1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá ảnh hưởng của quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011– 2015 đến sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (Luận văn thạc sĩ)

92 291 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá ảnh hưởng của quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011– 2015 đến sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá ảnh hưởng của quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011– 2015 đến sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá ảnh hưởng của quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011– 2015 đến sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá ảnh hưởng của quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011– 2015 đến sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá ảnh hưởng của quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011– 2015 đến sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá ảnh hưởng của quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011– 2015 đến sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

PHAN DIỄM HẰNG

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA QUY HOẠCH

SỬ DỤNG ĐẤT GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

`

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

THÁI NGUYÊN - NĂM 2017

Trang 2

PHAN DIỄM HẰNG

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA QUY HOẠCH

SỬ DỤNG ĐẤT GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

Ngành: Quản lý đất đai

Mã ngành: 60 85 01 03

`

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Nhuận

THÁI NGUYÊN - NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Phan Diễm Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được nội dung này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ rất tận tình

của TS Nguyễn Đức Nhuận, sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo Khoa Quản lý

tài nguyên - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ

lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Nguyễn Đức Nhuận và những ý kiến đóng

góp quý báu của các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý tài nguyên

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Vinh đã giúp

đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp động viên, giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Phan Diễm Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Khái quát về cơ sở lý luận của Quy hoạch sử dụng đất 4

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm quy hoạch sử dụng đất 4

1.1.2 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất 8

1.1.3 Nhiệm vụ và nội dung của quy hoạch sử dụng đất 9

1.1.4 Vai trò của quy hoạch sử dụng đất đất đối với phát triển kinh tế, xã hội 10

1.1.5 Tổng quan về đánh giá tác động kinh tế, xã hội 11

1.2 Cơ sở pháp lý của Quy hoạch sử dụng đất 18

1.3 Cơ sở thực tiễn 20

1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới 20

1.3.2 Tình hình quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam 23

1.3.3 Tình hình lập quy hoạch sử dụng đất ở Nghệ An 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28 2.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.2 Phạm vi nghiên cứu 28

2.3 Nội dung nghiên cứu 28

2.4 Phương pháp nghiên cứu 29

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 29

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 29

2.4.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 29

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tác động đến sử dụng đất 30

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường: 30

Trang 6

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 35

3.2 Tình hình thực hiện phương án Quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Vinh giai đoạn 2011-2015 42

3.2.1 Phương án Quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Vinh giai đoạn 2011-2015 42

3.2.2 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 44

3.3 Đánh giá sự ảnh hưởng của việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Vinh giai đoạn 2011-2015 đến việc sử dụng đất nông nghiệp 50

3.3.1 Tình hình biến động sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Vinh giai đoạn 2011-2015 50

3.3.2 Đánh giá tác động việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Vinh giai đoạn 2011-2015 đến việc sử dụng đất nông nghiệp 54

3.4 Đánh giá sự ảnh hưởng của quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Vinh giai đoạn 2011-2015 đến đời sống, kinh tế hộ nông dân mất đất nông nghiệp 60

3.4.1 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra 60

3.4.2 Tình hình biến động đất đai của các hộ điều tra 61

3.4.3 Tình hình biến động các nguồn thu nhập 62

3.4.4 Tình hình thu nhập của hộ 63

3.5 Định hướng phát triển đô thị và một số giải pháp nhằm nâng cao đời sống kinh tế hộ, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Vinh 67

3.5.1 Định hướng phát triển đô thị 66

3.5.2 Một số giải pháp: 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

1 Kết luận 70

2 Kiến nghị 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp 37

Bảng 3.3 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015 44 Bảng 3.4 Biến động mục đích sử dụng đất giai đoạn 2011 -2015 49

Bảng 3.5 Các công trình, dự án thu hồi đất thực hiện trong giai đoạn 2011-2015 có sử dụng trên đất nông nghiệp 53

Bảng 3.6 Chỉ số tăng, giảm diện tích và sản lượng lúa giai đoạn 2011 - 2015 thành phố Vinh 55

Bảng 3.7 Nghề nghiệp của các lao động trong gia đình trước và sau khi bị thu hồi đất 58

Bảng 3.8 Một số thông tin cơ bản về các chủ hộ 60

Bảng 3.9 Tình hình biến động đất đai của hộ trước và sau khi thu hồi 61

Bảng 3.10.Biến động thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất 62

Bảng 3.11 Hình thức sử dụng tiền đền bù của hộ nông dân bị thu hồi đất 64

Bảng 3.12 Thay đổi thu nhập của hộ trước và sau quy hoạch 65

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Bản đồ thành phố Vinh 30 Hình 3.2: Biểu đồ cơ cấu nghề nghiệp của các lao động trong gia đình trước và

sau khi bị thu hồi đất 59 Hình 3.3: Biểu đồ cơ cấu biến động thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất 63 Hình 3.4: Biểu đồ thay đổi thu nhập của hộ trước và sau quy hoạch 65

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

1 CNH: Công nghiệp hóa

2 HĐH: Hiện đại hóa

3 UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sự chuyển dịch kinh tế

từ nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang công nghiệp - dịch vụ -nông nghiệp đã

và đang gây áp lực lớn đối với đất đai Kinh nghiệm thực tiễn cùng với đổi mới tư duy và nhận thức đã trả lại cho đất đai giá trị đích thực vốn có của nó là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là bộ phận hợp thành của môi trường sống, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, là địa bàn phân bố khu dân cư và tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng

Để quản lý khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, công tác quy hoạch

kế hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung hết sức quan trọng Điều 18 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo việc sử dụng đất

đúng mục đích và có hiệu quả” (Điều Luật Đất đai, 1993)[10]

Luật đất đai năm 2013 đã quy định một trong những nguyên tắc cơ bản của việc

sử dụng đất là: “Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất” Điều 22 Luật đất đai xác định một trong những nội dung quản lý nhà nước về đất đai là “quy hoạch kế hoạch sử dụng đất” Điều 52 quy định căn cứ quyết định

giao đất, cho thuê đất “quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” (Luật Đất đai 2013) [11]

Mặt khác việc sử dụng đất đai hợp lý liên quan chặt chẽ tới hoạt động của từng ngành và từng lĩnh vực, quyết định đến hiệu quả sản xuất và sự sống của từng người dân cũng như vận mệnh của cả quốc gia

Tuy vậy trong quá trình quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế như: Việc công khai quy hoạch, quản lý quy hoạch còn chưa được chú trọng, công tác điều tra cơ bản, công tác dự báo còn hạn chế nên một số phương án quy hoạch chưa phù hợp, chất lượng thấp Việc bố trí quỹ đất cho các thành phần kinh tế không sát với nhu cầu, vì vậy dẫn đến tình trạng một số nơi (quy hoạch không khả thi, quy hoạch treo), một số nơi lại phải điều chỉnh bổ sung nhiều lần, công tác

Trang 11

kiểm tra giám sát có lúc còn buông lỏng, việc vi phạm quy hoạch xẩy ra nhiều nơi gây bức xúc trong nhân dân ở một số địa phương

Thành phố Vinh là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Nghệ An Có

vị trí địa lý đặc biệt quan trọng trong việc giao lưu buôn bán, lưu thông hàng hoá và

có nhiều tiềm năng thuận lợi để phát triển thành một trung tâm thương mại lớn trong tương lai Cùng với nhịp độ phát triển của cả nước, để đáp ứng nhu cầu phát triển của thành phố và tốc độ đô thị hóa, nhiều dự án đầu tư đã được triển khai, nhiều hạng mục công trình, các tuyến đường được nâng cấp mở rộng, các tuyến phố mới được hình thành,…

Việc chuyển mục đích sử dụng đất trong thời gian qua góp phần tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Tuy nhiên cũng gây tác động đến diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Thực trạng hiện nay đất nông nghiệp luôn có xu hướng giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau (lấy làm đất ở, chuyển sang mục đích chuyên dùng, bị thoái hoá ) Trong khi đó, dân số lại tăng quá nhanh, nhưng tiềm năng đất đai có thể khai thác đưa vào sản xuất nông nghiệp lại rất hạn chế Vì vậy, cần có cách nhìn tổng quát về tác động của việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị đến việc sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ nông dân,

từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế những ảnh hưởng bất lợi của việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất; góp phần nâng cao hiệu quả và tính khả thi của quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị

Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá ảnh

hưởng của quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2015 đến sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Từ việc phân tích thực trạng, kết quả của việc thực hiện Quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Vinh giai đoạn 2011-2015, làm cơ sở để đánh giá sự ảnh hưởng của việc Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn này đến việc sử dụng đất nông nghiệp và đời sống, kinh tế hộ dân trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

2.2 Mục tiêu cụ thể

Trang 12

- Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Vinh

- Kết quả thực hiện phương án Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn thành phố Vinh

- Đánh giá sự ảnh hưởng của quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn thành phố Vinh đến việc sử dụng đất nông nghiệp

- Đánh giá sự ảnh hưởng của quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn thành phố Vinh đến đời sống, kinh tế hộ dân

- Đề ra được các giải pháp nâng cao đời sống kinh tế hộ nông dân, tăng cường vai trò Quản lý Nhà nước về đất đai trong công tác quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Vinh

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Thông qua việc phân tích tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 để đánh giá sự ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ góp phần giúp cho việc quy hoạch sử dụng đất gắn liền với thực tiễn hơn, là cơ sở cho các nghiên cứu, xây dựng các phương án Quy hoạch để sử dụng đất hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng đời sống của của người dân Đồng thời, đề tài nghiên cứu cũng

là tài liệu tham khảo cho các khóa sau

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Việc đánh giá sự ảnh hưởng của quy hoạch sử dụng đất đến sử dụng đất nông nghiệp và đời sống, kinh tế hộ đã cho thấy được những ưu điểm, nhược điểm và những thuận lợi, khó khăn để có thể đề xuất ý kiến giúp địa phương thực hiện tốt hơn công tác quản lý đất đai nói chung và quy hoạch sử dụng đất nói riêng Góp phần sử dụng đất ngày càng hiệu quả, sát với thực tiễn, mang lại lợi ích cho địa phương cũng như cải thiện, nâng cao chết lượng đời sống của nhân dân

CHƯƠNG 1

Trang 13

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Khái quát về cơ sở lý luận của Quy hoạch sử dụng đất

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm quy hoạch sử dụng đất

1.1.1.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất

“Đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất,

miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính ), tạo ra những điều kiện nhất định cho việc

sử dụng theo các mục đích khác nhau Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch - đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định

Về mặt bản chất: đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh

vực sử dụng đất (gọi là các mối quan hệ đất đai) và việc tổ chức sử dụng đất như “tư

liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội Như vậy, quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế,

kỹ thuật và pháp chế Trong đó:

- Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai

- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo

sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu

- Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo

quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật

Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa: “Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện

pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức, sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng đất cụ thể), nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của

xă hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường”(Viện Nghiên cứu Địa chính - Tổng cục Địa chính,1998)[21]

Trang 14

Tính đầy đủ: Mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất

Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch

sử dụng đất chi tiết của mình; Xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản

lý Nhà nước về đất đai; Làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hoá - xã hội

Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm

tổ chức lại việc sử dụng đất theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất

nông, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng); Ngăn

chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và các hậu quả khó lường về những tình hình bất ổn định

chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương (Nguyễn Hữu Ngữ, 2010) [12]

1.1.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan

Trang 15

trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể như sau:

* Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển

của quy hoạch sử dụng đất Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức

sản xuất của xã hội thể hiện theo hai mặt: Lực lượng sản xuất (mối quan hệ giữa

người với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất) và Quan hệ sản xuất (quan

hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất) Trong quy hoạch sử dụng đất luôn

nẩy sinh quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên (như điều tra, đo đạc, khoanh

định, thiết kế ), cũng như quan hệ giữa người với người (xác nhận bằng văn bản về

sở hữu và quyền sử dụng đất giữa những người chủ đất - GCNQSDĐ) Quy hoạch sử

dụng đất thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã hội

Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất mang tính tự

phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt pháp lý (là phương tiện mở

rộng, củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai: phân chia, tập trung đất đai để mua, bán, phát canh thu tô ) ở nước ta, quy hoạch sử dụng đất phục vụ nhu cầu của người sử

dụng đất và quyền lợi của toàn xã hội; Góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; Nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nẩy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau

* Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất biểu hiện chủ yếu ở

hai mặt: Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân; Quy hoạch sử dụng đất

đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trường sinh thái Với đặc điểm này, quy hoạch lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất; Điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; Xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu

Trang 16

kinh tế - xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc

độ cao và ổn định

* Tính dài hạn: Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu

tố kinh tế xã hội quan trọng (sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hoá

công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ), từ đó xác định quy hoạch trung và dài

hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất 5 năm Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài kinh tế - xã hội Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian

dài (cùng với quá trình phát triển dài hạn kinh tế - xã hội) cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn (xác định phương hướng, chính sách và biện pháp sử dụng đất

để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội) của quy hoạch sử dụng đất thường từ trên

10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn

* Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử

dụng đất đai chỉ dự kiến trước được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ

cấu và phân bố sử dụng đất (mang tính đại thể, không dự kiến được các hình thức và

nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi) Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch

mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất của các ngành như: Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng; Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành; Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng; Phân định ranh giới và các hình thức quản lý việc sử dụng đất đai trong vùng; Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất;

Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hoá, quy hoạch

sẽ càng ổn định

* Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị

và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thể hiện cụ thể trên

Trang 17

mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; Tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái

* Tính khả biến: Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo

nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch

sử dụng đất không còn phù hợp Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực

hiện ” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao (Nguyễn

Hữu Ngữ, 2010)[12]

1.1.2 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất

Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như sau: Nhiệm vụ đặt ra đối với quy hoạch; số lượng và thành phần đối tượng nằm trong quy hoạch; Phạm vi lãnh

thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành chính) cũng như nội dung và phương pháp quy

hoạch Thông thường hệ thống quy hoạch sử dụng đất được phân loại theo nhiều cấp vị

khác nhau (như loại hình, dạng, hình thức quy hoạch ) nhằm giải quyết các nhiệm vụ

cụ thể về sử dụng đất đai (như điều chỉnh quan hệ đất đai hay tổ chức sử dụng đất như

tư liệu sản xuất) từ tổng thể đến thiết kế chi tiết

Đối với Việt Nam, Luật Đất đai năm 2013 quy định: quy hoạch sử dụng đất được

tiến hành theo lãnh thổ hành chính(Trương Phan ,1996)[14]: Quy hoạch sử dụng đất

cả nước (gồm cả quy hoạch sử dụng đất các vùng kinh tế tự nhiên); Quy hoạch sử dụng

đất cấp tỉnh; Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện

Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự nhiên của lãnh thổ Tuỳ thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính, quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau và được thực hiện theo nguyên tắc:

Trang 18

từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ

mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý bước trước

Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính bao gồm:

Đáp ứng nhu cầu đất đai (tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả) cho hiện tại và

tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân: Cụ thể hoá một bước quy hoạch

sử dụng đất của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn; Làm căn cứ, cơ sở để các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng đất của địa phương mình và để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm làm căn cứ để giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai

Tuy nhiên, có thể hiểu mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ và quy hoạch sử dụng đất theo ngành Trước tiên, Nhà nước căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và hệ thống thông tin tư liệu về điều kiện đất đai hiện có để xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng các loại đất Các ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai để xây dựng quy hoạch sử dụng đất cụ thể cho từng ngành phù hợp với yêu cầu và nội dung sử dụng đất của ngành Như vậy, quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và có tính định hướng cho quy hoạch sử dụng đất theo ngành Nói khác đi, quy hoạch ngành là một

bộ phận cấu thành trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ

Trong nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất theo ngành bao gồm quy hoạch sử dụng đất các vùng sản xuất chuyên môn hoá và quy hoạch sử dụng đất các xí nghiệp Quy hoạch sử dụng đất cho các vùng chuyên môn hoá - sản xuất hàng hoá có thể nằm gọn trong cấp vị lãnh thổ hoặc không trọn vẹn ở một đơn vị hành chính Do tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp, ngoài sản phẩm chuyên môn hóa phải kết hợp phát triển tổng hợp để sử dụng đầy đủ và hợp lý đất đai Quy hoạch sử dụng đất của xí nghiệp là hệ thống biện pháp về tổ chức, kinh tế và kỹ thuật nhằm bố trí, sắp xếp, sử dụng các loại đất như tư liệu sản xuất một cách hợp lý để tạo ra nhiều nông sản hàng hoá, đem lại nguồn thu nhập lớn Nội dung quy hoạch đất đai của xí nghiệp rất đa dạng và phong phú, bao gồm: Quy hoạch ranh giới địa lý; Quy hoạch khu trung tâm; Quy hoạch đất trồng trọt; Quy hoạch thuỷ lợi; Quy hoạch giao thông; Quy hoạch rừng phòng hộ Quy hoạch sử dụng đất của xí nghiệp có thể tiến hành trong các vùng sản xuất chuyên môn hóa hoặc có thể độc lập ở ngoài vùng

