TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT Chứng nhận đã chấp nhận Luận văn tốt nghiệp với tên đề tài: “Khảo sát thành phần côn trùng gây hại và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
ĐỖ THÀNH ĐẠT
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG GÂY HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH ĂN MỒI TRÊN DƯA LEO TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC
CỦA RẦY MỀM APHIS GOSSYPII GLOVER
TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
Cần Thơ - 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG GÂY HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH ĂN MỒI TRÊN DƯA LEO TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC
CỦA RẦY MỀM APHIS GOSSYPII GLOVER
TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
MSSV: 3093337
Lớp: BVTV K35
Cần Thơ - 2012
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Chứng nhận đã chấp nhận Luận văn tốt nghiệp với tên đề tài: “Khảo sát thành phần côn trùng gây hại và thiên địch ăn mồi trên dưa leo tại huyện Chợ Mới,
tỉnh An Giang - Đặc điểm hình thái, sinh học của rầy mềm Aphis gossypii
Glover trong điều kiện phòng thí nghiệm”
Do sinh viên Đỗ Thành Đạt thực hiện
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
Ths Lăng Cảnh Phú
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
-O0O-
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn đính kèm với đề tài:
“Khảo sát thành phần côn trùng gây hại và thiên địch ăn mồi trên dưa leo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang - Đặc điểm hình thái, sinh học của rầy mềm
Aphis gossypii Glover trong điều kiện phòng thí nghiệm”
Được thực hiện từ 7/2012 – 11/2012 do sinh viên Đỗ Thành Đạt thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày……tháng……năm 2012
Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá ở mức:
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn:
Duyệt khoa Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2012 Trưởng Khoa Nông Nghiệp và SHƯD Chủ tịch hội đồng
Trang 5LÝ LỊCH CÁ NHÂN
1 LÝ LỊCH SƠ LƢỢC
Họ và tên: Đỗ Thành Đạt Giới tính: Nam
Ngày sinh: 10/11/1991 Dân tộc: Kinh
Nguyên quán: Ấp Tân Hiệp B, thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Họ và tên cha: Đỗ Văn Sang
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Đỗ Thành Đạt
Trang 7LỜI CẢM TẠ Kính dâng!
Ông bà, cha mẹ, những người đã suốt đời tận tụy, hết lòng vì con đã chăm sóc và dạy bảo con nên người
Chân thành cảm ơn!
Anh Chiến, anh Hùng, anh Thương, chị Yến, chị Trinh chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình thực hiện đề tài
Các bạn Hà, Xứng, Còn và các bạn lớp Bảo Vệ Thực Vật K35 cùng các em Minh, Sơn, Việt, Đăng, Nhớ, Khởi đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình điều tra để hoàn thành đề tài
Đỗ Thành Đạt
Trang 8Đỗ Thành Đạt, 2012 “Khảo sát thành phần côn trùng gây hại và thiên địch ăn mồi trên dưa leo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Đặc điểm hình thái, sinh học của
rầy mềm Aphis gossypii Glover trong điều kiện phòng thí nghiệm” Luận văn tốt
nghiệp Đại học, ngành Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: Thạc sĩ Lăng Cảnh Phú
TÓM LƯỢC
Đề tài “Khảo sát thành phần côn trùng gây hại và thiên địch ăn mồi trên dưa leo tại
huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Đặc điểm hình thái, sinh học của rầy mềm Aphis
gossypii Glover trong điều kiện phòng thí nghiệm” được thực hiện từ tháng
7/2012-11/2012 được kết quả như sau:
(1) Qua kết quả điều tra tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cho thấy, côn trùng gây
hại trên dưa leo chủ yếu là bù lạch (Thrips palmi Karny), rầy mềm (Aphis gossypii Glover) Thiên địch xuất hiện trên ruộng chủ yếu là bọ rùa 6 vệt đen Menochilus
sexmaculatus
(2) Rầy mềm Aphis gossypii Glover là côn trùng biến thái không hoàn toàn, sinh sản
theo kiểu đơn tính và đẻ con Thành trùng có 2 dạng (có cánh và không cánh): Dạng
có cánh cơ thể dài trung bình 1,28 0,10 mm, rộng 0,53 0,06 mm; dạng không cánh cơ thể có màu vàng đến xanh, cơ thể có chiều dài khoảng 1,21 - 1,25 mm, rộng 0,61 - 0,66 mm Mắt kép màu đen, râu đầu gồm 6 đốt chiều dài trung bình 0,83 0,07 mm Vòi hút dẹp, vươn dài khỏi đốt chậu chân giữa Ống bụng có chiều dài gấp 2 lần phiến đuôi Cả thành trùng và ấu trùng đều tiết dịch ngọt (honeydew)
Ấu trùng của rầy mềm Aphis gossypii Glover trải qua 4 tuổi với 3 lần lột xác, vòng
đời khoảng 4,5 - 7,5 ngày Mỗi thành trùng không cánh đẻ tổng cộng 23,47 11,38 con, trung bình 2,93 0,78 con/ngày Thời gian từ khi lột xác đến đẻ con lần đầu khoảng 0,13 - 0,37 ngày (dao động từ 0 - 1,5 ngày)
Trang 9MỤC LỤC
1.3.1 Sâu xanh hai sọc trắng Diaphania indica Saunders 5
1.3.2 Ruồi đục lá Liriomyza trifolii Burgess 8
1.3.4 Rầy phấn trắng Bemisia tabaci Gennadius 9
1.5.2 Rầy mềm Aphis craccivora Koch (Aphis medicaginis Koch) 17
2.2.1 Phương pháp điều tra thành phần, mức độ phổ biến của côn
trùng gây hại và thiên địch ăn mồi của chúng trên cây dưa leo tại Chợ Mới,
tỉnh An Giang vụ Hè Thu 2012
23
Trang 102.2.2 Khảo sát đặc điểm hình thái và sinh học của rầy mềm Aphis
gossypii Glover
24
2.2.2.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát vòng đời, thời gian sinh
trưởng và hình thái của rầy mềm Aphis gossypii Glover
24
2.2.2.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát khả năng sinh sản của thành
