1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THÀNH PHẦN LOÀI rầy CHÍCH hút và bọ CÁNH lưới TRÊN một số LOẠI RAU tại cần THƠ và VÙNG PHỤ cận đặc điểm HÌNH THÁI,SINH học và KHẢ NĂNG ăn mồi của LOÀI suarius sp 1 TRONG đk PHÒNG THÍ NGHIỆM

65 453 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG TẠ ĐỨC CÕN THÀNH PHẦN LOÀI RẦY CHÍCH HÚT HOMOPTERA VÀ BỌ CÁNH LƯỚI NEUROPTERA TRÊN MỘT SỐ LOẠI RAU TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

TẠ ĐỨC CÕN

THÀNH PHẦN LOÀI RẦY CHÍCH HÚT (HOMOPTERA) VÀ BỌ CÁNH LƯỚI (NEUROPTERA) TRÊN MỘT SỐ LOẠI RAU TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ VÙNG PHỤ CẬN - ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG ĂN

MỒI CỦA LOÀI Suarius sp.1 TRONG ĐIỀU KIỆN

PHÕNG THÍ NGHIỆM

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ BẢO VỆ THỰC VẬT

Cần Thơ, 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

THÀNH PHẦN LOÀI RẦY CHÍCH HÚT (HOMOPTERA) VÀ BỌ CÁNH LƯỚI (NEUROPTERA) TRÊN MỘT SỐ LOẠI RAU TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ VÙNG PHỤ CẬN - ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG ĂN

MỒI CỦA LOÀI Suarius sp.1 TRONG ĐIỀU KIỆN

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Chứng nhận đã chấp thuận luận văn với đề tài:

“Thành phần loài rầy chích hút (Homoptera) và bọ cánh lưới (Neuroptera) trên một

số loại rau tại thành phố Cần Thơ và vùng phụ cận – đặc điểm hình thái, sinh học và

khả năng ăn mồi của loài Suarius sp.1 trong điều kiện phòng thí nghiệm”

Do sinh viên: Tạ Đức Còn thực hiện và đề nạp

Kính trình hội đồng chấm Luận Văn Tốt Nghiệp xem xét

Cần Thơ, ngày …… tháng …… năm 2012 Cán bộ hướng dẫn

Th.s Lăng Cảnh Phú

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Hội đồng chấm luận văn đã chấp nhận luận văn đính kèm với tên đề tài: “Thành phần loài rầy chích hút (Homoptera) và bọ cánh lưới (Neuroptera) trên một số loại rau tại thành phố Cần Thơ và vùng phụ cận – đặc điểm hình thái, sinh học và khả

năng ăn mồi của loài Suarius sp.1 trong điều kiện phòng thí nghiệm”

Do sinh viên Tạ Đức Còn thực hiện và bảo vệ trước hội đồng

Ngày ………tháng ………năm 2012

Luận văn được hội đồng đánh giá ở mức ………

Ý kiến hội đồng: ………

………

………

………

DUYỆT KHOA NN & SHƯD Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012

CHỦ NHIỆM KHOA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

Trang 5

LƯỢC SỬ CÁ NHÂN

Họ và tên: TẠ ĐỨC CÕN

Sinh ngày 01 tháng 08 năm 1991, tại xã Định Mỹ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

Đã tốt nghiệp trung học phổ thông tại trường THPT Vĩnh Trạch, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang vào năm 2009

Thi đậu vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2009 (khóa 35) và tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo Vệ Thực Vật năm 2012

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực

Tác giả luận văn

Tạ Đức Còn

Trang 7

LỜI CẢM TẠ

Kính dâng!

Cha Mẹ lòng biết ơn chân thành và thiêng liêng nhất Con luôn ghi nhớ công ơn của cha mẹ đã sinh thành, dưỡng dục và nuôi dạy con nên người, sự hy sinh cao cả đó chính là động lực giúp con vượt qua những khó khăn và thành công như ngày hôm nay

Thành kính biết ơn!

- Thầy Lăng Cảnh Phú, cán bộ hướng dẫn, đã hết lòng hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp cũng như thời gian học tập tại trường

- Quý thầy cô thuộc bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã truyền đạt những kiến thức vô giá cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường và đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Trang 8

Tạ Đức Còn, 2012 Thành phần loài rầy chích hút (Homoptera) và bọ cánh

lưới (Neuroptera) trên một số loại rau tại thành phố Cần Thơ và vùng phụ

cận – đặc điểm hình thái, sinh học và khả năng ăn mồi của loài Suarius sp.1

trong điều kiện phòng thí nghiệm Luận văn tốt nghiệp ngành Bảo Vệ Thực Vật,

Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ

TÓM LƯỢC

Nhằm tìm hiểu rõ hơn về sự phong phú của thành phần loài côn trùng chích hút gây hại trên một số loại rau cũng như sự đa dạng về thành phần loài thiên địch

bọ cánh lưới trên nhóm côn trùng chích hút Khảo sát một số đặc điểm hình thái,

sinh học và khả năng thiên địch của loài bọ cánh lưới Suarius sp.1 trong điều kiện

phòng thí nghiệm, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thành phần loài rầy chích hút (Homoptera) và bọ cánh lưới (Neuroptera) trên một số loại rau tại thành phố Cần Thơ và vùng phụ cận – đặc điểm hình thái, sinh học và khả năng ăn mồi của

loài Suarius sp.1 trong điều kiện phòng thí nghiệm” Đề tài được thực hiện từ

tháng 05/2012 – 09/2012 trên địa bàn thành phố Cần Thơ và vùng phụ cận Kết quả điều tra trên các ruộng rau ghi nhận được thành phần loài côn trùng chích hút gây hại trên rau màu khá đa dạng và đã phát hiện được 5 loài Trong đó rầy phấn

trắng Bemisia sp (Aleyrodidae) và rầy xanh 2 chấm Amrasca biguttula biguttula (Cicadellidae) là phổ biến nhất, ít phổ biến hơn là loài rầy xanh lá mạ Empoasca

flavescens (Cicadellidae), rầy mềm Aphis gossypii Glover (Aphididae) và rầy mềm Aphis craccivora Koch (Aphididae) Thành phần loài bọ cánh lưới ăn mồi trên

nhóm côn trùng chích hút cũng phong phú ghi nhận được 3 loài: trong đó loài

Suarius sp.1 (Chrysopidae) phổ biến nhất, ít phổ biến hơn là 2 loài Suarius sp.2

(Chrysopidae) và Micromus sp (Hemerobiidae) Về đặc điểm sinh học, kết quả ghi nhận loài Suarius sp.1 có chu kỳ sinh trưởng tương đối ngắn khoảng 19 – 21

ngày và loài này cũng có khả năng thiên địch (ăn mồi) rất cao

Trang 9

1.1 Đặc điểm hình thái, sinh học và khả năng gây hại của nhóm côn

trùng chích hút (Homoptera)

2

1.1.2 Rầy phấn trắng (Aleyrodidae) 3

1.2 Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ cánh lưới (Neuroptera) 6 1.2.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ cánh lưới họ Chrysopidae 6 1.2.2 Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ cánh lưới họ