1.1.3 Nhiệm vụ và nội dung của quy hoạch sử dụng đất

Trang 19

Đối với mỗi quốc gia, cũng như từng vùng trong một nước (khác nhau về không

gian), nhiệm vụ và nội dung quy hoạch sử dụng đất ở các giai đoạn lịch sử khác nhau

(về thời gian) là rất khác nhau

Trong giai đoạn hiện nay, nội dung của quy hoạch sử dụng đất bao gồm:

(1) Điều tra, nghiên cứu, phân tích tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và

hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng đất đai (đặc biệt là đất chưa sử dụng);

(2) Đề xuất phương hướng, mục tiêu, trọng điểm và các nhiệm vụ cơ bản về sử

dụng đất trong kỳ quy hoạch (dựa trên cơ sở dự báo biến động sử dụng đất đai, nhu

cầu đất của các ngành kinh tế quốc dân, khả năng đáp ứng về số lượng và chất lượng đất đai);

(3) Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh;

(4) Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án;

(5) Xác định các biện pháp khai thác, sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường;

(6) Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất

Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm của quy hoạch sử dụng đất là: Phân phối hợp lý đất đai cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; Hình thành hệ thống cơ cấu sử dụng đất phù hợp với cơ cấu kinh tế; Khai thác tiềm năng đất đai và sử dụng đất đúng mục đích; Hình thành, phân bố hợp lý các tổ hợp không gian sử dụng đất nhằm đạt hiệu quả tổng hoà giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất

Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống quy hoạch nhiều cấp Ngoài lợi ích chung của

cả nước, mỗi vùng, mỗi địa phương tự quyết định những lợi ích cục bộ của mình Vì vậy,

để đảm bảo sự thống nhất, khi xây dựng và triển khai quy hoạch sử dụng đất phải tuân thủ các thể chế hành chính hiện hành của Nhà nước

Hệ thống quản lý hành chính của nước ta được phân chia thành 4 cấp: toàn quốc

(bao gồm cả cấp vùng), cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Tuỳ thuộc vào chức năng,

nhiệm vụ của mỗi cấp, quy hoạch sử dụng đất có nội dung và ý nghĩa khác nhau Quy hoạch của cấp trên là cơ sở và chỗ dựa cho quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới; quy hoạch của cấp dưới là phần tiếp theo, cụ thể hóa quy hoạch của cấp trên và là căn cứ

để điều chỉnh các quy hoạch vĩ mô

1.1.4 Vai trò của quy hoạch sử dụng đất đất đối với phát triển kinh tế, xã hội

Trang 20

Trong xã hội, đất đai có nhiều chức năng sử dụng vì thế luôn luôn tồn tại mâu thuẫn giữa một bên là lợi ích kinh tế, xã hội và một bên là môi trường cần sử dụng đúng và bền vững Ngay trong việc sử dụng đất vì lợi ích kinh tế, xã hội cũng tồn tại nhiều mâu thuẫn; giữa mục đích sử dụng này với mục đích sử dụng khác, giữa lợi ích của giai cấp này với lợi ích của giai cấp khác, giữa các chủ sử dụng đất với nhau

Để điều hoà các lợi ích và giải quyết các mâu thuẫn giữa chúng cần phải có một công

cụ điều chỉnh mang tính chất quốc gia, đó là quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp của Nhà nước về tổ chức, quản

lý nhằm mục đích sử dụng hiệu quả tối đa tài nguyên đất, với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững trên cơ sở phân bố quỹ đất vào các mục đích phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng theo đơn vị hành chính các cấp

Từ những phân tích nêu trên cho thấy việc lập quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch

đô thị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trước mắt mà cả lâu dài Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển Kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn; xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; làm cơ sở để tiến hành giao đất và đầu tư

để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hoá - xã hội

Mặt khác, Quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm

tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ

đất nông, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng); ngăn

chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và các hậu quả khó lường về tình hình bất ổn định chính trị,

an ninh quốc phòng ở từng địa phương; đặc biệt là trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường

1.1.5 Tổng quan về đánh giá tác động kinh tế, xã hội

Trang 21

1.1.5.1 Những lý luận cơ bản về đánh giá tác động kinh tế, xã hội

“Đánh giá” là quá trình xem xét một cách có hệ thống và khách quan một dự

án, chương trình, một chính sách đang thực hiện hoặc đã hoàn thành một giai đoạn hoặc toàn bộ Đánh giá là giúp xác định tính phù hợp và mức độ hoàn thành các mục tiêu, tính hiệu quả, tác động và tính bền vững Mục đích chung của công tác đánh giá

là đo lường và đánh giá kết quả thực hiện dự án, xác định những vấn đề tồn tại, đưa

ra những giải pháp… để từ đó có thể quản lý một cách hiệu quả hơn những đầu ra, kết quả của dự án (được biết đến như các mục tiêu phát triển)

“Đánh giá tác động” (ex-post evaluation) của một dự án là tìm hiểu những thay đổi tích cực và tiêu cực mà dự án đó mang lại (các thay đổi đó có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, dự tính trước hoặc không dự tính trước) Những thay đổi này có thể là về

xã hội, môi trường, kinh tế, văn hoá, vv Đánh giá tác động là để trả lời những câu hỏi sau: dự án đã mang lại kết quả gì? trước và sau dự án, có điều gì khác biệt ở những đối tượng hưởng lợi? có bao nhiêu người bị dự án tác động? kết quả nào có ảnh hưởng tích cực, tiêu cực, theo dự kiến, ngoài dự kiến

Để đảm bảo thực hiện Quy hoạch sử dụng đất mang lại sự phát triển kinh tế cân bằng và bền vững, cần thiết phải có đánh giá tác động kinh tế, xã hội cũng như đề ra các chính sách và khuyến nghị hành động nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực

Xác định các tác động về mặt kinh tế của việc thực hiện phương án quy hoạch

là rất khó, vì sự phát triển kinh tế chịu tác động của nhiều yếu tố Khó khăn khác là việc chọn ra được các chỉ thị phản ánh được sự thay đổi do các tác động của việc thực hiện phương án quy hoạch đem lại Việc tìm ra các thông tin và ví dụ minh họa cho

sự thay đổi đó cũng rất phức tạp, đòi hỏi thời gian cũng như phương pháp đánh giá phù hợp

1.1.5.2 Quan điểm, mục tiêu, đối tượng, ý nghĩa và nguyên tắc đánh giá tác động kinh tế, xã hội trong việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất

a) Quan điểm, mục tiêu, đối tượng của đánh giá tác động kinh tế, xã hội

* Về quan điểm, mục tiêu

- Đánh giá tác động Kinh tế - xã hội có mục đích xác định giá trị và lợi nhuận

về mặt Kinh tế - xã hội của dự án được phân bổ như thế nào trong xã hội

Trang 22

- Xác định các tác động của một hoạt động cụ thể nhằm tránh được những tác động bất lợi đến các nhóm lợi ích khác nhau của cộng đồng dân cư

* Về đối tượng của đánh giá tác động kinh tế - xã hội

Đối tượng của đánh giá tác động kinh tế - xã hội thường gặp và có số lượng nhiều nhất là các dự án phát triển cụ thể Những đối tượng đó có thể là: Một số bệnh viện lớn, nhà máy công nghiệp; công trình thủy lợi, thủy điện; công trình giao thông, Tất nhiên không phải tất cả các dự án đều phải tiến hành đánh giá tác động như nhau Mỗi quốc gia, căn cứ vào những điều kiện cụ thể, loại dự án, quy mô dự án, khả năng gây tác động, mà có quy định mức độ đánh giá đối với mỗi dự án cụ thể

b) Nguyên tắc của đánh giá tác động

* Nguyên tắc đánh giá tác động kinh tế - xã hội

- Tham gia của nhiều nhóm xã hội:

