1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Hà Hòa tỉnh Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)

94 242 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Hà Hòa tỉnh Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Hà Hòa tỉnh Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Hà Hòa tỉnh Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Hà Hòa tỉnh Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Hà Hòa tỉnh Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Hà Hòa tỉnh Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Hà Hòa tỉnh Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Hà Hòa tỉnh Phú Thọ (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TIẾT THỊ MINH HOA

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN HẠ HÒA

TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TIẾT THỊ MINH HOA

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN HẠ HÒA

TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI ĐÌNH HÒA

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ

rõ nguồn gốc Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017

Tác giả luận văn Tiết Thị Minh Hoa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm

ơn đến TS.Bùi Đình Hòa, người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn đến quý Thầy giáo, Cô giáo Khoa Kinh tế và PTNT, phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn đến Huyện Ủy, UBND huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ, các phòng ban chức năng của huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ; UBND các xã điều tra thuộc huyện Hạ Hòa; Ngân hàng CSXH huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ; các hộ nông dân đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017

Tác giả luận văn Tiết Thị Minh Hoa

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH v

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Đói nghèo và cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo 4

1.1.1 Định nghĩa về nghèo 4

1.1.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói 6

1.2 Tín dụng đối với hộ nghèo 12

1.2.1 Khái niệm tín dụng 12

1.2.2 Tín dụng đối với người nghèo 12

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo 13

1.2.4 Cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của Ngân hàng CSXH 14

1.3 Nội dung, hệ thống chỉ tiêu đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH 17

1.3.1 Một vài nét về Ngân hàng chính sách xã hội 17

1.3.2 Khái niệm hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội 23

1.3.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH 23

1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH 28

1.4 Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới và Việt Nam về cho vay đối với người nghèo 30

1.4.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới 30

1.4.2 Kinh nghiệm ở Việt Nam 31

1.4.3 Một số bài học kinh nghiệm cho huyện Hạ Hoà tỉnh Phú Thọ 39

Trang 6

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 41

2.2 Phương pháp nghiên cứu 41

2.2.1 Phương pháp chọn điểm và thu thập tài liệu 41

2.2.2 Phương pháp PRA 42

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 42

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 44

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 44

3.1.2 Đặc điểm KT - XH 46

3.2 Tình trạng nghèo đói của huyện Hạ Hòa 51

3.2.1 Thực trạng nghèo của huyện Hạ Hòa năm 2015-2016 theo chuẩn nghèo mới 51

3.2.2 Thực trạng nghèo của huyện Hạ Hòa theo các nhóm đối tượng 55

3.3 Thực trạng hoạt động cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ 57

3.3.1 Giới thiệu tổng quan về mô hình tổ chức và hoạt động của NHCSXH huyện Hạ Hòa - tỉnh Phú Thọ 57

3.3.2 Thực trạng hoạt động cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH huyện Hạ Hòa - tỉnh Phú Thọ 60

3.3.3 Hiệu quả sử dụng vốn vay của nhóm hộ điều tra 63

3.4 Giải pháp thực hiện nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại NHCSXH huyện Hạ Hòa 67

3.4.1 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội huyện Hạ Hòa và phương hướng nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH Hạ Hòa đến năm 2020 67

3.4.2 Giải pháp thực hiện nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại NHCSXH huyện Hạ Hòa 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC 91

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH

Bảng 2.1 Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia) 8

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất của huyện Hạ Hòa năm 2016 45

Bảng 3.2 Giá trị tăng thêm trên địa bàn huyện Hạ Hòa năm 2016 46

Bảng 3.3 Tình hình dân số huyện Hạ hòa năm 2016 phân theo thành thị, nông thôn và giới tính 47

Bảng 3.4 Lao động huyện Hạ Hòa phân theo đơn vị và ngành kinh tế năm 2016 48

Bảng 3.5 Thực trạng giáo dục huyện Hạ Hòa 50

Bảng 3.6 Thực trạng nghèo của huyện Hạ Hòa năm 2015-2016 51

Bảng 3.7 Thực trạng nghèo của huyện Hạ Hòa theo các nhóm đối tượng 55

Bảng 3.8 Cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH huyện Hạ Hòa 60

Bảng 3.9 Doanh số cho vay, dư nợ cho vay hộ nghèo 60

Bảng 3.10 Cơ cấu cho vay hộ nghèo 61

Bảng 3.11 Dư nợ hộ nghèo theo ngành nghề 61

Bảng 3.12 Tỷ trọng dư nợ hộ nghèo trong tổng dư nợ của NHCSXH huyện Hạ Hòa 62

Bảng 3.13 Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay hộ nghèo của NHCSXH huyện Hạ Hòa 62

Bảng 3.14 Tỷ lệ hộ nghèo sử dụng vốn sai mục đích xin vay 62

Bảng 3.15 Mức độ đáp ứng nhu cầu vay vốn của NHCS huyện Hạ Hòa 63

Bảng 3.16 Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn 63

Bảng 3.17 Mức thu nhập bình quân các hộ trước và sau vay vốn 64

Bảng 3.18 Tỷ lệ hộ thoát nghèo nhờ chương trình cho vay ưu đãi (*) 65

Bảng 3.19 Ý kiến các hộ điều tra về lượng, thời hạn và lãi suất vay vốn của ngân hàng CSXH 65

Bảng 3.20 Ý kiến các hộ điều tra về vay vốn của ngân hàng CSXH 66

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đều đạt mức khá cao, ngay cả thời kỳ suy thoái của nền kinh tế thế giới Nhờ đó, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, đưa tỷ lệ hộ nghèo giảm từ hơn 60% năm 1990 xuống còn 17,2% năm 2000 và 4,5% năm 2015[1] Tuy vậy, xóa đói giảm nghèo (XĐGN) là một sự nghiệp khó khăn và lâu dài, đòi hỏi phải có sự giúp đỡ của các ngành, các cấp, trong đó Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) đóng vai trò rất quan trọng

Để đưa đồng vốn chính sách của Chính phủ đến tận tay người nghèo và đối tượng chính sách với chi phí thấp nhất, hiệu quả cao nhất, NHCSXH (thành lập tháng 10-2002) đã xây dựng mô hình tổ chức và phương thức quản lý tín dụng đặc thù, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam Mạng lưới hoạt động của NHCSXH có 63 chi nhánh cấp tỉnh, 629 phòng giao dịch cấp huyện và gần 11.000 điểm giao dịch (hoạt động một ngày cố định trong tháng) tại các xã/phường/thị trấn trên cả nước Ngoài ra, còn hệ thống gần 200.000 tổ tiết kiệm và vay vốn do các hội đoàn thể quản lý tại các thôn xóm, bản làng, đến tận vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo… Tính đến tháng 9-2016, với 20 chương trình tín dụng, tổng nguồn vốn của NHCSXH đạt hơn 157.000 tỷ đồng, tổng dư nợ đạt hơn 150.000 tỷ đồng, góp phần giúp hơn 28,8 triệu lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn phát triển sản xuất; hơn 4 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo Các chương trình của NHCSXH đã tạo việc làm mới cho 3,2 triệu lao động, trong đó 107.000 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; giúp 3,4 triệu học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng gần 8.000 căn nhà tránh lũ cho hộ nghèo tại các tỉnh miền Trung, hơn 104.000 căn nhà vượt lũ cho hộ gia đình vùng Đồng bằng sông Cửu Long và gần 484.000 căn nhà cho hộ nghèo và các gia đình chính sách chưa có nhà ở trên toàn quốc… Đặc biệt, chất lượng tín dụng chính sách không ngừng được củng cố, tỷ lệ nợ quá hạn và

nợ khoanh giảm đáng kể khi chỉ chiếm 0,87% tổng dư nợ.Kể từ khi thành lập NHCSXH đã cho thấy mô hình của chúng ta còn ưu việt hơn, quy mô lớn hơn nhiều ngân hàng đã tồn tại trong khu vực và trên thế giới chuyên về phục vụ người

Trang 9

nghèo.Tín dụng chính sách là một giải pháp có tính nhân văn sâu sắc và phù hợp với thực tiễn đất nước Đây là kênh quan trọng để chúng ta phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của người nghèo; đồng thời giảm thiểu tư duy trông chờ, ỷ lại Vì khi

sử dụng vốn vay, người dân có ý thức chủ động hơn so với với các chương trình hỗ trợ cho không, phát không, các chương trình hỗ trợ trực tiếp

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tuy nhiên, giai đoạn

2016-2020 theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều, tổng số hộ nghèo trên toàn quốc là hơn 2,3 triệu hộ; hộ cận nghèo hơn 1,2 triệu hộ Như vậy, đối tượng có nhu cầu vay vốn rất lớn, đây là thách thức đối với NHCSXH trong điều kiện nguồn vốn ngân sách còn hạn hẹp Công cuộc thực hiện giảm nghèo bền vững thêm thách thức khi thực tế những năm qua cho thấy, nguồn lực để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội còn thấp so với nhu cầu thực tế của các đối tượng chính sách Kế hoạch giao tăng trưởng tín dụng hàng năm chưa phù hợp với Chiến lược phát triển NHCSXH được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; vốn ngân sách Nhà nước cấp bổ sung vốn điều lệ, vốn các chương trình tín dụng chính sách chưa kịp thời,… Điều này Ban Bí thư Trung ương Đảng đã nêu rõ tại Chỉ thị 40-CT/TW ngày 22-11-2014: “Nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội chưa thực sự ổn định, cơ cấu chưa hợp lý, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế; chất lượng tín dụng chưa đồng đều Một

số cấp ủy đảng, chính quyền chưa thực sự vào cuộc, chưa quan tâm đúng mức tới hoạt động tín dụng chính sách xã hội…”

Tại huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ, Chương trình XĐGN đã và đang được các cấp, các ngành tại địa phương hết sức quan tâm Nhờ vậy, đã có hàng trăm hộ thoát nghèo, trong đó nhiều hộ đã tự vươn lên làm giàu chính đáng Tỷ lệ hộ nghèo của huyện năm 1996 là 32%, đến năm 2015 giảm còn 7,5% Góp sức vào sự nghiệp chung đó có sự nỗ lực của NHCSXH của huyện Cụ thể, hàng năm ngân hàng này

đã cho hàng trăm lượt hộ nghèo vay vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh Mặc dù đã đạt được những thành tựu, xong hoạt động cho vay hộ nghèo tại NHCSXH huyện