2.2.2.2 Khảo sát khả năng ăn mồi của loài bọ cánh lưới Suarius sp.1 15

3.1 Thành phần loài của nhóm côn trùng chích hút (Homoptera) và

thiên địch bọ cánh lưới (Neuroptera) tại các ruộng rau

17

3.1.1 Thành phần loài nhóm côn trùng chích hút (Homoptera) gây hại

trên một số loại rau

17

Trang 10

3.1.2 Thành phần loài thiên địch bọ cánh lưới (Neuroptera) của nhóm

côn trùng chích hút trên một số loại rau

Trang 11

DANH SÁCH HÌNH

1.1 Lỗ Vasiform của rầy phấn trắng giống Bemisia 5 1.2 Hình dạng ấu trùng các loài bọ cánh lưới họ Chrysopidae 8 1.3 Đặc điểm vỏ đầu của ấu trùng bọ cánh lưới xanh Chrysopidae 8 2.1 Hộp dùng để nuôi bọ cánh lưới trong các thí nghiệm 15 3.1 Trứng bọ cánh lưới xanh Suarius sp.1 21 3.2 Một số đặc điểm hình thái chung của ấu trùng BCLX Suarius sp.1 22 3.3 Hình dạng ấu trùng tuổi 1 BCLX Suarius sp.1 23 3.4 Hình dạng ấu trùng tuổi 2 BCLX Suarius sp.1 24 3.5 Hình dạng ấu trùng tuổi 3 BCLX Suarius sp.1 25 3.6 Hình 3.6: Hình dạng nhộng BCLX Suarius sp.1 25 3.7 Một số đặc điểm nhận dạng của thành trùng BCLX Suarius sp.1 26 3.8 Một số đặc điểm hình thái chung của ấu trùng BCLX Suarius sp.2 28 3.9 Hình dạng ấu trùng tuổi 2 BCLX Suarius sp.2 29 3.10 Hình dạng ấu trùng tuổi 3 BCLX Suarius sp.2 29 3.11 Hình dạng nhộng BCLX Suarius sp.2 30 3.12 Một số đặc điểm nhận dạng của thành trùng BCLX Suarirus sp.2 32 3.13 Trứng bọ cánh lưới nâu Micromus sp 33 3.14 Một số đặc điểm hình thái chung của ấu trùng BCLN Micromus sp 34 3.15 Hình dạng ấu trùng tuổi 1 BCLN Micromus sp 35 3.16 Hình dạng ấu trùng tuổi 2 BCLN Micromus sp 36 3.17 Hình dạng ấu trùng tuổi 3 BCLN Micromus sp 37 3.18 Hình dạng nhộng BCLN Micromus sp 37 3.19 Một số đặc điểm nhận dạng của thành trùng BCLN Micromus sp 38

Trang 12

DANH SÁCH BẢNG

3.1 Thành phần loài của nhóm côn trùng chích hút (Homoptera) gây

hại trên một số loại rau

18

3.2 Thành phần loài thiên địch bọ cánh lưới (Neuroptera) của nhóm

côn trùng chích hút trên một số loại rau

20

3.3 Kích thước các giai đoạn phát triển của bọ cánh lưới xanh Suarius

sp.1 ở điều kiện phòng thí nghiệm (T0C = 29 – 30, RH% = 70 –

75)

20

3.4 Kích thước các giai đoạn phát triển của bọ cánh lưới xanh Suarius

sp.2 ở điều kiện phòng thí nghiệm (T0C = 29 – 30, RH% = 70 –

75)

27

3.5 Kích thước các giai đoạn phát triển của bọ cánh lưới nâu

Micromus sp ở điều kiện phòng thí nghiệm (T0C = 29 – 30, RH%

3.8 Khả năng ăn mồi của ấu trùng loài BCLX Suarius sp.1 theo từng

tuổi trên rầy mềm Aphis gossypii Glover trong điều kiện phòng thí

nghiệm (T0

C = 29 – 30, RH% = 70 – 76)

41

3.9 Khả năng ăn mồi của loài BCLX Suarius sp.1 trong suốt giai đoạn

ấu trùng trên rầy mềm Aphis gossypii Glover điều kiện phòng thí

nghiệm (T0C = 29 – 30, RH% = 70 – 76)

41

Trang 13

MỞ ĐẦU

Theo thống kê năm 2007 của Trần Thị Ba, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được xem là nơi có diện tích trồng rau lớn nhất Việt Nam với hơn 233.809 ha đất trồng rau, chiếm khoảng 20% diện tích trồng rau của cả nước Trong những năm gần đây, nông dân trồng lúa ở ĐBSCL đang dần chuyển từ thế độc canh cây lúa sang trồng một số loại rau ngắn ngày nhằm tăng thu nhập cho gia đình và góp phần

đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Song song với những thuận lợi thì người nông dân trồng rau gặp rất nhiều khó khăn làm thất thu năng suất cây trồng Ngoài các yếu tố do tự nhiên gây ra, kỹ thuật canh tác, bệnh hại… thì các cây rau thường xuyên bị côn trùng có hại tấn công làm thiệt hại đến năng suất cũng như phẩm chất Trong đó côn trùng chích hút gồm: rầy mềm (Aphididae), rầy phấn trắng (Aleyrodidae), rầy lá (Cicadellidae) là nhóm gây hại quan trọng trên cây rau ở nước ta Cùng với các biện pháp hóa học, biện pháp sinh học trong phòng trừ côn trùng gây hại đang từng bước được áp dụng Việc sử dụng các loài thiên địch ăn mồi đang tỏ ra rất hiệu quả trong phòng trừ sinh học côn trùng Trong đó tiềm năng ăn mồi của các loài bọ cánh lưới (Neuroptera) trên nhóm côn trùng chích hút là rất lớn

Trên thực tế đó, đề tài “Thành phần loài rầy chích hút (Homoptera) và bọ cánh

lưới (Neuroptera) trên một số loại rau tại thành phố Cần Thơ và vùng phụ cận

– đặc điểm hình thái, sinh học và khả năng ăn mồi của loài Suarius sp.1 trong

điều kiện phòng thí nghiệm” được thực hiện nhằm làm cơ sở khoa học cho việc

xây dựng những quy trình quản lý dịch hại tổng hợp trên rau, nhất là biện pháp sử dụng thiên địch ăn mồi Giúp mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân trồng rau, hạn chế ô nhiễm môi trường, hướng tới nền nông nghiệp bền vững

- Xác định thành phần loài của nhóm côn trùng chích hút (Homoptera) gây hại trên một số cây rau

- Xác định thành phần loài bọ cánh lưới (Neuroptera) là thiên địch ăn mồi của nhóm côn trùng chích hút gây hại trên rau

- Một số đặc điểm hình thái, sinh học và khả năng ăn mồi của loài bọ cánh

lưới Suarius sp.1 (Chrysopidae) trong điều kiện phòng thí nghiệm

Trang 14

CHƯƠNG 1

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 Đặc điểm hình thái, sinh học và khả năng gây hại của nhóm côn trùng chích hút (Homoptera)

1.1.1 Rầy mềm (Aphididae)

1.1.1.1 Vị trí phân loại, phân bố và ký chủ

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), họ rầy mềm Aphididae thuộc bộ Homoptera Các loài rầy thuộc họ này có phạm vi phân bố rất rộng và đa ký chủ chúng tấn công nhiều loài rau màu như: cà chua, thuốc lá, bầu bí dưa, ớt, bông vải, các loại đậu…

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái và sinh học

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2010), họ rầy mềm gồm một nhóm khá lớn các loài côn trùng có kích thước nhỏ và mềm yếu gây hại phổ biến trên lá, thân, trái, bông non của thực vật Cơ thể của thành trùng và ấu trùng thường có dạng hình trái lê và có một đôi ống bụng nằm ở đốt bụng thứ 5 hoặc thứ 6 dùng để tiết ra dịch bảo vệ Râu đầu của họ rầy mềm gồm nhiều đốt Thành trùng có cánh hoặc không cánh, phần nhiều con đực có cánh Cánh có mạch cánh đơn giản, cánh trước lớn hơn cánh sau

và khi nghỉ cánh thường dựng đứng trên cơ thể

Ở một số loài rầy mềm cơ thể được bao phủ bởi những sợi sáp trắng, những chất sáp này được tiết ra từ các tuyến da Tại vùng nhiệt đới chu kỳ sinh trưởng của rầy mềm rất ngắn từ 5 - 7 ngày, hình thức sinh sản đơn tính và lưỡng tính thường xen

kẻ nhau Có loài đẻ trứng có loài đẻ con, có loài vừa đẻ trứng lại vừa đẻ con Cả thành trùng và ấu trùng đều gây hại bằng cách chích hút các bộ phận non của cây như lá non búp, chồi non hoa và trái non để hút nhựa sau khi chích hút chúng thường tiết ra dịch mật để lại trên bề mặt lá hoặc chồi bị tấn công Chỗ bị chích hút

sẽ có những chấm vàng hoặc đen và nếu bị nặng các bộ phận này có thể bị biến dạng quăn queo (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010)

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), một số loài rầy mềm phổ biến trên cây rau:

 Loài Aphis craccivora Koch, còn có tên là Aphis medicaginis Koch Thành trùng

có 2 dạng:

- Thành trùng có cánh: Cơ thể có màu xanh đen hoặc vàng, dài từ 1,5 - 1,8 mm, rộng từ 0,8 - 0,9 mm Râu đầu có màu vàng nâu nhạt và tại cuối các đốt có màu sậm