- Phân tích các tác động đến cộng đồng và cá nhân một cách cân bằng

- Đánh giá có trọng tâm:

- Xác định các phương pháp, các giả thiết và cách định nghĩa về ý nghĩa của các tác động:

- Cung cấp kết quả đánh giá tác động kinh tế - xã hội cho các nhà quy hoạch:

- Đưa đánh giá tác động xã hội vào thực tiễn: hướng dẫn các nhà xã hội học các phương pháp đánh giá tác động xã hội

- Soạn thảo chương trình giám sát và giảm thiểu: quản lý các tác động dự báo chưa chắc chắn bằng cách giám sát và thực hiện các biện pháp giảm thiểu

* Nguyên tắc đánh giá tác động môi trường

Trong quá trình xây dựng báo cáo Đánh giá tác động môi trường phải tuân thủ các nguyên tắc sau: tham gia, công khai và trong suốt, cụ thể và chắc chắn, nghiêm

ngặt và chính xác, trách nhiệm, chính trực và đáng tin cậy, hiệu quả và kinh tế, liên

ngành và tổng hợp, thận trọng …

Để cho bản báo cáo Đánh giá tác động môi trường có thực chất, đúng với quan niệm phát triển bền vững và đạt được sự đồng thuận trong xã hội; dĩ nhiên về chi tiết hành chính và quản trị, có chỗ khác nhau tùy theo từng nước, từng tiểu bang hay tỉnh, nhưng tựu chung, các nguyên tắc: tham gia, công khai, trong suốt, trách nhiệm, và thận trọng đều phải được áp dụng

Trang 23

c) Bản chất và phân loại tác động của quy hoạch sử dụng đất

Tác động là tổng hòa các vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường mà Quy hoạch

sử dụng đất sẽ tác động khi triển khai thực hiện phương án trong thực tiễn Quy hoạch

sử dụng đất là một bộ phận hợp thành phương thức sản xuất của xã hội Với cách tiếp cận như trên, cần phải lưu ý một số vấn đề khi xem xét tác động của Quy hoạch sử dụng đất như sau:

(1) Tác động của Quy hoạch sử dụng đất phải được đánh giá trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ về kinh tế cùng với việc sử dụng các chỉ tiêu đánh giá phù hợp

(2) Khi xác định tác động của Quy hoạch sử dụng đất cần xem xét đồng thời giữa tác động tích cực cũng như những ảnh hưởng bất lợi đến Kinh tế - xã hội (3) Khi tính toán các chỉ tiêu tác động cần tách bạch rõ phần tác động tích cực đem lại của Quy hoạch sử dụng đất thông qua các chỉ tiêu đồng nhất về chất lượng

và có thể so sánh được về mặt số lượng

d) Tác động của việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến những vấn đề kinh tế, xã hội

* Tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự gia tăng mức sản xuất mà nền kinh

tế tạo ra theo thời gian Tăng trưởng kinh tế được tính bằng % thay đổi của mức sản lượng quốc dân Để biểu thị tăng trưởng, người ta thường dùng mức tăng lên của GDP - tổng sản phẩm quốc nội hoặc GNP - tổng sản phẩm quốc dân Mức tăng đó thường tính trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hoặc là tính bình quân đầu người của từng thời kỳ so với thời kỳ trước đó

Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển mục đích sử dụng đất đều chịu sự chi phối của nhiều yếu tố; song giữa chúng đều chịu tác động của yếu

tố quan trọng nhất là các định hướng, mục tiêu phát triển Kinh tế - xã hội của đất nước, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Do đều chịu sự chi phối của yếu tố giống nhau đó nên giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với chuyển mục đích sử dụng đất luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Mục tiêu của tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là tiền đề cho chuyển mục đích sử dụng đất và ngược lại, chuyển mục đích sử dụng đất tạo điều kiện cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 24

Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế như trên đã nêu, đều phụ thuộc vào đất đai Nhất

là khi phát triển kinh tế theo hướng CNH, HĐH thì đất nông nghiệp sẽ bị mất dần bởi phải chuyển một phần đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp Nhưng nếu chuyển quá nhiều, phá vỡ cân bằng thì cần phải khống chế một cách nghiêm ngặt quá trình chuyển mục đích sử dụng đất, để việc chuyển mục đích sử dụng đất không xâm lấn quá nhiều vào đất nông nghiệp (đặc biệt là đất trồng lúa) làm giảm diện tích đất canh tác, giảm tăng trưởng của ngành nông nghiệp Khi diện tích đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp quá lớn, dễ dẫn đến thiếu hụt lương thực thực phẩm, từ đó

sẽ dẫn đến lạm phát, tăng trưởng kinh tế sẽ đi xuống

Bên cạnh đó, khi nói đến cơ cấu ngành của nền kinh tế, cần lưu ý đến chỉ tiêu Tổng

sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product - GDP) Tổng sản phẩm quốc nội là toàn

bộ sản phẩm vật chất và dịch vụ do tất cả các ngành kinh tế mới tạo ra trên phạm vi lãnh thổ trong từng thời kỳ Tổng sản phẩm quốc nội được tính bằng giá thực tế (là cơ sở tính

cơ cấu kinh tế) và giá so sánh (là cơ sở tính tốc độ tăng trưởng)

* Vấn đề an toàn lương thực

An ninh lương thực đã trở thành vấn đề toàn cầu chứ không riêng gì với Việt Nam Vai trò nông nghiệp thế giới đang thay đổi, nông nghiệp không chỉ cung cấp lương thực thực phẩm cho con người mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp năng lượng Nông nghiệp sẽ trở lại là ngành có khả năng sinh lợi cao, đặc biệt khi nó kết nối với chuỗi chế biến thực phẩm Đầu tư lớn vào nông nghiệp và nông thôn là kế sách lâu dài, kìm chế lạm phát hữu hiệu và tạo lập nền tảng cho nền công nghiệp chế biến thực phẩm mạnh

+ Tác động tích cực:

Việc phát triển Khu công nghiệp đã có những tác động tích cực đến nông dân, nông nghiệp và nông thôn, góp phần hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn; thu hút nhiều lao động ở nông thôn; tăng thu nhập, nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động khu vực nông thôn… Qua đó, Khu công nghiệp đã góp phần cải thiện đời sống của người dân khu vực nông thôn

Trang 25

+ Tác động tiêu cực:

Việc chuyển đất trồng lúa nói riêng và đất nông nghiệp nói chung bộc lộ những tiêu cực đối với vấn đề đảm bảo an ninh lương thực Diện tích đất trồng lúa bị thu hẹp do chuyển sang đất phi nông nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản lượng lương thực Trong khi một số khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị chưa lấp đầy

đã bỏ hoang, gây tổn thất về kinh tế

* Vấn đề lao động và việc làm

Mặc dù đã có tác dụng rất tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội; đã thu hút, giải quyết việc làm trực tiếp cho khoảng 1 triệu lao động với thu nhập tương đối khá, giúp họ từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, cũng như tinh thần của bản thân và gia đình Ngoài ra còn có trên 1 triệu lao động phục vụ gián tiếp cho các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Song việc phát triển các Khu công nghiệp cũng đang tồn tại một số bức xúc, trong đó có vấn đề: đời sống và việc làm của người bị thu hồi đất

Thu hồi đất đã đẩy hàng vạn người, trong đó chủ yếu là nông dân lâm vào cảnh không có việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn Theo một khảo sát của Bộ Lao động

- Thương binh và Xã hội mới đây, trung bình mỗi hộ nơi thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có việc làm và mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động có việc làm trong nông nghiệp Đất chúng ta thu hồi để xây dựng các Khu công nghiệp chủ yếu là đất nông nghiệp Như vậy, gần 50.000 ha đất đã bị thu hồi có

khoảng 680 ngàn lao động nông nghiệp bị mất việc làm (Bộ Lao động thương binh

đô thị Từ góc độ lao động và việc làm từ các hoạt động nông nghiệp sang các hoạt động công nghiệp và thương mại dịch vụ Những người nông dân trước đây gắn bó

