinh viờn tuy gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống vẫn vươn lêntrong học tập vì “ngày mai lập nghiệp”, gúp phần sức lực nhỏ bộ của mỡnhxõy dựng quê hương, đất nước

Thứ ba, truyền thống đoàn kết gắn bó, sống nhân nghĩa, thuỷ chung

Phải thường xuyên chống chọi với thiên tai, địch họa, nhân dân Hưng Yênluôn đoàn kết, gắn bó để vượt qua mọi khó khăn, thử thách Tấm gương vềđạo đức, hiếu nghĩa có Chử Đồng Tử Hiếu thảo, thủy chung có chàng TốngTrân, nàng Cúc Hoa Về nếp sống mới, chúng ta có xã Ngọc Long - huyệnYên Mỹ, cái nôi của phong trào “Gia đình văn hóa” của Việt Nam từ năm

1962 Ngày nay, phẩm chất đạo đức tốt đẹp đó đã và đang tạo ra sức đề khángmạnh mẽ góp phần đẩy lùi lối sống vị kỷ, tha hóa do tác động tiêu cực của cơchế thị trường Truyền thống gắn bú, sống nhõn nghĩa, thủy chung đó có thểnói là đức tớnh chung của dõn tộc ta, đối với sinh viên nói chung và sinh viênHưng Yên nói riêng được biểu hiện bằng những hành động thiết thực và ý

Trang 36

nghĩa như: hiến máu nhân đạo, sinh viên tỡnh nguyện, cụng tỏc từ thiện,quyờn gúp ủng hộ quỹ vỡ người nghốo, quỹ chất độc màu gia cam, đồng bàobóo lụt, giỏo viờn vựng cao…Tuy về vật chất chưa phải là lớn nhưng đối vớisinh viờn thỡ ngoài giỏ trị vật chất nú cũn biểu hiện bản chất tốt đẹp của dõntộc chia ngọt sẽ bựi và điều cú ý nghĩa hơn là góp phần giáo dục đạo đức,nhân cách cho sinh viờn.

Thứ tư, truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, ý chí vượt khó thành tài.Hưng Yên là mảnh đất giàu truyền thống văn hiến, nơi đây đã sản sinh ranhiều anh hùng hào kiệt, các nhà văn hóa lớn Trong 845 năm Nho học, HưngYên có 228 người đỗ đại khoa, trong đó có 8 trạng nguyên, 4 bảng nhãn, 6thám hoa, 47 hoàng giáp, đứng thứ tư trong cả nước Tên của họ được lưudanh trên bia Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, Văn Miếu Huế, Văn MiếuXích Đằng của tỉnh Trong suốt quá trình đấu tranh lâu dài dựng nước và giữnước, vùng đất Hưng Yên thời nào và ở lĩnh vực nào cũng có những nhân tài.Trong lĩnh vực quân sự có Triệu Quang Phục; Nguyễn Thiện Thuật, HoàngHoa Thám Về văn hóa nghệ thuật có: Nguyễn Trung Ngạn; Đoàn Thị Điểm,được mệnh danh là Hồng Hà nữ sĩ, quê ở Giai Phạm - Yên Mỹ, dịch giảChinh phụ ngâm nổi tiếng; Đào Công Soạn (1381 - 1458) quê ở Thiện Phiến -Tiên Lữ, nổi tiếng văn chương chính sự một thời; Chu Mạnh Chinh (1862 -1905), quê ở Phú Thị - Văn Giang, nhà thơ nổi tiếng Về khoa học có Lê HữuTrác (1724 -1791), đại danh y của dân tộc.v.v

Tiếp tục truyền thống đó, bước sang thế kỷ XX, Hưng Yên xuất hiện nhữngnhà chính trị, nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng như Nguyễn Văn Linh, LêVăn Lương, Tô Hiệu; các nhà văn như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng;các nhà khoa học Phạm Huy Thông, Nguyễn Công Tiễu, họa sĩ Tô Ngọc Vân,Dương Bích Liên; nhạc sĩ Mai Văn Chung cùng nhiều anh hùng lực lượng vũtrang, anh hùng lao động, thầy thuốc, nhà giáo ưu tú đã có đóng góp lớn lao

và làm rạng danh cho quê hương, đất nước Năm 2010, Hưng Yên đứng trong

Trang 37

tốp năm tỉnh có tỉ lệ học sinh đỗ đại học cao nhất cả nước, nhiều học sinh đỗthủ khoa của các trường đại học Những tấm gương đó đã và đang khích lệtuổi trẻ Hưng Yên phấn đấu học tập, rèn luyện chiếm lĩnh những đỉnh cao vềvăn hóa và khoa học của thế kỷ XXI để xây dựng quê hương ngày càng giàumạnh.