Trang 15

hơn chiều dài khoảng 1,23 mm Ống bụng màu đen sậm dài khoảng 0,23 mm Thành trùng có cánh đẻ rất kém trung bình khoảng 4 con

- Thành trùng không cánh: Lúc mới vũ hóa thành trùng màu xám nhạt, vài giờ sau trở nên đen bóng hoặc tím đen, chiều dài cơ thể từ 1,7 – 2,1 mm, rộng từ 0,8 – 1,3

mm Râu đầu dài khoảng 1,07 mm Ống bụng màu đen không có rìa mép, dài hơn ống bụng của thành trùng có cánh và có chiều dài khoảng 0,5 mm Phần bụng phân đốt rõ ràng Khả năng đẻ của thành trùng không cánh là rất cao một thành trùng cái

đẻ từ 50 – 60 ấu trùng và đẻ cao điểm vào ngày thứ hai sau khi vũ hóa Thời gian sống của thành trùng không cánh từ 4 – 6 ngày Cả hai loại hình trên đều có chân màu xanh lục nhạt

 Loài Aphis gossypii Glover Thành trùng có hai dạng:

- Thành trùng có cánh: Cơ thể dài từ 1,2 – 1,8 mm, rộng từ 0,4 – 0,7 mm Phần đầu

và phần ngực màu nâu đen, phần bụng có màu sắc phức tạp có khi là màu vàng nhạt hoặc màu xanh nhạt, cũng có khi có màu xanh đậm, phiến lưng ngực trước màu đen Mắt kép to nằm trên đầu và ở cuối bụng có đôi ống bụng màu đen

- Thành trùng không cánh: Cơ thể dài từ 1,5 – 1,9 mm và rộng từ 0,6 – 0,8 mm Toàn thân thành trùng có màu xanh đen hoặc xanh thẩm và có phủ sáp một ít cá thể

có dạng màu vàng xanh

1.1.2 Rầy phấn trắng (Aleyrodidae)

1.1.2.1 Vị trí phân loại, phân bố và ký chủ

Từ những nghiên cứu trước đã công bố cho thấy rầy phấn trắng thuộc họ Aleyrodidae thuộc bộ Homoptera

Các loài rầy phấn trắng thuộc giống Bemisia là dịch hại quan trọng ở vùng nhiệt đới

và vùng ôn đới có khí hậu ấm Phân bố rộng rãi khắp nơi thuộc quần đảo Caribe,

phía nam Châu Âu, Châu Phi, Nam Mỹ, Ấn Độ… Giống rầy phấn trắng Bemisia

gồm nhiều loài đa ký chủ, chúng gây hại trên 500 loài thực vật thuộc 74 họ Trong

số những loại cây trồng quan trọng được trồng ở Florida, rầy phấn trắng giống

Bemisia là một dịch hại chủ yếu trên cà chua, ớt, bí, dưa chuột, đậu, cà tím, bắp cải,

dưa hấu, khoai tây, đậu nành, lạc và bông vải… (Heather, 2000)

1.1.2.2 Đặc điểm hình thái và sinh học

Họ rầy phấn trắng Aleyrodidae gồm những loài có kích thước rất nhỏ, chiều dài cơ thể thường không vượt quá 2,0 – 3,0 mm, chúng rất giống một con ngài nhỏ xíu Thành trùng có cánh, cánh có mạch cánh đơn giản, chỉ có 1 - 3 mạch dọc, cánh sau nhỏ hơn cánh trước, trên bề mặt cơ thể và cánh thường được phủ bằng những bột

Trang 16

màu trắng hay bột sáp, thành trùng bay kém và không có khả năng nhảy Râu đầu có

7 đốt, đốt râu thứ 2 phình to Vòi chích hút chia 3 đốt là dụng cụ để rầy hút dịch từ cây trồng Bàn chân có 2 đốt, cuối đốt chày có gai ngắn Rầy phấn trắng có hình thức biến thái khác biệt so với các loài rầy khác: ấu trùng tuổi 1 hoạt động nhưng ấu trùng các tuổi về sau lại bất động và có dạng giống như rệp dính và thường được gọi

là nhộng giả, ấu trùng các tuổi này tiết ra chất sáp để che phủ cơ thể, giai đoạn ấu trùng không có cánh Đa số các loài rầy phấn trắng chích hút lá để sống Một số loài cũng tiết ra mật tạo điều kiện cho nấm muội đen phát triển làm ảnh hưởng đến hiện tượng quang hợp của lá (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010)

Theo Nguyễn Thị Chắt (2006), trứng rầy phấn trắng rất nhỏ, hình bầu dục và có cuống Rầy phấn thành trùng có kích thước nhỏ, dài khoảng 1,0 mm màu vàng nhạt, trên cơ thể phủ một lớp bột màu trắng như phấn, chân dài và mảnh Ấu trùng rầy phấn trắng có màu nhạt, hình bầu dục, dài khoảng 0,7 – 0,9 mm, khi mới nở ấu trùng có chân di chuyển ở mặt dưới lá, sau đó cố định một tại một chỗ thích hợp ở mặt dưới lá để phát triển Sau khi lột xác chuyển sang tuổi 2 ấu trùng rầy phấn trắng không còn chân, có thể nhìn rõ mắt kép và râu đầu Nhộng của rầy phấn trắng thuộc dạng nhộng giả hình bầu dục có màu vàng sáng và có lông ở 2 bên sườn, có thể nhìn thấy mắt đỏ của con trưởng thành

Theo Chu Thị Thơm và ctv (2006), trứng rầy phấn trắng có hình bầu dục, dài

khoảng 0,18 – 0,2 mm, vỏ trứng mỏng khi mới đẻ trứng có màu trong suốt sau một đêm chuyển sang màu vàng xám và chuyển sang màu nâu xám khi sắp nở Thành trùng đực có chiều dài cơ thể khoảng 1,0 mm, sải cánh rộng khoảng 1,5 mm, còn thành trùng cái có chiều dài khoảng 1,4 mm, sải cánh trải rộng khoảng 2,0 mm Ấu trùng rầy phấn trắng có màu vàng nhạt cơ thể có hình ovan, khi mới nở ấu trùng có chân và di chuyển ở mặt dưới lá, kích thước dài khoảng 0,7 – 0,9 mm và chiều rộng khoảng 0,5 – 0,6 mm

Thành trùng của rầy phấn trắng có râu đầu 6 đốt, đốt râu đầu thứ 2 phình to, chân thành trùng dài và mãnh, bàn chân có 2 đốt, đốt cuối bàn chân có 2 móng và ở giữa

có đệm lồi Phần bụng có 9 đốt, đốt ngực bụng nhỏ dạng cong Cánh không trong suốt mà phủ lớp phấn màu trắng, mạch cánh đơn giản có 1 – 3 mạch cánh, không có mạch cánh ngang Mắt kép có một rảnh ngang chia thành hai phần gần giống hình

số tám Chu kỳ sinh trưởng của rầy phấn trắng trung bình 15 – 25 ngày Rầy phấn trắng thường hoạt động mạnh vào lúc sáng sớm hay chiều mát, không ưa ánh sáng mạnh Khả năng sinh sản của rầy phấn trắng cái có thể đạt từ 50 – 100 trứng, trứng

có thể được đẻ thành từng ổ 4 – 6 trứng hoặc rải rác trong mô lá (Nguyễn Thị Chắt, 2006)

Trang 17

Theo Gregory và ctv (2005), nhộng của rầy phấn trắng giống Bemisia có lỗ

Vasiform hình tam giác hơi dài, không phân chia thành hai phần, phần lingula hình bầu dục hoặc phần đỉnh hình mũi mác (đỉnh có lông dài cứng) Đặc điểm của nhộng

là đặc trưng để phân biệt giữa các giống khác nhau

1.1.3 Rầy lá (Cicadellidae)

1.1.3.1 Vị trí phân loại, phân bố và ký chủ

Các nghiên cứu từ những thập niên trước cho thấy rầy lá thuộc họ Cicadellidae bộ Homoptera là loại dịch hại có phổ ký chủ rộng, phân bố gần như mọi nơi trên thế giới, riêng tại bắc Mỹ đã ghi nhận hơn 2500 loài Tại vùng nhiệt đới chu kỳ sinh trưởng ngắn trong vòng một tháng, vì vậy có nhiều thế hệ trong một năm (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010)