Trang 26

với ruộng vườn, sau khi trở thành dân cư đô thị, họ bị mất phần lớn ruộng đất canh tác Với số tiền được Nhà nước đền bù hoặc tiền bán đất cho dân cư mới, họ dùng để tạo nghề mới, tìm việc làm mới và nhiều vấn đề khác cũng thay đổi Sự phát triển của các đô thị một mặt tạo ra một lượng lớn việc làm cho lao động tại đô thị, đồng thời thu hút và làm giảm đáng kể lực lượng lao động nông nhàn ở các vùng nông thôn, kém phát triển, góp phần làm tăng năng suất lao động tại các vùng này Tuy nhiên nhìn từ góc độ khác thì gia tăng quy mô thành phố bằng giải pháp mở rộng không gian, hình thành các quận, phường mới sẽ làm một phần lớn lực lượng lao động nông nghiệp ở vùng đô thị hoá mất việc và dẫn đến tình trạng thất nghiệp tăng Nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của nông dân bị thu hồi đất một phần là do sự phát triển của các ngành công nghiệp và thương mại - dịch

vụ chưa đáp ứng đủ nhu cầu giải quyết việc làm cho người dân Mặt khác, do chính bản thân người lao động, vốn xuất phát từ nông dân, có nhiều hạn chế về năng lực và trình độ văn hoá cũng như trình độ chuyên môn nghề nghiệp, chưa thích ứng được với công việc mới, không đáp ứng được nhu cầu thị trường lao động Hiện nay, tại nhiều đô thị đã xây dựng các trung tâm giáo dục thường xuyên trung tâm dạy nghề nhưng chưa đủ đáp ứng nhu cầu đào tạo và giải quyết việc làm cho người lao động

Đào tạo nghề cho những người bị thu hồi đất:từ người nông dân sản xuất nông

nghiệp, khi đất đai bị thu hồi, họ phải chuyển đổi nghề nghiệp Do đó, vấn đề đào tạo nghề cho người lao động là một vấn đề quan trọng Lao động công nghiệp và dịch vụ

là lao động đòi hỏi phải có tay nghề, chuyên môn và nghiệp vụ, nói cách khác là phải được đào tạo bài bản Song, dường như lao động nông thôn ở nước ta gần như chưa

được đào tạo gì (Bộ Lao động thương binh và xã hội) [1]

Vấn đề thu nhập và mức sống dân cư

Việc thu hồi đất để xây dựng các Khu công nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến chỗ ở, việc làm của người dân có đất bị thu hồi, mà còn ảnh hưởng rất lớn và sâu sắc đến thu nhập cũng như đời sống vật chất và tinh thần của gia đình họ; chính vì vậy, Nhà nước đã có chính sách bồi thường cho họ Việc bồi thường cho các hộ bị thu hồi đất, trước hết là bồi thường bằng tiền để bù đắp cho một phần những ảnh hưởng đó Điều này thể hiện rõ trên các mặt sau đây:

Trang 27

- Trước hết người dân có được một khoản thu nhập khá lớn từ tiền bồi thường cho diện tích đất bị thu hồi, mua lại đất nông nghiệp hoặc đất ở

- Từ tiền bồi thường các hộ có điều kiện mua sắm các công cụ phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó tạo cơ sở cho việc tiếp tục tăng nguồn thu nhập

và cải thiện đời sống

- Các gia đình cũng có thể dành ra một phần tiền trong số tiền bồi thường để đầu tư cho con cái trong việc học tập, nhằm tạo cơ sở để sau này có thu nhập cao hơn,

ổn định hơn Đây cũng là khoản đầu tư hợp lý, phù hợp với mục đích bồi thường của Nhà nước

- Cũng từ tiền bồi thường, các hộ có điều kiện để trang bị cho gia đình các thiết

bị hiện đại phục vụ cho cuộc sống hàng ngày như các phương tiện đi lại, phương tiện nghe nhìn, giường, tủ, máy điều hoà vv Trước mắt, đời sống của các hộ được nâng lên

- Tất nhiên, cũng không tránh khỏi có một số người thiếu nghị lực, thiếu kiến thức, không biết tính toán trong chi tiêu, khi nhận được tiền bồi thường thì không đầu

tư vào những điều đã nói ở trên, mà tiêu xài hoang phí, thậm chí còn cờ bạc, nghiện hút vv vì vậy, chẳng mấy chốc số tiền nhận được đã hết, họ trở thành trắng tay, không nhà cửa, không việc làm, không thu nhập Họ không hiểu rằng, tiền bồi thường

là nhằm giúp họ có điều kiện tạo lập nghề nghiệp mới ổn định thay thế cho nghề nghiệp cũ

1.2 Cơ sở pháp lý của Quy hoạch sử dụng đất

- Luật Đất đai năm 2003;

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai;

- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;

Trang 28

- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;

- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất

- Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg ngày 30/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ

về việc Phê duyệt Đề án phát triển thành phố Vinh trở thành Trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung Bộ (sau đây được gọi tắt là Quyết định 239/2005/QĐ-TTg)

- Quyết định 197/2007/QĐ-TTg ngày 28/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020

- Nghị quyết số 50/2007/NQ-CP ngày 13/9/2007 của Chính phủ về việc xét duyệt điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 - 2010) của tỉnh Nghệ An

- Quyết định 391/QĐ-TTg ngày 18/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về rà soát, kiểm tra thực trạng việc quản lý quy hoạch, kế hoạch và sử dung đất 5 năm 2006 -

2010 trên địa bàn cả nước, trong đó rà soát kiểm tra thực trạng công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp 5 năm 2006 - 2010 nói chung và đất trồng lúa nước nói riêng

- Quyết định số 324/QĐ-TTg ngày 09 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đến năm 2025

- Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền trung đến năm 2020;

- Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối 2006 - 2010 của tỉnh Nghệ An

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Thành phố Vinh đến năm 2020

- Các dự án quy hoạch và định hướng sử dụng đất của các ngành trên địa bàn Thành phố

- Định mức sử dụng đất và quy chuẩn xây dựng

Trang 29

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới

1.3.1.1 Hàn Quốc

Để quản lý tài nguyên đất, Hàn Quốc quy định việc lập quy hoạch sử dụng đất

ở theo các cấp sau: quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, quy hoạch sử dụng đất vùng thủ đô; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, quy hoạch

sử dụng đất vùng đô thị cő bản Kỳ quy hoạch đối với cấp quốc gia, cấp tỉnh là 20 năm, quy hoạch sử dụng đất vùng đô thị cơ bản về kế hoạch sử dụng đất là 10 năm Sau 5 năm sẽ tiến hành rà soát để điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu phát triển về thị trường Quy hoạch sử dụng đất là nền tảng, căn cứ cho các quy hoạch khác như quy hoạch giao thông, xây dựng đô thị,…Quy hoạch sử dụng đất chỉ khoanh định các khu vực chức năng: đất đô thị, đất để phát triển đô thị, đất nông nghiệp, đất bảo tồn thiên nhiên Trên cơ sở các khu chức năng sẽ lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết để triển khai thực hiện

Quy hoạch sử dụng đất được thực hiện từ tổng thể tới chi tiết Quy hoạch cấp tỉnh, vùng thủ đô phải căn cứ trên cơ sở quy hoạch cấp quốc gia; quy hoạch cấp huyện, vùng

đô thị phải căn cứ vào quy hoạch cấp tỉnh Quy hoạch cấp quốc gia do Bộ trưởng Bộ Đất đai, Giao thông và Hàng hải phê duyệt, quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh do tỉnh phê duyệt, quy hoạch huyện hoặc quy hoạch đô thị cơ bản do tỉnh trưởng phê duyệt Quốc hội không can thiệp vào quá trình xét duyệt quy hoạch sử dụng đất

Quá trình lập quy hoạch sẽ lấy ý kiến của nhân dân theo hình thức nghị viện nhân dân Sau khi quy hoạch được phê duyệt sẽ được công khai và phổ biến đến nhân dân Trách nhiệm thực hiện quy hoạch giao cho chính quyền Chính quyền cấp nào chịu trách nhiệm lập quy hoạch cấp đó và trong đó có chỉ rõ trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về quy hoạch Nhà nước có chính sách đảm bảo tính khả thi của quy hoạch, ví dụ: hỗ trợ đối với các khu vực bảo tồn, các khu vực cần bảo vệ như miễn

thuế, không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự, được hỗ trợ đời sống…(Bộ Tài nguyên

và Môi trường, 2012) [2]