Hạ Hòa hiện vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế Đó là: nguồn vốn huy động thiếu tính ổn định, qui mô cho vay còn nhỏ, điều kiện cho vay còn thiếu rõ ràng, và đặc biệt, thủ tục cho vay còn rườm rà, người vay vốn chưa sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay… Để nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động cho vay hộ nghèo tại

Trang 10

NHCSXH, trong thời gian tới NHCSXH huyện cần tìm được các giải pháp phù hợp, nhất là những giải pháp mang tính đột phá để nâng cao hiệu quả cho vay đối với hộ nghèo trên địa bàn huyện Góp phần thực hiện thành công chương trình giảm nghèo của huyện giai đoạn 2016-2020

Với những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi

đối với hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ” làm luận văn tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH

- Đánh giá thực trạng cho vay và hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại NHCSXH huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, đồng thời chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại NHCSXH huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Đói nghèo và cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo

1.1.1 Định nghĩa về nghèo

Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo đã được hiểu rộng hơn, sâu hơn và cũng có thể được hiểu theo các cách tiếp cận khác nhau: Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không

có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng

có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh

an toàn” [9]

Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm: "Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực" [31]

Tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy Ban Kinh Tế Xã Hội Khu Vực Châu Á

- Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan vào tháng 9 năm

1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và phong tục ấy được xã hội thừa nhận” [20]

Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen - Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau:

“Nghèo đói là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” [20] Nói một cách cụ thể hơn, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống

ở mức tối thiểu, không thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người Nhu cầu cơ bản ở

Trang 12

đây chính là cái thiết yếu, cái tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người Nhu cầu

ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp, v.v…

Về thời gian: Phần lớn người nghèo có mức sống dưới mức được xác định như một chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận trong một thời gian dài (cũng cần phải bổ sung vào số người này những người nghèo tình thế do thất nghiệp do thiên tai, rủi

do hay do con người gây ra) [17]

Về giới: Phần lớn người nghèo ở các nước đều là phụ nữ Mặc dù trong gia đình, nam giới là chủ nhưng phụ nữ vẫn phải gánh chịu nhiều hơn gánh nặng của nghèo [17]

Về không gian: Nghèo diễn ra chủ yếu ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng

xa, v.v… Dù nền kinh tế có phát triển đến thế nào chăng nữa, dân cư ở các vùng kể trên vẫn dễ bị rơi vào nghèo [17]

Về môi trường: Hầu hết những người nghèo đều phải sống trong môi trường khắc nghiệt và xuống cấp nghiêm trọng, bởi vì những người nghèo không đủ khả năng và điều kiện gìn giữ, đảm bảo và cải thiện môi trường sống [17]

Tóm lại: Những quan niệm về nghèo đói do các cách tiếp cận khác nhau nên có những ý kiến khác nhau, nghèo là một khái niệm tương đối và có tính biến đổi Các chỉ

số xác định giới hạn nghèo không phải là cứng nhắc và bất biến

Khái niệm về hộ đói: Hộ đói là một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu, không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống hay nói cách khác

đó là một bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa, thường xuyên phải vay nợ và không có khả năng trả nợ

Khái niệm về hộ nghèo: Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện

Khái niệm xã nghèo: Xã nghèo có các đặc trưng sau:

- Tỷ lệ hộ nghèo từ 15% trở lên

- Dưới 70% số hộ được sử dụng nước sạch

- Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của bộ giao thông vận tải dưới 90%, tỷ lệ km đường trục

Trang 13

thôn xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của bộ giao thông vận tải dưới 70%

- Chưa có hoặc có chợ trung tâm xã đạt tiêu chuẩn của bộ xây dựng

- Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao

Khái niệm về vùng nghèo: Vùng nghèo là chỉ địa bàn tương đối rộng có thể là một số xã liền kề nhau hoặc một vùng dân cư nằm ở vị trí rất khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, không có điều kiện phát triển sản xuất đảm bảo cuộc sống và là vùng có số hộ nghèo và xã nghèo cao [1]

1.1.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói

1.1.2.1 Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới

Để đánh giá nghèo đói Liên hợp quốc (UNDP) dùng cách tính dựa trên cơ sở phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong thời gian nhất định Nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư Phương pháp tính là: Đem chia dân số của 1 nước, 1 châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm có 20% dân

số bao gồm: Rất giàu, giàu, trung bình, nghèo, rất nghèo Theo cách tính này vào những năm 1990 thì 20% dân số giàu nhất chiếm 82,7% thu nhập toàn thế giới, trong khi 20% người nghèo nhất chỉ chiếm 1,4% thu nhập toàn thế giới Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại:

Trên 25.000USD/người/năm: Là nước cực giàu

- Từ 20.000 đến dưới 25.000USD/người/năm: Là nước giàu

- Từ 10.000 đến dưới 20.000USD/người/năm: Là nước khá giàu

- Từ 2.500 đến dưới 10.000 USD/người/năm: Là nước trung bình

- Từ 500 đến dưới 2.500USD/người/năm: Là nước nghèo

- Dưới 500USD/người/năm: Là nước cực nghèo

Trang 14

Cũng theo quan niệm trên Ngân hàng thế giới đưa ra kiến nghị thang nghèo đói như sau:

+ Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu nhập dưới 0.5 USD/ngày

+ Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày

+ Các nước thuộc châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày

+ Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày

+ Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày

Theo quan điểm chung của nhiều nước, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội Do đặc điểm của nền KT - XH và sức mua của đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốc gia Ở một số nước có thu nhập cao, chuẩn nghèo được xác định là 14USD/người/ngày Trong khi đó chuẩn nghèo của Malaysia là 28 USD/ người /tháng, Srilanca là 17 USD/người/tháng, v.v…

Ở Việt Nam, GDP bình quân khoảng 600USD/người/năm, nên so diện chung của thế giới nước ta là nước nghèo khó Do đó, không thể lấy mức nghèo của WB

để xác định nghèo của Việt Nam [17]

Vì vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn của riêng nước mình thông thường thấp hơn thang nghèo đói mà Ngân hàng thế giới đưa ra Ví dụ như Mỹ đưa ra chuẩn nghèo

là mức thu nhập dưới 16.000 Kcal đối với một hộ gia đình chuẩn (gia đình 4 người) trong một năm tương đương với 11,1 USD/ngày/người

Nhưng cần thấy rằng, ngoài thu nhập nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu

tố khác như văn hóa, chính trị, xã hội, sức khỏe, trình độ… Vì vậy, để đánh giá vấn đề nghèo đói, bên cạnh tiêu chí thu nhập quốc gia bình quân, UNDP còn đưa ra chỉ số phát triển con người HDI bao gồm hệ thống 3 chỉ tiêu: tuổi thọ, tình trạng biết chữ của người lớn và thu nhập bình quân đầu người trong năm Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự phát triển và trình độ văn minh của mỗi quốc gia, nhìn nhận nước giàu nghèo tương đối chính xác và khách quan

1.1.2.2 Xác định tiêu chí chuẩn nghèo của Việt Nam

- Phương pháp xác định chuẩn nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc gia Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực của chương trình XĐGN đã

Trang 15

tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kì Lúc đầu, nghèo được xác định dựa trên các chỉ tiêu nhu cầu, sau đó chuyển sang chỉ tiêu thu nhập, kết quả là đã 6 lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau (bảng 2.1):

Bảng 2.1 Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia)

Chuẩn nghèo đói

qua các giai đoạn

Phân loại người nghèo đói

Mức thu nhập bình quân/người/tháng

1993 - 1995

(Mức thu nhập bình

quân quy ra gạo)

Đói (KV nông thôn) Dưới 8Kg Đói (KV thành thị) Dưới 13Kg Nghèo (KV nông thôn) Dưới 15Kg Nghèo (KV thành thị) Dưới 20Kg

đồng bằng trung du) Dưới 100.000 đồng Nghèo (KV thành thị) Dưới 150.000 đồng

(Nguồn: Bộ LĐ-TB và XH, chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN và Quyết định

số 170/2005/QĐ-TT; Quyết định số 59/2015 TTg)

Trang 16

Đầu năm 1998, cả nước có 2,65 triệu hộ với khoảng 14 triệu dân nghèo đói, chiếm 17,7% dân số Trong đó có 300.000 hộ thường xuyên nghèo đói; có 1.498 xã

có tỷ lệ hộ nghèo từ 40% trở lên và 1.168 xã thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu (điện, đường, trường, trạm xá, chợ, nước sạch, v.v…), 2/3 số xã nghèo là các xã miền núi, khoảng 1,2 triệu người ở 978 xã cần được định canh, định cư và 15 vạn đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn cần được hỗ trợ phát triển Đến cuối năm 2000,

tỷ lệ hộ nghèo ở thành thị còn 6% và nông thôn 11,2% Đầu năm 2001 khi thay đổi chuẩn nghèo đói, nước ta còn khoảng 2,8 triệu hộ nghèo (chiếm 17,11%) đến cuối năm 2005 còn khoảng 1,6 triệu hộ nghèo, chiếm khoảng 9,5% [17] Ngày 10 tháng

9 năm 2015, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ký ban hành Quyết định số 1294/QĐ-LĐTBXH phê duyệt kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2014 Theo đó, tổng số hộ nghèo trên phạm vi cả nước năm 2014

là 1.442.261 hộ (giảm 375.628 hộ so với năm 2013) Tỷ lệ hộ nghèo năm 2014

là 5,97%, giảm 1,83% so với năm 2013 (theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định

số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015) Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung vừa ban hành Quyết định số 1905/QĐ-LĐTBXH ngày 22/8 về việc phê duyệt kết quả Tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2015 theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.Theo kết quả điều tra, cả nước có hơn 2,338 triệu hộ nghèo chiếm

tỷ lệ 9,88% so với tổng số hộ dân cư trên toàn quốc và hơn 1,235 triệu hộ cận nghèo (chiếm tỷ lệ 5,22%) theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020

Như vậy, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều đã tăng tỷ lệ hộ nghèo từ dưới 5% năm 2015 lên gần 10% năm 2016 Nguyên nhân tỷ lệ hộ nghèo tăng gần gấp đôi là do chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 tiếp cận dựa trên việc đo lường thu nhập nhưng chuẩn nghèo mới trong giai đoạn 2016-2020 nâng tiêu chí về thu nhập

và đo lường thêm các mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản như: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin

Kết quả điều tra cho thấy khu vực miền núi Tây Bắc có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước với 34,52%, tiếp theo là miền núi Đông Bắc (20,74%) và Tây Nguyên