trùng rầy mềm không cánh Aphis gossypii Glover
25
3.1 Thành phần, mức độ phổ biến của côn trùng gây hại và thiên địch ăn mồi trên dƣa leo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang vụ Hè Thu 2012
26
3.1.1 Thành phần, mức độ phổ biến của côn trùng gây hại trên dƣa leo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang vụ Hè Thu 2012
26
3.1.2 Thành phần, mức độ phổ biến của thiên địch ăn mồi trên dƣa
leo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang vụ Hè Thu 2012
29
3.2 Đặc điểm hình thái và sinh học của rầy mềm Aphis gossypii Glover 32
3.2.1 Một số đặc điểm hình thái của rầy mềm Aphis gossypii
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
1.1 Dạng mép trán của Aphis gossypii, Aphis craccivora Koch
với Macrosiphum euphorbiae, Myzus persicae (Stoetzel et
al., 1996)
12
1.2 Phân loại ống bụng của thành trùng không cánh
Macrosiphum euphorbiae và Myzus persicae (Stoetzel et al.,
1996)
12
1.3 Khóa phân loại thành trùng không cánh Aphis gossypii
Glover và Aphis craccivora Koch (Stoetzel et al., 1996)
13
2.2 Khảo sát vòng đời, thời gian sinh trưởng và hình thái rầy
mềm Aphis gossypii Glover
25
3.3 Ấu trùng tuổi 1 của rầy mềm Aphis gossypii Glover 33 3.4 Ấu trùng tuổi 2 của rầy mềm Aphis gossypii Glover 33 3.5 Ấu trùng tuổi 3 của rầy mềm Aphis gossypii Glover 34 3.6 Ấu trùng tuổi 4 của rầy mềm Aphis gossypii Glover 34 3.7 Thành trùng và các bộ phận của rầy mềm Aphis gossypii
Glover
36
3.9 Ấu trùng của rầy mềm Aphis gossypii Glover đang lột xác 39 3.10 Thành trùng Aphis gossypii Glover đang đẻ con 40
Trang 12DANH SÁCH BẢNG
3.1 Thành phần, mức độ phổ biến của côn trùng gây gây hại trên dưa
leo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang vụ Hè Thu 2012
28
3.2 Thành phần, mức độ phổ biến của thiên địch ăn mồi trên dưa leo
tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang vụ Hè Thu 2012
31
3.3 Kích thước các giai đoạn phát triển của rầy mềm Aphis gossypii
Glover trong điều kiện phòng thí nghiệm, Đại học Cần Thơ,
2012
32
3.4 Vòng đời và các giai đoại phát triển của rầy mềm Aphis gossypii
Glover trong điều kiện phòng thí nghiệm, Đại học Cần Thơ,
2012
38
3.5 Khả năng sinh sản của rầy mềm Aphis gossypii Glover trong
điều kiện phòng thí nghiệm, Đại học Cần Thơ, 2012
41
Trang 13
MỞ ĐẦU
Dưa leo là một loại rau ăn trái thương mại quan trọng được trồng rất phổ biến ở nhiều nơi Do có chứa lượng dinh dưỡng và năng lượng thấp nhưng có hàm lượng vitamin và khoáng chất cao nên dưa leo rất được ưa chuộng (Trần Thị Ba, 2001) Diện tích trồng dưa leo trên thế giới năm 2009 khoảng 1.958 nghìn hecta với sản lượng đạt 60.502,2 nghìn tấn (FAO, 2011)
Ở ĐBSCL dưa leo được trồng rất phổ biến, đặc biệt là vùng trồng rau Sóc Trăng (huyện Mỹ Xuyên), An Giang (huyện Chợ Mới) (Nguyễn Mân, 1984) Tuy nhiên trong quá trình canh tác, nông dân còn gặp nhiều khó khăn do xuất hiện các loài côn trùng gây hại như: rầy mềm, bù lạch, sâu xanh hai sọc trắng, ruồi đục
lá…Trong đó, rầy mềm Aphis gossypii Glover hiện diện thường xuyên trên ruộng
với vòng đời rất ngắn, khả năng sinh sản cao, phổ ký chủ rộng và đặc biệt với khả năng truyền nhiều loài virus gây bệnh trên dưa leo nên ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của dưa leo Hiện nay nông dân thường áp dụng một số biện pháp phun thuốc hóa học để phòng trừ các côn trùng gây hại đã gây nhiều hậu quả nghiêm trọng như dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt mức quy định, gây ra hiện tượng kháng thuốc tạo thành dịch
Do đó, đề tài: ”Khảo sát thành phần côn trùng gây hại và thiên địch ăn mồi trên dưa leo ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Đặc điểm hình thái, sinh học của rầy
mềm Aphis gossypii Glover trong điều kiện phòng thí nghiệm” được thực hiện
nhằm tìm hiểu về thành phần côn trùng gây hại, thiên địch ăn mồi cùng với một số
đặc điểm hình thái và đặc tính sinh học của loài rầy mềm Aphis gossypii Glover để
quản lý và phòng trừ chúng một cách hiệu quả
Trang 14CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc và vai trò của dưa leo
Dưa leo tên khoa học là Cucumis sativus L., tên tiếng Anh là cucumber, thuộc
họ Dưa bầu bí (Cucurbitaceae) (Trần Thị Ba và ctv., 2001; Nguyễn Văn Thắng và
Dưa leo cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất Thành phần dưa leo chiếm 96% là nước; trong 100g dưa leo chứa 14 calo; 0,7mg protein; 24 mg calcium; 20
UI vitamin A; 12 mg vitamin C; 0,024 mg vitamin B1; 0,075 mg vitamin B2; và 0,3
mg vitamin B6 (Trần Thị Ba và ctv., 2001)
1.2 Đặc điểm chung của dưa leo
1.2.1 Yêu cầu ngoại cảnh
Trang 15Ánh sáng
Cây ưa ánh sáng ngày ngắn Thời gian chiếu sáng 10-12 giờ/ngày cây sẽ sinh trưởng và phát triển tốt Nắng nhiều giúp cây quang hợp tốt làm tăng năng suất, chất lượng và rút ngắn thời gian lớn của trái (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1999; Tạ Thu Cúc, 2005) Nhưng các giống dưa leo lai F1 ít bị ảnh hưởng bởi quang kỳ (Hoàng Trung Kiên và Nguyễn Văn Định, 2001)
Ẩm độ
Nhu cầu về ẩm độ của dưa leo đứng đầu họ Bầu bí: Độ ẩm đất 85-95%, độ ẩm không khí 90-95% thích hợp cho dưa leo Dưa leo chịu hạn rất kém, thiếu nước cây sinh trưởng kém và còn tích lũy cucurbitaxina là chất gây đắng trong trái Cây cần lượng nước lớn nhất vào thời kỳ ra hoa và tạo trái (Nguyễn Văn Thắng và Trần
Khắc Thi, 1999; Trần Thị Ba và ctv., 2001)
Đất và dinh dƣỡng
Đất trồng thích hợp là đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất pha cát, đất thịt nhẹ, độ pH thích ứng là 5,5 - 6,5 Dưa leo sử dụng kali với hiệu suất cao nhất, sau
đó đến đạm rồi đến lân Khi sử dụng phân hữu cơ nhất là phân chuồng có tác dụng
là tăng năng suất dưa leo (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1999)
1.2.2 Kỹ thuật canh tác
Thời vụ
Theo Trần Thị Ba và ctv (2001), dưa leo trồng quanh năm Nhưng phát triển
tốt vào mùa mưa hơn mùa khô Vụ Xuân Hè từ tháng 1- 4 dương lịch, vụ Hè Thu từ
5 - 8 dương lịch, vụ Đông Xuân từ tháng 10 - 1 dương lịch, vụ Thu Đông 7 - 10 Trong các vụ thì vụ Hè Thu cho năng suất cao do ít sâu bệnh và công chăm sóc
Làm đất
Theo Trần Thị Ba và ctv (2001), dưa leo có bộ rễ yếu và sức hấp thụ của rễ
kém nên khả năng chịu hạn hay úng hoặc nồng độ phân cao Vì thế nên trồng dưa leo trên đất có thành phần cơ giới nhẹ như cát pha, đất thịt nhẹ thoát nước tốt, có nhiều chất hữu cơ Lên líp cao 20 - 25 cm trong mùa mưa, khoảng cách trồng 0,8 - 1,5 x 0,3 - 0,4 m Mật độ trồng 30.000 - 50.000 cây/ha
Trang 16Bón phân
Lượng phân trung bình một hecta là 150 - 200 kg urê, 200 kg super lân, 150
kg KCl và từ 10 - 20 tấn phân chuồng Cách bón: bón tất cả lân, 2/3 phân chuồng, bón thúc lần một (7 ngày sau khi gieo (NSKG)): 1/10N; bón thúc lần 2 (15 NSKG): phân chuồng còn lại + 3/10N + 1/4K; bón thúc lần 3 (25 NSKG): 3/10N + ¼ K; lượng phân còn lại chia thành nhiều lần và tưới xen kẽ nhau trong thời gian thu hoạch (Trần Thị Ba và Trần Văn Hai, 1998 trích dẫn bởi Bành Ngọc Nghĩa và Hoàng Ngọc Lâm, 2004)
Làm giàn
Khi cây bắt đầu tua cuốn (20 NSKG) thì làm giàn hình chữ nhân, cao khoảng
2 m Giàn có thể làm cố định bằng cọc tràm và dây kẽm để có thể sử dụng được 2-3 năm Hiện nay, việc sử dụng lưới nilong để làm giàn cho dưa leo cũng được phổ biến trong sản xuất vì giảm được lượng lớn cây giàn, giảm chi phí, thao tác nhanh
gọn và dùng được nhiều vụ (Trần Thị Ba và ctv., 2001)
Tưới nước
Dưa leo chịu hạn rất kém do đó vào mùa nắng tưới nước 1 ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều Tăng lượng nước tưới và diện tích tưới gốc khi cây lớn, nhất là thời kỳ cây ra hoa trái rộ Vào mùa mưa cần thoát nước tốt Trong trường hợp tưới rãnh, không nên để nước quá cao trong mương tưới khi cây lớn vì có thể làm hạn chế hoặc hư rễ dưa mọc dài ra mương, tốt nhất là rút cạn nước trong mương sau khi
tưới (Trần Thị Ba và ctv., 2001)
Thu hoạch
Trái từ 7-10 ngày tuổi có thể thu hoạch Nếu để trái già có thể ảnh hưởng tới
sự ra hoa, đậu trái của lứa tiếp theo, làm giảm năng suất Trái nên thu vào buổi sáng
để buổi chiều tưới thúc phân Thời kỳ trái nhiều có thể thu 2-3 ngày một đợt (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1999)
Trang 171.3 Một số côn trùng gây hại chính trên dƣa leo
1.3.1 Sâu xanh hai sọc trắng Diaphania indica Saunders
Vị trí phân loại và ký chủ
Sâu xanh hai sọc trắng có tên khoa học là Diaphania indica (Saunders), Họ
Pyralidae, Bộ Lepidoptera Có phổ ký chủ rất rộng, gồm hầu hết các loại cây cùng
họ bầu, bí, dưa, đặc biệt gây hại trầm trọng cho cây dưa leo, dưa hấu, dưa lê, khổ qua (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Đặc điểm hình thái và sinh học
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) thành trùng có chiều dài thân
từ 10 - 12 mm, sải cánh rộng từ 20 - 25 mm Thành trùng có cánh trước màu trắng bạc với một đường viền màu nâu đậm dọc theo cạnh trước của cánh trước và cạnh ngoài của cánh trước và cánh sau Thời gian sống của thành trùng từ 5 - 7 ngày và một thành trùng cái đẻ từ 150 - 200 trứng
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) trứng màu trắng đục, trước khi trứng nở chuyển thành màu trắng hơi ngả vàng, được đẻ riêng lẻ trên cả 2 mặt
lá, nhất là đọt non hay trái non Thời gian ủ trứng từ 4 - 5 ngày Sâu màu xanh lá cây nhạt, có 2 sọc trắng chạy dọc theo cơ thể rất rõ Đủ lớn ấu trùng dài từ 20 - 25
mm Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển từ 10 - 20 ngày Trong 5 giai đoạn của ấu trùng, chúng đều có 2 sọc trắng hai bên hông lưng chạy dọc cơ thể, sọc trắng này mờ dần trước khi hóa nhộng Trước khi hóa nhộng, ấu trùng tuổi 5 nhả tơ bao quanh cơ thể, cuốn lá lại và nằm trong đó (Smith, 1911 trích dẫn bởi Capinera, 2000)
Nhộng màu nâu nhạt sau vài ngày chuyển thành màu nâu đen Thời gian nhộng từ 6 - 7 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011) Tuy nhiên theo Smith (1991) trích dẫn bởi Capinera (2000) thì thời gian nhộng là 9-10 ngày
Tập quán sinh sống và cách gây hại
Sâu có tập quán cuốn các đọt non lại và ở bên trong ăn phá Khi sâu lớn có thể cắn trụi cả lá và chồi ngọn của đọt non Sâu còn ăn trái non làm cho trái méo mó hay thối và rụng Đặc biệt gây hại nghiêm trọng trên dưa hấu, vì sâu ăn mất đọt làm
Trang 18cho dây dưa leo đâm nhánh nên sẽ mất trái ở dây chính, chỉ còn trái ở nhánh dây phụ (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Trong tự nhiên Diaphania indica có nhiều loài thiên địch tấn công như: ong ký sinh
Apanteles sp., Pristomerus spinator, Casinaria infesta (Cresson), Temelucha sp và Agathis texana (Cresson) (Pena et all., 1987 trích dẫn bởi Capinera, 2000)
1.3.2 Bù lạch Thrips palmi Karny
Vị trí phân loại và ký chủ
Bù lạch có tên khoa học là Thrips palmi Karny, Họ Thripidae, Bộ
Thysanoptera Phân bố rất rộng và có thể tấn công trên nhiều loại cây trồng từ các loại rau đến cây ăn trái Đặc biệt, gần đây chúng phát dịch và gây hại trầm trọng trên dưa hấu và trên dưa leo (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Đặc điểm hình thái và sinh học
Bù lạch có cơ thể rất nhỏ, khoảng 1 mm, màu vàng hơi nâu, hai mắt đen Miệng phát triển cho việc chích hút, chân của bù lạch rất đặc biệt là đốt bàn không
có móng mà tận cùng bằng một mảnh nhỏ, râu màu đen gồm sáu đốt Thành trùng
có thể sống đến 2 tháng và đẻ độ 200 trứng
Trứng bù lạch hình trái thận, do con cái dùng bộ phận đẻ trứng ghim thẳng vào trong thân lá non, trứng nở trong thời gian độ 3 ngày Ấu trùng rất giống thành trùng nhưng màu nhạt hơn, gồm 2 tuổi kéo dài độ 3 - 4 ngày Nhộng phát triển trong
từ 3 - 4 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Trang 19Tập quán sinh sống và cách gây hại
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) bù lạch thường đẻ trứng trong
mô lá Cả ấu trùng và thành trùng bù lạch thường sống ở mặt dưới lá và hay chui vào gần gân để trốn, do đó rất khó nhìn thấy, và thuốc trừ sâu cũng khó tiếp xúc được với chúng Bù lạch thường chích cho nhựa cây chảy ra để hút ăn, đôi khi còn
ăn cả mô lá hoặc cây (Lewis, 1997; Lê Ngọc Hoa, 2003) Lá cây bị bù lạch gây hại
sẽ có dạng quăn queo, lá non biến dạng và bị cong xuống phía dưới Đọt non bị bù lạch tấn công không phát triển dài ra được mà chùn lại và cất cao lên, nên nông dân thường gọi là hiện tượng “đầu lân” hay “bắn máy bay” trên dưa hấu Bù lạch còn truyền bệnh khảm do vi rút làm vàng và xoăn lá, cây không chết nhưng ra hoa mà không cho trái (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Biện pháp phòng trị
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) thì nên đốt tàn dư thực vật, dùng bẫy màu vàng đặt vào rẫy từ khi cây con đến lúc trổ hoa để xác định mật số và quyết định khi nào áp dụng thuốc Nếu được, nên phủ liếp bằng vật liệu có màu bạc
để xua đuổi thành trùng đến đẻ trứng Có thể lợi dụng mật số thiên địch để khống chế mật số bù lạch Bù lạch rất khó trị vì nơi ẩn náu cũng như khả năng quen thuốc rất nhanh Nên khi sử dụng thuốc hóa học để trị thì nên thay đổi thuốc hóa học thường xuyên để tránh bù lạch quen thuốc (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000; Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011) Có thể sử dụng thuốc hóa học dạng dầu khoáng PSO (Petrolium Surface Oil) để phun lên đọt non, nhưng chú ý ảnh hưởng đến sự phát triển của lá (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Trang 201.3.2 Ruồi đục lá Liriomyza trifolii Burgess
Vị trí phân loại và ký chủ
Ruồi đục lá tên khoa học là Liriomyza trifolii (Burgess), Họ Agromyzyidae,
Bộ Diptera Đây là loài côn trùng phá hại trên nhiều loại cây như bầu bí dưa leo, dưa gan, cà chua, ớt, đậu nành, đậu trắng…(Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng rất nhỏ, dài từ 1,3 - 1,5 mm, màu đen bóng, nhưng một phần cơ thể, gồm cả phiến mai trên ngực có màu vàng Mắt kép màu đen bóng Cánh trước
có chiều dài khoảng 1,4 mm, rộng 0,60 mm Cánh sau thoái hóa còn rất nhỏ, màu vàng nhạt Bụng và chân có nhiều lông, chân màu vàng, đốt chày và đốt bàn màu đen, bàn chân 5 đốt, đốt cuối có 2 móng cong màu đen
Trứng rất nhỏ, màu trắng hồng, tròn, đường kính khoảng 0,2 mm Ấu trùng có chiều dài khoảng 2 mm, màu vàng nhạt khi mới nở, sau chuyển thành màu vàng đậm Cơ thể có 10 đốt, miệng dạng móc câu màu đen Thời gian phát triển của ấu trùng từ 3 - 4 ngày Nhộng có chiều dài khoảng 1,5 mm, rộng 0,7 mm Thời gian phát triển của nhộng từ 6 - 8 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Tập quán sinh sống và cách gây hại
Theo Lê Trường Giang (1997) thành trùng hoạt động mạnh từ 7 - 9 giờ sáng
và từ 4 - 5 giờ chiều Thành trùng cái dùng bộ phận đẻ trứng rạch mặt lá tạo nhiều
lỗ Trong số đó có một số lỗ chứa trứng, chỉ khoảng 1%, phần lớn các lỗ còn lại dùng làm thức ăn cho thành trùng cái và đực do chất lỏng tiết ra từ vết chích Các lỗ đục thường xuất hiện ở chóp lá hay dọc theo 2 bìa lá (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Cũng theo Whittaker và Davis, 1962 (trích dẫn bởi Bành Ngọc Nghĩa và Hoàng Ngọc Lâm, 2004) cho rằng thành trùng gây hại bằng cách chọc thủng biểu bì
lá thành những lỗ nhỏ bằng bộ phận đẻ trứng của nó rồi ăn dịch tế bào của nó chảy
ra từ vết đục hoặc đẻ trứng vào ngay các lỗ đục, dưới biểu bì lá
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) ruồi gây hại cho cây bằng cách đục thành những đường ngoằn ngoèo ở mặt trên lá, lúc đầu đường đục nhỏ,
Trang 21càng lúc càng to dần cùng với sự phát triển của cơ thể ấu trùng Đường đục xuất hiện ở cả hai mặt lá nhưng thấy rõ nhất là ở mặt trên lá Khi trưởng thành, dòi đục thủng biểu bì chui ra ngoài và làm nhộng trên mặt lá hay trên các bộ phận khác của cây hoặc buông mình xuống đất làm nhộng
Các vết đục khắp mặt lá làm cho lá bị khô, trái nhỏ, giảm phẩm chất của trái, nếu trầm trọng làm năng suất giảm (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
1.3.4 Rầy phấn trắng Bemisia tabaci Gennadius
Vị trí phân loại và ký chủ
Rầy phấn trắng có tên khoa học là Bemisia tabaci Gennadius, Họ Aleyrodidae,
Bộ Homoptera Rầy phấn trắng là loài có phổ kí chủ rất rộng gây hại trên nhiều loại cây trồng như cây bông vải, dưa bầu bí, rau màu các loại và nhiều loại cây trồng khác
(http://www.ctu.edu.vn/colleges/agri/gtrinh/bvtv/rau%20sach/source/sauHai/rayPhanTrang.htm).
Đặc điểm hình thái và sinh học
Trứng hình bầu dục, đẻ thành từng ổ hoặc đẻ rải rác trong mô lá, có cuốn, dài 0,18 - 0,2 mm, trứng mới đẻ có màu trắng trong sau chuyển sang màu nâu nhạt rồi thành màu nâu xám Một con cái có thể đẻ được 50 - 85 quả trứng Ấu trùng có 3
Trang 22tuổi, màu vàng nhạt, khi mới nở có chân, bò dưới mặt lá rồi cố định một chỗ dưới mặt lá Đến tuổi 2 thì không còn chân, có thể nhìn rõ mắt kép và râu đầu Nhộng giả hình bầu dục, màu trắng, có một số lông thưa hai bên sườn (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
Trưởng thành dài 0,75 - 1,4 mm, sải cánh 1,1 - 2 mm Hai đôi cánh trước và sau dài bằng nhau toàn thân được phủ một lớp phấn trắng Mắt kép có một rãnh ngang chia thành hai phần giống hình số 8 Râu đầu có 6 đốt Bụng có 9 đốt (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
Trong điều kiện nhiệt độ 18 - 190C, ẩm độ 90%, vòng đời rầy phấn trắng là 35
- 54 ngày còn ở 250C thì vòng đời từ 22 - 23 ngày (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
Tập quán sinh sống và cách gây hại
Trưởng thành ban ngày đậu mặt dưới lá, không thích ánh sáng trực xạ Chúng hoạt động vào lúc sáng sớm và chiều mát Rầy phấn trắng xuất hiện quanh năm, khó xác định số thế hệ trong năm Một năm thường có hai đợt phát sinh rộ là đầu tháng
ba và tháng năm Rầy phấn trắng còn là môi giới truyền bệnh virus (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
Biện pháp phòng trị
Vệ sinh đồng ruộng, hủy bỏ các cây nhiễm virus, nhặt bỏ lá già để hạn chế rầy phấn trắng non Sử dụng thuốc hóa học theo nồng độ khuyến cáo Có thể sử dụng các loại thuốc như: Applaud, Baythroid, Trebon, Padan, Pegasus…(Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
Ngoài các sâu hại chính trên đây, cây dưa leo còn có thể bị hại bởi sâu ăn tạp
(Spodoptera litura), bọ dưa (Aulacophora similis Oliver), bọ rùa nâu (Epilachna
vigintioctopunctata Fabricius), Nhện đỏ (Tetranychus sp.), ruồi đục trái (Bactrocera cucurbitae Coquillet), bọ xít nâu lớn (Cyclopelta obscura) và các loài rầy mềm
thuộc giống Aphis, Macrosiphum và Myzus
Trang 231.4 Sơ lƣợc về rầy mềm
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2010) thì rầy mềm thuộc Họ Aphididae, Bộ Homoptera Gồm một nhóm khá lớn các loài côn trùng có kích thước nhỏ, mềm yếu, chích hút phổ biến trên lá, thân, trái, bông non Cơ thể có hình dạng trái lê; có một đôi ống bụng (cornicles) xuất phát từ lưng bụng của đốt bụng thứ 5 hoặc 6, bộ phận này tiết ra dịch tự vệ Râu đầu dài gồm nhiều đốt Thành trùng có 2 dạng: có cánh hoặc không có cánh
Ở một số loài cơ thể được bao phủ bởi những sợi sáp trắng được tiết ra từ các tuyến da Rầy mềm cũng tiết dịch mật (honeydew) Tại vùng nhiệt đới, chu kỳ sinh trưởng của rầy mềm rất ngắn từ 5 - 7 ngày Sinh sản đơn tính và lưỡng tính thường xen kẽ nhau Có loài đẻ trứng, có loài đẻ con, có loài vừa đẻ trứng lại vừa đẻ con (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010)
Một số loài lại truyền bệnh siêu vi khuẩn cho cây trồng như bệnh khảm trên
các cây họ đậu, mía, bầu bí dưa được truyền bởi rầy mềm thuộc các giống Aphis,
Macrosiphum và Myzus (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010)
Theo Napier (2009) có bốn loài rầy mềm gây hại chủ yếu trên dưa bầu bí là
Aphis gossypii Glover, Aphis craccivora Koch, Macrosiphum euphorbiae và Myzus persicae Cả bốn loài trên sinh sản chủ yếu đẻ con, đôi khi đẻ trứng Trong đó Aphis gossypii Glover gây hại chủ yếu trên dưa leo và bông vải
Trang 24Hình 1.2: Phân loại ống bụng của thành trùng không cánh của Macrosiphum
euphorbiae và Myzus persicae (Stoetzel et al., 1996)
Hình 1.1: Dạng mép trán của Aphis gossypii, Aphis craccivora Koch với
Macrosiphum euphorbiae, Myzus persicae (Stoetzel et al., 1996)
Trang 25Hình 1.3: Khóa phân loại thành trùng không cánh Aphis gossypii Glover và Aphis
craccivora Koch (Stoetzel et al., 1996)
Trang 261.5 Một số loài rầy mềm gây hại trên dƣa leo
1.5.1 Rầy mềm Aphis gossypii Glover
Vị trí phân loại, phân bố, ký chủ
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) rầy mềm có tên khoa học là
Aphis gossypii Glover, Họ Aphididae, Bộ Homoptera Phân bố rất rộng và đa ký
chủ, tấn công nhiều loại rau màu như cà chua, thuốc lá, bầu bí dưa, ớt
Rầy mềm Aphis gossypii Glover gây hại hơn 700 loài cây trên thế giới Rầy
mềm gây hại nghiêm trọng cho dưa hấu, dưa leo và nhiều loài cây trồng khác trên
thế giới như: Măng tây, ớt, cây có múi, bông, râm bụt… Aphis gossypii Glover gây
hại nhiều loài cây trồng ở vùng nhiệt đới, ôn đới và khắp thế giới trừ Bắc cực (John,
2009 trích dẫn bởi Vũ Thị Nga và ctv., 2011) Đặc biệt tấn công trên các cây thuộc
họ dưa bầu bí, cây có múi, cà phê, cô ca (Harrington and Emden, 2007)
Đặc điểm hình thái
Thành trùng có 2 dạng Dạng không cánh (wingless): cơ thể dài từ 1,5 - 1,9
mm và rộng từ 0,6 - 0,6 mm Dạng có cánh (wing): cơ thể dài từ 1,2 - 1,8 mm, rộng
từ 0,4 - 0,7 mm (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011) Nhưng theo Vũ Thị
Trang 27và ctv (2011), thành trùng có cánh cơ thể có màu vàng, ngực có màu nâu, thành
trùng không cánh cơ thể màu vàng Ấu trùng mắt kép màu đỏ, cơ thể và ống bụng màu vàng nhạt, càng về sau ống bụng chuyển dần sang màu đen Trưởng thành có ống bụng màu đen
Đặc điểm quan trọng để phân biệt Aphis gossypii Glover với các loài rầy mềm
khác là dựa vào ống bụng và phiến đuôi (cauda) Với ống bụng màu đen dài gấp đôi phiến đuôi và phiến đuôi có màu nhạt hơn cơ thể với 2 - 4 cặp lông đuôi (thường là
3 cặp lông đuôi) (Napier, 2009; Stoetzel et al., 1996)
Đặc điểm sinh học
Trong điều kiện nhiệt đới loại hình sinh sản đơn tính và đẻ con (Parthenogenesis) là loại hình sinh sản chủ yếu Vòng đời rầy mềm chỉ 5 ngày trong điều kiện nhiệt độ 26-280C và có thể có 50 thế hệ trong năm Vào mùa đông ở Đông
Á loại hình sinh sản đẻ trứng xuất hiện, trứng được đẻ trên các cây không phải ký
chủ bao gồm Frangula spp (Harrington and Emden, 2007)
Rầy mềm sinh sản đơn tính và đẻ con Ấu trùng của rầy mềm có 4 tuổi Tuổi 1 trung bình là 1,07 - 1,14 ngày Tuổi 2 có thời gian phát dục ngắn nhất, trung bình là 1,03 – 1,09 ngày Tuổi 3 trung bình là 1,25 - 1,31 ngày Tuổi 4 có thời gian phát dục dài nhất, trung bình là 1,36 - 1,40 ngày Vòng đời rầy mềm nuôi ở nhiệt độ 20 -
290C, ẩm độ 79 - 84% là 5 - 7,5 ngày (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003) Nhưng theo
Vũ Thị Nga và ctv (2011) vòng đời rầy mềm là 5,13 - 5,37 ngày Thời gian từ khi
lột xác thành thành trùng đến khi bắt đầu đẻ là 0,42 - 0,46 ngày Mặc dù thời gian hoàn thành vòng đời ngắn nhưng thành trùng sống khá lâu từ 7,6 - 8,8 ngày với phạm vi biến động từ 5 - 19 ngày Tỷ lệ hoàn thành vòng đời của rầy mềm khoảng
60 - 70% (Vũ Thị Nga và ctv., 2011)
Khi khảo sát rầy mềm trên cây bằng lăng nước trong điều kiện nhà lưới ở nhiệt
độ 320C - 330C, ẩm độ 73% - 80%, trưởng thành rầy mềm đẻ khoảng 37 - 47 rầy
con Trung bình trong một ngày đẻ được 3,62 - 3,83 rầy con (Vũ Thị Nga và ctv.,
2011) Trong điều kiện nhiệt độ 25 - 300C Aphis gossypii Glover sinh trưởng và
phát triển trên dưa leo tốt hơn trên cây bông vải (Takalloozadeh, 2010)
Trang 28Đặc điểm gây hại
Ấu trùng và thành trùng tập trung mặt dưới lá, nhất là đọt non, bông, chồi hút nhựa làm cho các phần ấy bị khô héo hoặc để lại những vết thâm đen trên lá Trên cây dưa, rầy mềm gây hại trầm trọng nếu tấn công các dây chèo hay đỉnh sinh trưởng Rầy mềm thường tập trung với số lượng lớn ở đọt non làm lá bị quăn queo
và phân tiết ra thu hút nhiều nấm đen bao quanh làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trái (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011) Ngoài ra chất bài tiết này còn
thu hút kiến đến cộng sinh (Vũ Thị Nga và ctv., 2011)
Mưa to, ẩm độ cao sẽ làm giảm mật độ và hạn chế sự phát sinh của rầy mềm Khi mật số cao hoặc thức ăn không còn phù hợp, rầy mềm hình thành loại hình có cánh để di chuyển sang cây khác và tiếp tục gây hại (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003) Ngoài ra rầy còn là tác nhân truyền bệnh virus cho cây Sau cùng làm cây bị mất sức, lùn và chết (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011) Rầy không có khả năng truyền bệnh khảm qua các thế hệ sau, không có thời gian ủ virus trong cơ thể
và virus chỉ tồn tại trong cơ thể nó dưới 4 giờ sau mỗi lần chích hút, nhưng rầy mềm
có khả năng hấp thụ virus sau khi chích hút cây bệnh dưới 1 phút và chỉ cần chích hút cây mạnh dưới 1 phút là có thể truyền bệnh (Nguyễn Thị Nghiêm, 1996 trích
dẫn bởi Lê Minh Tường, 2002) Theo Takalloozadeh (2010) Aphis gossypii Glover
là vector truyền trên 76 loài virus trên nhiều loại cây trồng Các bệnh được truyền chủ yếu là Cucumber mosaic, Bean common mosaic, Bean yellow mosaic, Cabbage black ring spot và Citrus tristeza
Biện pháp phòng trị
Nhặt và chôn vùi các phần có rầy mềm gây hại, phủ rơm lên líp từ khi có cây con đến khi trổ hoa, không nên bón nhiều đạm Rầy mềm nhân mật số rất nhanh nên thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để phát hiện kịp thời và phòng trị đúng lúc thì cũng tương đối dễ trị Vì rầy mềm truyền bệnh virus nên thuốc trừ sâu chỉ có thể diệt được rầy mà không hạn chế bệnh, nhưng nếu áp dụng thuốc sớm, diệt được số lượng lớn rầy ở giai đoạn đầu thì khả năng truyền virus của rầy không nhiều Sử dụng thuốc trừ sâu nên để ý đến quần thể thiên địch của rầy mềm (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Trang 29Không trồng xen hoặc luân canh với cây ký chủ như: đậu bắp, bầu bí, bông vải, dưa leo…(Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
Có thể sử dụng thuốc Đầu trâu Bihopper, Prynex, Supracide, Vertimec, Polytrin (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007)
Theo Murphy et al (2006) trong tự nhiên có rất nhiều loài thiên địch có khả năng khống chế mật số của Aphis gossypii Glover như: ong ký sinh Aphidius spp.,
Aphelinus abdominalis; thiên địch ăn thịt Aphidoletes aphidimyza, Hippodamia convergens, Harmonia axyridis
1.5.2 Rầy mềm Aphis craccivora Koch (Aphis medicaginis Koch)
Vị trí phân loại, phân bố, ký chủ
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) rầy mềm có tên khoa học là
Aphis craccivora Koch còn có tên là Aphis medicaginis Koch, Họ Aphididae, Bộ
Homoptera
Rầy mềm phân bố rộng rãi khắp nơi trên cả nước trên nhiều cây trồng, đặc biệt trên các cây họ đậu như đậu đũa, điền thanh, đậu ván, đậu xanh, đậu phộng… (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011; Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
Đặc điểm hình thái
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) thành trùng có 2 loại hình: có cánh và không cánh Loại có cánh dài từ 1,5 - 1,8 mm, rộng 0,8 - 0,9 mm Râu đầu dài khoảng 1,23 mm Loại hình không cánh dài từ 1,7 - 2,1 mm, rộng từ 0,8 - 1,3
mm Râu đầu dài khoảng 1,07 mm
Dạng có cánh cơ thể màu xanh đen hoặc vàng Chân, râu màu vàng nâu nhạt, cuối các đốt có màu sậm hơn Ống bụng màu đen sậm, dài khoảng 0,23 mm Dạng không cánh mới vũ hóa thành trùng màu xám nhạt, vài giờ sau trở nên đen bóng hoặc tím đen Ống bụng màu đen, không có rìa mép, dài khoảng 0,5 mm (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011) Ấu trùng màu nâu tối, sống quần tụ ở phần non như búp lá, hoa, trái Thành trùng nhìn từ trên xuống trán bằng phẳng Râu đầu có 6 đốt, phần gốc râu đầu có màu tối đậm hơn phần ngọn (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
Trang 30Đặc điểm sinh học
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) rầy mềm có thể đẻ con hoặc
đẻ trứng tùy điều kiện thời tiết Vùng ôn đới rầy thường đẻ trứng vào cuối mùa thu
để trứng ngủ đông Trứng hình bầu dục, mới đẻ màu vàng nhạt, sau chuyển sang xanh đậm rồi đen dần Nhưng trong điều kiện nhiệt đới rầy chủ yếu đẻ con Ấu trùng có 4 tuổi, thời gian mỗi tuổi kéo dài khoảng 1 - 2 ngày, riêng tuổi 4 kéo dài 2 -
3 ngày
Khi nuôi trong điều kiện nhiệt độ 16 - 300C và ẩm độ 60 - 80%, vòng đời của rầy mềm rất ngắn, dao động trong khoảng 4,3 - 11,1 ngày Thành trùng có thể sống được khoảng 5,2 - 12,9 ngày (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
Dạng có cánh có khả năng sinh sản rất kém, trung bình khoảng 4 con Dạng không cánh đẻ từ 50 - 60 ấu trùng và đẻ cao điểm vào ngày thứ hai sau khi vũ hóa (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Đặc điểm gây hại
Rầy mềm thường tập trung trên phần non nhất của cây, nhất là trái non, trên đọt non chúng chích hút chất auxin làm chậm sự tăng trưởng của cây Trên mỗi loại cây trồng rầy mềm có cách gây hại khác nhau như: trên đậu xanh làm vỏ trái có những vết thâm đen, trên đậu phộng và đậu đũa tiết dịch mật thu hút nấm đen, nấm mốc và thu hút kiến đến sống cộng sinh Rầy còn là môi giới truyền một số bệnh khảm cho cây đậu (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Rầy mềm sinh trưởng và phát triên thuận lợi ở 25 - 280C Mưa lớn làm giảm mật độ rầy mềm (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
Biện pháp phòng trị
Biện pháp canh tác: trồng xen canh, luân canh với lúa, không trồng cùng với các cây họ đậu khác (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
Biện pháp sinh học: trên ruộng có rất nhiều thiên địch của rầy mềm như ruồi
ăn rầy và bọ rùa (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011; Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003) Do đó cần phải thận trọng trong việc phòng trị rầy mềm, cần phải ước lượng thành phần và số lượng thiên địch để quyết định việc phun thuốc để không ảnh hưởng đến thiên địch (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Trang 31Rầy mềm Aphis craccivora Koch bị nhiều thiên địch tấn công trong tự nhiên như: ruồi bắt mồi Syrphus ribesii Linne, Clythia sp., Paragus quadrifasciatus Meign, Ischiodon scutellaris Fabricius (Hà Quang Hùng và Nguyễn Thị Hồng, 2005); Ophionea indica (Thunb), Paederus fuscipes Citrus, Harmonia axyridis (Pal.), Harmonia octomaculata (Fabr), Micraspis vincta (Gorh) (Phạm Văn Lầm,
2005)
Biện pháp hóa học: nếu mật số rầy mềm cao cần phải sử dụng thuốc thì có thể
sử dụng các loại thuốc như Baythroid 50EC, Confidor 100SL có hiệu quả cao với rầy mềm (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
1.5.3 Rầy mềm Myzus persicae Sulzer
Vị trí phân loại, phân bố, ký chủ
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) rầy mềm có tên khoa học là
Myzus persicae Sulzer, Họ Aphididae, Bộ Homoptera Phân bố ở nhiều vùng trên
thế giới như châu Âu, châu Phi, châu Đại Dương, châu Mỹ, châu Á Gây hại trên nhiều loài cây trồng khác nhau như khoai tây, mè, mận, cà độc dược, cải trắng, cải
củ, cải xà lách, thuốc lá …(Phan Thị Thanh Thủy, 1985)
Đặc điểm hình thái
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) thành trùng có hai loại hình: loại có cánh và loại không cánh Loại có cánh cơ thể dài từ 1,6 - 2 mm Loại không cánh dài 1,3 - 1,9 mm Mảnh lồi bên trán phát triển, cơ thể được phủ một lớp sáp Ống bụng có màu nhạt, dài gấp 6 - 8 lần chiều rộng, phần ngọn sậm màu lại và sưng
lên Phiến đuôi gồm 3 cặp lông cứng, có màu từ nhạt đến nâu sậm (Sloetzel et al.,
1996)
Loại hình không cánh cơ thể có hình dạng trứng, màu xanh, đỏ hoặc vàng nhạt Vòi hút chích màu đen, kéo dài tới đốt chậu chân sau Râu đầu 6 đốt, màu đen Ống bụng màu đen trên lưng, khoảng giữa 2 ống bụng có một mảnh màu đen hơi nổi to (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011) Đốt râu thứ 3 không có lỗ cảm giác Phiến đuôi màu đen hình ống, trên ống bụng và phiến đuôi có những vân nhỏ xếp thành lớp như dạng viên ngói (Phan Thị Thanh Thủy, 1985)
Trang 32Loại hình có cánh đầu và ngực màu nâu đen, bụng màu vàng hoặc xanh, đôi khi đỏ; giữa mặt lưng của bụng có một đốm to màu nâu đen Râu đầu 6 đốt màu đen Vòi chích kéo dài đến đốt chậu chân giữa Ống bụng màu đen (Nguyễn Văn
Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011; Stoetzel và ctv., 1996) Đốt râu thứ 3 có 7 - 12 lỗ cảm
giác, có lẽ lỗ cảm giác hình bán nguyệt nên nhìn đốt râu thứ 3 có dạng răng cưa Đốt râu thứ 4 không có lỗ cảm giác, đốt thứ 5 có 1 lỗ cảm giác (Phan Thị Thanh Thủy, 1985)
Ấu trùng trùng lớn đủ sức dài từ 1 - 2 mm, thân màu trắng hoặc vàng nhạt, ngực tương đối lớn, đầu màu nâu Mảnh lưng ngực trước và chân ngực màu đen (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Đặc điểm sinh học
Ấu trùng rầy có 4 tuổi và thời từng tuổi kéo dài từ 1 - 3 ngày Thành trùng có thể sống 7 - 22 ngày tùy nhiệt độ, độ ẩm không khí và thức ăn Vòng đời từ 6 - 13 ngày, ở nhiệt độ trung bình 19 - 200C thì vòng đời rầy khoảng 8 ngày Rầy trưởng thành không cánh cá thể đẻ từ 20 - 60 con trong 7 - 23 ngày Một năm rầy có thể có
25 lứa (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
Đặc điểm gây hại
Rầy gây hại chủ yếu ở mặt dưới lá và khi mật số cao có thể tấn công lên ngọn cây Có khả năng tiết ra dich mật (honeydew) thu hút kiến và nấm (Napier, 2009) Trên cây thuốc lá rầy phát triển mạnh vào giai đoạn cây ra nụ Các tác nhân ảnh hưởng chính đến mật số rầy là bọ rùa 6 chấm và dòi ăn rầy, độ ẩm trên 85% hoặc mưa lớn cũng ảnh hưởng đến mật số rầy (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
Rầy có khả năng truyền hơn 100 loài virus gây hại cây trồng, bao gồm cả
cotton curliness virus (Kennedy et al., 1962)
Biện pháp phòng trị
Vệ sinh đồng ruộng, loại bỏ cây ký chủ trước khi trồng Không trồng xen rau thập tự với thuốc lá Xử lý cây con trước khi trồng bằng Polytrin440 EC, Padan 95SP có hiệu quả trừ rầy cao (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003) Theo Phạm Văn Lầm
(2005), Myzus persicae Sulzer có các loài thiên địch trong tự nhiên như: Paederus
fiscipes Citrus, Coccinella transversalis (Fabr), Hamonia axyridis (Pal.), Harmonia
Trang 33octomaculata (Fabr.), Micraspis vincta (Gorh.), Propylaea japonica (Thunb), Menochilus sexmaculatus (Fabr.)
Trang 34CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh học của rầy mềm Aphis gossypii
Glover được thực hiện tại phòng thí nghiệm, Bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường Đại Học Cần Thơ
2.1.2 Vật liệu và dụng cụ thí nghiệm
a) Vật liệu thí nghiệm
Nguồn rầy: rầy mềm Aphis gossypii Glover thu trên ruộng dưa leo
Thức ăn: lá dưa leo trồng trong nhà lưới
Kẹp, bút lông, cọ, bông gòn, kéo, sổ ghi chép, viết,…
Kính nhìn nổi độ phóng đại 40, kính lúp cầm tay
Máy ảnh kỹ thuật số, máy vi tính
Ẩm độ kế, nhiệt độ kế
Phân urê, DAP