Trang 30

1.3.1.2 Thụy Điển

Quá trình lập quy hoạch quốc gia của Thụy Điển bao gồm hai bước Bước đầu tiên là tiến hành nghiên cứu về nhu cầu sử dụng đất từ các ngành khác nhau của chính phủ và từ các mức độ phân cấp quản lý nhau, chính quyền địa phương, khu vực và chính quyền trung ương Mỗi lĩnh vực sử dụng đất (nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải, sản xuất điện, bảo vệ môi trường và văn hóa) được tham vấn về các nhu cầu sử dụng đất ưu tiên Các nhu cầu sử dụng đất này sẽ được biên soạn và lợi ích cạnh tranh giữa các mục đích sử dụng đất khác nhau sẽ được xác định Bước thứ hai của quá trình lập quy hoạch là tham vấn các thành phố về ưu tiên của

họ cho các nhu cầu cạnh tranh về sử dụng đất Những nhu cầu sử dụng đất cụ thể được xác định chính là quan tâm của địa phương, khu vực hoặc quốc gia và được bảo

vệ trong hoạt động quy hoạch sử dụng đất tiếp đó do thành phố thực hiện Chính quyền quận sẽ biên soạn các kết quả này và gửi cho Chính phủ trung ương và Quốc hội để quyết định trong các trường hợp đang có xung đột giữa quốc gia lợi ích với lợi ích khu vực hoặc địa phương hoặc có sự cạnh tranh giữa các lợi ích quốc gia khác nhau Chính quyền trung ương thông qua Chính quyền vùng quản lý để bảo vệ các lợi ích quốc gia đã được xác định trong quy hoạch sử dụng đất sau đó của địa phương

(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012) [2]

Một số các tham số chính trong công tác quy hoạch được xác định như sau:

- Tham số kỹ thuật: các khả năng về đất đai và môi trường (Chất lượng đất, đặc điểm địa hình, hiện trạng sử dụng, các khả năng cải thiện với bên ngoài, )

Trang 31

- Tham số kinh tế: tiềm năng phát triển kinh tế dựa trên hiện trạng cơ sở các ngành kinh tế, các động lực thúc đẩy phát triển mới, )

- Tham số văn hoá- xã hội: tăng cường văn hoá vùng và quốc gia, gìn giữ các công trình văn hoá, nghệ thuật, bảo tồn các truyền thống văn hoá )

- Các giá trị và tiêu chuẩn xã hội: chúng ảnh hưởng tới các quyết sách văn hoá

- xã hội, xác định ưu tiên phát triển đô thị hay nông thôn và quyết định các chính sách

là dài hạn hay ngắn hạn

- Tham số môi trường: mức độ ô nhiễm nước và đất, không khí,

Trước khi lập quy hoạch, nhất thiết phải tiến hành khảo sát đánh giá các tham

số trên đây

Tại Trung ương, quyền quyết định thuộc về Nghị viện và Chính phủ Giúp việc cho các cơ quan này có Uỷ ban Quy hoạch Không gian Nhà nước, Cơ quan Quy hoạch không gian Nhà nước và Hội đồng tư vấn quy hoạch không gian Tại cấp tỉnh, thẩm quyền thuộc về Hội đồng tỉnh và Ban chấp hành Hội đồng tỉnh với các cơ quan chuyên môn giúp việc là Uỷ ban Quy hoạch không gian của tỉnh và Cơ quan quy hoạch không gian của tỉnh Cấp địa phương có Hội đồng huyện và Ban chấp hành

Hội đồng huyện cùng Phòng Quy hoạch của huyện.(Bộ Tài nguyên và Môi trường,

2012) [2]

1.3.1.3 Canada

Canada là một liên bang có 10 tỉnh, trong đó mỗi tỉnh có độc quyền về đất đai

và tài nguyên, do đó chính phủ trung ương không có vai trò trong việc lập quy hoạch

sử dụng đất Mỗi tỉnh đều có hệ thống quy hoạch riêng Các hệ thống này có sự khác biệt, nhưng nguyên tắc là khá giống nhau

Thành phố và chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch phát triển (như quy hoạch tổng thể) và các quy hoạch vùng (zoning plan) Các chính quyền cấp tỉnh xây dựng khuôn khổ pháp lý cho việc lập kế hoạch và quy hoạch và đóng vai trò hoạch định chính sách và giám sát Trong trường hợp tỉnh có sự quan tâm mạnh

mẽ trong một vấn đề, tỉnh sẽ quy định các hoạt động một cách trực tiếp Ví dụ như bảo vệ đất nông nghiệp Thông thường chính quyền cấp tỉnh kiểm soát trực tiếp việc phân chia đất đai

Trang 32

Công tác quy hoạch sử dụng đất được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật của

cơ quan lập pháp tỉnh, với một đạo luật đặc biệt cho thành phố thủ đô và một Luật Quy hoạch cho 200 thành phố còn lại Theo Luật Quy hoạch chính quyền tỉnh xây dựng chính sách sử dụng đất, khu quy hoạch hoặc mỗi thành phố lập kế hoạch phát triển, và các thành phố xây dựng bản quy hoạch đất đai (zoning by law) trong đó bao

gồm kế hoạch chi tiết và các quy định về sử dụng đất và các tiêu chuẩn phát triển (Bộ

Tài nguyên và Môi trường, 2012) [2]

1.3.2 Tình hình quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam

- Đối với cả nước: Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá

IX, kỳ họp thứ 11 đã thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm

2010 (Nghị quyết số 01/1997/QH9 về kế hoạch sử dụng đất đai trong cả nước 5 năm,

từ năm 1996 - 2000) và giao trách nhiệm cho các ngành, các tỉnh, thành phố lập quy

hoạch và kế hoạch sử dụng đất của ngành, địa phương mình trình cấp có thẩm quyền

phê duyệt Năm 2000 Chính phủ đã chỉ đạo Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên

và Môi trường) xây dựng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và Kế hoạch sử dụng

đất đến năm 2005 của cả nước trình Quốc hội khoá XI Báo cáo này đã hoàn chỉnh

để phù hợp với Luật Đất đai năm 2003 và đã được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004 tại kỳ họp thứ 5, khoá XI

Đối với đất quốc phòng, an ninh: Chính phủ đã chỉ đạo Tổng cục Địa chính phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiến hành rà soát quy hoạch sử dụng đất đối với tất cả các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, đến nay đã hoàn thành trên phạm vi cả nước

- Đối với cấp tỉnh:Đã có 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng xong phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2006 - 2010); trong đó có 62 tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt; thành phố Hà Nội đã hoàn thành việc thẩm định và đang trình Chính phủ xét duyệt; tỉnh Hà Giang đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các Bộ, ngành có liên quan thẩm định và đang được hoàn chỉnh để trình Chính phủ xét duyệt;

- Đối với cấp huyện: Đã có 450/676 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là huyện) hoàn thành việc lập quy hoạch đến năm 2010 (đạt 66,57%); 154 huyện đang triển khai (đạt 22,78%); còn lại 72 huyện chưa triển khai (chiếm 10,65%), phần lớn là các đô thị (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh)

Trang 33

Cả nước có 26 tỉnh đã hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện Một số tỉnh đã triển khai nhưng kết quả đạt được còn thấp như Hà Nội, Gia Lai, Bình Định, Đồng Tháp; có 4 tỉnh mới triển khai lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và chưa có đơn vị nào hoàn thành gồm Tuyên Quang, Phú Thọ, Nghệ An, thành phố Hồ Chí Minh

- Đối với cấp xã: Đã có 6.179/10.784 xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 (đạt 57,30%); 2.466/10.784 xã đang triển khai (đạt 22,87%); còn lại 2.139/10.784 xã chưa triển khai (chiếm 19,83%) Trong

số các xã đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 có 1.358 xã (12,59%) đã lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết thể hiện trên bản đồ địa chính theo quy định của Luật Đất đai