Trang 17

(17,14%) Đông Nam bộ có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất cả nước với 1,23%, tỷ lệ hộ nghèo của Đồng bằng sông Hồng cũng chỉ 4,76% Phương pháp chuẩn nghèo này

đã được đánh giá phù hợp với mức sống và thu nhập của dân cư nói chung, cũng như thu nhập của 20% nhóm nghèo nhất, đảm bảo được khả năng huy động nguồn lực thực hiện mục tiêu dự kiến và đáp ứng được yêu cầu từng bước tiếp cận và hội nhập quốc tế [1]

1.1.2.3 Nguyên nhân đói nghèo

Đói nghèo là hậu quả đan xen của nhiều nguyên nhân nằm trong các nhóm nguyên nhân Nhóm nguyên nhân khách quan, do môi trường tự nhiên (vị trí, khí hậu, đất đai); kinh tế - xã hội (trình độ dân trí thấp, yếu tố tập quán của từng dân tộc, từng vùng miền, chính sách của Nhà nước) và nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo; đi vào phân tích các nguyên nhân như sau:

Thứ nhất, nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên; kinh tế - xã hội

- Điều kiện tự nhiên Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tác động sâu sắc đến SXKD của các hộ gia đình, đặc biệt là các hộ nghèo

Đói nghèo tập trung khu vực nông thôn: Nghèo có đặc thù rõ rệt về mặt địa lý

Ở Việt Nam, với 80% dân số và 90% số người nghèo sống ở nông thôn “Những đặc trưng của người nghèo vẫn giống như trước đây - đói nghèo vẫn là hiện tượng phổ biến ở nông thôn và đối với các dân tộc thiểu số, thì mức độ đói nghèo cao và nghiêm trọng hơn so với đa số người Kinh Các đặc trưng khác của đói nghèo, là rủi

ro cao về thu nhập, do thường xuyên bị thiên tai và tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng ở nông thôn”

Điều kiện vị trí không thuận lợi đã hạn chế nhiều đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và sinh hoạt của các hộ gia đình Người nghèo tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn; đa số người nghèo sinh sống ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng

xa, vùng nông thôn hoặc ở các vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền trung; do sự biến động của thời tiết (bão, lụt, hạn hán…) khiến cho các điều kiện sinh sống và sản xuất của người dân càng thêm khó khăn, đặc biệt sự kém phát triển về hạ tầng

cơ sở đã làm cho các vùng này càng bị tách biệt với các vùng khác “Năm 2000, khoảng 20- 30% trong tổng số 1.870 xã đặc biệt khó khăn chưa có đường dân sinh

Trang 18

đến trung tâm xã; 40% số xã chưa đủ phòng học; 5% số xã chưa có trạm y tế; 55%

số xã chưa có nước sạch; 40% số xã chưa có đường điện đến trung tâm xã; 50% số

xã chưa đủ công trình thủy lợi nhỏ; 20% số xã chưa có chợ xã hoặc cụm xã Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, số người dân thuộc diện cứu trợ đột xuất hàng năm khá cao, khoảng 1- 1,5 triệu người Hàng năm số hộ tái đói nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi đói nghèo còn lớn”

- Điều kiện kinh tế - xã hội Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối

tượng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt thường có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy, không có đủ điều kiện nâng cao trình độ của mình trong tương lai, để thoát khỏi cảnh đói nghèo Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái… Những ảnh hưởng này tác động không những đối với thế hệ hiện tại, mà cả đối với các thế hệ tương lai Suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đến trường của con em các gia đình nghèo nhất và sẽ làm cho việc thoát nghèo thông qua giáo dục, trở nên khó khăn hơn

- Chính sách nhà nước Do cơ chế chính sách Nhà nước thiếu hoặc không

đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng, kết cấu hạ tầng cho từng vùng nghèo, chính sách khuyến khích sản xuất, chính sách tín dụng, chính sách giáo dục đào tạo, y tế, chính sách đất đai… đã ảnh hưởng đến kết quả XĐGN

Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến mức giảm nghèo Việt Nam đã có những thành tích giảm đói nghèo rất đa dạng và trên diện rộng Tuy nhiên, quá trình phát triển và mở cửa nền kinh

tế cũng có những tác động tiêu cực đến người nghèo:

Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp, chủ yếu mới tập trung cho thuỷ lợi, các trục công nghiệp chính, chú trọng nhiều vào đầu tư thay thế nhập khẩu, vẫn chưa chú trọng đầu tư các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động, chưa chú trọng khuyến khích kịp thời phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; nhiều chính sách trợ cấp như lãi suất tín dụng, trợ giá, trợ cước… không đúng đối tượng, làm ảnh hưởng xấu đến sự hình thành thị trường nông thôn, thị trường ở những vùng sâu, vùng xa

Trang 19

Kết cấu hạ tầng giao thông đến các vùng sâu, vùng xa còn thiếu và yếu kém Việc tiếp cận đến các vùng này còn hết sức khó khăn, đầu tư của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, đóng góp nguồn lực của nhân dân còn hạn chế, chủ yếu bằng lao động Hệ thống pháp luật kinh tế vẫn chưa đầy đủ và đồng bộ, thiếu một số đạo luật quan trọng Nhiều văn bản pháp quy dưới luật chưa được ban hành kịp thời và thiếu nhất quán đã gây không ít cản trở trong quá trình thực hiện [9]

1.2 Tín dụng đối với hộ nghèo

1.2.1 Khái niệm tín dụng

Về bản chất, tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau và hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa thuận giữa người đi vay và người cho vay Hay nói một cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế, trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho một

cá nhân hay tổ chức khác với thời hạn hoàn trả cùng với lãi suất, cách thức vay mượn

và thu hồi món vay… Tín dụng ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền sản xuất hàng hóa Trong điều kiện nền kinh tế còn tồn tại song song hàng hóa và quan hệ hàng hóa tiền tệ thì sự tồn tại của tín dụng là một tất yếu khách quan [8]

1.2.2 Tín dụng đối với người nghèo

* Khái niệm tín dụng đối với người nghèo: [11]

Tín dụng đối với người nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho những người nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi; tuỳ theo từng nguồn có thể hưởng theo lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo mau chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hoà nhập cùng cộng đồng Tín dụng đối với người nghèo hoạt động theo những mục tiêu, nguyên tắc, điều kiện riêng, khác với các loại hình tín dụng của các Ngân hàng Thương mại mà nó chứa đựng những yếu tố cơ bản sau

* Mục tiêu: Tín dụng đối với người nghèo nhằm vào việc giúp những người

nghèo đói có vốn phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống, hoạt động vì mục tiêu XĐGN, không vì mục đích lợi nhuận

* Nguyên tắc cho vay: Cho vay hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn sản

xuất kinh doanh Hộ nghèo vay vốn phải là những hộ được xác định theo chuẩn

Trang 20

mực nghèo đói do Bộ LĐ-TBXH hoặc do địa phương công bố trong từng thời kỳ Thực hiện cho vay có hoàn trả (gốc và lãi) theo kỳ hạn đã thoả thuận

* Điều kiện: Có một số điều kiện, tuỳ theo từng nguồn vốn, thời kỳ khác nhau,

từng địa phương khác nhau có thể quy định các điều kiện cho phù hợp với thực tế Nhưng một trong những điều kiện cơ bản nhất của tín dụng đối với người nghèo đó là: Để được vay vốn không phải thế chấp tài sản

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo

- Hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo là hoạt đông có tính rủi ro cao Ngoài những nguyên nhân khách quan như thiên tai, bão lụt, dịch bệnh cây trồng vật nuôi thường xảy ra trên diện rộng, thiệt hại lớn còn là những nguyên nhân khác

từ bản thân hộ nghèo như: Thiếu kiến thức làm ăn, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, sức cạnh tranh kém, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả đầu tư

- Do cơ sở hạ tầng kém phát triển ở vùng sâu, vùng xa, có những xã chưa có đường giao thông đến xã nên nhiều hộ nghèo chưa có điều kiện sử dụng vốn Ngân hàng, hơn nữa trình độ dân trí chưa cao là những cản trở cho việc thực hiện các chính sách tín dụng đối với hộ nghèo

- Vốn tín dụng Ngân hàng chưa đồng bộ với các giải pháp khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, cung cấp vật tư kỹ thuật cho sản xuất và tổ chức thị trường, lồng ghép các chương trình kinh tế xã hội đối với nông nghiệp nông thôn nông dân còn nhiều vấn đề khó khăn nên điều kiện nâng cao hiệu quả còn nhiều tồn tại, vốn và hiệu quả đầu tư thấp

- Việc xác định đối tượng hộ nghèo vay vốn còn nhiều bất cập Theo cơ chế phải là hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh nhưng việc bình xét, chọn từ Uỷ ban Nhân dân xã do Ban XĐGN lập danh sách đơn thuần chỉ là danh sách hộ nghèo, trong đó nhiều hộ không có điều kiện và năng lực tổ chức sản xuất, hộ nghèo thuộc diện cứu trợ xã hội hoặc có những hộ không thuộc hộ nghèo cũng có trong danh sách được vay vốn, điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo

- Phương thức đầu tư chưa phong phú dẫn đến việc sử dụng vốn vay sai mục đích, vốn vay không phát huy hiệu quả, ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư vốn

Trang 21

1.2.4 Cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của Ngân hàng CSXH

1.2.4.1 Một số khái niệm có liên quan đến cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội

Thứ nhất, khái niệm về Ngân hàng Chính sách xã hội

Ngân hàng chính sách xã hội được thành lập theo Quyết định TTg ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo Việc xây dựng Ngân hàng Chính sách xã hội là điều kiện để mở rộng thêm các đối tượng phục vụ ngoài hộ nghèo Ngân hàng Chính sách xã hội có bộ máy quản lý và điều hành thống nhất trong phạm vi cả nước với vốn điều lệ ban đầu là 5 nghìn tỷ đồng và được cấp bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kỳ Thời hạn hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội là 99 năm Ngân hàng Chính sách xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, được nhà nước đảm bảo khả năng thanh toán; tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi; được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước

Thứ hai, khái niệm cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH

Cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho

hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất với lãi xuất ưu đãi

để hộ nghèo có điều kiện làm ăn phát triển kinh tế, vươn lên xóa đói giảm nghèo Cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH có những mục tiêu, nguyên tắc và điều kiện riêng