Phạm Thị Thu Trang (2011), hai loài rầy xanh lá mạ Empoasca flavesvens và rầy xanh 2 chấm Amrasca biguttula biguttula là loài đa thực, gây hại quanh năm trên nhiều họ cây trồng khác nhau Trong đó, rầy xanh 2 chấm Amrasca biguttula

biguttula xuất hiện rất thường xuyên trên các cây thuộc họ bông (Malvaceae) và cà

(Solanaceae) gồm đậu bắp, cà tím, cà chua, hiện diện không thường xuyên trên các cây thuộc họ gai (Tiliaceae) và đậu (Fabaceae) gồm rau đay, đậu cove Loài rầy

xanh lá mạ Empoasca flavescens hiện diện thường xuyên quanh năm trong nhóm

các cây họ đậu (Fabaceae) và bầu bí dưa (Cucurbitaceae) gồm đậu đũa, đậu xanh, đậu cove, khổ qua, bí xanh, mướp hương, hiện diện với mức độ không thường xuyên trên các cây họ cà (Solanaceae), họ dền (Amaranthaceae) và họ húng (Lamiaceae) gồm một số cây như ớt, rau húng, rau dền

Hình 1.1: Lỗ Vasiform của rầy phấn trắng giống Bemisia (Gregory S Hodges và ctv., 2005)

Trang 18

1.1.3.2 Đặc điểm hình thái và sinh học

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2010), họ rầy lá Cicadellidae gồm những loài có kích thước, hình dạng và màu sắc rất khác nhau Hình dạng tương tự trưởng thành của ve sầu bọt nhưng trên đốt chày chân sau có một hoặc nhiều hàng gai nhọn kéo dài theo chiều dài của đốt này Kích thước nói chung nhỏ, chỉ vài mm, ít khi vượt quá 13

mm chiều dài Nhiều loài có màu sắc đẹp Hầu hết nhảy giỏi, bò ngang Có ống đẻ trứng phát triển, thường có hình lưỡi cưa, trứng thường được đẻ vào trong mô cây Sinh sản mạnh Có tính ăn rộng, có thể tấn công nhiều loại thực vật khác nhau,

chích hút chủ yếu ở phần lá

Theo Phạm Thị Thu Trang (2011), cho thấy thành trùng rầy xanh 2 chấm Amrasca

biguttula biguttula có màu xanh hơi vàng, chiều dài từ 2,73 ± 0,09 mm, chiều rộng

0,67 ± 0,04 mm, râu đầu dạng lông cứng, roi râu dài, các đốt cuối nhọn, mảnh, mắt kép lớn, miệng chích hút với vòi chích hút rất phát triển, ngực giữa hình tam giác Hai cặp cánh xếp thành hình mái nhà trên lưng khi không bay, cặp cánh trước lớn hơn cánh sau, gân cánh phát triển rất rõ, mỗi cánh trước có một chấm đen lớn nổi bật Cặp cánh sau là cánh màng trong suốt Chân sau của rầy xanh 2 chấm thuộc chân nhảy, đốt chày chân sau có 2 hàng gai nhọn kéo dài theo chiều dài của đốt chày, trong khi đó ở hai cặp chân trước không có gai

Cũng theo Phạm Thị Thu Trang (2011), khi mới vũ hóa thành trùng rầy xanh lá mạ

Empoasca flavescens có màu xanh nhạt, sau đậm dần theo ngày trưởng thành

Chiều dài từ 2,53 ± 0,07 mm, chiều rộng 0,61 ± 0,04 mm Mắt kép màu trắng đục Khi đậu cánh xếp thành hình mái nhà ở trên lưng Hai canh trước màu xanh nhạt, không có hai chấm lớn màu đen Râu hình lông cứng, chân sau và chân trước có hàng gai nhọn dọc theo chiều dài đốt chày

1.2 Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ cánh lưới (Neuroptera)

Thành phần loài của bọ cánh lưới (Neuroptera) rất đa dạng và khả năng thiên địch của chúng rất lớn Có khoảng 6000 loài thuộc 18 họ đã được mô tả và nhiều họ thuộc (bộ Neuroptera) có vai trò quan trọng trong phòng trừ côn trùng gây hại cây trồng, trong đó bọ cánh lưới thuộc 2 họ: Chrysopidae và Hemerobiidae là quan

trọng nhất (McEwen và ctv., 2001)

1.2.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ cánh lưới họ Chrysopidae

Đặc điểm hình thái của bọ cánh lưới họ Chrysopidae

Bọ cánh lưới họ Chrysopidae là một trong những họ có số lượng loài lớn nhất và có

ý nghĩa quan trọng nhất trong việc phòng trừ sinh học của bộ Neuroptera Có

Trang 19

khoảng 1300 loài thuộc 87 giống 3 phân họ đã được ghi nhận và các loài này phân

bố nhiều nơi trên thế giới (Brook và Bernard, 1990) Riêng ở vùng Florida ghi nhận

có 22 loài thuộc 9 giống, tất cả đều thuộc phân họ Chrysopinae (Penny,1997) (Do Stange trích dẫn, 2000) Tại Châu Âu đã ghi nhận có 63 loài bọ cánh lưới thuộc 13

giống và 2 phân họ (McEwen và ctv., 2001)

Ở Việt Nam tại Viện Bảo Vệ Thực Vật (2005), ghi nhận chỉ có 1 loài bọ cánh lưới

Chrysopa sp thuộc họ Chrysopidae Theo Phạm Quốc Việt (2007), ghi nhận được 5

loài bọ cánh lưới (Suarius sp.1 và Suarius sp.2 thuộc giống Suarius; Mallada sp.1,

Mallada sp.2 và Mallada sp.3 thuộc giống Mallada) thuộc họ Chrysopidae trên cây

có múi tại thành phố Cần Thơ và vùng phụ cận

Theo Stange (2000) cũng như Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh (2002), đều cho rằng thành trùng bọ cánh lưới xanh có màu xanh khi còn sống và chuyển sang vàng khi chết Ngoài ra thành trùng còn có thân hình mỏng mảnh, râu đầu dài

và đôi mắt sáng, cánh rộng trong suốt và có rất nhiều gân cánh

Bọ cánh lưới xanh (BCLX) thuộc nhóm côn trùng có kiểu biến thái hoàn toàn Chu

kỳ sống trải qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng và thành trùng Trứng mới đẻ ra

có thể có màu trắng, màu kem, màu xanh xanh hoặc màu xanh Trứng có thể được

đẻ riêng lẻ hoặc thành nhóm nhỏ từ 2 - 6 trứng hoặc nhóm lớn từ 20 - 40 trứng, trứng thường đặt trên một sợi tơ và sợi tơ nâng trứng có thể nằm riêng lẻ hoặc xoắn lại Giai đoạn ấu trùng gồm có 3 tuổi với 2 lần lột xác Ấu trùng sau khi nở khoảng vài giờ sẽ nhanh chóng tìm con mồi Màu sắc cũng như hình dạng có nhiều thay đổi khi sang tuổi mới Ấu trùng bọ cánh lưới thuộc họ Chrysopidae dễ dàng phân biệt với ấu trùng của các họ khác thuộc bộ cánh lưới (Neuroptera) bởi phần đầu của ấu trùng lớn dài và không có răng mà có hàm dạng như lưỡi liềm, trên đầu có đôi râu đầu dài, đốt bụng đầu tiên có sự giảm bớt, trên mặt lưng của đốt ngực và đốt bụng thường mang nhiều ống (tubercles), còn ở đốt cuối bàn chân có 1 đệm ở giữa dạng loa kèn, 2 móng bên ngoài có dạng hình móc (đặc điểm này các tuổi ấu trùng đều không thay đổi) Ấu trùng tuổi 1 được xác định rõ bởi kích thước nhỏ, cơ thể nhợt nhạt và lông cứng đơn giản Ấu trùng tuổi 2 và tuổi 3 có nhiều lông cứng trên lưng, các ống bên thường có nhiều hơn 2 – 3 lông cứng Trong họ Chrysopidae có 2 dạng