Cả nước có 11 tỉnh đã hoàn thành việc lập quy hoạch sử dụng đất cấp xã; 8 tỉnh

đã triển khai nhưng kết quả đạt được còn thấp (dưới 50% số xã) gồm: Yên Bái, Cao Bằng, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Phú Yên, Gia Lai, Trà Vinh; 8 tỉnh mới triển khai và chưa có đơn vị nào hoàn thành gồm: Tuyên Quang, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre, Hậu Giang, Sóc Trăng; 3 tỉnh chưa triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã gồm: Hà Nội, Đà Nẵng

và Cần Thơ

Đến nay cả nước có 09 tỉnh đã hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả 3 cấp gồm Lạng Sơn, Bắc Giang, Hà Nam, Nam Định, Khánh Hoà, Kon Tum, Lâm Đồng, Long An và Vĩnh Long

“Như vậy cho thấy rõ hệ thống công tác quy hoạch sử dụng đất đai ở nước ta được triển khai đồng loạt theo 4 cấp trong phạm vi cả nước - Đây là một cố gắng lớn

và cũng là một bước tiến vượt so với một số nước khu vực ASEAN và một số nước

khác ở Châu á” (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2004)[5]

1.3.3 Tình hình lập quy hoạch sử dụng đất ở Nghệ An

1.3.3.1 Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh

Trên cơ sở kết quả điều tra, dự báo nhu cầu sử dụng đất của các huyện, thành, thị

và các ngành, lĩnh vực; Sở Tài nguyên và Môi trường đã tổng hợp, xây dựng dự thảo Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015) cấp tỉnh, báo cáo UBND tỉnh tại phiên họp tháng 10 năm 2010

Trang 34

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh tại cuộc họp ngày 22/10/2010,

để phương án quy hoạch sử dụng đất phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đến năm 2020, quy hoạch phát triển của các ngành và các địa phương, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và có tính khả thi cao; Sở Tài nguyên và Môi trường đã xin ý kiến góp ý lần cuối của một số Sở, ngành có liên quan đối với chỉ tiêu diện tích các loại đất được xác định trong Phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh đến năm 2020;

tổng hợp tham mưu UBND tỉnh trình Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định (Tờ trình

số 7974/TTr-UBND.ĐC ngày 15/12/2010)

Ngày 20/01/2011 Bộ Tài nguyên và Môi trường có Công văn số TCQLĐĐ, phúc đáp Tờ trình số 7974/TTr-UBND.ĐC ngày 15/12/2010 của UBND tỉnh, theo nội dung Công văn thì sau khi Quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2011-2020 và kế hoạch

162/BTNMT-sử dụng đất 5 năm (2011-2015) cấp Quốc gia được Quốc hội thông qua, Bộ Tài nguyên

và Môi trường sẽ tổ chức thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh

Tại phiên họp toàn thể, Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIII, chiều ngày 22/11/2011, Quốc hội đã biểu quyết thông qua toàn văn Nghị quyết về Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) cấp quốc gia

(trong đó có chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia) và giao cho

Chính phủ phân bổ cho các địa phương Các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia đã được Quốc hội quyết định thêm 11 chỉ tiêu so với các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia do Chính phủ quy định tại Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009

Ngày 25/11/2011, Bộ Tài nguyên và Môi trường có Công văn số TCQLĐĐ đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề xuất bổ sung nhu cầu sử dụng đất của địa phương giai đoạn 2011 đến 2020 theo 11 chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia được Quốc hội quyết định bổ sung

4439/BTNMT-Căn cứ Phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất

05 năm kỳ đầu (2011-2015) cấp tỉnh đã báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định tại Tờ trình số 7974/TTr-UBND.ĐC ngày 15/12/2010; phương án điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020; các tiêu chí

về xây dựng nông thôn mới; Sở Tài nguyên và Môi trường đã rà soát, bổ sung 11 chỉ tiêu sử dụng đất, tham mưu UBND tỉnh báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường tại Công văn số 8228/UBND.ĐC ngày 26/12/2011

Trang 35

Ngày 23/02/2012 của Chính phủ có Công văn số 23/CP-KTN về việc phân bổ chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, theo đó diện tích cho phép chuyển mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của tỉnh Nghệ An được xác định trong chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia Trên cơ sở phân bổ các chỉ tiêu sử dụng đất của Chính phủ; Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát, xác định tính cấp thiết của các công trình, dự án, làm

cơ sở cân đối chỉ tiêu diện tích các loại đất phân bổ cho các mục đích sử dụng trong Phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh đến năm 2020, tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh thông qua tại Nghị quyết số 47/2012/NQ-HĐND ngày 13/7/2012, báo cáo Bộ tài nguyên và Môi trường trình Chính phủ xét duyệt tại Tờ trình số 7880/TTr-UBND ngày 06/11/2012

Ngày 28/11/2012, Tổng cục Quản lý Đất đai có Công văn số CQHĐĐ về việc hồ sơ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất

1460/TCQLĐĐ-05 năm kỳ đầu (2011-2015) tỉnh Nghệ An, trong đó yêu cầu rà soát, tính toán câm đối lại, đồng thời giải trình cụ thể về tính khoa học và căn cứ pháp lý của phương án quy hoạch sử dụng đất của Tỉnh Sau khi rà soát chỉnh sửa lại phương án quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu UBND tỉnh báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường, trình Chính phủ xét duyệt

Ngày 07/6/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 70/NQ-CP xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đến nãm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015) tỉnh Nghệ An Tổ chức công bố công khai tại Thông báo 1694/TB-STNMT ngày 25/6/2013 của Sở Tài nguyên và Môi trường [13]

1.3.3.2 Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện

Căn cứ quy định của Luật Đất đai năm 2003, các văn bản hướng dẫn thi hành luật, Kế hoạch số 461/KH-UBND.ĐC ngày 17/11/2009 của UBND tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường đã ban hành nhiều Văn bản chỉ đạo hướng dẫn cấp xã, cấp huyện lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Trên cơ sở phương án quy hoạch kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, trình Chính phủ xét duyệt , Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ động báo cáo UBND tỉnh phân khai chỉ tiêu cho các huyện thành thị để sớm hoàn thành nhiệm vụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Trang 36

Toàn tỉnh có 21/21 huyện, thành phố, thị xã đã tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch

sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu Cụ thể:

- Các đơn vị: Thành phố Vinh, thị xã Thái Hòa và huyện Nam Đàn thực hiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến nãm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 05 nãm (2011-2015) Các huyện, thị xã còn lại thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất đến nãm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 05 nãm kỳ đầu (2011-2015)

Toàn tỉnh đã xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của 19/21 đơn vị hành chắnh cấp huyện, còn lại thị xã Hoàng Mai đang lập và thành phố Vinh đang thực hiện điều chỉnh [13]

1.3.3.4 Quy hoạch sử dụng đất cấp xã

Có 408/480 đơn vị cấp xã đã tổ chức lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và

kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015) Kết quả đã hoàn thiện xét duyệt

411 đơn vị cấp xã, còn lại 69/480 đơn vị cấp xã không hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch

- Huyện Nghi Lộc có 10/30 xã chưa lập quy hoạch sử dụng đất do liên quan đến Khu Kinh tế Đông Nam;

- Huyện Diễn Châu có 9/39 xã do liên quan đến Khu Kinh tế Đông Nam và quy hoạch

đô thị;

- Huyện Nghĩa Đàn có 01 thị trấn mới được thành lập theo Nghị quyết số

96/NQ-CP ngày 11/10/2011 của Chắnh phủ [13]

Trang 37

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đất nông nghiệp của thành phố Vinh

- Đời sống kinh tế hộ nông dân tại thành phố Vinh

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian nghiên cứu:Một số dự án bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn Thành phố Vinh

- Phạm vi thời gian nghiên cứu:Từ tháng 7/2016 đến tháng 7/2017

2.3 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Vinh

- Điều kiện tự nhiên;

- Điều kiện kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2011 - 2015;

Nội dung 2: Tình hình thực hiện phương án Quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Vinh giai đoạn 2011 - 2015

- Phương án Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 của thành phố Vinh

- Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn thành phố Vinh

Nội dung 3: Đánh giá sự ảnh hưởng của việc thực hiện phương án quy hoạch

sử dụng đất trên địa bàn thành phố Vinh giai đoạn 2011 - 2015 đến việc sử dụng đất nông nghiệp

- Tình hình biến động sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Vinh giai đoạn 2011-2015

- Ảnh hưởng của phương án quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Vinh giai đoạn 2011-2015 đến việc sử dụng đất nông nghiệp

