TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN THANH AN NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH ĐỐM LÁ CHẢY NHỰA THÂN Didymella bryoniaeTRÊN DƯA HẤU BẰNG 3 CHỦNG VI
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THANH AN
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH ĐỐM LÁ
CHẢY NHỰA THÂN (Didymella bryoniae)TRÊN
DƯA HẤU BẰNG 3 CHỦNG VI KHUẨN VÙNG RỄ TRONG ĐIỀU KIỆN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH ĐỐM LÁ
CHẢY NHỰA THÂN (Didymella bryoniae)TRÊN
DƯA HẤU BẰNG 3 CHỦNG VI KHUẨN VÙNG RỄ TRONG ĐIỀU KIỆN
NHÀ LƯỚI
Cán bộ hướng dẫn khoa học: Sinh viên thực hiện:
MSSV: 3073258 Lớp: BVTV K33
Cần Thơ, 2011
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Bảo Vệ Thực Vật với đề tài
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH ĐỐM LÁ
CHẢY NHỰA THÂN (Didymella bryoniae) TRÊN
DƯA HẤU BẰNG 3 CHỦNGVI KHUẨN VÙNG RỄ TRONG ĐIỀU KIỆN
NHÀ LƯỚI
Do sinh viên Nguyễn Thanh An thực hiện
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2011
Cán bộ hướng dẫn
Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Nga
Trang 4ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp kỹ sư Bảo Vệ Thực Vật với tên :
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH ĐỐM LÁ CHẢY NHỰA
THÂN (Didymella bryoniae) TRÊN DƯA HẤU BẰNG 3 CHỦNGVI KHUẨN
VÙNG RỄ TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI
Do sinh viên Nguyễn Thanh An thực hiện và bảo vệ trước hội đồng
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
… ………
………
………
………
………
………
………
… Luận văn tốt nghiệp hội đồng đánh giá ở mức ………
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2011
Chủ tịch Hội Đồng
Trang 5LƯỢC SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên: Nguyễn Thanh An
Ngày sinh: 04 / 03 / 1988
Nơi sinh: Long Xuyên – An Giang
Họ và Tên Cha: Nguyễn Thanh Hồng
Họ và Tên Mẹ: Trương Thị Mỹ Hằng
Quê quán: 49/2 khóm Trung Hưng, phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên, tỉnh
An Giang
Quá trình học tập:
1996 - 2001: Trường tiểu học Mỹ Thới
2001 - 2003: Trường Trung Học Cơ Sở Mỹ Thới
2003 - 2004: Trường Trung Học Cơ Sở Nguyễn Trãi
2004 - 2006: Trường Trung Học Phổ Thông Mỹ Thới
2007 - 2011: Trường Đại Học Cần Thơ, ngành Bảo Vệ Thực Vật, khóa 33 Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Trang 6iv
LỜI CẢM TẠ
Cha Mẹ suốt đời tận tụy vì các con, đã nuôi nấng dạy dỗ, mang lại nhiều niềm vui và nghị lực để con vượt qua những khó khăn trong cuộc sống
Chân thành ghi ơn
Ts Nguyễn Thị Thu Nga đã tận tình dạy dỗ và hướng dẫn giúp đỡ cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Thầy cố vấn học tập Lăng Cảnh Phú và Các quý Thầy, Cô trong Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật nói riêng và quý Thầy, Cô của trường Đại học Cần Thơ nói chung
đã dạy dỗ và truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm sống cho em trong suốt thời gian học tại trường
Chân thành biết ơn !
Anh Trần Hữu Thông đã tận tụy giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tất cả các anh, chị trong Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật và các anh chị cao học
đã ủng hộ giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt thí nghiệm
Các bạn lớp BVTV K33 đã cùng tôi học tập trong suốt 4 năm học Đại Học lời cám ơn, lời chúc sức khỏe và đạt nhiều thành công trong cuộc sống
Trân trọng !
Nguyễn Thanh An
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bài trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh An
Trang 8vi
MỤCLỤC Trang
LƯỢC SỬ CÁ NHÂN iii
LỜI CẢM TẠ……… … iv
LỜI CAM ĐOAN……….……… v
MỤC LỤC vi
DANH SÁCH BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH ix
TÓM LƯỢC x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU……… ….3
1.1 Giới thiệu sơ lược về dưa hấu: 3
1.1.1 nguồn gốc 3
1.1.2 Tình hình sản xuất và giá trị 3
1.1.3 Đặc điểm cây dưa hấu 3
1.2Bệnh đốm lá chảy nhựa thân do nấm didymella bryoniae 3
1.2.1 triệu chứng 4
1.2.2 tác nhân 5
1.2.2.1 đặc điểm phân loại 5
1.2.2.2 đặc điểm sinh thái và sinh học 6
1.2.2.3 cách xâm nhiễm cây kí chủ 7
1.2.2.4 cách lan truyền và sự lưu tồn của mầm bệnh 7
1.2.2.5 Ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh lên sự phát triển bệnh 8
1.2.3 biện pháp phòng trị 8
1.2.3.1 kỹ thuật canh tác 8
1.2.3.2 biện pháp sinh học 9
1.2.3.3 biện pháp hóa học 9
1.3Vi khuẩn vùng rễ trong phòng trị sinh học bệnh cây trồng 9