ấu trùng cơ bản, mỗi dạng có một số hình thái khác nhau cũng như những nét đặc trưng về tập tính Loại 1: ấu trùng có bụng “gù” (humped) lên với những hàng lông cứng hình móc, có nhiều ống dài trên lưng ở đốt ngực và đốt bụng, trên mỗi ống mang nhiều lông cứng dài Loại 2: ấu trùng có đốt bụng tương đối bằng phẳng (không bị “gù”) và ngắn, lông cứng thẳng, những ống trên ngực của chúng có kích thước giảm và mang nhiều lông cứng ngắn Ấu trùng cuối tuổi 3 thường tìm nơi có

Trang 20

lá hoặc thân cây tương đối bằng phẳng để làm nhộng, nhộng có dạng hình cầu, khối

tơ đan kén làm nhộng thường có màu trắng Đặc điểm hình thái của ấu trùng tuổi 3 rất quan trọng trong việc định danh đến giống Một số đặc điểm hình thái của ấu trùng như: kích thước hàm so với kích thước đầu, đốt bụng có “gù” lên hay không, các điểm FC (Frontoclypeal) và EC (Epicramial) trên vỏ đầu cùng với sự hiện diện của lông cứng S12 (S = seta) hay không và một số đặc điểm phụ khác cũng như

những hành vi của ấu trùng và thành trùng (McEwen và ctv., 2001)

Theo Phạm Quốc Việt (2007), bọ cánh lưới xanh Suarius sp.1 có trứng màu vàng

nhạt, dài khoảng 1,0 – 1,05 mm và rộng 0,45 – 0,5 mm, trứng được đẻ trên đầu sợi

tơ dài 4,4 – 4,5 mm Ấu trùng có màu sắc thay đổi nhiều qua các tuổi, trên đầu của

ấu trùng tại điểm FC có 2 vạch nâu đen còn mỗi điểm EC cũng có 2 vạch màu nâu đen, trên đầu có nhiều lông cứng và lông cứng S12 có hiện diện Bên hông ngực và bụng có nhiều ống mang các lông cứng hình móc Bụng ấu trùng “gù” lên, trên lưng

có nhiều lông cứng Đốt cuối bàn chân có 2 móng hình móc hai bên và đệm hình loa kèn ở giữa Ấu trùng tuổi 1 có kích thước: dài 2,1 – 3,1 mm và rộng 0,5 – 0,7 mm;

Hình 1.2: Hình dạng ấu trùng các loài bọ cánh lưới xanh họ Chrysopidae (McEwen và ctv., 2001)

Hình 1.3: Đặc điểm vỏ đầu của ấu trùng bọ cánh lưới xanh họ Chrysopidae

A: Điểm FC (Frontoclypeal), EC (Epicramia) trên đầu;

B: Lông cứng S12 (S = seta) hiện diện (McEwen và ctv., 2001)

Trang 21

ấu trùng tuổi 2 có chiều dài thân khoảng 3,7 – 5,2 mm và chiều rộng khoảng 0,8 – 1,3 mm; ấu trùng tuổi 3 có chiều dài thân 5,8 – 7,2 mm và rộng 1,6 – 2,0 mm Ấu trùng tuổi cuối thường tìm nơi bằng phẳng thoáng mát để nhả tơ làm nhộng, nhộng

có dạng hình cầu đường kính khoảng 3,2 – 3,8 mm Thành trùng có màu xanh nhạt, trên lưng có 1 sọc màu vàng chạy dọc từ đầu đến đốt bụng cuối cùng Thành trùng

có chiều dài thân 9,7 – 10,7 mm và rộng 1,4 – 1,6 mm, thành trùng cái có bụng to hơn so với thành trùng đực Cuối đốt bụng của thành trùng đực có bộ phận sinh dục hình chữ “V” còn thành trùng cái không có

Bọ cánh lưới xanh Suarius sp.2 có trứng hình bầu dục được đẻ trên đầu 1 sợi tơ dài

6,0 – 6,2 mm, màu vàng nâu khi sắp nở, kích thước trứng dài 0,9 – 1,0 mm và rộng 0,45 – 0,5 mm Ấu trùng mới nở có màu đỏ nhạt và có màu trắng sữa khi ấu trùng ở tuổi 3 Trên đầu tại điểm EC là 1 khối màu đen còn tại điểm FC chỉ có 1 vệt lớn màu đen, có nhiều lông cứng trên đầu trong đó có sự hiện diện của lông cứng S12 Bên hông ngực và bụng có những hàng ống mang nhiều lông cứng hình móc, bụng

ấu trùng có dạng “gù” lên và có nhiều lông cứng Kích thước ấu trùng tuổi 1 với chiều dài 2,2 – 3,0 mm và rộng 0,5 – 0,7 mm; ấu trùng tuổi 2 có chiều dài 3,6 – 4,2

mm và rộng 0,9 – 1,2 mm; ấu trùng tuổi 3 có chiều dài 5,2 – 6,8 mm và rộng 1,6 – 1,8 mm Nhộng có hình bán cầu với kích thước trung bình 3,8 – 5,1 mm Thành trùng có màu xanh lá cây, trên lưng có một vạch màu vàng chạy từ đầu đến cuối bụng và toàn thân phủ lớp lông cứng Thành trùng có kích thước dài 9,1 – 10,2 mm

và rộng 1,7 – 1,9 mm Thành trùng cái có bụng to hơn thành trùng đực và co lại khi nghĩ (Phạm Quốc Việt, 2007)

Đặc điểm sinh học của bọ cánh lưới họ Chrysopidae

Ấu trùng của các loài bọ cánh lưới xanh thuộc họ Chrysopidae là loài săn mồi mạnh tấn công được nhiều loại con mồi khác nhau nhưng thức ăn ưa thích của chúng là những con côn trùng nhỏ có thân tương đối mềm như: rầy mềm, rầy phấn trắng, bọ

trĩ, trứng côn trùng và một số con mồi khác (Muma, 1959; Canard và ctv., 1984)

(Do Stange trích dẫn, 2000)

Lượng thức ăn mà ấu trùng bọ cánh lưới xanh tiêu thụ để đáp ứng nhu cầu phát triển

là rất lớn Ở điều kiện phòng thí nghiệm, trong suốt thời kỳ ấu trùng của loài bọ

cánh lưới Chrysoperla carnea tiêu thụ hơn 12.500 trứng của loài nhện Tetranychus

urticae (Sengonca và Coeppicus, 1985), loài này cũng cần trung bình 312 trứng và

232 ấu trùng tuổi 1 của loài Mamestra brassicae để phát triển cho tới khi hóa nhộng (Klingen và ctv., 1996)… Một vài loài thành trùng của bọ cánh lưới xanh ăn thức ăn

có nguồn gốc thực vật như mật và phấn của các loài hoa khác nhau (Brooks và

Barnard, 1990) (Do McEwen và ctv trích dẫn, 2001)

Trang 22

Trong điều kiện phòng thí nghiệm, thành trùng chỉ ăn mật ong 10% và phấn hoa, ấu trùng tuổi 3 tiêu thụ trung bình mỗi ngày khoảng 96 con đối với thức ăn là rầy mềm

Toxoptera aurantii và khoảng 93,9 con đối với rầy mềm Toxoptera citricidus

Tương tự như vậy để hoàn thành giai đoạn ấu trùng, loài này phải tiêu thụ khoảng

520,9 con rầy mềm Toxoptera aurantii và đối với rầy mềm Toxoptera citricidus là

khoảng 504,5 con (Phạm Quốc Việt, 2007)

Sau khi ăn con mồi xong, tùy theo từng loài khác nhau mà ấu trùng có mang xác

con mồi trên lưng để ngụy trang hay không Theo McEwen và ctv (2001), ấu trùng

loại 1 mang xác con mồi trên lưng để ngụy trang khỏi sự tấn công của kiến và những kẻ thù khác trong tự nhiên, những vật mà loài này mang trên lưng bao gồm:

bộ phận của cây, xác đã lột và xác con mồi Ấu trùng loại 2 thì không mang xác con mồi

Theo Phạm Quốc Việt (2007), thời gian các giai đoạn phát triển của bọ cánh lưới

xanh Suarius sp.1 tương đối ngắn, từ trứng đến thành trùng chỉ mất từ 19 – 20 ngày