- Mục tiêu: Nhằm giúp người nghèo có vốn phát triển kinh tế nâng cao đời sống vượt qua nghèo đói, không vì mục tiêu lợi nhuận

- Nguyên tắc cho vay: Cho vay hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn sản xuất kinh doanh Hộ nghèo vay vốn là những hộ nghèo được xác định theo chuẩn mức nghèo đói do Bộ LĐ-TBXH hoặc do địa phương công bố trong từng thời kỳ Thực hiện cho vay có hoàn trả (gốc và lãi) theo kỳ hạn đã thỏa thuận

- Điều kiện: Có một số điều kiện khác nhau giữa các địa phương, giữa những thời kỳ khác nhau cho phù hợp nhưng có điều kiện cơ bản nhất đối với cho vay hộ nghèo là: cho vay không phải thế chấp tài sản [11]

Trang 22

1.2.4.2 Đặc điểm cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH

Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo thông qua ủy thác bán phần qua các tổ chức Chính trị xã hội trên địa bàn như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên Hộ nghèo muốn được vay vốn thì phải được kết nạp vào tổ tiết Kiệm và vay vốn (sau đây gọi tắt là tổ) và sinh hoạt theo quy ước hoạt động của tổ Tổ được thành lập theo địa bàn khu hành chính và phải được UBND cấp xã, phường công nhận hoạt động, một khu có thể thành lập nhiều tổ tùy theo quy mô dân số và số hộ có nhu cầu vay vốn Việc cho vay hộ nghèo được bình xét công khai, dân chủ tại tổ dưới sự chỉ đạo của tổ chức hội quản lý và trưởng khu hành chính, kết quả bình xét được lập thành danh sách theo mẫu và phải được Ủy ban nhân dân xã, phường phê duyệt sau đó trình NHCSXH trên địa bàn quận, huyện xem xét cho vay Hộ nghèo khi vay vốn NHCSXH được cấp miễn phí toàn bộ hồ sơ vay vốn và các loại phí hành chính Ngân hàng ký hợp đồng với tổ trưởng tổ tiết kiệm và vay vốn để ủy nhiệm việc thu lãi của hộ nghèo Hàng tháng, NHCSXH đặt lịch giao dịch cố định tại UBND xã, phường để tiến hành thu lãi của hộ nghèo thông qua tổ trưởng và giải quyết các vấn đề phát sinh tại điểm giao dịch [11]

1.2.4.3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH

Cho vay ưu đãi có vai trò quan trọng đối với hộ nghèo Nó được coi là công cụ quan trọng để phá vỡ vòng luẩn quẩn của thu nhập thấp, tiết kiệm thấp và năng suất thấp, là chìa khoá vàng để giảm nghèo Vai trò của cho vay ưu đãi ngân hàng được thể hiện ở một số nội dung sau:

- Cung cấp vốn, góp phần cải thiện thị trường tài chính cộng đồng, nơi có hộ nghèo sinh sống:

Cho vay ưu đãi người nghèo đã góp phần cải thiện tình hình thị trường tài chính khu vực nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng

có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống Trong ba yếu tố cơ bản để hộ nghèo

có điều kiện SXKD; đó là vốn bằng tiền hoặc đất đai, lao động và kỹ thuật; trong

đó, vốn bằng tiền đóng vai trò quan trọng nhất vì nếu có vốn bằng tiền, thì người sản xuất có thể mua sắm các tư liệu sản xuất khác, kể cả đất đai Hiện nay, tích luỹ

Trang 23

của người nghèo ở nước ta rất thấp, do đó hầu như các hộ nghèo đều thiếu vốn để SXKD Nhờ nguồn vốn của ngân hàng mà các hộ nghèo có điều kiện tiếp cận được khoa học kỹ thuật, công nghệ mới như các giống cây, con mới, kỹ thuật canh tác mới và cũng nhờ vay vốn, mà hộ nghèo tiếp cận được với công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư

- Cho vay ưu đãi làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi:

Tệ nạn cho vay nặng lãi đã có từ lâu đời nay, hiện nay vẫn đang tồn tại khá nặng nề ở nông thôn, nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa Cho vay nặng lãi thể hiện

ở lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay của ngân hàng hoặc dưới dạng mua bán sản phẩm non như lúa non, lạc non, mía non…ở thời kỳ giáp hạt

- Giúp người nghèo có việc làm, nâng cao kiến thức tiếp cận thị trường, có điều kiện hoạt động SXKD trong nền kinh tế thị trường:

Việc cho vay ưu đãi đối với người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu

tư cho SXKD để XĐGN; sau một thời gian thu hồi cả gốc và lãi đã buộc người vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làm như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho gia đình; đồng thời trả nợ cho ngân hàng

- Cung ứng vốn cho người nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới:

Cho vay ưu đãi người nghèo của NHCSXH thực hiện theo các quy định nghiệp

vụ như bình xét công khai đối tượng được vay, thành lập tổ vay vốn, phải qua sự kiểm tra của chính quyền xã, phường, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp từ Trung Ương đến xã, vốn vay được phát trực tiếp tận người vay Do đó, thông qua vay vốn, các hộ nghèo trong tổ cùng giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống; trao đổi kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tế, chia sẻ rủi ro, hoạn nạn Thông qua đó

mà tình làng nghĩa xóm được gắn bó hơn Đồng thời số lượng các hội viên sinh hoạt tại các tổ chức hội (HND, HPN, HCCB, ĐTN) ngày càng đông, hoạt động của các tổ chức hội phong phú hơn về nội dung, các hội làm dịch vụ uỷ thác cho vay hộ nghèo cũng có thêm khoản thu nhập từ phí uỷ thác ngân hàng trả theo tỷ lệ và định kỳ nhất định (hàng quý) Kết quả phát triển kinh tế đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn Trật tự an ninh, an toàn xã hội được giữ vững; hạn chế được những mặt tiêu cực, tạo

ra bộ mặt mới trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn [11]

Trang 24

1.3 Nội dung, hệ thống chỉ tiêu đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH

1.3.1 Một vài nét về Ngân hàng chính sách xã hội

NHCSXH được Chính phủ thành lập vào năm 2003, tính đến 30/5/2017, tổng nguồn vốn của NHCSXH đạt hơn 176.000 tỷ đồng, tổng dư nợ đạt hơn 164.000 tỷ đồng với hơn 6,9 triệu khách hàng trong đó gần 80% khách hàng hiện đang sinh sống tại vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa và khu vực miền núi

Đến nay, ngân hàng Chính sách xã hội đang chiếm ưu thế nổi bật trong cung cấp tín dụng vi mô với 77% thị phần Do đó, cũng có thể nói, NHCSXH đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam

Thực tế, nhu cầu đối với tài chính vi mô ở Việt Nam rất cao và thị trường tài chính vi mô chủ yếu do NHCSXH cung cấp Nguyên nhân là vì sự chậm phát triển của các tổ chức tài chính vi mô khác trong nước và ngành ngân hàng Việt Nam vẫn còn e ngại những thách thức về mặt thương mại khi mở rộng tiếp cận tài chính đến người nghèo, đặc biệt người nghèo ở các vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa

Sự thành công của NHCSXH là nhờ việc cung cấp các dịch vụ và sản phẩm tài chính đa dạng, có chất lượng, lãi suất hợp lý, thuận tiện đến những khách hàng bên

lề, không được hoặc ít được các ngân hàng thương mại ở Việt Nam phục vụ; với một cung cách phục vụ đơn giản hiệu quả và luôn ưu tiên bảo vệ quyền lợi khách hàng Việc tiếp cận khách hàng tài chính vi mô ở Việt Nam nên đi kèm với hỗ trợ

sử dụng vốn thông qua giáo dục tài chính, tuy nhiên, hạn chế về ngân sách khiến cho giáo dục tài chính dành cho khách hàng hiện nay mới chỉ ở mức tối thiểu

Thông qua mở rộng mạng lưới và hợp tác với các đối tác để tăng tiếp cận khách hàng, sau 15 năm hoạt động, NHCSXH đã mở rộng mạng lưới đến tất cả các

xã, với 63 chi nhánh tỉnh, 629 phòng giao dịch huyện, gần 11.000 Điểm giao dịch

xã và gần 200.000 Tổ tiết kiệm và vay vốn

NHCSXH chính thức mở các điểm giao dịch xã từ năm 2005 (mỗi xã có một điểm giao dịch) tại UBND xã và cử tổ giao dịch xã đến để giao dịch với khách hàng Các điểm giao dịch tại xã hoạt động theo quy định của NHCSXH Theo đó, người nghèo, người cận nghèo và các đối tượng chính sách khác, Tổ tiết kiệm và

Trang 25

vay vốn, các khách hàng khác có giao dịch một cửa với NHCSXH, giúp tăng cường trách nhiệm cá nhân của từng nhân viên và trách nhiệm của nhóm để đảm bảo an toàn và phục vụ các đối tượng chính sách tốt hơn

Tính đến 31/12/2016, NHCSXH có 10.932 Điểm giao dịch/11.162 xã Trong

đó có 10.725 Điểm giao dịch tại xã, 164 Điểm giao dịch tại trụ sở NHCSXH trên địa bàn, 43 Điểm giao dịch liên phường Hoạt động của Tổ giao dịch tại xã đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của NHCSXH, góp phần tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ tín dụng chính sách ưu đãi của Chính phủ đối với người nghèo và các đối tượng chính sách; tiết giảm các chi phí giao dịch của người vay; thực hiện dân chủ, công khai việc sử dụng vốn tín dụng chính sách và tăng cường

sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc kiểm tra, giám sát và giúp đỡ người vay sử dụng vốn có hiệu quả

Kết quả hoạt động của Điểm giao dịch xã đã giải quyết trên 85% tổng giá trị giao dịch của khách hàng với NHCSXH, góp phần tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ tín dụng chính sách ưu đãi của Chính phủ đối với người nghèo và các đối tượng chính sách; tiết giảm các chi phí giao dịch của người vay; thực hiện dân chủ, công khai việc sử dụng vốn tín dụng chính sách và tăng cường sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc kiểm tra, giám sát và giúp đỡ người vay sử dụng vốn có hiệu quả

Bên cạnh đó, để vươn tầm tiếp cận rộng hơn với khách hàng đến tận địa bàn các làng, thôn, bản, NHCSXH đã phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội thành lập và quản lý các Tổ tiết kiệm và vay vốn Đây là nơi tập hợp các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu vay vốn NHCSXH để sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; cùng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, kinh doanh và đời sống; cùng giám sát nhau trong việc vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của Ngân hàng