1.3.1 khái niệm phòng trừ sinh học (ptsh) bệnh cây trồng 9
1.3.2 Hệ sinh vật vùng rễ 9
1.3.2.1 Khái niệm vùng rễ 9
1.3.2.2 khái niệm vi khuẩn vùng rễ 10
1.3.3 Vai trò của vi sinh vật vùng rễ trong phòng trị sinh học bệnh cây trồng 10 1.3.4 Cơ chế đối kháng của vi khuẩn 11
1.3.4.1 Kháng sinh 11
1.3.4.2 Tiêu sinh (lysis) 11
1.3.4.3 Sự cạnh tranh 12
1.3.4.4 Kích thích tính kháng bệnh cây trồng: .12
1.4 Ứng dụng của nhóm vi khuẩn pseudomonae fluorescens và bacillus spp Trong phòng trị sinh học 13
1.4.1 Nhóm pseudomonas fluorescens 13
1.4.2 nhóm bacillus spp 13
1.4.3 các chế phẩm ứng dụng 14
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN, PHƯƠNG PHÁP 15
Trang 92.1.PHƯƠNG TIệN: 15
2.1.1 Thời gian và địa điểm: 15
2.1.2 Vật liệu: 15
2.2PHƯƠNG PHÁP 16
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ -THẢO LUẬN 3.1 Hiệu quả phòng trị của 3 chủng vi khuẩn vùng rễ lên bệnh đốm lá chảy nhựa thân (Didymella bryoniae) bằng biện pháp ngâm hạt, tưới đất 19
3.2 Tỉ lệ diện tích lá nhiễm bệnh đốm lá chảy nhựa thân (Didymella bryoniae) bằng phương pháp phun huyền phù vi khuẩn lên lá trước khi chủng bệnh trong điều kiện nhà lưới .20
3.3 Tỉ lệ diện tích lá nhiễm bệnh đốm lá chảy nhựa thân (Didymella bryoniae) bằng phương pháp phun huyền phù vi khuẩn lên lá sau khi chủng bệnh trong điều kiện nhà lưới .22
3.4 Tỉ lệ diện tích lá nhiễm bệnh đốm lá chảy nhựa thân (Didymella bryoniae) bằng phương pháp phun huyền phù vi khuẩn lên lá trước và sau khi chủng bệnh trong điều kiện nhà lưới .23
3.5 Tỷ lệ diện tích lá bị bệnh đốm lá chảy nhựa thân (Didymella bryoniae) của các nghiệm thức xử lí với 3 chủng vi khuẩn vùng rễ và 4 phương pháp xử lí 24
3.6 Tỷ lệ diện tích lá bị bệnh đốm lá chảy nhựa thân (Didymella bryoniae) của 3 chủng vi khuẩn vùng rễ trung bình qua 4 phương pháp xử lý 26
3.7 So sánh tỷ lệ diện tích lá bị bệnh đốm lá chảy nhựa thân (Didymella bryoniae) của 3 chủng vi khuẩn vùng rễ qua 4 phương pháp xử lý khác nhau 27
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 30
4.1Kết luận: 30
4.2 Đề nghị: 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31 PHỤ CHƯƠNG
Trang 10viii
DANH SÁCH BẢNG Bảng Tên bảng Trang
Bảng 2.1 Đặc điểm của 3 chủng vi khuẩn vùng rễ dưa hấu đã được
phân lập
16
Bảng 3.1 Tỉ lệ diện tích lá nhiễm bệnh đốm lá chảy nhựa thân
(Didymella bryoniae) ở các nghiệm thức xử lý vi khuẩn
đối kháng bằng cách ngâm hạt và tưới đất trong điều kiện nhà lưới
19
Bảng 3.2 Tỉ lệ diện tích lá nhiễm bệnh nứt thân chảy nhựa
(Didymella bryoniae) sau khi xử lý vi khuẩn đối kháng
bằng phương pháp phun huyền phù vi khuẩn lên lá trước khi chủng bệnh trong điều kiện nhà lưới
21
Bảng 3.3 Tỉ lệ diện tích lá nhiễm bệnh nứt thân chảy nhựa
(Didymella bryoniae) sau khi xử lý vi khuẩn đối kháng
bằng phương pháp phun huyền phù vi khuẩn lên lá sau khi chủng bệnh trong điều kiện nhà lưới
22
Bảng 3.4 Tỉ lệ diện tích lá nhiễm bệnh nứt thân chảy nhựa
(Didymella bryoniae) trước và sau khi xử lý vi khuẩn đối
kháng bằng phương pháp phun huyền phù vi khuẩn lên lá trước và sau khi chủng bệnh trong điều kiện nhà lưới
23
Bảng 3.5 Tỷ lệ diện tích lá nhiễm bệnh vào 3 ngày sau khi chủng
bệnh qua các biện pháp xử lý của các chủng vi khuẩn khác nhau
25
Bảng 3.6 Tỷ lệ diện tích lá bị bệnh đốm lá chảy nhựa thân
(Didymella bryoniae) của 3 chủng vi khuẩn vùng rễ qua 4 phương pháp xử lý
26
Bảng 3.7 So sánh tỷ lệ trung bình diện tích lá nhiễm bệnh
qua các phương pháp xử lý 27
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
Hình 1.1 Triệu chứng gây hại của D bryoniae trên dưa hấu 4
Hình 1.2 Hình dạng nấm Didymella bryoniae trong môi trường PDA sau 14
ngày
5 Hình 1.3 Hình thái nấm Didymella bryoniae 6 Hình 3.1 Phần trăm diện tích lá bị bệnh ở các biện pháp xử lí vi khuẩn 151
(Pseudomonas sp) so với đối chứng trong điều kiện nhà lưới 29
Trang 12x
Nguyễn Thanh An, 2010 “Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh đốm lá chảy
nhựa thân (didymella bryoniae) trên dưa hấu bằng 3 chủng vi khuẩn vùng rễ
trong điều kiện nhà lưới” Luận văn tốt nghiệp kĩ sư Bảo Vệ Thực Vật, Bộ môn
Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học
Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Nga
TÓM LƯỢC
Đề tài “Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh đốm lá chảy nhựa thân
(Didymella bryoniae) trên dưa hấu bằng 3 chủng vi khuẩn vùng rễ trong điều kiện nhà lưới” được thực hiện tại phòng thí nghiệm bệnh cây và nhà lưới bộ môn
Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại học Cần Thơ từ tháng 04/2010 đến tháng 11/2010 nhằm mục đích chọn ra chủng vi khuẩn cũng như biện pháp xử lí hiệu quả nhất trong việc phòng trị bệnh đốm lá chảy nhựa
thân do Didymella bryoniae gây ra
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, 2 nhân tố Nhân tố 1 là: 3 chủng vi khuẩn đối kháng (151, 166, 199) + nghiệm thức đối chứng Nhân tố 2 là 4 biện pháp
xử lí khác nhau gồm: Ngâm hạt + tưới đất, phun lá trước khi chủng bệnh, phun lá sau khi chủng bệnh và phun lá trước + lá sau khi chủng bệnh Các nghiệm thức chủng bệnh ở mật số 5.104 cfu/ml và các chủng vi khuẩn đối kháng phun qua lá ở mật số 108 cfu/ml và đối chứng chỉ chủng bệnh, không xử lí vi khuẩn đối kháng Kết quả ghi nhận tất cả 3 chủng vi khuẩn với 4 cách xử lí đều giúp giảm bệnh Trong đó ở biện pháp ngâm hạt + tưới đất thì chủng vi khuẩn 151 ( Pseudomonas
sp.) và chủng 166 (Pseudomonas fluorescens) cho tỷ lệ diện tích lá bị nhiễm bệnh
thấp nhất và khác biệt so với chủng vi khuẩn 199 (Pseudomonas fluorescens ) Ở biện pháp phun lá trướcchủng 151 cho tỉ lệ bệnh thấp nhất Ở biện pháp phun lá sau thì cả 3 chủng vi khuẩn đều có tỉ lệ bệnh thấp và khác biệt ý nghĩa so với đối chứng
Ở biện pháp kết hợp giữa phun lá trước + phun lá sau thì chủng 151 cho hiệu quả giảm bệnh cao nhất Mỗi chủng vi khuẩn có hiệu quả đối kháng với mầm bệnh khác nhau qua từng biện pháp xử lý Khi phân tích tương tác thì chủng vi khuẩn 151
(Pseudomonas sp.) cho tỉ lệ bệnh thấp nhất so với 2 chủng còn lại và so với đối
chứng Ở biện pháp ngâm hạt + tưới đất; biện pháp phun lá sau cho tỷ lệ diện tích lá
bị nhiễm bệnh thấp nhất tuần tự là 23% và 24,9% khác biệt so với các biện pháp còn lại
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một trong những nước nằm trong khu vực có điều kiện thời tiết, khí hậu rất thích hợp cho cây dưa hấu phát triển, đặc biệt là ở Đồng bằng sông Cửu Long Dưa hấu là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, thường cho năng suất trung bình từ 30- 40 tấn/ha (Nguyễn Mạnh Chinh, 2006) Theo FAO (2008), tổng sản lượng trên thế giới hàng năm khoảng 99 triệu tấn với diện tích trồng là 3,753,000 ha Riêng ở Việt Nam, tổng sản lượng khoảng 420,000 tấn với tổng diện tích 28,000 ha Dưa hấu vừa có giá trị về kinh tế vừa có giá trị về dinh dưỡng Theo
Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân (1999): Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới nóng
ẩm nên thiệt hại do bệnh cây trồng rất lớn, nấm gây ra bệnh cho cây trồng nhiều hơn vi khuẩn Các mầm bệnh quan trọng gây thiệt hại năng suất trên dưa hấu như
bệnh khảm do virus, bệnh thối trái do nấm Phytophthora capsici, bệnh thán thư
(Colletotrichum lagenarium)… và bệnh đốm lá chảy nhựa thân (Didymella bryoniae) Nấm Didymella bryoniae có thể tấn công lá, thân, hoa và trái, bệnh gây
thiệt hại nghiêm trọng trong điều kiện ẩm độ cao và có thể gây chết cây hay làm giảm năng suất và phẩm chất trái (Nguyen Thị Thu Nga, 2007; Sherf và Macnab, 1986; Punithalingam và Holidays, 1972) Hiện nay có rất nhiều biện pháp để phòng trị bệnh: biện pháp canh tác như sử dụng giống sạch bệnh, vệ sinh đồng ruộng sau khi thu hoạch; biện pháp hóa học và sinh học Tuy nhiên, giải pháp được dùng để ngăn chặn và tiêu diệt mầm bệnh hiện nay được sử dụng chủ yếu là biện pháp hóa học Biện pháp này mang hiệu quả cao nhưng lại có nhiều khuyết điểm là gây ô nhiễm môi trường và phá vỡ cân bằng sinh thái Bên cạnh đó biện pháp hóa học tạo điều kiện cho mầm bệnh dễ bộc phát nòi kháng thuốc và không đảm bảo an toàn cho sức khỏe của con người Chính vì vậy, để quản lý bệnh cần có biện pháp tổng hợp phải phối hợp nhiều biện pháp gồm biện pháp canh tác hợp lí, hạn chế sử dụng thuốc hoá học và đẩy mạnh biện pháp phòng trị sinh học nhằm sản xuất ra các sản phẩm sạch và an toàn đồng thời bảo vệ môi trường
Biện pháp phòng trừ sinh học bệnh cây bằng vi sinh vật gần đây được các nhà khoa học rất chú ý Những ưu điểm của biện pháp sinh học là giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật, giúp hạn chế nòi kháng thuốc, giảm chi phí sản xuất Trong số các
vi sinh vật đối kháng, nhóm vi khuẩn vùng rễ kích thích tăng trưởng thực vật được đánh giá là nhóm vi sinh vật tiềm năng vừa giúp cây trồng tăng trưởng tốt vừa có khả năng ứng dụng trong phòng trừ sinh học các bệnh có nguồn gốc từ đất, vừa giúp
đất màu mỡ hơn, cũng như kích thích sự tăng trưởng của cây (Siddiqui, 2006) Đặc
biệt là nhóm vi khuẩn vùng rễ kích thích tăng trưởng cây trồng (Plant Growth
Trang 142
Promoting Rhizobacteria = PGPR) Vi khuẩn vùng rễ được thế giới nghiên cứu rất nhiều trong phòng trị bệnh trên cây trồng (Siddiqui, 2006)
Từ đó đề tài “Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh đốm lá chảy nhựa
thân trên dưa hấu do nấm Didymella bryoniae bằng vi khuẩn vùng rễ trong điều kiện nhà lưới” được thực hiện nhằm tuyển chọn ra dòng vi khuẩn và biện
pháp xử lí cho hiệu quả cao trong việc phòng trị bệnh
Trang 15CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu sơ lược về dưa hấu
1.1.1 Nguồn gốc
Tên tiếng Anh: Watermelon
Tên khoa học: Citrullus lanatus (Thumb) Mansf
Họ bầu bí: Cucurbitaceae
Dưa hấu là loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao và rất có giá trị Nó
có nguồn gốc từ Nam Phi (Seshadri, 1993; trích dẫn Nguyen Thi Thu Nga, 2007) Dưa hấu được đưa từ Ấn Độ sang Trung Quốc cách nay 2500 năm Ở Việt Nam dưa hấu được trồng từ thời Vua Hùng Vương thứ 18 và dưa được xem là loại trái cây không thể thiếu được vào ngày Tết cổ truyền của nhân dân (Trần Thị Ba và ctv., 1999)
Ngày nay dưa hấu được trồng phổ biến ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới (Robinson và Decker- Walter, 1997)
1.1.2 Tình hình sản xuất và giá trị
Theo FAO (2008), tổng sản lượng trên thế giới hàng năm khoảng 99 triệu tấn với diện tích trồng là 3.753.000 ha Riêng ở Việt Nam, tổng sản lượng khoảng 420.000 tấn với tổng diện tích 28.000 ha Đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long là nơi tập trung trồng dưa hấu chủ yếu ở Việt Nam và tập trung nhiều ở các tỉnh như: Tiền Giang, Cần Thơ, Trà Vinh
Dưa hấu ngoài việc ăn tươi, làm rượu (ở Nga) còn là nguồn nước quan trọng
ở vùng sa mạc Ở Việt Nam, dưa hấu còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị của nước
ta trong nhiều năm qua và trong tương lai (Trần Khắc Thi,1999)
1.1.3 Đặc điểm cây dưa hấu
Dưa hấu là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn khoảng 60 - 100 ngày, cần nhiều ánh sáng, nhiệt độ thích hợp 25- 30OC Có thể trồng nhiều loại đất với pH = 5 - 7 và tốt nhất là đất thoát nước Năng suất trung bình từ 30 - 40 tấn/ ha (Nguyễn Mạnh Chinh, 2006)
Dưa hấu giữ được lâu ngày ở dạng tươi và thuận tiện chuyên chở đi xa nhờ
vỏ ngoài cứng (Trần Thị Ba và ctv, 1999) Dưa hấu có giá trị dinh dưỡng khá: trong
100 g phần ăn được của dưa hấu chứa 90% nước; 9% carbonhydrate; 0,75% protein; 0,15% lipit; 0,1% những chất khác (300 I.U vitamin A; 0,6 vitamin C; 8 mg Ca; 10 mg Mg; 14 mg P và 0,2 mg Fe), giá trị năng lượng tương đương 150kJ/100 g (Phạm Hồng Cúc, 2007)
1.2 Bệnh đốm lá chảy nhựa thân do nấm Didymella bryoniae
Bệnh khá quan trọng và gây ra hiện tượng “chạy dây” nhất là trên dưa hấu Nông dân thường gọi là bệnh bã trầu và còn một số tên khác: nứt thân chảy nhựa,
Trang 161.2.1 Triệu chứng
Bệnh gây hại ở tất cả các bộ phận và ở tất cả các giai đoạn tăng trưởng và phát triển của cây (Punithalingam và Holiday, 1972) Trên lá vết bệnh là những đốm nhũn nước tròn đến bất định, màu xanh xám nhạt, sao đó phát triển thành những vòng hoại tử và hóa nâu Đầu tiên là những vết bệnh nhỏ sau đó lan nhanh
ra, vết bệnh có các vòng tròn đồng tâm màu nâu sậm, nhiều vết bệnh liên kết lại với nhau làm cho lá bị cháy khô Ở lá mầm và cây con cũng xảy ra triệu chứng tương
tự, vết úng nước thường xuất hiện ở phôi lá Theo Trần Văn Hai (2005) trên thân, nhất là trên nhánh thân thì vết bệnh có hình bầu dục, màu xám trắng, kích thước từ
1 cm đến 2 cm, đốm hơi lõm, làm khuyết một bên thân hay nhánh.Trên vùng bệnh, nhựa màu nâu đỏ ứa ra thành giọt, sau cùng đổi thành màu nâu đen và khô cứng lại Nơi vùng bệnh vỏ thân có thể nứt nẻ, trên đó cũng có mang nhiều quả thể nấm màu đen và nhỏ Trên trái non xuất hiện những chấm nhỏ, nhũn nước, sau đó đốm bệnh khô, có màu nâu và bị nứt nẻ, những vết, đốm xuất hiện không giới hạn, gây thối, những vết đốm này rất dễ nhận diện Đối với cây con vết nứt trên thân sẽ làm cây suy yếu hoặc chết cây Nếu xảy ra trên cây trưởng thành thì sự tấn công ở giữa thân
sẽ xảy ra chậm hơn, vết nước này sẽ khô lại ở thời điểm giữa vụ Theo Gusmini và ctv., (2005) bệnh phát triển nhanh ở hoa, thân và trái trong điều kiện nóng và ẩm
Hình 1.1 Triệu chứng gây hại của D bryoniae trên dưa hấu
(N guồ n : Ngu yễn Th ị Thu Nga, 200 9 )
Nấm Didymella bryoniae có thể gây bệnh trên những cây thuộc họ dưa bầu
bí, như dưa hấu, dưa leo, khổ qua, cây su su (Punithalingam và Holiday, 1972)
Trang 17Ngoài ra, nấm bệnh còn gây hại trên họ xương rồng Bệnh phát triển nhanh khi ẩm
độ cao đặc biệt là mưa kéo dài (Bala và Hosein, 1986; Hopkins, 2002; Vũ Huy Trung và ctv., 2005; trích dẫn Nguyen Thi Thu Nga, 2007)
1.2.2 Tác nhân
Bệnh đốm lá chảy nhựa thân do nấm Didymella bryoniae gây ra là một trong
những bệnh quan trọng của họ bầu bí dưa ở nhiều quốc gia trên thế giới (Lee và
ctv., 1984) Didymella bryoniae có trong hạt (Chen và Bao, 1990; Sudisha và ctv.,
2004) trong đất và xác bã thực vật (Van Steekelenburg, 1982; Sherf và Macnab, 1986), trong không khí (Schenck, 1968) Nấm có thể xuất hiện ở tất cả các giai đoạn phát triển từ hạt cho đến sau thu hoạch (Punithalingam và Holiday, 1972)
1.2.2.1 Đặc điểm phân loại
Tên Didymella bryoniae được công bố năm 1881 do Rehm, ông chuyển những loài được mô tả bởi Auerswald năm 1869 đến chi mới Didymella Sacc (trích
dẫn bởi Nguyen Thi Thu Nga, 2007)
Theo CABI, 2001 Didymella bryoniae được phân loại như sau:
Giới: nấm Ngành: nấm nang (ascomycota) Bộ: Dothideales
Giai đoạn sinh sản hữu tính là Mycosphaerella melonis hay Didymella
bryoniae (Chiu và Walker, 1949a)
Giai đoạn vô tính được đặt với tên khác nhau như: Phoma cucurbitacearum
(Fr.) Sacc từ năm 1884 và được sử dụng đến ngày nay (Punithalingam và Holiday, 1972)
Hình 1.2: Hình dạng nấm Didymella bryoniae
trong môi trường PDA sau 14 ngày
(Nguồn: Trần Hữu Thông, 2010)
Trang 186
1.2.2.2 Đặc điểm sinh thái và sinh học
Giai đoạn hữu tính hình thành quả nang bầu (perithecia) do sự kết hợp phối hợp hữu tính của hai sợi nấm khác nhau, sợi nấm có vách và phân nhánh Quả nang
có đường kính từ 140 – 200 µm có màu đen, bên trong chứa các nang (ascus) có kích thước 60 - 90 x 10 - 15 µm Trong mỗi nang chứa 8 bào tử nang (ascospore), bào tử nang có vách ngăn ngang có dạng hơi hình trụ hoặc elip, nhọn hai đầu Kích thước của mỗi bào tử nang là 14 - 18 x 4 - 7 µm (Punithalingam và Holiday, 1972) Giai đoạn vô tính nấm hình thành ổ nấm vô tính gọi là Pycnidium Ổ nấm có màu nâu đến đen, có kích thước 120 – 180 micron, bên trong chứa bào tử vô tính (pycnidiospores) (Keinath, 2000)
Hình 1.3 Hình thái nấm Didymella bryoniae (Nguồn: Punthalingam và Holliday, 1972)
(A quả thể vô tính (pycnidium), B cành bào đài , C bào tử vô tính (pycnidiospores), D quả nang bầu (perithecium), E nang (ascus), F bào tử nang (ascospores)
Trên thân và lá bị bệnh có thể quan sát cả hai thể sinh sản vô tính và hữu tính của mầm bệnh (Nguyen Thi Thu Nga, 2007)
Nấm Didymella bryoniae có thể nuôi cấy trong môi trường Potato dextrose
agar (PDA) (Koike, 1997; Keinath và ctv., 1995; Sudisha và ctv., 2005; Boughalled
và ctv., 2007) Để kích thích sự hình thành bào tử, mẽ cấy cần phải đặt trong điều kiện chu kì luân phiên 12 giờ sáng và 12 giờ tối (Koike, 1997; Boughalled và ctv.,
2007) Phương pháp khác để tạo bào tử của nấm Didymella bryoniae bằng cách
nuôi cấy để xuất hiện bào tử nấm phải đặt dưới sự chiếu sáng của ánh sáng cực tím
UV 12 giờ/ngày trong 2 – 3 ngày Bào tử sẽ xuất hiện sau 2 ngày chiếu sáng, đĩa được ủ trong bóng tối sau 4 – 5 ngày sẽ xuất hiện bào tử đính trưởng thành (Mikyung và ctv., 1997) Ngoài ra, môi trường đường peptone dextrose agar cũng được báo cáo là tạo ra bào tử tốt dưới điều kiện chiếu sáng gián đoạn Bào tử sẽ hình thành giới hạn dưới điều kiện tối (Sherf và Macnab, 1986)
Trang 191.2.2.3 Cách xâm nhiễm cây kí chủ
Nấm Didymella bryoniae có thể tấn công kí chủ bằng nhiều cách khác nhau:
tấn công gián tiếp qua vết thương do cơ học hay côn trùng chích hút; trực tiếp bằng cách hình thành đĩa áp, hay xâm nhiễm qua cửa khẩu tự nhiên của cây kí chủ lỗ trao đổi khí và nước trên lá hay nhụy (Neergaard, 1989)
Nghiên cứu hiện nay về sinh học của sự xâm nhiễm Didymella bryoniae trên
lá dưa hấu cho thấy rằng: Sợi nấm hình thành đĩa áp để tham gia xâm nhiễm Sợi nấm có thể xâm nhiễm trực tiếp qua lớp cutin hoặc gián tiếp qua khí khẩu Thông thường vị trí nấm xâm nhiễm xảy ra ở tế bào biểu bì hoặc giữa những tế bào bảo vệ của khí khẩu này với khí khẩu kia Sau khi xâm nhiễm thành công, sợi nấm tăng trưởng trong những khoảng trống gian bào, kết quả tế bào bị phá hủy (trích dẫn Nguyen Thi Thu Nga, 2007)
Nấm Didymella bryoniae được báo cáo là có thể tạo ra nhiều loại enzyme
thủy phân như polygalacturonase (PG), pectin methylesterase và cellulase, giữa những enzyme này thì polygalacturonase được xem là quan trọng nhất cho sự phá
vỡ tế bào (Curen, 1968) Theo (Chiu và Walker, 1949) cũng ghi nhận rằng sự xâm
nhiễm do nấm Didymella bryoniae xảy ra gồm xâm nhiễm trực tiếp lên lá dưa hấu,
trong khi sự xâm nhiễm qua khí khẩu không được quan sát
1.2.2.4 Cách lan truyền và sự lưu tồn của mầm bệnh
Didymella bryoniae là bệnh sinh ra từ đất, hạt, không khí Tuy nhiên những
bộ phận của cây bị nhiễm và chết từ vụ trước dường như là một trong những nguồn lây bệnh quan trọng nhất Nguồn bệnh từ không khí cũng được ghi nhận như là nguồn xâm nhiễm chính trên dưa hấu trích dẫn từ Nguyen Thi Thu Nga (2007) Nguồn bệnh sơ cấp trên ruộng dưa mới trồng có thể từ hạt, trong đất hay từ
không khí do gió mang bào tử gió mang từ nơi khác đến Nấm D bryoniae có thể
lưu tồn trong hạt (Lee và ctv., 1984) Bào tử trên bề mặt hạt có thể sống sót 21 tháng và sự lưu tồn của sợi nấm trong hạt được ghi nhận 41,7% sau 24 tháng (Chen
và Bao, 1990) Sự lưu tồn trên hạt rất quan trọng cho sự xâm nhiễm nấm bệnh trên
cây con Hầu hết cây con được ghi nhận do nấm D bryoniae trong nhà lưới trước
khi đem ra ngoài đồng (Koike,1997) Việc sử dụng những hạt bị nhiễm để gieo trồng làm gia tăng sự nghiêm trọng của bệnh trong đồng ruộng được quan sát trên dưa hương (Sudisha và ctv., 2004)
Trong đất nấm có thể hình thành bào tử áo để lưu tồn ít nhất trong 2 năm (Keinath, 2000) Ngoài ra nguồn bệnh có thể bắt nguồn do mưa và nước tưới (waterborne) từ lá, thân cây bệnh xâm nhiễm lên các lá thân khỏe (Sherf và Macnab, 1986) Trong các con đường lan truyền thì lan truyền qua đất là quan trọng nhất (Sherf và Macnab, 1986)
Trang 20Arny và Rowe (1991) cũng thấy rằng, ẩm độ là nhân tố quan trọng trong ranh giới của sự xâm nhiễm của tỉ lệ xâm nhiễm lá và cuốn lá dưa leo và thậm chí quan trọng hơn nhiệt độ Xa hơn Van Steekelenburg (1980) ghi nhận rằng sự xâm nhiễm trên thân trái dưa leo dưới điều kiện khô là thấp hơn so với sự xâm nhiễm của những cây dưới điều kiện ẩm
1.2.3 Biện pháp phòng trị
Bệnh này rất khó trị trên dưa hấu và một số loại dưa khác Theo Gusmini và ctv., (2005) chưa có biện pháp hữu hiệu để phòng trị bệnh này, biện pháp phòng trừ chủ yếu là sử dụng thuốc hóa học Tuy nhiên phun nhiều thuốc hóa học sẽ sinh ra nhiều loài mới khó trị hơn (Malathralkis và Vakalounakis, 1983; Isakeit, 2003) Để phòng trị bệnh này thì ta có các biện pháp như: sử dụng giống kháng, kỹ thuật canh tác (luân canh, chăm sóc, đất trồng,…), biện pháp hóa học, biện pháp sinh học
1.2.3.1 Kỹ thuật canh tác
Tỉa bớt các dây chèo, bơi để tạo điều kiện thoáng khí cho líp trồng
Hạn chế nước tưới quá nhiều vào buổi chiều
Thoát nước tốt cho ruộng dưa khi có mưa nhiều
Hạn chế bón phân đạm khi dưa chớm bệnh
Vệ sinh đồng ruộng trong và sau vụ trồng như cắt bỏ bớt lá bệnh, khử hạt giống, luân canh, cân đối lượng phân bón và biện pháp tưới thấm và có thể giúp giảm sự lây lan và phát triển của mầm bệnh
Tiêu hủy các cây bệnh và sau mỗi vụ nên hủy bỏ tàn dư thực vật
Thường xuyên thăm đồng trong thời gian dưa mang trái để sớm pháp hiện được bệnh
Trang 21Keinath (1995) ghi nhận rằng canh tác dưa hấu luân canh với lúa mì, cải bắp giúp giảm được bệnh đốm lá chảy nhựa thân
1.2.3.2 Biện pháp sinh học
Một số nghiên cứu phòng trị sinh học đối với bệnh đốm lá chảy nhựa thân đã được thực hiện như biện pháp kích kháng bằng hóa chất, phun vi khuẩn đối kháng lên lá, hoặc dịch trích thực vật (Fiori và ctv., 2000; Utkhede và Kock, 2004; Buzi và
ctv., 2004) Gần đây, nghiên cứu trong điều kiện in vitro và nhà lưới cho thấy rằng bằng cách áo hạt và tưới đất với vi khuẩn Pseudomonas fluorescens 231-1 có khả
năng ức chế được bệnh trên lá do Didymella bryoniae trên dưa hấu (Nguyen Thi
Thu Nga, 2007) trong phạm vi phòng thí nghiệm và nhà lưới Cũng với vi khuẩn
Pseudomonas fluorescens 231-1 đã được áp dụng thực tế ra đồng qua thí nghiệm của Nguyễn Thanh Giàu và Nguyễn Trung Long (2009) bằng cách áo hạt + tưới đất + phun lá cũng đạt được kết quả cao
1.2.3.3 Biện pháp hóa học
Các loại thuốc hóa học thuộc các nhóm tebuconazol, fentin hydroxide, prochloraz Mn, propiconazol, mancozeb và chlorothalonil (Vawdrey, 1994; Keinath, 2000; Hopkins, 2002), thiophanate - methyl, benomyl, carbendazim và mancozeb (Vũ Huy Trung và ctv., 2005) được ghi nhận hiệu quả trong phòng trị bệnh này Tuy nhiên, sự phát triển tính kháng đối với thuốc hóa học đã được ghi nhận
Phun thuốc Copper-B 75 WP, Benomyl 50 WP, Derosal 50 SC 20 - 30 g/8 lít, Score 250 EC 3 cc/8 lít; Tilt super 300 EC 3 cc/8 lít Phun 10-15 ngày/lần vào gốc các dây dưa Trần Văn Hai (2005)
1.3 Vi khuẩn vùng rễ trong phòng trị sinh học bệnh cây trồng
1.3.1 Khái niệm phòng trừ sinh học (PTSH) bệnh cây trồng
Theo Phạm Văn Kim (2006), “Biện pháp sinh học trong phòng trị bệnh cây
là điều khiển môi trường, cây trồng và sinh vật đối kháng một cách thích hợp, để tạo nên một thế cân bằng sinh học cần thiết, giúp giảm mật số của mầm bệnh xuống dưới ngưỡng gây hại Nhờ đó bệnh của cây trồng chỉ xuất hiện ở mức độ nhẹ, không gây ảnh hưởng quan trọng về mặt kinh tế” Biện pháp sinh học không có mục đích tiêu diệt mầm bệnh và cũng không có khả năng này
1.3.2 Hệ sinh vật vùng rễ
1.3.2.1 Khái niệm vùng rễ
- Vùng rễ (rhizospheres) là vùng bao quanh bộ rễ của thực vật, tuy nhiên khái niệm về vùng rễ được Heltner đề ra năm 1904 vẫn chưa được thống nhất do việc xác nhận phạm vi của hệ rễ đối với môi trường chung quanh cũng có thay đổi tùy theo loại cây và thời gian sinh trưởng của cây (Phạm Văn Kim, 2006)
- Khi quan sát rễ non cho thấy vùng quanh đầu rễ bao gồm các chất do đầu rễ
và vi khuẩn quanh vùng đó tiết ra Khi phân tích các chất này thấy có nhiều chất
Trang 2210
hữu cơ cần thiết cho vi sinh vật, như đường, amino acid, acid hữu cơ, vitamin… do vậy mà vi sinh vật tập trung nhiều ở quanh vùng rễ hơn ở xa (Phạm Văn Kim, 2006)
1.3.2.2 Khái niệm vi khuẩn vùng rễ
- Vi khuẩn vùng rễ (rhizobacteria) là những vi khuẩn sống ở vùng rễ và định
vị được ở rễ cây, chúng có khả năng sinh sôi và chiếm lĩnh các ổ sinh thái ở rễ vào tất cả các giai đoạn phát triển của cây Có khoảng 2 – 5% vi khuẩn vùng rễ khi được chủng vào đất có hệ vi sinh vật cạnh tranh, biểu hiện có lợi cho sự tăng trưởng của cây được gọi là vi khuẩn vùng rễ kích thích tăng trưởng cây trồng (Plant Growth Promoting Rhizobacteria = PGPR) (Siddiqui, 2006)
- Theo Vessey (2003) giữa các cây chủ và PGPR có hai kiểu liên hệ:
+ Vi sinh vật quanh rễ cây: Có nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy
ảnh hưởng có lợi của vi khuẩn quanh vùng rễ lên sự tăng trưởng của cây là do chúng có khả năng kiềm chế hay chiếm chổ của mầm bệnh Nhiều vùng rễ non được định vị bởi vi khuẩn, nơi đây có hệ sinh thái thích hợp mà những vi khuẩn
thuộc các loài như Arthrobacter, Azotobacter, Bacillus, và Pseudomonas có thể
phát triển Những vi khuẩn này ngăn chặn vi sinh vật có hại (Lambert và ctv., 1987; được trích dẫn bởi Cavaglieri và ctv., 2004)
+ Vi sinh vật nội sinh rễ: Vi khuẩn nội sinh rễ thường là vi khuẩn
được tách ra từ mô cây đã khử trùng bề mặt hoặc được trích ra từ phía trong cây (Hallmann và ctv., 1997; được trích dẫn bởi Kloepper và ctv., 2006)
- Như vậy vi khuẩn vùng rễ PGPR thường là các vi khuẩn sống tự do, nhưng một số loài trong đó có thể xâm nhập vào mô cây sống mà không làm cây biểu hiện triệu chứng bị xâm nhiễm, được gọi là các vi khuẩn nội sinh rễ (endophytes), và thâm nhập vào rễ, trước hết chúng phải là những nhóm vi khuẩn vùng rễ (Antoun và prévót, 2005)
1.3.3 Vai trò của vi sinh vật vùng rễ trong phòng trị sinh học bệnh cây trồng
- Kloepper và ctv., (2004) cho thấy trong tự nhiên vi khuẩn kích thích tăng trưởng hiện diện trong đất, chúng định cư ở rễ cây trồng, kích thích cây trồng phát triển, chúng được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp nhằm mục đích làm cho cây trồng phát triển, làm tăng trọng lượng hạt, năng suất cây trồng tăng từ 10% – 20%
- Ghi nhận của Gutierres – Manero và ctv., (2001) các vi khuẩn trong đất thúc đẩy sự tăng trưởng của cây và làm hạn chế được sự phát triển của mầm bệnh trong đất là do làm cho vi sinh vật gây bệnh không lấy được chất dinh dưỡng, một vài chủng vi khuẩn vùng rễ có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cây trồng thông qua sự sản xuất các chất chuyển hóa có khả năng kích thích như những chất kích thích tăng trưởng giúp cây phát triển nhanh hơn
Trang 23- Theo Phạm Văn Kim (2006) thì vi sinh vật vùng rễ thực vật giữ vai trò khá quan trọng: Vi sinh vật tiết ra CO2, các acid hữu cơ và acid vô cơ, trong quá trình hoạt động của chúng, có tác động lớn với việc làm các khoáng chất hoặc các chất như P dưới dạng không tan sẽ chuyển biến thành dạng đơn giản, dễ tan và dễ được cây trồng hấp thụ
- Vi sinh vật tiết ra các chất kích thích tố tăng trưởng giúp rễ thực vật phát
triển tốt Một số loài trong chi Pseudomonas và Agrobacterium có khả năng tiết ra
chất Indol – acetic acid (IAA), là chất kích thích sự ra rễ cây trồng
- Nhóm vi khuẩn vùng rễ kích thích tăng trưởng ngăn chặn mầm bệnh trong đất bằng nhiều cơ chế Bao gồm khả năng sản xuất siderophore, là phức liên kết ion sắt làm cho chúng không hữu dụng với mầm bệnh, khả năng tạo kháng sinh, enzyme thủy phân vách tế bào hoặc HCN giúp ngăn chặn sự phát triển của mầm bệnh, khả năng cạnh tranh thành công với mầm bệnh về thức ăn và chỗ ở trên rễ cây (Nelson, 2004)
1.3.4 Cơ chế đối kháng của vi khuẩn
1.3.4.1 Kháng sinh
- Theo Phạm Văn Kim (2000): kháng sinh (antibiosis) là sự ức chế mầm
bệnh bởi tiến trình sản xuất ra chất kháng sinh Chi vi khuẩn Pseudomonas spp có
khả năng tiết ra nhiều loại kháng sinh như: pyoluteorin, pyrolnitrin nitro-3-chlorophenyl)pyrrole), DAPG (2,4-diacetyl-phloroglucinol), hydrogen cyanic,… Trong các loại kháng sinh trên, pyrolnitrin và DAPG được phát hiện khá nhiều ở các chi vi khuẩn đối kháng Loại kháng sinh có phổ ức chế rộng như DAPG
(3-chloro-4-(2-có thể ức chế được cả nấm và tuyến trùng Chi vi khuẩn Bacillus spp đã được phát
hiện tiết ra hai loại kháng sinh kanosamine và zwittermicine A (Stabb và ctv., 1994)
1.3.4.2 Tiêu sinh (lysis)
Tiêu sinh là sự giết chết, làm tan đi, phân hủy sinh chất của mầm bệnh
Ngoại tiêu sinh (exolysis): do tác động của enzyme từ bên
ngoài làm tiêu hủy màng tế bào của mầm bệnh, làm cho mầm bệnh chết Enzyme này do một sinh vật khác tiết ra
Nội tiêu sinh (endolysis): là sự làm tan tế bào chất của mầm
bệnh do vi sinh vật kí sinh từ bên trong gây ra
Vách tế bào nấm cấu tạo bởi thành phần glucan, chitin và protein (Phạm Văn Kim, 2000) Nhiều vi khuẩn vùng rễ có khả năng tiết ra enzyme như chitinase, β-1,3-glucanase, protease giúp phân hủy vách tế bào của nấm gây bệnh (Ait và ctv., 2000) trích dẫn Trần Bạch Lan (2010)
Theo Trương Thị Bích Ngân (2009) vi khuẩn vùng rễ thuộc hai nhóm
Pseudomonas spp và Bacillus spp phân lập từ rễ cây dưa hấu có khả năng tiết ra
enzym chitinase phân hủy thành phần chitin của vách tế bào nấm bệnh
Trang 2412
1.3.4.3 Sự cạnh tranh
Các vi sinh vật trong đất luôn cạnh tranh về oxy, dinh dưỡng và khoảng không để sống Trong điều kiện môi trường thích hợp cho một nhóm vi sinh vật, chúng sẽ phát triển và lấn át các vi sinh vật khác Đây là quá trình tiếp diễn liên tục trong các nhóm vi sinh vật trong đất để đạt cân bằng sinh học (Phạm Văn Kim, 2000)
Có khả năng tiết ra siderophores để lấy sắt không hữu dụng trong đất giúp chúng sống sót trong môi trường hạn chế sắt, tuy nhiên gián tiếp ức chế sự phát triển của vi sinh vật khác không có khả năng tiết ra siderophores (Paulsen và ctv., 2005)
Có hai kiểu kích kháng:
Sự kích kháng tại chỗ (Local Acquired Resistance (LAR)):
Kích kháng tại chỗ là khi mầm bệnh xâm nhiễm vào bộ phận nào của cây có tiếp xúc với chất kích kháng sẽ kích thích cây sản sinh ra các hóa chất để tạo sự kháng bệnh nơi ấy (Phạm Văn Kim, 2002)
Sự kích kháng lưu dẫn (Systemic Acquired Resistance
(SAR)): Kích kháng lưu dẫn là hiện tượng cây trồng được xử lý bởi các tác nhân
kích kháng, hiệu quả của kích kháng không chỉ xảy ra tại vị trí được xử lý bởi các tác nhân kích kháng mà còn phát triển mô đến mô cây cách xa điểm kích thích hoặc toàn cây, giúp cây trồng có khả năng tự vệ và chống mầm bệnh (Phạm Văn Kim, 2002)
Vi khuẩn vùng rễ cũng có khả năng kích thích tính kháng bệnh cây trồng (Van Loon, 1998) Cơ chế kích kháng cũng được lưu dẫn toàn cây và kháng lại được nhiều mầm bệnh khác nhau, cơ chế này được gọi là ISR (Induced Systemic Resistance)
Chất dẫn truyền tín hiệu trong cơ chế kích kháng liên quan bởi vi khuẩn vùng rễ là ethylene hay jasmonic axit và cơ chế kích kháng liên quan sự tổng hợp phytoalexin hay giúp vách tế bào vững chắc hơn nhưng không liên quan đến sự tổng hợp PR protein