Giai đoạn trứng biến động từ 3 – 4 ngày, ấu trùng khoảng 6 – 11 ngày và giai đoạn nhộng khoảng 8 – 12 ngày Nếu cho bắt cặp thì thành trùng cái đẻ trứng sau 4 – 6 ngày và tỷ lệ nở của trứng là rất cao (96,8%)

Cũng theo Phạm Quốc Việt (2007), thời gian từ giai đoạn trứng đến thành trùng của

loài Suarius sp.2 khoảng 26 – 28 ngày Trong đó giai đoạn trứng mất khoảng 3 – 4

ngày, giai đoạn ấu trùng trải qua từ 8 – 15 ngày và giai đoạn nhộng khoảng 10 – 11 ngày Trong điều kiện phòng thí nghiệm, thành trùng chỉ ăn mật ong 10% và phấn hoa, thời gian sống trung bình của thành trùng khoảng 20,3 ngày

1.2.2 Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ cánh lưới họ Hemerobiidae

Đặc điểm hình thái bọ cánh lưới họ Hemerobiidae

Bọ cánh lưới thuộc họ Hemerobiidae khá đa dạng có khoảng 550 loài đã được mô

tả, xếp vào 27 giống và 10 phân họ (Catherine và ctv., 2009) Ở Bắc Mỹ có khoảng

58 loài đã được mô tả, riêng vùng Florida đã phát hiện được 10 loài thuộc 4 giống (MacLeod và Stange, 2001)

Ở Việt Nam tại Viện Bảo Vệ Thực Vật (2005), ghi nhận chỉ có 1 loài bọ cánh lưới

Micromus sp thuộc họ Hemerobiidae Cũng tương tự như vậy Phạm Quốc Việt

(2007), ghi nhận được 1 loài bọ cánh lưới Micromus subanticus giống Micromus họ

Hemerobiidae trên cây có múi tại thành phố Cần Thơ và vùng phụ cận

Bọ cánh lưới nâu thuộc nhóm côn trùng có kiểu biến thái hoàn toàn Chu kỳ sống trải qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng và thành trùng Trứng trơn và mịn

Trang 23

thường có màu trắng hoặc màu kem, có sự hiện hiện của một đốt nhỏ ở một đầu của trứng Trứng được đẻ đơn lẻ hoặc nhóm nhỏ trên mặt lá mà không có sợi tơ nâng trứng Giai đoạn ấu trùng gồm có 3 tuổi Ấu trùng vừa nở ra có màu nhạt, lông trên

cơ thể thưa thớt và đơn giản Ấu trùng tuổi 1 được phân biệt với ấu trùng tuổi 2 và tuổi 3 bởi chân có sự hiện diện của đệm có dạng hình loa kèn ở giữa và 2 móng hình móc bên ngoài Ấu trùng tuổi 2 có dạng tương tự như ấu trùng tuổi 3 nhưng nhỏ và có ít lông cứng hơn Ấu trùng tuổi 3 có kích thước lớn nhất và có nhiều lông cứng nhất Chân ấu trùng tuổi 3 ấu trùng tuổi 2 giống nhau, đều được gắn với 2 móng hình móc Ấu trùng cuối tuổi 3 tìm nơi kín đang tơ làm kén hóa nhộng Nhộng có dạng hình chữ “C” nằm bên trong 2 lớp tơ màu trắng bao phủ Thành trùng hoạt động mạnh về đêm và một thành trùng cái có thể đẻ rất nhiều trứng

(McEwen và ctv., 2001)

Theo McEwen và ctv (2001), dựa vào những đặc điểm hình thái và một số tập tính

riêng biệt mà chia ấu trùng thành 2 dạng chính Dạng thứ nhất: ấu trùng có cơ thể dài và mảnh, đốt bụng thon Có sự phân đốt rõ ràng ở đốt ngực thứ 2 và thứ 3, phần đầu của ấu trùng không thụt được vào bên trong đốt ngực thứ 1 và đốt ngực thứ 3 có mảnh cứng (sclerites) Ấu trùng thuộc dạng này di chuyển nhanh trong việc tìm và săn mồi Dạng thứ 2: ấu trùng có cơ thể căng lên, đốt bụng chia thùy Phần đầu thụt vào được đốt ngực thứ 1, tại đốt ngực thứ 2 và thứ 3 mảnh cứng (sclerites) không hiện diện Ấu trùng thuộc dạng này hoạt động rất ít, di chuyển chậm để tìm con mồi

Theo Phạm Quốc Việt (2007), trứng bọ cánh lưới nâu Micromus subanticus có hình

bầu dục nhỏ, màu vàng nhạt lúc mới đẻ sau đó chuyển sang màu đỏ hồng, trứng trơn và bóng, trứng đẻ trên mặt lá không có sợi tơ nâng trứng Ấu trùng có dạng hình thoi thon dài, màu sắc cũng như kích thước cơ thể có sự thay đổi qua các tuổi

Ấu trùng tuổi 1 có chiều dài cơ thể từ 1,4 – 1,6 mm và rộng 0,2 mm, đốt cuối bàn chân có 1 đệm hình loa kèn ở giữa và 2 móng hình móc 2 bên Ấu trùng tuổi 2 có cơ thể dài 3,9 – 4,9 mm và rộng 0,6 – 0,85 mm, ấu trùng tuổi 3 có kích thước lớn nhất với chiều dài cơ thể khoảng 5,7 – 7,4 mm và rộng từ 1,0 – 1,3 mm Cả ấu trùng tuổi

2 và tuổi 3 đều không có đệm hình loa kèn ở đốt cuối bàn Nhộng có dạng hình chữ

“C” dài khoảng 3,6 mm và rộng 1,1 mm Khi vũ hóa thành trùng có màu xám, chiều dài khoảng 4,2 – 5,4 mm và chiều rộng từ 1,1 – 1,3 mm Cánh thành trùng có nhiều gân cánh sắp xếp theo thứ bậc và không có gân tạo góc ở phần gốc cánh Thành trùng cái thường lớn hơn thành trùng đực, bụng thành trùng cái to và cong lại trong khi bụng thành trùng đực nhỏ hơn và cuối hậu môn có 2 mấu lồi nhọn nằm bên

ngoài co sát vào hậu môn và 1 mấu dạng hình thìa co xuống

Trang 24

Đặc điểm sinh học bọ cánh lưới họ Hemerobiidae

Theo MacLeod và Stange (2001), cả thành trùng và ấu trùng đều ăn mồi, thức ăn thường là rầy mềm, côn trùng có cơ thể mềm và nhện nhỏ Khi tấn công con mồi xong ấu trùng không mang xác con mồi trên lưng để ngụy trang

Khả năng ăn mồi của loài Micromus subanticus là rất cao, trung bình mỗi thành trùng cái tiêu thụ khoảng 61,5 con rầy mềm Toxoptera aurantii 1 ngày và đối với thức ăn là rầy mềm Toxoptera citricidus thì thành trùng cái tiêu thụ mỗi ngày được

59,8 con Trong khi đó thành trùng đực và ấu trùng tuổi 3 có sức tiêu thụ 2 loại rầy mềm này là như nhau và thấp hơn thành trùng cái, tiếp đến là ấu trùng tuổi 2 và ấu trùng tuổi 1 có mức tiêu thụ thấp nhất (Phạm Quốc Việt, 2007)

Theo Phạm Quốc Việt (2007), thời gian sinh trưởng của bọ cánh lưới nâu Micromus

subanticus khoảng 16 – 21 ngày Trong đó giai đoạn trứng từ 3 – 4 ngày, giai đoạn

ấu trùng khoảng 3,8 – 5 ngày và giai đoạn nhộng từ 6 – 7 ngày Thành trùng cái có thể sống đến 21,3 ngày và thành trùng đực chỉ sống được khoảng 14 ngày Trong điều kiện phòng thí nghiệm, thành trùng cái sẽ đẻ trứng sau 3 – 5 ngày bắt cặp và tỷ

lệ nở của trứng khoảng 88,8%, nếu không được bắt cặp thì thành trùng cái cũng đẻ trứng sau 9 – 12 ngày nhưng trứng không nở

Theo McEwen và ctv (2001), tùy theo điều kiện nhiệt độ, vị trí địa lý và nguồn

thức ăn mà thời gian các giai đoạn phát triển của các loài bọ cánh lưới thuộc họ Chrysopidae và họ Hemerobiidae là khác nhau