Nội dung 4: Đánh giá sự ảnh hưởng của quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn thành phố Vinh giai đoạn 2011-2015 đến đời sống, kinh tế hộ nông dân mất đất nông nghiệp

- Tình hình cơ bản của các hộ điều tra

- Tình hình biến động đất đai của các hộ điều tra

Trang 38

- Tình hình biến động các nguồn thu nhập

- Tình hình thu nhập của hộ

Nội dung 5: Định hướng phát triển đô thị và một số giải pháp nhằm nâng cao đời sống kinh tế hộ, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong công tác quy hoạch

sử dụng đất trên địa bàn thành phố Vinh

- Đề xuất các giải pháp nâng cao đời sống kinh tế hộ nông dân

- Đề xuất giải pháp tăng cường Quản lý Nhà nước về đất đai trong công tác quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Vinh

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Điều tra, thu thập tài liệu, số liệu, khảo sát thực địa để tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội; thực trạng phát triển các ngành; kết quả chuyển mục đích sử dụng

đất theo phương án quy hoạch để xây dựng cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi,…), phát

triển các khu công nghiệp, làng nghề, khu đô thị, khu dân cư nông thôn,

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

+ Phỏng vấn các cán bộ chuyên môn tại các địa bàn thành phố Vinh, thu thập các tài liệu liên quan đến các dự án thu hồi đất, quy hoạch, tình trạng sử dụng đất sau chuyển mục đích sử dụng

+ Phỏng vấn trực tiếp người dân bị mất đất nông ở các phường, xã trên địa bàn thành phố để thấy rõ sự ảnh hưởng

Số liệu thu thập được từ phiếu điều tra của:

+ Các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu: Phỏng vấn các hộ dân liên quan đến công tác quy hoạch địa bàn thành phố để biết được những khó khăn, vướng mắc, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân

Tổng số hộ điều tra là 133 hộ bị thu hồi đất tại các dự án thuộc địa bàn: Phường

Hà Huy Tập, phường Hưng Bình và phường Đông Vĩnh

2.4.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu

- Tổng hợp và phân tích tài liệu: tổng hợp các thông tin, tài liệu, số liệu điều tra; phân tích, đánh giá mối tương quan giữa các thông tin, tài liệu, số liệu để đưa ra các thông tin, tài liệu, số liệu một cách chính xác

Hệ thống thông tin, số liệu, bảng biểu, và báo cáo được thực hiện trên hệ thống các phần mềm chuyên dụng như: Word Office, Excel Office

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tác động đến sử dụng đất

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường:

3.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình - địa mạo

* Vị trí địa lý

Hình 3.1 Bản đồ thành phố Vinh

Thành phố Vinh là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội của tỉnh Nghệ

An, là một trong hai đô thị lớn nhất vùng Bắc Trung Bộ có diện tích tự nhiên là 104,99

km2 bao gồm 25 đơn vị hành chính, trong đó có 16 phường và 9 xã

Trang 40

+ Phía Bắc và phía Đông giáp huyện Nghi Lộc;

+ Phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên;

+ Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh

Vị trí địa lý của Thành phố và hệ thống giao thông đối nội, đối ngoại cũng như các hạng mục hạ tầng kinh tế và xã hội khác ngày càng được hoàn thiện đang và sẽ

là những điều kiện thuận lợi để thành phố Vinh thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước

* Địa hình địa mạo

Thành phố Vinh thuộc vùng đồng bằng ven biển, phía Nam là dòng sông Lam Điạ hình tương đối bằng phẳng, độ cao bình quân 3-5,6 m so với mực nước biển Vinh còn có núi Quyết nằm ven bờ sông Lam ở phía Đông Nam thành phố Núi dài trên 2 km, đỉnh cao nhất 101,50 m so với mực nước biển, đây là địa danh gắn liền với Phượng Hoàng Trung Đô, với sự nghiệp lẫy lừng của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ

- Hoàng đế Quang Trung

Mặt bằng thành phố dốc đều về hai hướng Nam và Đông - Nam Theo độ cao địa hình chia làm 2 vùng chính:

+ Vùng có độ cao từ 5 - 6 m so với mực nước biển, gồm các phường, xã: Lê lợi, Hưng Bình, Hưng Phúc, Quán Bàu, Hà Huy Tập,Trường Thi, Nghi Phú

+ Vùng có cao độ từ 3 - 5 m so với mực nước biển, gồm các phường, xã: Trung

Đô, Bến Thủy, Hưng Dũng, Hưng Lộc, Hưng Hòa, Nghi Kim, Nghi Liên

Ngoài ra, vùng có cao độ từ 3 m so với mực nước biển trở xuống, về mùa mưa

lũ thường ngập sâu cục bộ 2-3m như: Cửa Nam, Vinh Tân, Hưng Dũng, Hưng Hòa Nhìn chung, địa hình của thành phố tương đối bằng phẳng, là thuận lợi lớn trong việc phát triển mạng lưới giao thông và xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế xã hội

3.1.1.2 Khí hậu, thuỷ văn

* Khí hậu:

Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt và có sự biến động lớn từ mùa này sang mùa khác

Ngày đăng: 09/04/2018, 09:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường(2004), Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004" của "về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2004
4.Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Báo cáo về tình hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) và tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp của cả nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) và tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp của cả nước
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2008
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), Quy hoạch sử dụng đất cả nước đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2005 của cả nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch sử dụng đất cả nước đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2005 của cả nước
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2004
6. Chính phủ (2004),Nghị định số 181/200/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 181/200/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
7.Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1983), Chỉ thị số 212 - CT ngày 4/8/1983 của Lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất của Việt Nam thời kỳ 1986 -2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 212 - CT ngày 4/8/1983 của Lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất của Việt Nam thời kỳ 1986 -2000
Tác giả: Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Năm: 1983
8. Hoàng Hữu Chiến (2012), Luận văn Thạc sỹ: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2006-2010 và dự báo đến 2020 tại thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2006-2010 và dự báo đến 2020 tại thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Hoàng Hữu Chiến
Năm: 2012
12. Ninh Văn Lân (1994), Quy hoạch phân bố sử dụng đất đai cấp tỉnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phân bố sử dụng đất đai cấp tỉnh
Tác giả: Ninh Văn Lân
Năm: 1994
14. Trương Phan (1996), Quan hệ giữa quy hoạch đất đai và phát triển kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa quy hoạch đất đai và phát triển kinh tế
Tác giả: Trương Phan
Năm: 1996
15. Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Vinh, Báo cáo tuyết minh tổng hợp “Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2015
16. Hà Ngọc Trạc (1999), Quy hoạch tổng thể phát triển năng lượng dài hạn đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển năng lượng dài hạn đến năm 2020
Tác giả: Hà Ngọc Trạc
Năm: 1999
17. Nguyễn Dũng Tiến (2005) “Quy hoạch sử dụng đất - Nhìn lại quá trình phát triển ở nước ta từ năm 1930 đến nay”, Tạp chí Địa chính, Số 3 tháng 6/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch sử dụng đất - Nhìn lại quá trình phát triển ở nước ta từ năm 1930 đến nay”, "Tạp chí Địa chính
18. Nguyễn Công Thành (2012), Luận văn thạc sỹ: “Đánh giá tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất tỉnh Nghệ An đến năm 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất tỉnh Nghệ An đến năm 2010
Tác giả: Nguyễn Công Thành
Năm: 2012
21.Viện Nghiên cứu Địa chính - Tổng cục Địa chính (1998), Đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp nhà nước “Cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách và sử dụng hợp lý quỹ đất đai”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách và sử dụng hợp lý quỹ đất đai
Tác giả: Viện Nghiên cứu Địa chính - Tổng cục Địa chính
Năm: 1998
1. Bộ Lao động thương binh và Xã hội. Giải quyết việc làm cho lao động khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp: Một yêu cầu cấp bách Khác
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012). Kinh nghiệm nước ngoài về quản lý và pháp luật đất đai, Hà Nội Khác
9.Quốc Hội (1993), Luật Đất đai, Hà Nội 10. Quốc Hội(2013), Luật Đất đai, Hà Nội Khác
13. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An (2015), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015) các cấp, kế hoạch sử dụng đất năm 2015 cấp huyện trên địa bàn tỉnh Nghệ An Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm