Nghiên cứu thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 – 2016 (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 – 2016 (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 – 2016 (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 – 2016 (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 – 2016 (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 – 2016 (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 – 2016 (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHƯƠNG NGUYỄN LAN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
CAO BẰNG, GIAI ĐOẠN 2012 - 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHƯƠNG NGUYỄN LAN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
CAO BẰNG, GIAI ĐOẠN 2012 - 2016
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thế Đặng
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phương Nguyễn Lan
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng TN&MT thành phố Cao Bằng, UBND thành phố Cao Bằng đã giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Phương Nguyễn Lan
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.2 Cơ sở pháp lý 5
1.2 Một số quy định cơ bản liên quan đến chuyển mục đích sử dụng đất 6
1.2.1 Khái niệm về chuyển mục đích sử dụng đất 6
1.2.2 Mục đích của chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp 7
1.2.3 Vai trò của chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá và phát triển kinh tế - xã hội 7
1.2.4 Các đối tượng nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp7 1.2.5 Các hình thức chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp 8
1.3 Thực tiễn quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và ở Việt Nam 8
Trang 61.3.1 Thực tiễn quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên Thế
giới 8
1.3.3 Thực tiễn quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp thành phố Cao Bằng 16
1.4 Một số kết quả nghiên cứu về chuyển mục đích sử dụng đất 18
1.5 Những nhận xét rút ra từ tổng quan tài liệu 25
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 27
2.1.1 Địa điểm 27
2.1.2 Thời gian 27
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và sử dụng đất của thành phố Cao Bằng 27
2.2.2 Thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 - 2016 27
2.2.3 Yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng giai đoạn 2012 - 2016 27
2.2.4 Định hướng và đề xuất một số giải pháp sử dụng đất trong thời gian tới 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 28
2.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp 28
2.3.3 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp 28
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 29
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và sử dụng đất của thành phố Cao Bằng 31
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
Trang 73.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 35
3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất 36
3.2 Thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 - 2016 36
3.2.1 Thực trạng quá trình sử dụng đất trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 - 2016 36
3.2.2 Quá trình biến động đất đai trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 - 2016 43
3.3 Yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên địa bàn thành phố Cao Bằng giai đoạn 2012 - 2016 53
3.3.2 Yếu tố đô thị hoá 53
3.3.1 Yếu tố gia tăng dân số và việc làm 56
3.3.3 Yếu tố người sử dụng đất 57
3.4 Một số giải pháp nâng cao đời sống kinh tế cho những hộ nông nghiệp khi bị chuyển mục đích sử dụng đất 63
3.4.1 Giải pháp từ phía Nhà nước 63
3.4.2 Giải pháp cho các hộ nông dân 70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71
1 Kết luận 71
2 Đề nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 của thành phố Cao Bằng 37
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 của thành phố Cao Bằng 38
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 của thành phố Cao Bằng 40
Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất năm 2015 của thành phố Cao Bằng 41
Bảng 3.5 Hiện trạng sử dụng đất năm 2016 của thành phố Cao Bằng 43
Bảng 3.6 Tình hình biến động sử dụng đất của thành phố Cao Bằng giai đoạn 2012 - 2016 44
Bảng 3.7 Biến động cơ cấu sử dụng đất so với diện tích tự nhiên của thành phố Cao Bằng giai đoạn 2012 - 2016 47
Bảng 3.8: Tình hình biến động đất đai của thành phố Cao Bằng giai đoạn 2012 - 2013 49
Bảng 3.9: Tình hình biến động đất đai của thành phố Cao Bằng giai đoạn 2014 - 2016 51
Bảng 3.10 Kết quả công tác thu hồi đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng giai đoạn 2012 - 2016 54
Bảng 3.11 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thành phố Cao Bằng giai đoạn 2012 - 2016 55
Bảng 3.12 Phân kỳ quy hoạch diện tích các loại đất phân bổ theo các mục đích sử dụng đất 56
Bảng 3.13 Cơ cấu dân số của thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 - 2016 57
Bảng 3.14 Tình hình xin chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 - 2016 58
Bảng 3.15 Tình hình chuyển mục đích sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Cao Bằng giai đoạn 2012 - 2016 60
Bảng 3.16 Ý kiến các hộ điều tra về mức độ tác động của chuyển mục đích 61
Bảng 3.17 Ý kiến của các hộ điều tra về kế hoạch trong tương lai 63
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
2012 - 2016 55
Trang 10DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT
BĐS : Bất động sản CNH : Công nghiệp hóa ĐNN : Đất nông nghiệp ĐTH : Đô thị hóa HĐH : Hiện đại hóa KCN : Khu công nghiệp MĐSD : Mục đích sử dụng QLNN : Quản lí nhà nước SDĐ : Sử dụng đất SHTN : Sở hữu tư nhân UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của con người, điều kiện sống cho động vật, thực vật và con người trên trái đất Đất đai tham gia vào tất
cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc các công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi vá các công trình thuỷ lợi khác
Luật đất đai 1993 của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi:
“Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là đại bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao nhiêu công sức, xương máu mới tạo lập,bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay !"
Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất - văn minh tinh thần, các thành tựu kỹ thuật vật chất - văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản - sử dụng đất Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, đô thị hóa luôn là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, là một quá trình tất yếu của bất kỳ quốc gia nào, trong đó có Việt Nam
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai là một tất yếu khách quan trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, đô thị hoá Trong quá trình công nghiệp hoá, nước
ta từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu chuyển thành một nước có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, dịch vụ văn minh Cơ cấu các ngành sản xuất, dịch
vụ thay đổi rất cơ bản; trong bản thân ngành nông nghiệp cũng có những thay đổi quan trọng: Cơ cấu các chuyên ngành cũng chuyển hướng gắn bó chặt chẽ với hướng phát triển của công nghiệp hiện đại, dịch vụ văn minh; của sự phát triển của các trung tâm đô thị lớn Do đó, cơ cấu nhu cầu đất đai thay đổi: đất đai, trước đây, dùng để trồng trọt cây lương thực, hoa màu, thì nay, phải chuyển sang thành đất
Trang 12chuyên dùng xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu công nghiệp tập trung, xây dựng các đô thị hình thành các vùng nguyên liệu cho công nghiệp, các bãi chăn thả gia súc có quy mô vừa và lớn Trước đòi hỏi của CNH, ĐTH chuyển đổi mục đích
sử dụng theo hướng có hiệu quả ngày càng cao là một tất yếu ở nước ta
Hoà theo xu thế đó, tốc độ đô thị hoá đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới quá trình sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh Cao Bằng nói chung và thành phố Cao Bằng nói riêng Quá trình đô thị hoá đã làm đất đai khu vực biến động mạnh cả về mục đích sử dụng và đối tượng sử dụng đất Diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp dần nhường cho diện tích đất khu đô thị tăng lên nhanh chóng, quan hệ kinh
tế đất đô thị cũng được tiền tệ hóa theo quy luật của kinh tế thị trường Quan hệ sử dụng đất đô thị có những phát sinh phức tạp mà nhiều khi đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước - đó là tình trạng tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, sự quá tải của hạ tầng kỹ thuật đô thị; ô nhiễm môi trường; thiếu vốn đầu tư… Đặc biệt đô thị phát triển không đúng định hướng, mục tiêu của Nhà nước do công tác xây dụng và quản lý quy hoạch chưa tốt (trong đó có cả quy hoạch đô thị và quy hoạch sử dụng đất)
Vì vậy, nghiên cứu thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là hết sức cần thiết nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý nhà nước về đất đai; nâng cao tính khả thi của việc sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao; tạo cơ sở pháp lý vững chắc để các tổ chức kinh tế, cá nhân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình về sử dụng đất đối với nhà nước; đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Đứng trước những vấn đề trên, được sự đồng ý của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Thế Đặng, chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến
chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 - 2016”
Trang 132 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất giải pháp cho sử dụng đất có hiệu quả trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 - 2016
- Những đề xuất từ nghiên cứu này hy vọng sẽ giúp cho các cán bộ làm trực tiếp có những thay đổi cần thiết, để tránh được những thiếu sót, bất cập và đạt mục tiêu quản lý sử dụng đất có hiệu quả
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận
Đất đai ở nước ta thuộc quyền sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản
lý là một định hướng chính trị cơ bản đã được ghi trong Hiến pháp năm 1992 Luật Đất đai năm 2013 còn xác định rõ, cụ thể như sau: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này." (Quốc hội, 2013) [9]
Từ nhận thức trên, Đảng và Nhà nước ta đã thường xuyên quan tâm đến vấn đề đất đai Trong mỗi giai đoạn cách mạng đã ban hành những chủ trương, chính sách, pháp luật đất đai cho phù hợp, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng đã đề ra
Vì lẽ đó trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “Hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện đối với đất đai, tài nguyên, vốn và các tài sản công để các nguồn lực này được quản lý, sử dụng có hiệu quả” (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2011) [4]
Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam (bổ sung, phát triển năm 2011) đã ghi: “… Quản lý, bảo vệ, tái tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia” (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2011) [4]
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên
và bảo vệ môi trường Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình, dự án Các dự án đầu
tư xây dựng mới phải bảo đảm yêu cầu về môi trường Thực hiện nghiêm ngặt lộ trình xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường Hoàn thiện hệ thống luật pháp về bảo
Trang 15vệ môi trường; xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý các hành vi vi phạm Khắc phục suy thoái, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, nâng cao chất lượng môi trường Thực hiện tốt chương trình trồng rừng, ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy rừng; tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên Quản lý, khai thác và
sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất, nước, khoáng sản và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác…” (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2011) [4]
Từ ngàn đời nay, mối quan hệ giữa con người với đất nông nghiệp là mối quan
hệ đa chiều, vừa mang tính chất kinh tế, vừa mang tính chất xã hội Có thể nói, đất nông nghiệp là trung tâm của các mối quan hệ trong xã hội, là sự liên kết cuộc sống của họ qua nhiều thế hệ Chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp là một vấn
đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, đòi hỏi có sự giải quyết thấu tình, đạt lí của các cấp lãnh đạo
Luật đất đai 2013 đã thực sự đi vào cuộc sống, đánh giá chung là việc các định quyền sử dụng đã rõ ràng và cụ thể hơn Việc tham gia của đất đai vào quá trình tăng trưởng, quá trình chuyển dịch cơ cấu đầu tư đều mang lại hiệu quả rất lớn
1.1.2 Cơ sở pháp lý
Đất đai là một tài sản quý báu và là một nguồn lực quan trọng phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng với những đổi mới toàn diện về thể chế kinh tế - xã hội, những nghiên cứu lý luận kinh điển Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề ruộng đất cũng đã được quan tâm và hệ thống pháp về luật đất đai ở nước ta cũng từng bước được thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu của tiến trình này
Xương sống của hệ thống pháp luật đất đai là Luật đất đai được ban hành năm
1987 và có hiệu lực từ ngày 8/1/1988, được sửa đổi cơ bản năm 1993, tiếp tục được sửa đổi bổ sung một số điều vào năm 2001, 2003 và sửa đổi bổ sung nhiều nội dung mới vào năm 2013 Bên cạnh đó còn có hàng trăm văn bản pháp luật về đất đai được ban hành ở cấp trung ương và hàng nghìn văn bản ở cấp địa phương Cụ thể, liên quan đến chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp có một số văn bản sau:
- Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013;
Trang 16- Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;
- Nghị định số 45/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định
về thu tiền sử dụng đất;
- Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ
- Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất;
- Quyết định số 41/2014/QĐ-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2014 của UBND tỉnh Cao Bằng ban hành Quy định về trình tự thủ tục thu hồi đất, trưng dụng đất, giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
- Quyết định số 43/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của UBND tỉnh Cao Bằng: Ban hành Quy định về trình tự, thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
- Quyết định số 44/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của UBND tỉnh Cao Bằng: Ban hành Quy định về diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở; hạn mức giao đất ở tại đô thị, nông thôn; hạn mức công nhận đất ở; hạn mức giao đất đối với đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
1.2 Một số quy định cơ bản liên quan đến chuyển mục đích sử dụng đất
1.2.1 Khái niệm về chuyển mục đích sử dụng đất
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất mới được pháp luật đất đai đề cập từ năm
2001 (khi sửa đổi, bổ sung lần 2 Luật Đất Đai 1993)
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hành chính cho phép chuyển mục đích sử dụng với những diện tích đất
cụ thể từ mục đích này sang mục đích khác
Trang 17Chuyển đổi MĐSD đất là sự thay đổi về MĐSD của đất Chuyển đổi MĐSD ĐNN là phạm trù hẹp hơn, tuy cũng chỉ sự thay đổi về MĐSD của đất, nhưng đó là mục đích của ĐNN này sang mục đích nông nghiệp khác hoặc từ ĐNN sang đất phi nông nghiệp Chuyển đổi mục đích sử dụng ĐNN còn được hiểu theo các góc độ về mặt pháp lý, về kinh tế tổ chức…Về mặt pháp lý, chuyển đổi MĐSD ĐNN là thay đổi MĐSD đất theo quy hoạch sử dụng đất, được duyệt bằng quyết định hành chính
Về mặt kinh tế, đất được sử dụng vào tất cả các hoạt động kinh tế và đời sống kinh
tế xã hội
1.2.2 Mục đích của chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp
- Đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, thúc đẩy quá trình đô thị hóa
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất
- Đáp ứng được nhu cầu của tất cả các đối tượng sử dụng đất
- Xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với đối tượng sử dụng đất
1.2.3 Vai trò của chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình
đô thị hoá và phát triển kinh tế - xã hội
- Chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đóng vai trò trung tâm để
phát triển kinh tế, chính trị, thương mại, văn hóa của xã hội
- Chuyển đổi MĐSD ĐNN tạo nên sức sản xuất mới, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất
- Chuyển đổi MĐSDĐ có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thức đẩy nền kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng
1.2.4 Các đối tượng nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp
1 Hộ gia đình, cá nhân trong nước
2 Tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội
3 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài
4 Tổ chức sự nghiệp công
Trang 181.2.5 Các hình thức chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp
Điều 57 Luật Đất đai 2013 quy định các trường hợp chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp phải được phép của cơ quan có thẩm quyền, bao gồm:
a) Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;
b) Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm;
c) Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp;
d) Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;
Điều 11 Luật Đất đai 2013 quy định các trường hợp chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp không phải xin phép của cơ quan có thẩm quyền, nhưng phải đăng ký biến động, gồm:
Chuyển đất trồng cây hàng năm sang xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép;
1.3 Thực tiễn quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Thực tiễn quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới
Toàn bộ quỹ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp trên thế giới là 3.256 triệu ha (chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền Diện tích đất nông nghiệp trên thế giới được phân bố không đều: Châu Mỹ chiếm 35%, Châu Á chiếm 26%, Châu Âu chiếm
trồng trọt toàn thế giới mới đạt 1,5 tỷ chiếm 10,8% tổng diện tích đất đai trong đó có 46% đất có khả năng sản xuất nông nghiệp như vậy còn 54% đất có khả năng sản xuất nhưng chưa được khai thác Diện tích đất đang canh tác trên thế giới chỉ chiếm 10% tổng diện tích tự nhiên (khoảng 1.500 triệu ha), được đánh giá là:
Trang 19Đất có năng suất cao: 14%
Đất có năng suất TB: 28%
Đất có năng suất thấp: 28%
Nguồn tài nguyên đất trên thế giới hàng năm luôn bị giảm, đặc biệt là đất nông nghiệp mất đi do chuyển sang mục đích khác Mặt khác dân số ngày càng tăng, theo ước tính mỗi năm dân số thế giới tăng từ 80 - 85 triệu người Như vậy với mức tăng này mỗi người cần phải có 0,2 - 0,4 ha đất nông nghiệp mới đủ lương thực, thực phẩm Đứng trước những khó khăn rất lớn đó thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất cũng như tình hình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết (Minh Quang, 2010) [15]
Dân số ngày một tăng cùng với những phát hiện mới về thiên nhiên, con người
đã nghĩ ra nhiều phương thức sản xuất mới, nhiều ngành nghề khác nhau để kiếm sống Và quá trình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp đều xảy ra ở tất cả các nước trên thế giới Tuy nhiên, có sự khác nhau về mức độ đô thị hóa cũng như diện tích đất được chuyển mục đích hàng năm Quá trình chuyển mục đích trên thế giới diễn ra sớm hơn với tốc độ mạnh mẽ hơn ở Việt Nam Đặc biệt là ở một số nước phát triển như: Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản,… thì tốc độ đô thị hóa nhanh
đã làm quá trình chuyển mục đích sử dụng đất trong đó có đất nông nghiệp diễn ra mạnh mẽ hơn Tuy nhiên, chính quá trình đô thị hoá, chuyển mục đích sử dụng đất một cách hợp lý đã giúp nền kinh tế của các nước này phát triển khá nhanh trong những năm qua Để đạt được những thành tựu đó thì công tác quản lý đất đai ở các quốc gia này được thực hiện khá tốt Một trong những nước điển hình về công tác quản lý Nhà nước về đất đai đó là nước Pháp Pháp là quốc gia phát triển thuộc hệ thống quốc gia TBCN, tuy thể chế chính trị khác nhau, nhưng nước ta chịu ảnh hưởng của phương pháp tổ chức QLNN trong lĩnh vực đất đai khá rõ của Cộng hòa Pháp Vấn đề này dễ lý giải vì Nhà nước Việt Nam hiện đang khai thác khá hiệu quả những tài liệu quản lý đất đai do chế độ thực dân để lại, đồng thời ảnh hưởng của hệ thống quản lý đất đai thực dân còn khá rõ nét trong ý thức một bộ phận công
Trang 20dân Việt Nam hiện nay Quản lý đất đai của Nước Cộng hòa Pháp có một số đặc điểm đặc trưng sau:
Về chế độ sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình Ở Pháp hiện nay tồn tại hai hình thức sở hữu cơ bản: SHTN về đất đai và SHNN (đối với đất đai và công trình xây dựng công cộng) Tài sản công cộng (bao gồm cả đất đai công cộng) có đặc điểm là không được mua và bán Trong trường hợp cần sử dụng đất cho các mục đích công cộng, Nhà nước có quyền yêu cầu sở hữu đất đai tư nhân nhường quyền sở hữu thông qua chính sách bồi thường thiệt hại một cách công bằng
Về công tác quy hoạch đô thị: Do đa số đất đai thuộc SHTN, vì vậy để phát triển đô thị, ở Pháp công tác quy hoạch đô thị được quan tâm chú ý từ rất sớm và thực hiện rất nghiêm ngặt Ngay từ năm 1919, ở Pháp đã ban hành Đạo luật về kế hoạch đô thị hóa cho các thành phố có từ 10.000 dân trở lên Năm 1973 và năm
1977, Nhà nước đã ban hành các Nghị định quy định các quy tắc về phát triển đô thị, là cơ sở để ra đời Bộ Luật về phân cấp quản lý, trong đó có sự xuất hiện của một tác nhân mới rất quan trọng trong công tác quản lý của Nhà nước về quy hoạch
đó là cấp xã Cho đến nay, Luật Đô thị ở Pháp vẫn không ngừng phát triển, nó liên quan đến cả quyền SHTN và sự can thiệp ngày càng sâu sắc hơn của Nhà nước, cũng như của các cộng đồng địa phương vào công tác quản lý đất đai, quản lý quy hoạch đô thị Nó mang ý nghĩa kinh tế rất lớn thông qua việc điều chỉnh mối quan
hệ giữa các ngành khác nhau như bất động sản, xây dựng và quy hoạch lãnh thổ…
Về công tác quản lý Nhà nước đối với đất đai: Mặc dù là quốc gia duy trì chế
độ SHTN về đất đai, nhưng công tác QLNN về đất đai của Pháp được thực hiện rất chặt chẽ Điều đó được thể hiện qua việc xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính Hệ thống hồ sơ địa chính rất phát triển, rất quy củ và khoa học, mang tính thời sự để quản lý tài nguyên đất đai và thông tin lãnh thổ, trong đó thông tin về từng thửa đất được mô tả đầy đủ về kích thước, vị trí địa lý, thông tin về tài nguyên và lợi ích liên quan đến thửa đất, thực trạng pháp lý của thửa đất Hệ thống này cung cấp đầy đủ thông tin về hiện trạng, phục vụ nhiệm vụ quy hoạch, quản lý và SDĐ có hiệu quả,
Trang 21đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, đảm bảo cung cấp thông tin cho hoạt động của ngân hàng và tạo cơ sở xây dựng hệ thống thuế đất và BĐS công bằng
Ngoài Pháp thì Mỹ cũng là một trong các quốc gia có hệ thống pháp luật về đất đai rất phát triển có khả năng điều chỉnh được các quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp nhất Luật đất đai của Mỹ quy định công nhận và khuyến khích quyền SHTN về đất đai, các quyền này được pháp luật bảo hộ rất chặt chẽ như là một quyền cơ bản của công dân Cho đến nay có thể thấy các quy định này đang phát huy rất có hiệu quả trong việc phát triển kinh tế đất nước, vì nó phát huy được hiệu quả đầu tư để nâng cao giá trị của đất đai và làm tăng đáng kể hiệu quả SDĐ trong phạm vi toàn xã hội
Tuy công nhận quyền SHTN, nhưng luật đất đai của Mỹ vẫn khẳng định vai trò ngày càng lớn và có vị trí quyết định của Nhà nước trong quản lý đất đai Các quyền định đoạt của Nhà nước bao gồm: Quyền quyết định về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quyền quy định về quy hoạch kiến trúc đô thị và công trình xây dựng; quyền quy định về mục đích sử dụng đất; quyền xử lý các tranh chấp về quyền sử dụng đất và quyền ban hành các quy định về tài chính đất (thu thuế kinh doanh BĐS; quy định mức giá thuê đất hoặc thuê bất động sản…) Quyền thu hồi đất thuộc SHTN để phục vụ các lợi ích công cộng trên cơ sở đền bù công bằng cho người bị thu hồi… bản chất quyền SHTN về đất đai ở Mỹ tương đương với quyền SDĐ ở Việt Nam
Như vậy có thể nói, hầu hết các quốc gia trên thế giới (dù quy định chế độ sở hữu đối với đất đai khác nhau), đều có xu hướng ngày càng tăng cường vai trò quản
lý của Nhà nước đối với đất đai Xu thế này phù hợp với sự phát triển ngày càng đa dạng của các quan hệ kinh tế, chính trị theo xu hướng toàn cầu hóa hiện nay Mục tiêu của mỗi quốc gia là nhằm quản lý chặt chẽ, hiệu quả tài nguyên trong nước, tăng cường khả năng cạnh tranh, để phục vụ cao nhất cho quyền lợi của quốc gia, đồng thời có những quy định phù hợp với xu thế mở cửa, phát triển, tạo điều kiện
để phát triển hợp tác đầu tư giữa các quốc gia thông qua các chế định pháp luật thông thường, cởi mở nhưng vẫn giữ được ổn định về an ninh kinh tế và an ninh quốc gia (Vũ Đình Chuyên, 2008) [2]
Trang 221.3.2 Thực tiễn quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.121,20 nghìn ha, trong đó đất nông nghiệp là 24.696 nghìn ha (chiếm 74,56% tổng diện tích tự nhiên) Diện tích đất bình quân trên đầu người ở Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất thế giới Ngày nay với
áp lực về dân số và tốc độ đô thị hóa kèm theo là những quá trình xói mòn, rửa trôi bạc màu do mất rừng, mưa lớn, canh tác không hợp lý, chăn thả quá mức, quá trình chua hóa, mặn hóa, hoang mạc hóa, cát bay, đá lộ đầu, mất cân bằng dinh dưỡng… cùng với chế độ chăm bón chưa phù hợp, tỷ lệ bón phân N : P : K trên thế giới là
100 : 33 : 17, còn ở Việt Nam là 100 : 29 : 7 thiếu lân và kali nghiêm trọng dẫn đến diện tích đất đai nước ta nói chung ngày càng giảm, đặc biệt là đất nông nghiệp Tính theo bình quân đầu người thì diện tích đất tự nhiên giảm 26,7%, đất nông nghiệp giảm 21,5% Vì vậy, để đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm đang là một áp lực rất lớn Do đó, việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất nông nghiệp càng trở nên quan trọng đối với nước ta (Vũ Đình Chuyên, 2008) [2]
Tình hình sử dụng đất cũng như quản lý đất đai của nước ta qua mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì lại có những điểm mới để phù hợp với quá trình phát triển chung Trong những năm gần đây, đặc biệt từ khi có Luật Đất đai năm 1987 thì tình hình quản lý về đất đai đã được cải thiện Đây là văn bản luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ đất đai, bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước, giao đất ổn định lâu dài Theo tinh thần của Luật này thì: Kinh tế nông hộ đã được khôi phục và phát triển Các hộ nông dân đã được giao ruộng đất để sử dụng lâu dài, khuyến khích kinh tế tư nhân trong lĩnh vực khai thác sử dụng đất v.v Tuy nhiên Luật Đất đai 1987 được soạn thảo trong bối cảnh nước ta bắt đầu đổi mới, vừa tuyên bố xóa bỏ chế độ quan liêu bao cấp nên còn mang nặng tính chất của cơ chế đó khi soạn luật; do đó đã bộc lộ một số tồn tại sau: Việc tính thuế trong giao dịch đất đai rất khó khăn vì Nhà nước chưa thừa nhận quyền sử dụng đất có giá trị; chưa quy định rõ những cơ sở pháp lý cần thiết để điều chỉnh về quan hệ đất đai trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, trong quá trình tích tụ tập trung sản xuất trong nông nghiệp và phân công
Trang 23lại lao động trong nông thôn; chính sách tài chính đối với đất đai chưa rõ nét, đặc biệt là giá đất; chưa có điều chỉnh thích đáng đối với những bất hợp lý trong những chính sách cũ vv…
Như vậy giai đoạn này, công tác quản lý đất đai đã bắt đầu đi vào nề nếp và đặc biệt chú ý tới việc xác định, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp địa phương Tuy nhiên, đất nông nghiệp đã giao cho nông dân sử dụng lâu dài nhưng công tác quản lý chưa được chặt chẽ
Sau giai đoạn đổi mới (từ năm 1986 - 1991), chúng ta vẫn còn thiếu nhiều quy định và ngay cả hệ thống pháp luật đã ban hành cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được tình hình đổi mới của đất nước Vì vậy, Hiến pháp 1992 ra đời đã khắc phục được những hạn chế của Luật Đất đai 1987 và trên cơ sở của Hiến pháp 1992 thì ngày 14 tháng 7 năm 1993 Luật Đất đai năm 1993 đã được Quốc hội khóa IX thông qua
Luật Đất đai năm 1993 đã chế định cơ sở pháp lý cơ bản để quan hệ đất đai ở nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN Luật này đã đề cập đến nhiều nội dung quan trọng và hoàn thiện hơn
Trong quá trình chúng ta thực hiện Luật Đất đai 1993 đã đạt được khá nhiều thành tựu đáng kể nhưng cùng với sự phát triển thì một số nội dung của Luật cần được thay đổi và bổ sung thêm để đáp ứng kịp thời nhu cầu của đất nước đặt ra Ngày 29 tháng 11 năm 2013, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Đất đai mới - Luật Đất đai 2013 Và trong số các nội dung đổi mới mà Luật đề cập có nội dung về chuyển mục đích sử dụng đất nói chung và chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Như vậy, Đảng và Nhà nước đã quan tâm tới việc sử dụng đất đúng theo mục đích cũng như hạn chế việc tự ý chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Và cho đến nay chúng ta vẫn đang thực hiện theo Luật Đất đai 2013 cùng với những văn bản dưới Luật để quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai một cách tốt nhất (Nguyễn Thị Dung, 2010) [3] Quá trình chuyển mục đích sử dụng đất luôn diễn ra ở mọi thời điểm Trước kia khi chưa có Luật Đất đai quy định về trình tự, thủ tục chuyển mục đích thì quá
Trang 24trình chuyển mục đích vẫn luôn diễn ra Sau khi chúng ta xây dựng luật để quản lý cũng như bảo vệ quỹ đất nói chung và quỹ đất nông nghiệp nói riêng thì vấn đề chuyển mục đích sử dụng đất vẫn chưa được quan tâm Cho đến lần sửa đổi thứ 2 (năm 2001) của Luật Đất đai 1993 thì vấn đề chuyển mục đích sử dụng đất mới được đưa ra và chính thức được bổ sung vào các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai của Luật Đất đai 2013 Hiện nay cùng với quá trình đô thị hóa mạnh mẽ đã kéo theo việc chuyển mục đích sử dụng các loại đất cũng như chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp ngày càng tăng
Việc mở rộng không gian đô thị đang có nguy cơ làm giảm diện tích đất nông nghiệp Theo Hội nông dân Việt Nam, trong quá trình xây dựng, các khu công nghiệp, khu đô thị, cơ sở hạ tầng, mỗi năm Việt Nam có gần 200 nghìn ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tương ứng mỗi hộ có khoảng 1,5 lao dộng mất việc làm (Bộ Xây dựng, 1995) [1]
Tốc độ ĐTH quá nhanh cùng với sự gia tăng dân số đã làm ảnh hưởng tới nhiều vấn đề như: vấn đề đói nghèo, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường vv… Đứng trước vấn đề đó ngày 23 tháng 01 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “ Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị đến năm 2020” trong quyết định số 10/1998/QĐ-TTG, trong đó xác định phương hướng xây dựng và phát triển đô thị trên địa bàn cả nước và các vùng đặc trưng (Bộ Xây dựng, 1995) [1]
Ở Việt Nam hiện nay cũng đã có những công trình nghiên cứu, hội thảo về quá trình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng cũng như các
đề tài liên quan tới vấn đề này Từ đó cung cấp những cơ sở khoa học cho các cơ quan liên quan đến việc quy hoạch, định hướng cuộc sống và sử dụng quỹ đất nông nghiệp sao cho hợp lý và hiệu quả nhất
Ngày 6 tháng 9 năm 2008, tại TP HCM đã diễn ra hội thảo “Công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp và chính sách pháp luật về sử dụng đất trong tình hình hiện nay”
Hội thảo do Văn phòng Quốc hội phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường
tổ chức nhằm đóng góp những ý kiến giúp Chính phủ xây dựng dự án Luật Đất đai
Trang 25sửa đổi cho phù hợp, góp phần đảm bảo hài hòa lợi ích phát triển kinh tế đất nước, đồng thời đảm bảo ổn định xã hội và an ninh lương thực quốc gia
Bên cạnh đó, trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh CNH-HĐH cũng nảy sinh nhiều vấn đề bất cập như thu hồi đất nông nghiệp, giá cả đền bù, tạo công ăn việc làm cho nông dân bị thu hồi đất, tái định cư Kết quả giám sát của Quốc hội cho thấy hơn 80% đơn khiếu nại tố cáo liên quan về đất đai cần tiếp tục xem xét giải quyết Kết quả thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong 7 năm qua (2001-2007) cho thấy: Có trên 500.000 ha diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp, chiếm 5% đất nông nghiệp đang sử dụng; Đặc biệt, đất nông nghiệp bị thu hồi chuyển sang mục đích đô thị hóa và công nghiệp hóa năm sau luôn tăng hơn năm trước
Ngoài ra, vẫn còn tồn tại tình trạng một số nơi không cần đất nông nghiệp hoặc sản xuất không hiệu quả cần được chuyển mục đích thì không được quy hoạch Nơi đất sản xuất nông nghiệp tốt thì lại quy hoạch chuyển mục đích, không phải để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cũng không phải mở rộng đô thị mà quy hoạch để làm sân golf dẫn đến hàng vạn nông dân mất đất sản xuất, đời sống khó khăn phải đi tha phương cầu thực, thậm chí đây là một trong những nguyên làm cho tình hình mất an ninh trật tự, tệ nạn xã hội tăng lên
Diện tích đất nông nghiệp đang từng ngày bị chuyển đổi mục đích sử dụng một cách thiếu quy hoạch và tùy tiện nên ngày càng bị thu hẹp một cách báo động (Cục Trồng trọt), cụ thể: Tổng diện tích đất lúa toàn quốc hiện nay là trên 4,1 hécta Song từ năm 2000 - 2005, diện tích đất lúa đã giảm nghiêm trọng với hơn 302.000ha Gần 9 năm qua, đất lúa đã bị giảm trên 59.000ha Riêng tại ĐBSCL, tính toán sơ bộ cho thấy từ năm 2000 - 2007, đất lúa đã bị giảm 205.000ha (chiếm 57% đất lúa bị suy giảm toàn quốc) Tại phía Bắc, Hải Dương là tỉnh có tỉ lệ đất lúa giảm lớn nhất, bình quân 1.569ha/năm, Hưng Yên 939ha/năm, Hà Nội (cũ) là 653ha/năm (Trích dẫn, Đỗ Thị Lan, 2009) [8]
Theo tính toán, năm 2020 dân số cả nước sẽ xấp xỉ 100 triệu người, năm 2030
sẽ có khoảng 110 triệu người Tổng nhu cầu lúa cho năm 2015 là 32,1 triệu tấn, năm
2020 là 35,2 triệu tấn và năm 2030 là 37,3 triệu tấn Tuy nhiên, tình trạng ồ ạt
Trang 26chuyển đổi đất nông nghiệp đã khiến sản lượng lúa suy giảm khá lớn qua mỗi năm, trung bình giảm từ 400.000 - 500.000 tấn/năm Cục Trồng trọt báo động, với tốc độ
đô thị hóa chóng mặt như hiện nay thì sẽ không còn lúa gạo để xuất khẩu vào năm
2020 Một số liệu đáng chú ý khác cho thấy, tại cả hai miền Nam và Bắc, số lượng các khu công nghiệp lấy từ quỹ đất nông nghiệp đang bị bỏ hoang không ít và hiện chỉ lấp đầy khoảng 50%-70% số lượng doanh nghiệp hoạt động (Trích dẫn, Đỗ Thị Lan, 2009) [8]
1.3.3 Thực tiễn quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp thành phố Cao Bằng
Thành phố Cao Bằng là trung tâm hành chính, kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Cao Bằng, có tổng diện tích đất tự nhiên là 10.711,66 ha (số liệu năm 2016) và
có ranh giới theo địa giới hành chính có giới hạn như sau:
- Phía Bắc giáp các xã Ngũ Lão và Bế Triều - huyện Hòa An
- Phía Đông giáp các xã Quang Trung và Hồng Nam - huyện Hòa An
- Phía Nam giáp xã Lê Trung - huyện Hòa An và xã Kim Đồng - huyện Thạch An
- Phía Tây giáp các xã Hoàng Tung và Bạch Đằng - huyện Hòa An
Trong những năm qua thành phố Cao Bằng đang trên đà phát triển, quá trình
đô thị hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ với tốc độ ngày càng cao, sự biến động
sử dụng đất diễn ra theo xu thế tích cực, phù hợp với sự phát triển đô thị Diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm và diện tích đất phi nông nghiệp ngày càng tăng, đất chưa sử dụng đang được đưa nhanh vào khai thác và sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Cụ thể:
+ Theo số liệu thống kê năm 2012:
- Đất nông nghiệp: 8.053,75ha (74,83%) so tổng diện tích tự nhiên
- Đất phi nông nghiệp: 2.627,15ha (24,41%) so tổng diện tích tự nhiên
- Nhóm đất chưa sử dụng: 81,91ha (0,76%) so tổng diện tích tự nhiên
+ Theo số liệu thống kê năm 2016:
- Nhóm đất nông nghiệp: 7.871,03ha (73,48%) so tổng diện tích tự nhiên
Trang 27- Nhóm đất phi nông nghiệp: 2.798,07ha, chiếm 26,12% so với tổng diện tích
tự nhiên
- Đất chưa sử dụng: 42,56ha, chiếm 0,40% so với tổng diện tích tự nhiên Qua số liệu trên ta có thể thấy diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng có xu hướng ngày càng giảm với những nguyên nhân sau:
+ Thành phố Cao Bằng đang từng bước hòa nhập với quá trình đô thị hóa cả nước Diện tích đất nông nghiệp đang có xu hướng giảm khá nhanh do chuyển mục đích sang đất phi nông nghiệp để phục vụ các mục tiêu phát triển của thành phố hay
để phù hợp với hiện trạng đất đai
+ Do tình hình sản xuất của người dân vẫn gặp rất nhiều khó khăn Nhiều cánh đồng vẫn còn tình trạng thiếu nước để sản xuất với nhiều nguyên nhân khác nhau như: vị trí địa lí, địa hình khó khăn không thể xây mương dẫn nước vào đồng ruộng
Vì vậy, người dân chỉ trông chờ vào nguồn nước tự nhiên (nước mưa) Ngoài ra sâu bệnh cũng là một trong những vấn đề làm giảm năng suất cây trồng Đặc biệt trong những năm gần đây do diễn biến của thời tiết khá phức tạp, xuất hiện nhiều loại sâu bệnh mới làm cho tình hình sản xuất ngày một khó khăn hơn
Và trong từng giai đoạn của quá trình phát triển, căn cứ vào đường lối chính sách của Đảng, của Nhà nước, Trung ương, địa phương thành phố Cao Bằng đã ban hành những quy định về quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Cao Bằng
Trước khi có Luật Đất đai năm 1993, do cơ chế quản lý tập trung bao cấp, vì
vậy tình trạng chung trong quản lý đất đai ngành nào do ngành ấy quản lý, không có
sự quản lý thống nhất Việc quản lý đất đai chủ yếu tập trung vào đất xây dựng, nhất
là đất xây dựng các khu đô thị Quy hoạch tổng thể là chưa có, do vậy ngoài những văn bản của Trung ương, của Tổng cục về công tác quản lý đất đai, thành phố Cao Bằng đã có những văn bản quy định về việc giao đất cho nhân dân xây dựng nhà ở, quy định về việc mua bán nhà và hoa mầu trong đô thị, đảm bảo cho việc quản lý đất trong lĩnh vực xây dựng có trật tự, ổn định Song cũng trong giai đoạn này tình trạng lấn chiếm đất tự ý làm nhà, phường, xã cấp đất cho nhân dân làm nhà ở, sử
Trang 28dụng đất sai mục đích, bán nhà cửa và hoa mầu không qua cấp thẩm quyền, xảy ra khá phổ biến, việc giải quyết xử lý còn chậm và chưa triệt để, còn để tồn tại kéo dài Luật Đất đai 2003 ra đời bổ sung, sửa đổi một số điều trong Luật đất đai 1993
và Luật Đất đai 2013 ra đời bổ sung, sửa đổi một số điều trong Luật đất đai 2003 thì công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố từng bước đi vào nền nếp Tình trạng đòi đất ông cha ở địa bàn thành phố cơ bản được khắc phục và không còn xảy ra, việc cấp đất sai thẩm quyền đã được chấm dứt, nhà ở do các cơ quan thanh lý cho các cán bộ công nhân viên chức đã và đang được xem xét, vận dụng các Nghị định của Chính phủ và của Bộ Tài nguyên và Môi trường để hợp thức thủ tục, giao quyền sử dụng đất cho nhân dân Việc khai thác và sử dụng nguồn lực đất đai ngày càng hiệu quả hơn, cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng đất đầu
tư xây dựng kết cấu hạ tầng; tạo điều kiện về mặt bằng cho các ngành sản xuất, kinh doanh; cải thiện điều kiện về nhà ở cho nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và xây dựng đô thị thành phố Cao Bằng Các cấp chính quyền từ thành phố đến cơ sở đã có nhiều cố gắng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Hòa theo xu hướng phát triển chung của đất nước và của tỉnh Cao Bằng, thành phố Cao Bằng đang cố gắng đẩy mạnh quá trình đô thị hóa, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn Tất cả đều được thực hiện theo định hướng chiến lược của cơ quan, ban nghành cấp trên trực tiếp chỉ đạo Bộ mặt thành phố đã
có nhiều thay đổi tuy nhiên việc thu hồi đất hay chuyển mục đích sử dụng đất cũng
đã có những ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của người dân mất đất Đây sẽ là một trong những vấn đề cần quan tâm và giải quyết trong thời gian tới
1.4 Một số kết quả nghiên cứu về chuyển mục đích sử dụng đất
Vấn đề đất đai cực kì phức tạp không chỉ ở Việt Nam mà ở cả các nước đang phát triển Việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang các mục đích khác như: Thương mại, công nghiệp, nhà ở rất khó khăn Để làm tốt công tác này trước
Trang 29tiên chúng ta phải có cách đánh giá nhìn nhận một cách khách quan về kết quả chuyển mục đích sử dụng đất đang diễn ra, từ đó rút ra những thuận lợi, khó khăn
và bài học kinh nghiệm trong công tác quản lí, đồng thời đòi hỏi người làm trong công tác này phải nắm chắc pháp luật về đất đai và vận dụng được vào trong thực tiễn quản lí Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó, cần có các đề tài nghiên cứu về đất đai sao để làm cơ sở để hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến công tác quản lý và sử dụng đất đai Liên quan tới vấn đề chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp có một số đề tài nghiên cứu sau:
- Đề tài: "Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc
quản lý và sử dụng đất” của ThS Đào Thị Thanh Lam do Viện Nghiên cứu Quản lý
đất đai tổ chức chủ trì với mục tiêu: Đánh giá thực trạng ảnh hưởng của quá trình đô
thị hóa đến việc quản lý và sử dụng đất Đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về đất đai, hiệu quả sử dụng đất đáp ứng yêu cầu phát triển
bền vững trong quá trình đô thị hóa Đề tài đã thu được kết quả sau:
Đô thị hóa là quá trình tất yếu trong phát triển kinh tế - xã hội, là xu thế tích cực tạo nên động lực mới cho nền kinh tế của mỗi quốc gia Việc tích tụ và chuyển đổi trên diện rộng, với quy mô lớn mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở, dịch vụ, du lịch sinh thái và các mục đích sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp là quy luật phát triển tất yếu Quá trình đô thị hóa có quan hệ hữu cơ rất lớn đến công tác quản lý đất đai thể hiện qua: công tác giao đất, cho thuê đất; công tác lập, thẩm định phê duyệt quy hoạch sử dụng đất, Bên cạnh những ưu điểm, thuận lợi mà quá trình đô thị hóa đem lại còn một số khó khăn, hạn chế, vướng mắc phát sinh trong qua trình đô thị hóa có thể thấy rõ như: Việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất dài hạn
5 năm tính khả thi không cao; chính quyền cấp cơ sở chưa thực sự chú trọng đến công tác lập và thực hiện kế hoạch sử dụng đất; vấn đề bồi thường giải phóng mặt bằng ở nhiều khu đô thị gặp khó khăn, kéo dài; tình trạng khiếu kiện kéo dài liên quan đến bồi thường, hỗ trợ tái định cư, tình trạng chống đối không hợp tác trong công tác kiểm đếm, bồi thường và di dời, đang trở thành những điểm nóng rất cần
sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị Vấn đề quản lý, sử dụng đất của chủ đầu tư ở
Trang 30một số khu đô thị còn lỏng lẻo, để người dân trở lại tái chiếm đất sản xuất, xây dựng
nhà ở cũng dẫn đến sự khiếu kiện, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương
+ Quá trình đô thị hóa ảnh hưởng đến cơ cấu sử dụng đất được chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, diện tích đất nông nghiệp giảm nhanh đặc biệt là diện tích đất trồng lúa; các khu đô thị mới hình thành, tỷ lệ cơ cấu ngành nghề theo hướng công nghiệp dịch vụ tăng, tạo nguồn thu quan trọng đóng góp vào ngân sách Nhà nước Đặc biệt, tạo ra được môi trường cạnh tranh nhằm thu hút đầu tư thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản cũng như hỗ trợ, kích thích cho
sự phát triển của các khu công nghiệp, dịch vụ, du lịch, tạo đà và lực cho quá trình
đô thị hóa cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trên địa bàn
+ Trên cở sở các đánh giá nói trên nhóm nghiên cứu đã đề xuất 3 nhóm giải pháp về chính sách, kỹ thuật và về tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu lực quản
lý nhà nước về đất đai, hiệu quả sử dụng đất đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong quá trình đô thị hóa (Đào Thị Thanh Lam, 2013) [7]
- Đề tài: "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng đất nông nghiệp trong khu dân cư vùng Đồng bằng Sông Hồng" của ThS Trịnh Văn Toàn do Trung tâm Điều tra, Đánh giá tài nguyên đất tổ chức chủ trì với mục tiêu: + Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất nông nghiệp trong khu dân cư và làm rõ những nguyên nhân dẫn đến sử dụng đất nông nghiệp kém hiệu quả trong khu dân cư
+ Đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả diện tích đất nông nghiệp trong khu dân cư vùng đồng bằng sông Hồng
Đề tài trên đã đạt được kết quả sau:
+ Vùng đồng bằng sông Hồng là vùng đất chật người đông, đất nông nghiệp trong khu dân cư nông thôn và đô thị chiếm tỷ lệ không lớn, chúng vừa có đặc điểm chung, vừa có đặc điểm riêng đó là: liền kề với đất ở, nhà ở; tiện lợi cho việc trồng cấy, chăm sóc, bảo vệ; ranh giới đôi khi không tách biệt rõ ràng; quy mô nhỏ, xen kẽ; Loại đất này vừa có những quy định chung của các loại đất nông nghiệp bình thường khác, vừa có các quy định riêng mang tính đặc trưng như vừa được công
Trang 31nhận là đất ở, vừa là đất nông nghiệp bình thường; quy định để tính bồi thường, hỗ trợ cũng khác đất nông nghiệp ngoài đồng ruộng
+ Thực trạng quản lý sử dụng đất nông nghiệp nói chung và đất nông nghiệp khu dân nói riêng của các địa phương trong vùng những năm qua đã có chuyển biến tích cực Với việc giao đất ổn định lâu dài cho hộ gia đình cá nhân; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; lập quy hoạch sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, đã làm cho việc quản lý đất đai tại các địa phương ngày càng chặt chẽ, đảm bảo đúng pháp luật Qua đó đã giúp cho người dân yên tâm đầu tư sản xuất, đẩy mạnh thâm canh tăng vụ nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các mô hình sản xuất
có hiệu quả kinh tế cao như trồng rau, hoa, cây cảnh, cây ăn quả đặc sản,…xuất hiện ngày càng nhiều, góp phần sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đất đai, tăng nguồn thu cho ngân sách, phát triển kinh tế của địa phương, giữ vững trật tự an toàn xã hội và cải thiện đời sống của người dân
+ Bên cạnh đó, thực trạng quản lý sử dụng đất nông nghiệp trong khu dân cư của vùng những năm qua còn nhiều tồn tại bất cập đó là: chất lượng quy hoạch sử dụng đất thấp, chưa trở thành công cụ đắc lực cho việc giao đất, chuyển mục đích
sử dụng đất; tình trạng giao đất, cho thuê đất không đúng thẩm quyền còn diễn ra ở khá nhiều nơi; công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận lần đầu đến nay chưa hoàn thành, việc cập nhật, chỉnh lý biến động chưa thường xuyên; công tác bồi thường giải phóng mặt bằng còn chậm và kéo dài,…dẫn đến tình trạng tranh chấp, khiếu kiện đông người về đất đai có xu hướng ngày gia tăng gây mất an ninh, trật tự xã hội
+ Đất nông nghiệp trong khu dân cư quá nhỏ lẻ, phân tán không đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa, đôi khi chịu nhiều tác động của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nên sản xuất kém hiệu quả; nhiều diện tích đất nông nghiệp xen kẹt, nhất là tại các đô thị lớn, gần các khu công nghiệp còn để hoang hóa, chưa kể đến nhiều diện tích đất nông nghiệp đã được thu hồi cho các mục đích phi nông nghiệp nhưng để cỏ mọc nhiều năm trong khi người dân lại không có đất sản xuất, gây lãng phí lớn nguồn tài nguyên đất đai; tình trạng lấn chiếm, chuyển mục đích trái phép vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi trong vùng
Trang 32+ Nguyên nhân của các tồn tại trên đó là chính sách, pháp luật về đất đai thường xuyên thay đổi, còn thiếu đồng bộ; giá đất bồi thường thấp hơn nhiều so với giá đất trên thị trường; ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người sử dụng đất còn hạn chế; chưa được sự quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền Bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý về đất đai ở các cấp, nhất là cấp xã phường còn hạn chế; quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa cao,…đã tạo ra một diện tích đất nông nghiệp không nhỏ nằm xen kẽ giữa khu dân cư và khu công nghiêp, khu đô thị do hệ thống thủy lợi bị phá vỡ thiếu nguồn nước tưới; nhiều diện tích bị ô nhiễm , dẫn đến phải để hoang hóa; …
+ Trên cơ sở thực trạng quản lý sử dụng đất nông nghiệp trong khu dân cư, những nguyên nhân của những bất cập giữa chính sách quản lý nhà nước và thực tế
sử dụng đất tại địa phương; những quan điểm chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề nông nghiệp nông thôn trong thời gian tới, đề tài đã đề xuất hai nhóm giải pháp về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp trong khu dân cư .nhằm đảm bảo sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững loại đất này đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới và đô thị xanh, văn minh hiện đại (Trịnh Văn Toàn, 2012) [17]
- Đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới sinh kế của người bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội làm cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp góp phần cải thiện đời sống, việc làm" của ThS.Nguyễn Thị Song Hiền do Viện Nghiên cứu Quản lý đất đai tổ chức chủ trì với mục tiêu:
+ Đánh giá thực trạng và tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng của đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới việc làm và điều kiện sống của người
bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
+ Đề xuất một số nhóm giải pháp góp phần cải thiện đời sống, việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn thành phố Hà Nội
Đề tài đã thu được kết quả sau:
+ Về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp
trên địa bàn huyện: Việc chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất
Trang 33phi nông nghiệp trên địa bàn huyện diễn ra từ năm 1997 đặc biệt trong giai đoạn
2000 - 2007 Tình trạng thu hồi dồn dập với diện tích khá lớn 1.142 ha, chiếm 33,52% diện tích đất nông nghiệp của huyện, ảnh hưởng trực tiếp đến hàng nghìn
hộ dân Đặc biệt số hộ bị thu hồi 100% diện tích đất nông nghiệp chiếm tới 9,54% tổng số hộ bị thu hồi
+ Từ thực tiễn tác động của vấn việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến việc làm và điều kiện sống của người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn huyện cho thấy:
Thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện dẫn đến một bộ phận dân cư mất đất sản xuất Điều này làm cho tỷ lệ lao động không có việc làm tăng mạnh từ 6,23% tăng lên 14,23% Đây là vấn đề đáng lo ngại đối với vấn đề lao động, việc làm của người dân trên địa bàn huyện
Việc sở hữu tiền bồi thường, hỗ trợ đã góp phần thúc đẩy sự phát triển các nhu cầu vật chất, văn hoá tinh thần cho người dân Tuy nhiên, phần lớn số tiền đền bù được sử dụng cho mục đích xây dựng, sửa chữa nhà cửa, mua sắm đồ dùng cho gia đình,… ít người đầu tư cho học hay chuyển đổi nghề Việc sử dụng tiền bồi thường như vậy sẽ tiềm ẩn những điều bất ổn về thu nhập, điều kiện sống khi những vấn đề
xã hội nảy sinh, khi nếp sống hiện tại không phù hợp với khả năng tài chính của họ Bên cạnh những tác động tích cực trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp cũng còn những tác động tiêu cực đến điều kiện sống của người dân như vấn đề ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng Điều này không những đem lại sự bất ổn cho xã hội mà còn có tác động không nhỏ đến suy nghĩ, niềm tin của những người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi
+ Trong những năm qua, việc chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp và vấn đề hỗ trợ tạo việc làm mới cho người dân
có đất nông nghiệp bị thu hồi đã đạt được những kết quả nhất định: UBND tỉnh Vĩnh Phúc và UBND thành phố Hà Nội đã đưa ra nhiều chính sách với nhiều hình thức khác nhau nhằm hỗ trợ tạo việc làm cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi Trên địa bàn huyện đã có nhiều KCN, khu chế xuất như: Mê Linh Plaza, nhà
Trang 34máy sản xuất ô tô Xuân Kiên, khu đô thị mới Quang Minh,… hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đã được xây dựng ngày càng đồng bộ và hiện đại hơn Nhờ đó
bộ mặt kinh tế - xã hội của Mê Linh thay đổi nhanh chóng xứng đáng là đơn vị hành chính cấp huyện của thành phố Hà Nội
+ Các cấp chính quyền từ tỉnh, huyện và xã đã có quan tâm trong việc vận dụng các chính sách để giải quyết các vấn đề về bồi thường, hỗ trợ tạo việc làm ổn định đời sống của người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi Tuy nhiên, hiệu quả của những chính sách này chưa đáp ứng nhu cầu lao động cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi và vẫn đang là vấn đề bức xúc của người dân nơi đây
+ Những vấn đề hạn chế, bất cập trong chính cách hỗ trợ dạy nghề, giải quyết
việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi: Xét một cách nghiêm túc, việc
thu hồi đất nông nghiệp, tiến hành bồi thường, giải quyết việc làm, đảm bảo thu nhập, điều kiện sống cho người dân thuộc diện mất đất nông nghiệp trên địa bàn huyện có nhiều thời điểm chưa tốt như: Sự thiếu đồng bộ, thiếu rõ ràng, minh bạch trong các chủ trương, chính sách; Thiếu sự phối hợp về quy hoạch, kế hoạch với vấn đề đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi, chưa gắn việc chuyển dịch cơ cấu đất đai với cơ cấu lao động;
Như vậy, vấn đề lao động và điều kiện sống của người dân có đất nông nghiệp
bị thu hồi trong những năm tới vấn là vấn đề nóng bỏng Nếu không có giải pháp đồng bộ mang tính khả thi để giải quyết nó thì vấn đề ổn định và phát triển đối với thủ đô sẽ hết sức khó khăn
+ Góp phần cải thiện đời sống, việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn thành phố Hà Nội cần chú trọng các giải pháp cơ bản như:
Về cơ chế chính sách: Cần trú trọng tăng tỷ lệ đầu tư cho vấn đề đào tạo nghề, cần có hỗ trợ ưu tiên riêng biệt đối với nhóm lao động dưới 35 tuổi Thực hiện xã hội hoá đào tạo nghề, mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức cung cấp dịch vụ đào tạo nghề với các cơ sở đào tạo nghề công lập, xác định rõ trách nhiệm của các bên trong việc hỗ trợ, đào tạo nghề, tăng mức hỗ trợ cho người dân
bị thu hồi đất bằng hình thức miễn giảm học phí Chính quyền địa phương cần có
Trang 35định hướng cho người dân sử dụng tiền bồi thường một cách hiệu quả đồng thời cần đẩy mạnh thông tin tuyên truyền và nâng cao vai trò của các đơn vị đoàn, đội, các tổ chức tại địa phương
Về tổ chức và quản lý: Phải có sự gắn kết giữa các chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội, chiến lược phát triển ngành với chiến lược đào tạo nghề Khắc phục triệt
để tình trạng "quy hoạch treo" đối với các dự án trên địa bàn, đồng thời các cấp chính quyền huyện, xã cần nắm rõ tình trạng lao động, việc làm ở những khu vực có đất nông nghiệp bị thu hồi, có kế hoạch đào tạo nghề phù hợp với lao động của địa phương, từ đó thành phố cần xây dựng các đề án, chương trình đào tạo nghề cho từng giai đoạn cụ thể
Công tác chỉ đạo và thực hiện: Cần có sự đồng bộ và nhất quán trong công tác chỉ đạo và thực hiện, có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng trong thu hồi đất cũng như giải quyết các vấn đề về lao động, việc làm Tăng cường đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác chuyên môn, nghiệp vụ (Nguyễn Thị Song Hiền, 2009) [6]
1.5 Những nhận xét rút ra từ tổng quan tài liệu
Đất nước ta đang phát triển trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để đưa đất đai thực sự trở thành nguồn vốn, nguồn thu hút cho các đầu tư phát triển thì việc thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất để xây dựng các khu, cụm công nghiệp, khu đô thị tập trung nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, xây dựng cơ cấu đất đai hợp lý là con đường hết sức cần thiết và duy nhất
Quá trình đô thị hóa ở nước ta đã bước đầu đem lại những thành quả, chẳng những đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống hiện đại mà còn tác động tích cực đến sự đổi mới bộ mặt và cuộc sống nông thôn Tuy nhiên, sự phát triển đô thị
đã làm cho diện tích đất nông nghiệp nước ta giảm nhanh chóng, ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống hàng ngày của người dân
Trong những năm qua, cùng sự đổi mới của đất nước, tốc độ đô thị hóa của thành phố Cao Bằng diễn ra khá sôi động, làm cho đời sống của người dân được thay đổi và nâng cao Theo xu hướng chung của đất nước, bên cạnh những thành
Trang 36tựu đạt được thì quá trình đô thị hóa nhanh trên địa bàn thành phố đã làm cho đất đai biến động lớn về mục đích sử dụng và đối tượng sử dụng, gây ra áp lực ngày càng lớn đối với đất nông nghiệp Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, thay vào đó là các khu công nghiệp, khu dân cư, ngày một tăng lên Việc quản lý,
sử dụng đất trở nên phức tạp hơn Ngoài ra, sự phát triển của đô thị đã thu hút lực lượng lao động lớn từ nông thôn ra thành thị, kéo theo sự bất ổn xã hội như: giải quyết việc làm, nhu cầu nhà ở, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội Do đó, để làm tốt công tác này trước tiên chúng ta phải có cách đánh giá nhìn nhận một cách khách quan về kết quả chuyển mục đích sử dụng đất đang diễn ra, từ đó rút ra những thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm trong công tác quản lí, đồng thời đòi hỏi người làm trong công tác này phải nắm chắc pháp luật về đất đai và vận dụng được vào trong thực tiễn quản lí
Trang 37Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm
Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
2.1.2 Thời gian
Từ 7/2016 đến 4/2017
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
- Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và sử dụng đất của thành phố Cao Bằng
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện kinh tế - xã hội
- Hiện trạng sử dụng đất đai
2.2.2 Thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 - 2016
- Sự biến động đất đai trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 - 2016
- Thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 - 2016
- Đánh giá quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 - 2016
2.2.3 Yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng giai đoạn 2012 - 2016
- Nhóm yếu tố chủ trương, chính sách của địa phương
- Yếu tố gia tăng dân số
- Yếu tố Đô Thị hóa
Trang 382.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Phỏng vấn những người trong từng lĩnh vực, các nhà lãnh đạo, cán bộ quản lý, người sản xuất giỏi có kinh nghiệm, cán bộ kỹ thuật thông qua tài liệu hoặc trao đổi trực tiếp để có kết luận chính xác
- Phương pháp chuyên khảo: Nghiên cứu các tài liệu mang tính chất lý luận về
đô thị, đô thị hóa và sản nông nghiệp
2.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập tài liệu, số liệu về thực trạng công tác chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp của thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tại 11 phường, xã
Trên cơ sở các tài liệu đã có, tiến hành nghiên cứu các nội dung về các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học của các tài liệu hiện có để phục vụ cho công tác nghiên cứu
Tìm hiểu, thu thập, hệ thống hóa và kế thừa các tài liệu đã nghiên cứu hoặc có liên quan đến nội dung của đề tài Nguồn từ các cơ quan của tỉnh và thành phố Cao Bằng và các viện nghiên cứu, trường đại học, các trang Web,
- Các sách, báo, tạp chí, các văn kiện Nghị quyết, các chương trình nghiên cứu
đã được xuất bản, các kết quả nghiên cứu đã được công bố của các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học trong và ngoài nước, các tài liệu trên internet…
2.3.3 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp là những số liệu phục vụ cho nội dung nghiên cứu đề tài Những
số liệu này được thu thập từ việc điều tra các hộ có đất sản xuất nông nghiệp có đất
bị thu hồi hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất Các số liệu này được sử dụng để
Trang 39phân tích về tình hình hiện trạng sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân trong phường, xã Tình hình mất đất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tình hình chuyển đổi việc làm của các hộ do tác động của quá trình thu hồi đất
- Các hộ gia đình: Được chia ra 3 nhóm:
Nhóm 1: Các hộ gia đình thuộc phường trung tâm thành phố, gần trung tâm
thành phố (80 hộ - 80 phiếu): Phường Hợp Giang, phường Sông Hiến, phường Sông Bằng, phường Tân Giang
Nhóm 2: Các hộ gia đình thuộc phường xa trung tâm thành phố (80 hộ - 80
phiếu): Phường Đề Thám, phường Ngọc Xuân, phường Hòa Chung, xã Hưng Đạo
Nhóm 3: Các hộ gia đình thuộc xã ở ngoại ô thành phố (60 hộ - 60 phiếu):
Phường Duyệt Trung, xã Chu Trinh, xã Vĩnh Quang
- Phương pháp phỏng vấn cấu trúc: phỏng vấn trực tiếp một thành viên hiểu biết về nông nghiệp của gia đình, ngoài ra có sự đóng góp ý kiến của các thành viên khác trong gia đình Điều này đảm bảo lượng thông tin có tính đại diện và chính xác
- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: để lấy thông tin theo chiều rộng, tránh cho người được phỏng vấn bị nhàm chán, bị ép buộc phải trả lời câu hỏi có sẵn, đề tài đã dùng các câu hỏi không có trong phiếu điều tra để phỏng vấn Phương pháp này nhằm mục đích lấy thông tin rộng hơn, gợi mở hơn về nhiều vấn đề mới quan trọng và thú vị
- Phương pháp quan sát trực tiếp: phương pháp này sử dụng tất cả các giác quan của người phỏng vấn, qua đó thông tin được ghi lại trong trí nhớ, qua ghi chép, chụp lại một cách cụ thể, thực tế, phong phú và khách quan
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Phân tổ thống kê: để phân loại các hộ theo tiêu thức cần nghiên cứu Phân loại theo mức sống của hộ: hộ khá, hộ trung bình và hộ nghèo Phân loại hộ gia đình theo tình hình mất đất: hộ mất đất canh tác và hộ không mất đất canh tác
- Phương pháp thống kê so sánh: là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định mức độ, xu thế biến động của các chỉ tiêu phân tích Phương
Trang 40pháp này cho phép ta phát hiện những điểm giống nhau và khác nhau giữa các thời điểm nghiên cứu đã và đang tồn tại trong những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định đồng thời giúp ta phân tích được các động thái phát triển của chúng
- Phương pháp tổng hợp: là phương pháp liên kết thống nhất toàn bộ các yếu
tố, các nhận xét mà khi sử dụng các phương pháp có được một kết luận hoàn thiện, đầy đủ, vạch ra mối liên hệ giữa chúng, khái quát hoá các vấn đề trong nhận thức
tổng hợp