Tính đến 31/12/2016 dư nợ ủy thác qua 04 tổ chức chính trị - xã hội đạt 155.295 tỷ đồng, chiếm 98% tổng dư nợ, cụ thể dư nợ đạt được thông qua từng tổ chức Hội như sau: Hội Phụ nữ quản lý 39.54% dư nợ ủy thác; Hội Nông dân quản

lý 32.55% dư nợ ủy thác; Hội Cựu chiến binh quản lý 15.59% dư nợ ủy thác; Đoàn thanh niên quản lý 12.32% dư nợ ủy thác

Trang 26

NHCSXH hợp tác với các tổ chức chính trị xã hội (hội đoàn thể) thông qua ủy thác cho vay từng phần qua các tổ chức này Các công đoạn được ủy thác liên quan đến nội dung quản lý và theo dõi việc thực hiện tín dụng chính sách của NHCSXH, quản lý hoạt động của tổ Tiết kiệm và vay vốn, theo dõi và quản lý việc sử dụng vốn vay của khách hàng cũng như phối hợp với các bên liên quan và NHCSXH trong việc giám sát sử dụng vốn vay và đôn đốc, xử lý nợ quá hạn NHCSXH chi trả hoa hồng cho các hội đoàn thể và Tổ TK&VV dựa trên kết quả hoạt động đánh giá bằng chất lượng các khoản vay

Nhờ mạng lưới sâu rộng, có thể nói NHCSXH đang là ngân hàng có độ bao phủ rộng lớn nhất trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, đảm bảo cho tất cả các khách hàng tiềm năng có thể dễ dàng tiếp cận dịch vụ của ngân hàng

Với đối tượng khách hàng chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn, vùng khó khăn, những người yếu thế, khó vay vốn từ các ngân hàng thương mại, NHCSXH

đã phát triển nhiều sản phẩm tín dụng phù hợp với nhu cầu của người dân Hiện tại, NHCSXH đang cung cấp gần 30 chương trình cho vay phục vụ các đối tượng và nhu cầu khác nhau như cho vay người nghèo, người cận nghèo, người mới thoát nghèo, cho vay nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, cho vay học sinh sinh viên

có hoàn cảnh khó khăn, cho vay sản xuất kinh doanh vùng khó khăn, cho vay xuất khẩu lao động…

Ngoài ra, các sản phẩm tín dụng, sản phẩm tiết kiệm cũng được thiết kế riêng cho những người nghèo và đối tượng chính sách Đó là sản phẩm tiết kiệm cho người nghèo tham gia vào Tổ TK&VV Các Tổ trưởng nhận tiền gửi từ các thành viên trong tổ, thường là những món tiền rất nhỏ, sau đó hàng tháng hoặc hàng quý nộp cho cán bộ NHCSXH tại Điểm giao dịch xã vào ngày giao dịch xã theo quy định Các thành viên có thể dùng tiền tiết kiệm để trả nợ, trả lãi cho NHCSXH hoặc rút ra khi cần thiết

Từ năm 2016, NHCSXH triển khai nhận tiền tiết kiệm dân cư tại Điểm giao dịch xã, bất kỳ người dân nào đủ năng lực dân sự đều có thể chọn gửi tiền tại Điểm giao dịch xã của NHCSXH thay vì phải đi đến các trụ sở ngân hàng xa nơi họ sinh sống Sản phẩm đem lại sự tiện lợi cho khách hàng sinh sống ở xa trung tâm đô thị

Trang 27

NHCSXH thực hiện huy động tiền gửi tiết kiệm của người nghèo thông qua ủy nhiệm cho Tổ TK&VV

NHCSXH rất chú trọng đào tạo tài chính cho các đối tác và Ban quản lý Tổ TK&VV để họ có thể đào tạo lại và hướng dẫn trực tiếp cho người vay Chương trình đào tạo bao gồm kiến thức và kỹ năng quản lý các chương trình tín dụng, tiết kiệm, các dịch vụ tài chính tiềm năng như bảo hiểm vi mô và các dịch vụ khác và các hoạt động lồng ghép nâng cao năng lực kinh tế, xã hội cho tổ và thành viên của tổ

Đối với các khách hàng, NHCSXH cũng tích cực trợ giúp khách hàng qua phối hợp với chính quyền và hội đoàn thể tổ chức các hoạt động như giáo dục tài chính cho khách hàng, kết hợp với các cơ quan khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư địa phương hướng dẫn khách hàng kỹ thuật sản xuất kinh doanh

Đào tạo cho Tổ Tiết kiệm và Vay vốn là chương trình NHCSXH đang xây dựng nhưng chưa được triển khai vì lý do hạn hẹp kinh phí Ý tưởng của chương trình là đạo tạo cho các Tổ TK&VV trong hệ thống NHCSXH kiến thức và kỹ năng quản lý các chương trình tín dụng, tiết kiệm, các dịch vụ tài chính tiềm năng như bảo hiểm vi mô và các dịch vụ khác và các hoạt động lồng ghép nâng cao năng lực kinh tế, xã hội cho tổ và thành viên của tổ; đào tạo kỹ năng quản lý điều hành hoạt động của Tổ TK&VV, nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ và sự tham gia của tổ viên Hoạt động thành lập tổ TK&VV tại các thôn bản, làng xã là một hoạt động nhằm gắn kết cộng đồng, các thành viên trong tổ cùng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, kinh doanh và đời sống; cùng giám sát nhau trong việc vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của Ngân hàng

Từ hỗ trợ tài chính thông qua các khoản vay và hỗ trợ kỹ thuật thông qua hoạt động tuyên truyền, giáo dục, NHCSXH đã góp phần nâng cao vị thế của khách hàng

về tài chính cũng như năng lực sản xuất kinh doanh trong cộng đồng, từ đó góp phần giúp khách hàng là những đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội hoà nhập và

có vai trò lớn hơn trong hoạt động cộng đồng

Tại cấp địa phương, NHCSXH nhận được sự hợp tác và phối hợp tích cực từ chính quyền địa phương từ cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã Ban đại diện Hội đồng quản trị các cấp của NHCSXH có thành viên là cán bộ các cơ quan quản lý Nhà nước như

Trang 28

các Sở, Ban, Ngành, đoàn thể, trong đó Chủ tịch hoặc phó Chủ tịch UBND cùng cấp làm Trưởng ban

Hiện tại, NHCSXH đang phục vụ một khối lượng lớn các khách hàng tài chính

vi mô, bao gồm gần 7 triệu khách hàng đang còn dư nợ, hơn 8 triệu tài khoản vay vốn và 6 triệu tài khoản tiết kiệm , trong đó gần 90% khách hàng hiện đang sinh sống, sản xuất kinh doanh nhỏ tại các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa và khu vực miền núi NHCSXH giao dịch với khách hàng ít nhất mỗi tháng một lần (vào ngày

cố định của tháng) tại các điểm giao dịch xã Phương pháp cho vay của NHCSXH

là thông qua gần 200.000 Tổ TK&VV và thông qua hợp tác với các tổ chức chính trị xã hội.Mặc dù đã được đánh giá là thành công với mô hình Điểm giao dịch xã, giao dịch của NHCSXH ở cấp xã vẫn còn nhiều hạn chế: chi phí cao, và tốn nhiều thời gian cho NHCSXH do phải sắp xếp các phương tiện giao thông, phương tiện và nhân sự đi đến giao dịch tại mỗi xã trong cả nước; chi phí và thời gian cho khách hàng khi đến các điểm giao dịch xã để trả nợ và trả lãi cho NHCSXH; khoảng cách địa lý sẽ hạn chế việc giám sát của NHCSXH đối với quy trình giao dịch và tương tác với khách hàng

Để khắc phục, hiện, NHCSXH đang triển khai dự án ngân hàng trên nền tảng điện thoại điện động để cải thiện khả năng tiếp cận tài chính ở Việt Nam Theo đó, Chính phủ

đã phê duyệt chiến lược phát triển đến năm 2020 cho NHCSXH và đưa ra chính sách áp dụng các công nghệ mới như điện thoại di động để đa dạng hoá sản phẩm và nâng cao hiệu quả hoạt động để phục vụ nhiều khách hàng với chi phí hiệu quả

NHCSXH hạn chế tối đa tình trạng những khách hàng vay tiền, vốn hầu hết là những người nghèo, người khó khăn do bị hạn chế về tiếp cận thông tin nên dễ dàng

bị lạm dụng bởi những đối tượng liên quan đến quy trình cho vay bằng cách áp dụng những biện pháp, quy trình chặt chẽ để đem đến cho khách hàng của NHCSXH môi trường phục vụ tốt nhất, bảo đảm khách hàng được bảo đảm quyền lợi theo thông lệ quốc tế

Các chương trình cho vay của NHCSXH đều được áp dụng mức lãi suất ưu đãi, thấp hơn so với lãi suất thị trường để giảm bớt khó khăn về tài chính cho người nghèo và các đối tượng chính sách Bên cạnh đó, hoạt động cho vay, thu nợ, thu lãi,

Trang 29

nhận tiền gửi tiết kiệm,… của NHCSXH được cung cấp theo cách thuận tiện và hoàn toàn không thu phí tại tận Điểm giao dịch xã thay vì tại trụ sở NHCSXH huyện để tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách Lịch giao dịch xã được ấn định vào ngày cố định để hộ vay dễ nhớ và được niêm yết công khai ngày, giờ để nhân dân thực hiện và giám sát

Thêm vào đó, để thuận tiện cho khách hàng, NHCSXH thực hiện ủy thác thu lãi qua Tổ TK&VV để người dân không phải mất thời gian đi lại giao dịch với ngân hàng hàng tháng, nhưng riêng đối với nợ gốc, để tránh tối đa rủi ro, NHCSXH quy định rõ người vay là thực hiện trả nợ gốc trực tiếp tại Điểm giao dịch xã hoặc tại trụ

sở NHCSXH

Đối với những khách hàng gặp rủi ro khách quan, chưa có khả năng trả nợ, NHCSXH áp dụng các chính sách gia hạn nợ, cho vay lưu vụ, khoanh nợ để tạo điều kiện cho khách hàng duy trì sản xuất kinh doanh, có nguồn thu để trả nợ Đối với những trường hợp mất khả năng trả nợ vì lý do khách quan như người vay qua đời, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không còn người thừa kế hoặc người thừa kế hoàn toàn không có khả năng trả nợ, sẽ được Ban quản lý Tổ TK&VV, hội đoàn thể cấp xã cùng địa phương phối hợp với NHCSXH xem xét, đề nghị chính phủ xóa nợ

NHCSXH cũng cung cấp các kênh liên lạc chính thức với khách hàng giúp khách hàng có thể đưa ra phản hồi về chất lượng dịch vụ và nhận được câu trả lời liên quan đến thắc mắc cá nhân của khách hàng Hiện nay, 100% trụ sở NHCSXH các cấp và các điểm giao dịch xã của NHCSXH đều có đường dây nóng, hòm thư góp ý nhận phản ánh trực tiếp từ khách hàng Ngoài ra, trang thông tin điện tử của NHCSXH (http://vbsp.org.vn) cũng có mục hỏi đáp để trao đổi, giải đáp những thắc mắc cho khách hàng

Có thể thấy, NHCSXH đang đi theo hướng tiếp cận và phục vụ khách hàng thân thiện hiệu quả, đáp ứng những nhu cầu cơ bản về tài chính giúp người nghèo

và các đối tượng chính sách yên tâm vay vốn từ ngân hàng để cải thiện sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng cuộc sống

Trang 30

1.3.2 Khái niệm hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội

Xem xét hiệu quả cho vay ưu đãi hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội cần làm rõ các khía cạnh sau:

- Thực hiện bình xét dân chủ, công khai, vốn đến đầy đủ, đúng địa chỉ hộ nghèo cần vay vốn (hộ nghèo có sức lao động, có khả năng SXKD nhưng thiếu vốn)

và được sử dụng đúng mục đích

- Quy mô cho vay ưu đãi: Quy mô cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo được thể hiện

ở số tuyệt đối dư nợ tín dụng đối với hộ nghèo trong tổng dư nợ ngân hàng, doanh số cho vay, thu nợ hộ nghèo; số tiền vay đối với một hộ Số tuyệt đối dư nợ lớn và tỷ trọng dư nợ cao, doanh số cho vay, thu nợ lớn thể hiện hoạt động tín dụng ngân hàng

đã đáp ứng tốt nhu cầu vốn của các hộ nghèo

- Chất lượng cho vay ưu đãi: Chất lượng cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo thể hiện ở mức độ an toàn tín dụng, khả năng hoàn trả và hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của người vay Nếu tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ hộ nghèo thấp, cho thấy các khoản tín dụng đối với hộ nghèo an toàn, lành mạnh Tỷ lệ nợ quá hạn cao, phản ảnh sự rủi ro các khoản tín dụng

- Khả năng bảo toàn vốn: Khi ngân hàng cho hộ nghèo vay vốn để phát triển SXKD Ngân hàng tính toán được khả năng thu hồi vốn (cả gốc và lãi), sau khi trừ các chi phí thì vẫn có lãi Từ đó ngân hàng có thể duy trì và mở rộng hoạt động phục vụ của mình

- Mức độ đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý cho hộ nghèo, hỗ trợ hộ nghèo phát triển kinh tế, tăng thu nhập vươn lên thoát khỏi đói nghèo, hoà nhập cộng đồng

- Số hộ nghèo thoát khỏi đói nghèo nhờ vay vốn, số việc làm được giải quyết thông qua vay vốn NHCSXH

1.3.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH

Cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH là chủ trương chính sách lớn của Chính phủ, hợp ý Đảng lòng dân, hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo được thể hiện ở các hệ thống chỉ tiêu sau:

Trang 31

1.3.3.1 Hiệu quả đối với ngân hàng

Thứ nhất, quy mô tín dụng: Việc hộ nghèo vay vốn có hiệu quả sẽ tạo điều

kiện để mở rộng quy mô tín dụng đối với hộ nghèo, được thể hiện ở số tuyệt đối dư

nợ cho vay đối với hộ nghèo và tỷ trọng dư nợ cho vay hộ nghèo trong tổng số dư

nợ cho vay của NHCSXH Số tuyệt đối lớn và tỷ trọng dư nợ cao, thể hiện hoạt động tín dụng ngân hàng đã đáp ứng tốt nhu cầu vốn của hộ nghèo

Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với

Dư nợ tín dụng hộ nghèo năm trước

Thứ hai, cho vay ưu đãi hộ nghèo có hiệu quả sẽ làm tăng chất lượng cho vay:

- Có 03 tiêu chí đánh giá chất lượng cho vay là tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ sử dụng vốn sai mục đích và tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của người vay

- Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu cơ bản mà ngân hàng đang dùng để đánh giá chất lượng tín dụng Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ % giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của ngân hàng tại một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm Trong kinh tế thị trường, nợ quá hạn đối với ngân hàng là khó tránh khỏi, vấn đề là làm sao

để giảm thiểu nợ quá hạn Những ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp được đánh giá chất lượng tín dụng tốt, hiệu quả tín dụng cao và ngược lại

Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay

cơ thiếu lành mạnh và do đó dễ bị rủi ro; trong trường hợp này người ta gọi là rủi ro đạo đức Những khoản vay bị sử dụng sai mục đích phần lớn đều không đem lại

Trang 32

như hiệu quả kinh tế xã hội như mong muốn của ngân hàng Chỉ tiêu này có thể xác định theo công thức:

Tỷ lệ này càng cao thì chất lượng tín dụng bị đánh giá là thấp và ngược lại

- Tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của người vay: Nguồn trả nợ cho ngân hàng

về nguyên tắc là được trích ra từ phần thu nhập của người vay Tuy nhiên, có nhiều trường hợp do sử dụng vốn kém hiệu quả bị mất vốn nên người vay phải bán tài sản

để trả nợ, trong trường hợp này đánh giá chất lượng tín dụng thấp:

Thứ ba, khả năng sinh lời: NHCSXH là một tổ chức tín dụng Nhà nước, hoạt

động không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, nhưng phải bảo toàn vốn Muốn duy trì hoạt động bền vững thì NHCSXH phải có chênh lệch dương về thu, chi nghiệp

vụ Các khoản thu chủ yếu là thu lãi tiền vay; chi chủ yếu trả phí ủy thác, hoa hồng, trả lãi tiền vay NHCSXH cho hộ nghèo vay vốn phải thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn, hạn chế thấp nhất về rủi ro xảy ra (kể cả rủi ro bất khả kháng)

Thứ tư, mức độ đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý của hộ nghèo, hỗ trợ hộ nghèo

phát triển kinh tế, vượt lên thoát đói nghèo Nếu nguồn vốn của ngân hàng đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn ngày càng tăng của hộ nghèo, thì đánh giá hiệu quả của NHCSXH đối với tín dụng hộ nghèo cao và ngược lại

Công thức tính

Mức độ đáp ứng nhu

cầu vay vốn =

Dư nợ cho vay hộ nghèo

Tổng nhu cầu vay vốn hộ nghèo

x 100%

Thứ năm, về thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp nhanh chóng, giảm bớt chi phí

trong hoạt động cho vay, nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng [11]

Trang 33

1.3.3.2 Hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo

Hiệu quả của việc hộ nghèo vay vốn ưu đãi sẽ giúp hộ nghèo thoát nghèo, tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống, được thể hiện ở doanh số vay, trả (gốc, lãi) đúng hạn,

tỷ lệ nợ quá hạn thấp, rủi ro trong sử dụng vốn thấp Nếu doanh số vay của hộ lớn,

hộ vay sử dụng vốn đúng mục đích, trả nợ (gốc, lãi) đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng, trong quá trình sử dụng vốn không gặp các rủi ro gây thất thoát vốn, sau khi trừ đi các khoản chi phí vẫn còn có lãi, thể hiện vốn sử dụng có hiệu quả

- Biểu hiện qua việc sử dụng vốn của hộ nghèo vào SXKD như thế nào? Nếu

hộ nghèo vay vốn về SXKD thuận lợi, sản xuất nhiều hàng hoá bán thu được lợi nhuận cao, sau khi trừ đi phần trả nợ cho ngân hàng (gốc, lãi), trả tiền công lao động, mà vẫn có lãi, thì đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cao Ngược lại, nếu vay vốn

về SXKD thua lỗ thì hiệu quả thấp; thậm chí mất vốn Có nhiều trường hợp vay vốn ngân hàng về chăn nuôi, trồng trọt, tuy đã trả hết nợ cho ngân hàng đúng kỳ hạn, nhưng vẫn bị đánh giá là hiệu quả thấp vì nguồn để trả nợ cho ngân hàng phải đi vay chỗ khác, chứ không phải từ nguồn thu nhập của người vay Trường hợp này, nếu không đi vay chỗ khác thì hộ nghèo phải bán tài sản hình thành từ vốn vay để trả nợ Cho nên, nếu chỉ nhìn một mặt trả nợ của hộ vay cho ngân hàng để đánh giá

hộ vay sử dụng vốn có hiệu quả là chưa đủ

- Hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo cũng được đánh giá thông qua tiêu chí: Tỷ suất lợi nhuận và mức sống của hộ nghèo; nếu tỷ suất lợi nhuận được tăng lên, mức sống hộ nghèo được cải thiện tốt, thì hiệu quả cho vay tốt

- Thông qua việc sử dụng vốn vào SXKD, trình độ quản lý kinh tế của người vay được nâng lên Người nghèo có điều kiện tiếp cận được với kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi tiến tiến, có điều kiện áp dụng khoa học kỹ thuật mới Đây cũng là một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả cho vay mang lại cho hộ nghèo

- Số hộ thoát nghèo bền vững, vươn lên thành hộ giàu là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả của tín dụng đối với hộ nghèo Hộ đã thoát khỏi ngưỡng đói nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn chuẩn mực đói nghèo hiện hành, không còn nằm trong danh sách hộ nghèo do Phòng LĐ- TBXH huyện, thị, thành phố lập theo từng năm

Trang 34

Tổng số hộ nghèo đã

thoát khỏi đói nghèo

(ra khỏi danh sách

hộ nghèo)

=

Số hộ nghèo trong danh sách đầu kỳ

-

Số hộ nghèo trong danh sách cuối kỳ

-

Số hộ nghèo chuyển đi địa bàn khác trong kỳ

+

Số hộ nghèo chuyển đến trong kỳ

Mục tiêu của cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo là giúp họ có vốn sản xuất, thoát nghèo để hòa nhập cộng đồng và hơn thế nữa là ổn định tình hình chính trị -

xã hội Do vậy, số hộ thoát khỏi nghèo đói hàng năm cao; trong đó, có hộ vay vốn NHCSXH, có nghĩa là vốn của NHCSXH đã được hộ nghèo sử dụng có hiệu quả Tuy nhiên, hiện nay tại một số địa phương việc đánh giá hộ thoát nghèo không chính xác, vì nhiều lý do khác nhau

- Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn: Đây là chỉ tiêu đánh giá về mặt lượng đối với công tác tín dụng Tỷ lệ này càng cao, một mặt thể hiện nguồn vốn tín dụng lớn để phục vụ hộ nghèo; mặt khác, đánh giá khả năng SXKD của hộ nghèo ngày càng lớn, nguồn vốn có hiệu quả (nếu sử dụng vốn không hiệu quả, thì hộ nghèo sẽ không có nhu cầu vay)

Tỷ lệ hộ nghèo

được vay vốn =

Tổng số hộ nghèo được vay vốn

Tổng số hộ nghèo trong danh sách

x 100%

- Luỹ kế số hộ thoát nghèo lớn, cũng là một tiêu chí để đánh giá hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo qua cả một thời gian [11]

1.3.3.3 Hiệu quả đối với xã hội

- Tạo việc làm cho người lao động: Thông qua công tác cho vay hộ nghèo, đã thu hút được một bộ phận con, em của hộ nghèo có việc làm ổn định, tạo thêm nhiều của cải cho gia đình và xã hội, góp phần hạn chế tệ nạn xã hội, ổn định trật tự chính trị và an toàn xã hội

- Các vùng nghèo, xã nghèo, nhờ nguồn vốn tín dụng; đặc biệt là vốn tín dụng của ngân hàng phục vụ người nghèo trước đây, nay là NHCSXH đã xoá bỏ được tình trạng vay nặng lãi và bán nông sản non, góp phần thay đổi bộ mặt đời sống nhân dân nông thôn Tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với hộ nghèo

Trang 35

- Việc NHCSXH chi trả phí ủy thác cho các tổ chức chính trị xã hội ký hợp đồng ủy thác cho vay, chi trả hoa hồng cho tổ tiết kiệm và vay vốn sẽ tạo điều kiện cho nhiều hơn các gia đình tăng thu nhập, có thêm việc làm, sẽ giúp cho các tổ chức chính trị xã hội có thêm nhiều kinh phí hoạt động, tăng chất lượng hoạt động, thu hút được thêm nhiều hội viên sinh hoạt trong một tổ chức để gắn họ có trách nhiệm trong tập thể, nhờ đó giảm bớt các tệ nạn xã hội, ổn định tình hình kinh tế chính trị tại địa phương [11]

1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH

1.3.4.1 Các nhân tố liên quan đến môi trường pháp lý và chủ trương chính sách xóa đói giảm nghèo

Sự can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế là một tác nhân quan trọng đối với sự ổn định và phát triển kinh tế Sự điều tiết của Nhà nước đúng, kịp thời sẽ giúp môi trường kinh tế được lành mạnh hóa, hoặc ngược lại sẽ gây rối loạn thị trường Để Nhà nước có các chính sách hỗ trợ vốn cho các vùng nghèo, xã nghèo,

hộ nghèo kịp thời, liên tục; có chính sách hướng dẫn hộ đầu tư vốn vào lĩnh vực nào trong từng thời kỳ, xử lý rủi ro kịp thời cho hộ nghèo, thì vốn vay dễ có điều kiện phát huy hiệu quả cao Sản phẩm làm ra của hộ nghèo, nếu có thị trường tiêu thụ tốt, thì dễ tiêu thụ có lợi nhuận và hiệu quả đồng vốn cao và ngược lại; nếu Nhà nước có các chính sách đúng, kịp thời hỗ trợ hộ nghèo trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, thì góp phần làm cho việc sử dụng vốn có hiệu quả Nhà nước phải đầu tư cơ

sở hạ tầng, bao gồm xây dựng và nâng cấp các con đường giao thông nông thôn, các công trình thuỷ lợi và chợ Hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, bao gồm cung cấp giống mới và các loại vật tư nông nghiệp khác, tập huấn và khuyến nông để người nghèo

có các điều kiện cần thiết sử dụng vốn có hiệu quả [11]

1.3.4.2 Các nhân tố liên quan đến tổ chức hoạt động cho vay đối với hộ nghèo của NHCSXH

Hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu tư liệu sản xuất, họ không có điều kiện được tiếp cận với nguồn vốn để thực hiện các chương trình kinh tế của mình, nay được NHCSXH cho vay vốn với lãi xuất ưu đãi là một cứu cánh đối với họ Tuy

Trang 36

nhiên, để việc cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo có hiệu quả thì bên cạnh việc lãi xuất thấp thì việc hoạt động cho vay của NHCSXH phải thuận lợi, đơn giản thủ tục

và phải được tiến hành đồng bộ Rất nhiều hộ nghèo hiện nay không biết chữ, không có chứng minh thư nhân dân, không có phương tiện đi lại, không có tiền để mua hồ sơ vay vốn, nộp các loại phí, lệ phí, không có tài sản thế chấp để vay, dân trí thấp nên hoạt động cho vay đối với hộ nghèo phải giải quyết được những vấn đề trên thì việc cho vay đối với hộ nghèo mới đạt được hiệu quả cao Vì thế tổ chức hoạt động cho vay có tác động quan trọng đến hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo Ở đây vai trò tổ chức hoạt động của NHCSXH, với các điều kiện về nhân tài vật lực có ý nghĩa quan trọng [11]

1.3.4.3 Các nhân tố liên quan đến hộ nghèo

Khách hàng vay vốn của NHCSXH hiện nay chủ yếu là hộ nghèo và các đối tượng chính sách, mà hộ nghèo thường thiếu nhiều thứ; trong đó, có tri thức, kinh nghiệm SXKD, dẫn đến hiệu quả của SXKD hạn chế, sản phẩm sản xuất ra chi phí cao, chất lượng và khả năng cạnh tranh kém khó vượt qua các rủi ro trong sản xuất và đời sống Về vốn chủ yếu là vốn vay ngân hàng, không có vốn tự có, dẫn đến bị động về vốn sản xuất Nếu hộ nghèo có ý thức sử dụng vốn đúng mục đích gặp thuận lợi trong sản xuất, chăn nuôi thì có hiệu quả Tuy nhiên, hiện nay tại một số vùng đặc biệt khó khăn là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự trợ giúp của Nhà nước Một số hộ nghèo do ý thức kém, nên sử dụng vốn

sai mục đích, không chấp hành việc trả nợ (gốc, lãi) cho ngân hàng đúng hạn [11]

1.3.4.4 Các nhân tố liên quan đến hoạt động hỗ trợ và phối hợp của các tổ chức chính trị xã hội

Để thực hiện việc cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, NHCSXH đã ký hợp đồng ủy thác cho vay với các tổ chức chính trị xã hội từ Trung ương đến địa phương như HPN, HND, HCCB và ĐTN để cùng với ngân hàng thực hiện các khâu trong quá trình vay vốn Việc hoạt động hỗ trợ và phối hợp giữa NHCSXH và các tổ chức chính trị ký hợp đồng có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá hiệu quả cho vay đối với hộ nghèo Các tổ chức chính trị xã hội làm đúng nhiệm

vụ, nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm sẽ giúp cho việc bình xét vay vốn tại cơ sở

Trang 37

được công khai, dân chủ, đúng đối tượng thụ hưởng,các hộ nghèo vay vốn sẽ được hướng dẫn tận tình, chu đáo trong việc hoàn thiện bộ hồ sơ vay vốn Các tổ chức chính trị có sâu sát trong công tác kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay sẽ làm cho vốn vay được sử dụng đúng mục đích, giảm tỉ lệ rủi ro, nhờ đó hộ nghèo sẽ có nhiều

cơ hội để nguồn vốn vay có hiệu quả Trong quá trình vay vốn, khi có những vấn đề tồn tại, vướng mắc, các tổ chức chính trị xã hội cùng với NHCSXH tìm biện pháp tháo gỡ, khắc phục Như vậy có thể nói hoạt động hỗ trợ và phối hợp của các tổ chức chính trị xã hội là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo [11]

1.4 Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới và Việt Nam về cho vay đối với người nghèo

1.4.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới

Bangladesh

Ở đây có ngân hàng Grameen (GB) là ngân hàng chuyên phục vụ người nghèo, chủ yếu là phụ nữ nghèo Để phát triển, GB phải tự bù đắp các chi phí hoạt động Như vậy, GB hoạt động như các ngân hàng thương mại khác không được bao cấp từ phía Chính phủ GB thực hiện cơ chế lãi suất thực dương, do vậy lãi suất cho vay tới các thành viên luôn cao hơn lãi suất trên thị trường GB cho vay tới các thành viên thông qua nhóm tiết kiệm và vay vốn GB cho vay không áp dụng biện pháp thế chấp tài sản mà chỉ cần tín chấp qua các nhóm tiết kiệm và vay vốn Thủ tục vay vốn của GB rất đơn giản và thuận tiện, người vay vốn chỉ cần làm đơn và nhóm bảo lãnh là đủ Nhưng ngân hàng có cơ chế kiểm tra rất chặt chẽ, tạo cho người nghèo sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả Để phục vụ đúng đối tượng người vay phải đủ chuẩn mực đói nghèo, nghĩa là hộ gia đình phải có dưới 0,4 hecta đất canh tác và mức thu nhập bình quân đầu người dưới 100 USD/ năm

GB được quyền đi vay để cho vay và được ủy thác nhận tài trợ từ các tổ chức trong

và ngoài nước, huy động tiền gửi, tiết kiệm của các thành viên, quản lý các quỹ của nhóm và được phát hành trái phiếu vay nợ GB hoạt động theo cơ chế lãi suất thực dương, được Chính phủ cho phép hoạt động theo luật riêng, không bị chi phối bởi luật tài chính và luật ngân hàng hiện hành của Bangladesh [12]

Trang 38

tổ hợp tác sản xuất Lãi suất cho vay đối với hộ nông dân nghèo thường được giảm từ 1-3%/ năm so với lãi suất cho vay các đối tượng khác Kết quả là năm