Những tấm gương, những truyền thống tốt đẹp trên là tài sản quý giá về vănhóa tinh thần, truyền thống đạo đức, về những tính cách và phẩm giá của conngười Hưng Yên Những truyền thống đó làm cơ sở cho việc nhận thức vàxây dựng đạo đức cách mạng cho sinh viờn Vấn đề là ở chỗ, chúng ta phảibiết kế thừa, vận dụng và phát huy những truyền thống đó trong điều kiệnphát triển ở một tỉnh thuần nông đang trên đà chuyển đổi cơ cấu kinh tế Bảnthân nền kinh tế thuần nông đó đã tạo nên những nếp sống, những lối suynghĩ, những hành vi và quan hệ đạo đức mang nặng màu sắc phong kiến, giatrưởng, đạo đức của người sản xuất nhỏ (tự do, tùy tiện, bảo thủ) Ngoài ra,nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp đã làm nặng thêm tính trì trệ, bảo thủ,rập khuôn, thiếu sáng tạo đã ảnh hưởng rṍt lớn đến cách nhìn, tư duy của sinhviên

Xu thế hội nhập quốc tế cũng ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội của Hưng Yên Do đó, sự giao thoa giữa đạo đức truyền thốngvới đạo đức cách mạng, lối sống do kinh tế thị trường sinh ra và đạo đức tưsản từ bên ngoài du nhập vào là không thể tránh khỏi Cuộc đấu tranh cho quátrình xây dựng đạo đức mới trong điều kiện hiện nay là hết sức khó khăn,phức tạp, đòi hỏi một quyết tâm, nghị lực lớn

Hưng Yên cũng chịu sự tác động lớn và trực tiếp của quá trình phát triển kinh

tế - xã hội của các tỉnh lân cận như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh Đây lànhững thị trường tiêu thụ rộng lớn cho các sản phẩm thế mạnh của Hưng Yênnhư nông sản, hàng tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt là hàng thủ công mỹ nghệ;Hưng Yên có thể thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, Hưng Yên

Trang 38

cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức do sự cạnh tranh mạnh mẽ củacác tỉnh lân cận vốn đã có nền kinh tế phát triển từ trước trong khi kinh tếHưng Yên cơ bản vẫn là kinh tế nông nghiệp Đặc biệt, Hưng Yên còn chịu sựcạnh tranh của các tỉnh đồng bằng sông Hồng, của quá trình công nghiệp hóa.Nhiều nông dân sau khi giao đất cho các khu công nghiệp tạo ra một nghịch

lý là nông dân nhưng không có một tấc đất nông nghiệp để sản xuất, trồngtrọt Quốc lộ 5 với tư cách như một hành lang kinh tế chạy qua các huyện phíaBắc tỉnh là Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ, một mặt góp phần thúc đẩy sự pháttriển ở đây, song đồng thời cũng tạo ra sự phân hóa khá rõ rệt giữa các huyệnphía Bắc và các huyện phía Nam của tỉnh

Vì vậy, khi nghiên cứu, đề cập đến vấn đề đạo đức cách mạng của sinh viên ởHưng Yên, chúng ta không thể không xem xét nó dưới ảnh hưởng của nhữngnhân tố trên

Hưng Yên có 6 trường Đại học, cao đẳng gồm: Đại học Sư phạm Kĩ thuậtHưng Yên, Đại học Chu Văn An, Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên, Caođẳng Bách khoa Hưng Yên, Cao đẳng Sư phạm Hưng Yên, Cao đẳng Kinh tế

kĩ thuật và 2 trường cao đẳng nghề với khoảng hơn 40.000 sinh viên

Trong 8 trường đại học, cao đẳng kể trên, trường Đại học sư phạm kỹ thuậtHưng Yên chiếm hơn nửa sinh viờn toàn tỉnh, vỡ vậy trong quỏ trỡnh khảosát tác giả ưu tiên chọn điểm khảo sát nơi đây

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên tiền thân là trường Trung họccông nghiệp Hưng Yên thuộc Bộ Công nghiệp nặng được thành lập ngày 21tháng 12 năm 1966 theo quyết định số 1265/BCNNg/KH của Bộ Công nghiệpnặng với nhiệm vụ đào tạo kỹ thuật viên trung cấp hai ngành cơ khí và độnglực

Quyết định số 242/TTg ngày 03 tháng 12 năm 1970 của Thủ tướng Chính phủgiao trường cho Tổng cục Đào tạo công nhân kỹ thuật (Bộ Lao động) với tên

Trang 39

gọi trường Giáo viên nghề 1, để đào tạo giáo viên dạy nghề cho các trườngcông nhân kỹ thuật và các cơ sở đào tạo nghề.

Quyết định số 80/TTg ngày 05 tháng 03 năm 1979 của Thủ tướng Chính phủcông nhận trường Giáo viên dạy nghề 1 là trường Cao đẳng Sư phạm kỹ thuật

I thuộc Tổng cục Dạy nghề, từ tháng 7/1987 thuộc Bộ Giáo dục & Đào tạo Ngày 06 tháng 01 năm 2003 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số04/2003/QĐ - TTg về việc thành lập trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật HưngYên trên cơ sở trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật I

Trong giai đoạn quy hoạch và phát triển các thành phố vệ tinh của thủ đô HàNội, do nhu cầu phát triển, trong tương lai gần số trường đại học, cao đẳng vàsinh viên ở Hưng Yên sẽ tăng nhanh cả về cơ cấu, chất lượng, số lượng.Trước tình hình đó đòi hỏi sự nỗ lực của chính quyền các cấp, đoàn thể, xãhội cũng phải thay đổi cho phù hợp với điều kiện mới Hiện nay điều kiện ăn,

ở, sinh hoạt cho sinh viên trong các trường còn thiếu về số lượng, cũng nhưkém về chất lượng (như giảng đường, thư viện, ký túc xá, nhà ăn, sân chơi )nên khó khăn trong công tác quản lý, giáo dục và nắm bắt tình hình diễn biến

tư tưởng trong sinh viên Đây là yếu tố cơ bản tác động trực tiếp tới sinh viên.Những yêu cầu đạo đức cách mạng đối với sinh viên

Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, đạo đức qui định bởitồn tại xã hội và chịu ảnh hưởng bởi những hình thái khác như: chính trị, tôngiáo, nghệ thuật….Sự tác động của đạo đức tới ý thức và hành vi của conngười là sự tác động có tính tổng hợp Sinh viên phải ý thức được vai trò củađạo đức đối với sự hình thành, phát triển nhân cách của con người nói chung,nhân cách sinh viên nói riêng cũng như vai trò của đạo đức trong đời sống xãhội Trên cơ sở đó giúp sinh viên hướng tới những giá trị đạo đức cao đẹp,hướng thiện

ở mức độ khái quát nhất, cấu trúc nhân cách có hai thành tố cơ bản đó làđức và tài Đức là đạo đức cách mạng, tài là khả năng, năng lực của mỗi con

Trang 40

người Mối quan hệ giữa đức và tài là mối quan hệ hữu cơ, biện chứng Đúngnhư Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: có tài mà không có đức là người vô dụng, cóđức mà không có tài làm việc gì cũng khó Đối với sinh viên bên cạnh những

ưu điểm thì họ có cả những nhược điểm, vì vậy phải giúp họ nhận thức được

vị trí, vai trò của đạo đức trong cấu trúc nhân cách Không nhận thức đượcvấn đề này họ dễ bị sa ngã, coi trọng năng lực chuyên môn, coi thường giá trịđạo đức, nhân cách của con người dẫn đến sự lệch lạc trong nhận thức củasinh viên

Ngoài ra đạo đức còn có vai trò hết sức to lớn đối với đời sống xã hội,vai trò đó thể hiện ở chỗ:

- Đạo đức là một trong những phương thức dùng để điều chỉnh hành vicon người, nhân đạo hóa con người và xã hội hóa loài người

- Đạo đức góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển một cách hướngthiện

- Xã hội càng phát triển nhân loại càng cần đến đạo đức

Với tư cách là chủ nhân tương lai của đất nước, đòi hỏi sinh viên phải nhậnthức được vị trí, vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội để cùng xã hội xâydựng nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng - nền đạo đức có nhiều nhân tốhứa hẹn cho một tương lai tốt đẹp Yêu cầu đó là:

Thứ nhất, về mặt nhận thức, nhận thức đúng vị trí, vai trò của đạo đức.Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, cùng với xu thế hợp tác, cạnhtranh, hội nhập và phát triển đang đòi hỏi phải có những con người mới, cónhân cách phát triển toàn diện, vừa “hồng”, vừa “chuyên” để đáp ứng yêu cầuphát triển của đất nước Tại Đại hội Đảng lần thứ X đã đặt ra yêu cầu chongành giáo dục đào tạo cần: “Coi trọng, bồi dưỡng cho học sinh, sinh viênkhát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp bảnthân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc, trau dồi cho học sinh, sinh viênbản lĩnh, phẩm chất và lối sống của thể hệ trẻ Việt Nam hiện đại” [19, tr.207]

Ngày đăng: 09/04/2018, 10:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w