Trang 25

CHƯƠNG 2

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Phương tiện

2.1.1 Thời gian và địa điểm

- Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 05/2012 đến tháng 09/2012 tại phòng thí nghiệm thuộc Bộ Môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiêp & Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ

- Địa điểm điều tra: một số xã, phường thuộc huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long; quận Cái Răng, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ; huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

2.1.2 Vật liệu

- Nguồn bọ cánh lưới thu từ các ruộng rau (đậu đũa, đậu cove, đậu xanh, mướp, khổ qua, dưa leo, bí đao, cà tím, đậu bắp) được để vào các hộp nhựa tròn có kích thước ( 6,5 cm, cao 3,5 cm) nhằm phục vụ cho việc phân loại thành phần loài và khảo sát một số đặc điểm hình thái, sinh học

- Các loại rầy thu được ngoài ruộng rau (đậu đũa, đậu cove, đậu xanh, mướp, khổ qua, dưa leo, bí đao, cà tím, đậu bắp) cho vào hộp nhựa tròn ( 6,5 cm, cao 3,5 cm)

để phân loại thành phần loài

- Cây cà tím và dưa leo khoảng 20 ngày tuổi được trồng trong các chậu đất nhỏ

được để trong mùng và đặt tại nhà lưới được lây nhiễm rầy mềm Aphis gossypii

Glover cho chúng nhân mật số để làm thức ăn cho bọ cánh lưới trong một số thí nghiệm

- Hộp nhựa tròn ( 6,5 cm, cao 3,5 cm) dùng để nuôi và thử khả năng ăn của ấu trùng Hộp có kích thước ( 15 cm, cao 6,5 cm) dùng để nuôi thành trùng bọ cánh lưới

- Kính lúp, kính hiển vi, máy chụp hình, bông gòn, bút lông, cọ, kéo…

- Các loại hóa chất cần thiết như Ethyl acetate để giết côn trùng, cồn 700 để bảo quản mẫu

2.2 Phương pháp

2.2.1 Điều tra trực tiếp ngoài đồng

Phương pháp: Tiến hành thu mẫu (bọ cánh lưới và côn trùng nhóm chích hút

gây hại) trên các ruộng trồng rau (đậu đũa, đậu cove, đậu xanh, mướp, khổ qua, dưa

Trang 26

x 100 tổng số lần quan sát

số lần xuất hiện

x 100 tổng số lần quan sát

số lần xuất hiện

leo, bí đao, cà tím, đậu bắp) có diện tích từ 200 – 1000 m2 tại thành phố Cần Thơ và vùng phụ cận trong thời điểm điều tra Mỗi ruộng điều tra thu mẫu ở 5 điểm chéo góc, mỗi điểm có diện tích 1 m2

(1 m x 1 m), quan sát và thu mẫu ở cả 2 mặt của tất

cả các lá Mẫu được cho vào hộp nhựa tròn ( 6,5 cm, cao 3,5 cm) đem về phòng thí nghiệm phân loại định danh

Chỉ tiêu ghi nhận:

+ Thành phần loài và mức độ phổ biến của từng loài thuộc nhóm côn trùng chích

hút gây hại, phân loại dựa trên tài liệu của: Gregory và ctv (2005), Nguyễn Văn

Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), Phạm Thị Thu Trang (2011)

Thang đánh giá mức độ phổ biến của nhóm côn trùng chích hút:

- Không xuất hiện

+ Xuất hiện ít, tần số xuất hiện (4 – 25%)

++ Xuất hiện trung bình, tần số xuất hiện (26 – 50%)

+++ Xuất hiện nhiều, tần số xuất hiện (>50%)

Tần suất xuất hiện được tính theo công thức:

Thang đánh giá mức độ phổ biến của môt số loài bọ cánh lưới:

- Không xuất hiện

+ Xuất hiện ít, tần số xuất hiện (2 - 10%)

++ Xuất hiện nhiều, tần số xuất hiện (11 - 30%)

+++ Xuất hiện rất nhiều, tần số xuất hiện (>30%)

Tần suất xuất hiện được tính theo công thức:

Tần số xuất hiện (%) =

Tần số xuất hiện (%) =

Trang 27

2.2.2 Khảo sát trong phòng thí nghiệm

2.2.2.1 Khảo sát một số đặc điểm hình thái, sinh học của loài bọ cánh lưới

Suarius sp.1

Phương pháp: Thu ấu trùng tuổi cuối trên các ruộng rau, nuôi trong hộp nhựa

tròn đến khi hóa nhộng Sau đó để các hộp chứa nhộng vào trong mùng có trồng sẵn

cây dưa leo, cà tím đang trổ bông đã lây nhiễm rầy mềm Aphis gossypii Glover với

mật số cao (tránh sốc cho thành trùng và cung cấp phấn hoa, mật ong 10% làm thức ăn) Theo dõi hằng ngày đến khi thành trùng đẻ trứng thì tiến hành thu trứng và cho từng trứng vào mỗi hộp nhựa tròn để quan sát theo dõi các giai đoạn phát triển

Chỉ tiêu theo dõi:

Ghi nhận một số đặc điểm hình thái, thời gian các giai đoạn phát triển của loài bọ

cánh lưới Suarius sp.1 sau mỗi 24 giờ

2.2.2.2 Khảo sát khả năng ăn mồi của loài bọ cánh lưới Suarius sp.1

- Thí nghiệm 1: Khả năng ăn rầy mềm Aphis gossypii Glover của ấu trùng bọ

cánh lưới Suarius sp.1 theo từng tuổi 1, 2 và 3

- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với

3 nghiệm thức và 5 lần lặp lại Các nghiệm thức bao gồm:

NT1: Rầy mềm (50 con) + 1 Ấu trùng BCLX Suarius sp.1 tuổi 1

NT2: Rầy mềm (100 con) + 1 Ấu trùng BCLX Suarius sp.1 tuổi 2

NT3: Rầy mềm (150 con) + 1 Ấu trùng BCLX Suarius sp.1 tuổi 3

Hình 2.1: Hộp nhựa dùng để nuôi bọ cánh lưới trong các thí nghiệm

x 100

Tỷ lệ trứng nở (%) =

tổng số lượng trứng quan sát

số lượng trứng nở

Trang 28

+ Các loại ấu trùng tuổi 1, 2 và 3 của bọ cánh lưới xanh Suarius sp.1 được cho nhịn

đói 24 giờ trước khi tiến hành thí nghiệm

+ Rầy mềm Aphis gossypii Glover được thu ở giai đoạn ấu trùng tuổi 3 và 4

- Chỉ tiêu ghi nhận: Sau mỗi 24 giờ đếm số lượng rầy mềm còn lại để biết được lượng thức ăn mà ấu trùng tiêu thụ, sau đó thay thức ăn mới cho đủ số lượng ban đầu Thí nghiệm được theo dõi liên tục cho tới khi ấu trùng lột xác sang tuổi mới

- Thí nghiệm 2: Khả năng tiêu thụ rầy mềm Aphis gossypii Glover trong suốt giai đoạn ấu trùng của BCLX Suarius sp.1

+ Thí nghiệm gồm 1 nghiệm thức là ấu trùng BCLX Suarius sp.1 + rầy mềm Aphis

gossypii Glover và 8 lần lặp lại

+ Sau khi trứng BCLX Suarius sp.1 nở tiến hành làm thí nghiệm Lượng rầy mềm

cung cấp phù hợp với tuổi của ấu trùng: ấu trùng tuổi 1 cung cấp 50 con rầy mềm/ngày, ấu trùng tuổi 2 cung cấp 100 con rầy mềm/ngày, ấu trùng tuổi 3 cung cấp 150 con rầy mềm/ngày

+ Chỉ tiêu ghi nhận: Sau mỗi 24 giờ đếm lượng rầy mềm còn lại để biết được số lượng rầy mềm mà ấu trùng tiêu thụ 1 ngày, sau đó cung cấp lượng rầy mềm mới phù hợp với tuổi của ấu trùng Thí nghiệm được tiến hành liên tục cho tới khi ấu trùng hóa nhộng Từ đó biết được tổng số lượng thức ăn là rầy mềm được tiêu thụ trong toàn bộ giai đoạn này