2006 BAAC tiếp cận được 95% khách hàng là nông dân Sở dĩ có được điều này

là một phần do Chính phủ đã quy định các ngân hàng thương mại khác phải dành 20% số vốn huy động được để cho vay lĩnh vực nông thôn Số vốn này có thể cho vay trực tiếp hoặc gửi vào BAAC nhưng thông thường các ngân hàng thường gửi BAAC [11]

Malaysia

Trên thị trường chính thức hiện nay của Malaysia, việc cung cấp tín dụng cho lĩnh vực nông thôn chủ yếu do ngân hàng nông nghiệp Malaysia (BPM) đảm nhận Đây là ngân hàng thương mại quốc doanh, được Chính phủ thành lập và cấp 100% vốn tự có ban đầu BPM chú trọng cho vay trung và dài hạn theo các dự án và các chương trình đặc biệt Ngoài ra BPM còn cho vay hộ nông dân nghèo thông qua các tổ chức tín dụng trung và dài hạn theo các dự án và các chương trình đặc biệt Ngoài ra, ngân hàng còn có cho vay hộ nông dân nghèo thông qua các tố chức tín dụng trung gian khác như: Ngân hàng nông thôn và hợp tác xã tín dụng Ngoài ra, Chính phủ còn buộc các ngân hàng thương mại khác phải gửi 20,5% số tiền huy động được vào ngân hàng trung ương (trong đó có 3% dự trữ bắt buộc) để làm vốn cho vay đối với nông nghiệp - nông thôn BPM không phải gửi tiền dự trữ bắt buộc ở ngân hàng trưng ương và không phải nộp thuế cho Nhà nước [11]

1.4.2 Kinh nghiệm ở Việt Nam

Kinh nghiệm của NHCSXH huyện Kiên Lương tỉnh Kiên Giang

Những năm qua, Ngân hàng chính sách xã hội huyện Kiên Lương đã thực hiện

có hiệu quả các chương trình chính sách tín dụng ưu đãi, từ đó góp phần rất lớn vào công tác, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

Trang 39

Ngân hàng CSXH huyện Kiên Lương đang thực hiện cho vay tổng cộng 9 chương trình tín dụng ưu đãi bao gồm: Cho vay hộ nghèo, cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, vay giải quyết việc làm, cho vay đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài, vay nước sạch

và vệ sinh môi trường nông thôn với hơn 32.123 lượt khách hàng vay vốn, trung bình số tiền vay mỗi hộ trên 26 triệu đồng Ngoài ra, Ngân hàng CSXH huyện còn thực hiện có hiệu quả việc ký kết ủy thác giữa ngân hàng và các hội, đoàn thể trên địa bàn huyện ở 168 tổ tiết kiệm vay vốn với tổng dư nợ ủy thác trên 145 tỷ 500 triệu đồng Từ các nguồn vốn ủy thác nêu trên, nhiều hội viên ở các đoàn thể đã biết

sử dụng nguồn vốn vay đạt hiệu quả, nhiều hộ vay vốn cũng đã thoát được nghèo vươn lên trong cuộc sống

Điển hình trong việc sử dụng nguồn vốn vay đạt hiệu quả đó là gia đình chị La

Mỹ Nga ở ấp Rẫy Mới, xã Bình An, huyện Kiên Lương Là hội viên Hội Phụ nữ của ấp nên chị Nga được tạo điều kiện cho vay vốn của Ngân hàng CSXH huyện

Số tiền vay được chị Nga đầu tư mua heo về thả nuôi Nhờ chăm sóc tốt cộng với vừa nuôi vừa học hỏi kinh nghiệm nên đàn heo của gia đình chị Nga lớn nhanh, không bị dịch bệnh Từ đó, chị Nga ngày càng phát triển đàn heo của gia đình Ngoài nuôi heo thịt, chị Nga còn để nuôi heo nái, vì vậy số lượng heo trong chuồng cũng ngày phát triển thêm

Hiện trong chuồng nuôi gia đình chị La Mỹ Nga luôn duy trì từ 30 đến 40 con heo thịt Mỗi năm gia đình chị Nga cung cấp ra thị trường từ 3 tấn heo hơi “Sau khi trừ chi phí mỗi năm gia đình tôi thu lời gần 100 triệu đồng Nhờ đó, cũng đã trả hết được nguồn vốn vay của ngân hàng và mạnh dạn đề nghị vay thêm nguồn vốn lớn hơn để tiếp tục mở rộng mô hình”, chị La Mỹ Nga cho biết

Cũng được xét hỗ trợ vay vốn từ Ngân hàng CSXH, từ nhiều năm nay, gia đình ông Châu Thanh Bình, 65 tuổi, một CCB tại xã Dương Hòa, huyện Kiên Lương đã từng bước vượt qua khó khăn, vươn lên thoát nghèo nhờ chính nghị lực của mình Năm 2010, thấy được hoàn cảnh gia đình ông khó khăn, Hội CCB xã đã xét cho gia đình ông vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng CSXH Do thực hiện tốt trả nợ vay đúng hạn, nên ông được tiếp tục xem xét cho vay tiếp nguồn vốn lên 50 triệu đồng Từ số tiền vay được ông Bình đầu tư cải tạo và trồng thêm các trụ tiêu trên

Trang 40

phần đất của gia đình mình Nhờ tích cực chăm sóc, đến nay hơn 200 trụ tiêu của gia đình ông phát triển tốt Theo ông Châu Thanh Bình ước tính, với 200 trụ tiêu, nếu tiêu bán được giá và năng suất cao, mỗi năm gia đình ông cũng thu về gần 50 triệu đồng

Để triển khai có hiệu quả các chương trình tín dụng ưu đãi trong thời gian qua, ngoài việc phối hợp chặt chẽ với UBND các xã, thị trấn và các hội, đoàn thể nhận ủy thác trong việc rà soát, giải ngân đúng đối tượng được thụ hưởng Ngân hàng CSXH huyện còn thường xuyên tăng cường công tác kiểm, quản lý nguồn vốn đối với hoạt động của các tổ tiết kiệm vay vốn, đồng thời thường xuyên quan tâm đến việc nâng cao chất lượng tín dụng, chất lượng ủy thác và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động của điểm giao dịch tại các xã, thị trấn để phục vụ người dân tốt hơn

Hiệu quả từ nguồn vốn của Ngân hàng CSXH huyện Kiên Lương trong thời gian qua đã góp phần khôi phục được một số ngành nghề truyền thống trên địa bàn huyện Kiên Lương, nhiều mô hình làm ăn hiệu quả, mô hình thoát nghèo bền vững được nhân rộng Tín dụng chính sách ưu đãi của Ngân hàng chính sách cũng đã giải quyết cho hơn 3.790 lao động có việc làm, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống Giúp cho hơn 1.470 hộ vay vốn thoát nghèo, 2.069 học sinh, sinh viên có đủ kinh phí tiếp tục đến trường học tập; 41 hộ xây dựng được nhà để ở và hơn 8.488 công trình nước sạch và vệ sinh Qua đó đã góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo trong huyện đến nay xuống còn 2,69% và cận nghèo còn 1,45%

Về những hoạt động trong thực hiện chính sách, tín dụng trong thời gian tới, ngân hàng sẽ hoạt động theo hướng bền vững, ổn định để đủ năng lực thực hiện chính sách tín dụng trên địa bàn huyện và tập trung chủ yếu vào các đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác Để có nguồn vốn xoay vòng cho vay đối với các đối tượng này, ngân hàng sẽ tăng cường công tác đôn đốc, thu hồi nợ đến hạn, nhằm tái đầu tư cho những hộ khác Bên cạnh đó sẽ phối hợp với chính quyền địa phương, hội đoàn thể nhận ủy thác thực hiện nghiêm túc việc bình xét cho vay, công khai minh bạch, đúng đối tượng, đúng quy trình thủ tục Các hộ vay phải có phương án sản xuất kinh doanh rõ ràng và thực hiện đúng trách nhiệm, quyền hạn của người vay vốn

Ngày đăng: 09/04/2018, 09:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam - Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam - Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam
Tác giả: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2004
7. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII-Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
10. Thu Hường (2012), Cẩm Khê nỗ lực giảm nghèo, Báo Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm Khê nỗ lực giảm nghèo
Tác giả: Thu Hường
Năm: 2012
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2015), Báo cáo tóm tắt Kết quả thực hiện các chính sách và Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững năm (2011-2015); Phương hướng nhiệm vụ giảm nghèo 2016 - 2020 Khác
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2003), Cơ sở khoa học và thực tiễn để từng bước đưa chuẩn nghèo của Việt Nam hoà nhập chuẩn nghèo Khu vực và Quốc tế Khác
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (4/2015), Đề án tổng thể chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều dựa vào thu nhập sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 Khác
4. Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội,Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, Hà Nội tháng 5/2012 Khác
6. Chi cục Thống kê huyện Hạ Hòa, Niên giám thống kê huyện Hạ Hòa 2015 Khác
8. Nguyễn Trọng Đức (2006), Đánh giá tác động của vốn tín dụng đến phát triển kinh tế trong hộ nông dân ở huyện Triệu Sơn Thanh Hóa Khác
9. Nguyễn Thu Hiền (2013), Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam sau năm 1986 (sau đổi mới), Trường đại học Đại học kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội Khác
11. Nguyễn Thị Lan (2005),Thực trạng vốn tín dụng NHCSXH Việt Nam Khác
12. Phan Lê (2007) Người sáng lập Ngân hàng Grameen, Băngladesh chuyên đề số 20 tháng 7 năm 2007. Website NHCSXH Khác
13. Ngân hàng Chính sách xã hội Huyện Hạ Hòa, Báo cáo tín dụng các năm 2014,2015,2016 Khác
14. Nguyễn Thu Hiền (2013), Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam sau năm 1986 (sau đổi mới), Trường ĐHKT - Đại học Quốc Gia Hà Nội Khác
15. Trần Tiến Khai, (2013), Quan hệ giữa sinh kế và tình trạng nghèo ở nông thôn Việt Nam Khác
16. Phòng Lao động-Thương binh-Xã hội huyện Hạ Hòa .Báo cáo tổng kết chương trình giảm nghèo giai đoạn 2011-2015 Khác
17. Nguyễn Vũ Phúc (2012), Nghèo đói ở Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Trường Đại học Thương Mại Khác
18. Nghị quyết 15-NQ/TW, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 Khác
19. Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XXIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020 huyện Hạ Hòa Khác
20. Nguyễn Hằng Trang (1993), Mức độ nghèo đói ở Việt Nam Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w