Trang 29

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần loài của nhóm côn trùng chích hút (Homoptera) và thiên địch

bọ cánh lưới (Neuroptera) tại các ruộng rau

3.1.1 Thành phần loài nhóm côn trùng chích hút (Homoptera) gây hại trên một

số loại rau

Kết quả điều tra thành phần loài của nhóm côn trùng chích hút gây hại trên 9 loại rau được trồng phổ biến tại thành phố Cần Thơ và vùng phụ cân trong thời gian điều tra từ tháng 05/2012 – 09/2012 với tổng số ruộng là 86 ruộng đã ghi nhận được

sự hiện diện của 5 loài rầy thuộc 3 họ của bộ Homoptera Trong đó, loài rầy phấn

trắng Bemisia sp (Aleyrodidae) và loài rầy xanh 2 chấm Amrasca biguttula

biguttula (Cicadellidae) hiện diện phổ biến nhất, xuất hiện trên hầu hết các loại rau

được điều tra với tần số xuất hiện khá cao Hiện diện ít phổ biến hơn trên các loại

rau được điều tra là các loài rầy xanh lá mạ Empoasca flavescens (Cicadellidae), rầy mềm Aphis gossypii Glover (Aphididae) và rầy mềm Aphis craccivora Koch

(Aphididae)

Từ (Bảng 3.1) cho thấy, trên 9 loại rau thuộc 4 họ đã tiến hành điều tra thì chỉ có cây đậu đũa là có sự hiện diện của cả 5 loài gây hại với tần số xuất hiện khác nhau

Rầy xanh 2 chấm Amrasca biguttula biguttula và rầy xanh lá mạ Empoasca

flavescens hiện diện phổ biến nhất (“+++” tương ứng >50%), các loài còn lại hiện diện rải rác, không phổ biến Trên 8 loại rau còn lại chỉ xuất hiện từ 2 đến 4 loài gây hại với mức độ phổ biến khác nhau

Đối với rầy phấn trắng Bemisia sp hiện diện trên hầu hết các loại rau thuộc 4 họ đã được điều tra, duy nhất không thấy xuất hiện trên cây khổ qua Trong đó, Bemisia

sp hiện diên phổ biến (“+++” tương ứng >50%) trên các loại rau như: đậu xanh, mướp, dưa leo, bí đao, cà tím Các loại rau màu khác hiện diện ở mức độ trung bình đến ít

Trong 4 họ rau tiến hành điều tra thì rầy mềm Aphis gossypii Glover hiện diện chủ

yếu trên các cây thuộc họ bầu bí dưa và xuất hiện nhiều nhất trên cây dưa leo (“+++” tương ứng >50%) Loài này hiện diện với tần số xuất hiện ít (“+” tương ứng

<25%) trên cây đậu đũa và cà tím Các cây rau còn lại không thấy sự hiện diện của

rầy mềm Aphis gossypii Glover trong quá trình điều tra

Trang 30

18

Bảng 3.1 : Thành phần loài của nhóm côn trùng chích hút (Homoptera) gây hại trên một số loại rau

++ Xuất hiện trung bình, tần số xuất hiện (26 – 50%) +++ Xuất hiện nhiều, tần số xuất hiện (>50%)

Họ cây trồng Tên thông thường Tên khoa học ruộng Số

Mức độ phổ biến Rầy phấn

trắng

Bemisia sp

Rầy mềm

Aphis gossypii Glover

Rầy mềm

Aphis craccivora

Koch

Rầy xanh Amrasca biguttula biguttula

Rầy xanh Empoasca flavescens

Trang 31

19

Rầy mềm Aphis craccivora Koch đây là loài ít phổ biến nhất trong 5 loài côn trùng

thuộc nhóm chích hút đã điều tra được Chúng chỉ xuất hiện trên cây đậu đũa với mức độ trung bình (“++” tương ứng 26 – 50%)

Rầy xanh 2 chấm Amrasca biguttula biguttula hiện diện trên tất cả 9 loại rau đã

được tiến hành điều tra Trong đó, các cây rau như: đậu đũa, đậu cove, mướp, cà tím, đậu bắp có rầy xanh 2 chấm hiện diện phổ biến nhất (“+++” tương ứng >50%) Các cây rau còn lại rầy xanh 2 chấm chỉ hiện diện ở mức độ ít đến mức độ trung bình (từ “+” đến “++” tương ứng 4 – 50%)

Theo kết quả điều tra của Phạm Thị Thu Trang tiến hành từ tháng 7/2010 đến 6/2011 trên một số loại rau tại thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long cho thấy rầy

xanh 2 chấm Amrasca biguttula biguttula hiện diện với mức phổ biến cao trên một

số loại rau như: đậu bắp, cà pháo, cà tím tương ứng với tỷ lệ xuất hiện >51% Loài này cũng xuất hiện mức độ rải rác đến trung bình tương ứng với tỷ lệ 5 – 26% trên các cây như: dưa leo, đậu cove, rau đay, cà chua

Đối với rầy xanh lá mạ Empoasca flavescens, loài này xuất hiện phổ biến (“+++”

tương ứng >50%) trên các cây thuộc họ đậu và cây khổ qua trong số các cây rau đã được tiến hành điều tra Loài này cũng xuất hiện trên mướp và dưa leo nhưng mức

độ phổ biến thấp (từ “+” đến “++” tương ứng 4 – 50%) Các cây rau còn lại không thấy sự hiện diện của loài rầy xanh này

Phạm Thị Thu Trang (7/2010 – 6/2011), đã công bố kết quả điều tra về sự hiện diện

của rầy xanh lá mạ Empoasca flavescens trên một số loại rau cho thấy, rầy xanh lá

mạ hiện diện thường xuyên với mức độ phổ biến >51% trên một số loại rau như: đậu đũa, đậu cove, khổ qua Loài này cũng xuất hiện nhưng với mức phổ biến thấp tương ứng từ 5 – 26% trên một số loại rau như: rau húng, rau dền, đậu xanh, mướp,

Hemerobiidae của bộ Neuroptera Trong đó loài bọ cánh lưới xanh Suarius sp.1

(Chrysopidae) hiện diện phổ biến nhất với tần số xuất hiện cao nhất (“+++” tương ứng >30%) trên tất cả 5 loài côn trùng nhóm chích hút gây hại được điều tra Loài

bọ cánh lưới xanh Suarius sp.2 (Chrysopidae) cũng xuất hiện trên cả 5 loài côn

Trang 32

20

trùng nhóm chích hút nhưng hiện diện trên rầy phấn trắng Bemisia sp với tần số

xuất hiện tương đối cao (“++” tương ứng 11 – 30 %) nhiều hơn 4 loài rầy còn lại có tần số xuất hiện thấp hơn (“+” tương ứng 2 – 10 %) Loài bọ cánh lưới nâu

Micromus sp (Hemerobiidae) chỉ hiện diện trên 3 loài rầy gây hại: trong đó loài này

hiện diện với tần số xuất hiện tương đối cao (“++” tương ứng 11 – 30 %) trên rầy

mềm Aphis gossypii Glover và rầy mềm Aphis craccivora Koch, hiện diện với tần

số xuất hiện thấp hơn (“+” tương ứng 2 – 10%) trên rầy phấn trắng Bemisia sp Đặc biệt trong quá trình điều tra không thấy loài bọ cánh lưới nâu Micromus sp xuất hiện trên rầy xanh lá mạ Empoasca flavescens và rầy xanh 2 chấm Amrasca

biguttula biguttula (Bảng 3.2)

Bảng 3.2: Thành phần thiên địch bọ cánh lưới (Neuroptera) của nhóm côn trùng

chích hút trên một số loại rau

Ghi chú: - Không xuất hiện

+ Xuất hiện ít, tần số xuất hiện (2 - 10%) ++ Xuất hiện nhiều, tần số xuất hiện (11 - 30%) +++ Xuất hiện rất nhiều, tần số xuất hiện (>30%)

3.2 Đặc điểm hình thái của một số loài bọ cánh lưới thiên địch (Neuroptera)

3.2.1 Bọ cánh lưới xanh (BCLX) Suarius sp.1 (họ Chrysopidae)

Bảng 3.3: Kích thước các giai đoạn phát triển của bọ cánh lưới xanh Suarius sp.1 ở

điều kiện phòng thí nghiệm (T0C = 29 – 30, RH% = 70 – 75)

Ngày đăng: 08/04/2018, 23:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w