1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát mật số QUẦN THỂ SÙNG KHOAI LANG và ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ của PHEROMONE GIỚI TÍNH đối với SÙNG KHOAI LANG TRONG mùa NGHỊCH tại HUYỆN BÌNH tân, TỈNH VĨNH LONG

51 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ BẢO VỆ THỰC VẬT KHẢO SÁT MẬT SỐ QUẦN THỂ SÙNG KHOAI LANG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ CỦA PHEROMONE GIỚI TÍNH ĐỐI VỚI SÙNG KHOAI LANG Cylas formicarius Fa

Trang 1

LANG (Cylas formicarius Fabricius) TRONG MÙA

NGHỊCH TẠI HUYỆN BÌNH TÂN,

Cần Thơ 5- 2011

Trang 2

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ BẢO VỆ THỰC VẬT

KHẢO SÁT MẬT SỐ QUẦN THỂ SÙNG KHOAI LANG

VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ CỦA

PHEROMONE GIỚI TÍNH ĐỐI VỚI SÙNG KHOAI

LANG (Cylas formicarius Fabricius) TRONG MÙA NGHỊCH

TẠI HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : SINH VIÊN THỰC HIỆN: Ths Phạm Kim Sơn Huỳnh Thành Tài

Ks Châu Nguyễn Quốc Khánh MSSV: 3073333

Lớp: BVTV K33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Cần Thơ 5 - 2011

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

GIỚI TÍNH ĐỐI VỚI SÙNG KHOAI LANG (Cylas formicarius

Fabricius) TRONG MÙA NGHỊCH TẠI HUYỆN BÌNH TÂN,

TỈNH VĨNH LONG”

Do sinh viên Huỳnh Thành Tài thực hiện và đề nạp

Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày…… tháng……năm 2011 Cán bộ hướng dẫn

Ths Phạm Kim Sơn

Trang 4

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

  

Hội đồng chấm Luận Văn Tốt Nghiệp đã chấp thuận Luận Văn Tốt Nghiệp đính kèm với tên đề tài:

“KHẢO SÁT MẬT SỐ QUẦN THỂ SÙNG KHOAI LANG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ CỦA PHEROMONE

GIỚI TÍNH ĐỐI VỚI SÙNG KHOAI LANG (Cylas formicarius

Fabricius) TRONG MÙA NGHỊCH TẠI HUYỆN BÌNH TÂN,

TỈNH VĨNH LONG”

Do sinh viên Huỳnh Thành Tài thực hiện và bảo vệ trước hội đồng

ngày tháng năm 2011

Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức

Ý kiến hội đồng: ………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày…… tháng……năm 2011

DUYỆT KHOA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

CHỦ NHIỆM KHOA NN & SHƯD

Trang 5

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

 

1 Tóm Tắt Sơ Lược:

- Họ và tên sinh viên: Huỳnh Thành Tài

- Ngày tháng năm sinh: 10/02/1989

- Quê quán: Tân Qui A - Tân Hưng - Long Phú - Sóc Trăng

- Họ và tên cha: Huỳnh Nê

- Họ và tên mẹ: Dương Thị Sêm

2 Quá Trình Học Tập:

- Từ năm 1995 – 2000 là học sinh Trường Tiểu Học Tân Hưng

- Từ năm 2000 – 2004 là học sinh Trường Trung Học Cơ Sở Tân Hưng

- Từ năm 2004 – 2007 là học sinh Trường Trung Học Phổ Thông Lương Định Của

Đã vào Trường Đại học Cần Thơ năm 2007, ngành Bảo Vệ Thực Vật, Khóa

33, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng

Tốt nghiệp kỹ sư Nông Nghiệp chuyên ngành Bảo Vệ Thực Vật năm 2011

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

HUỲNH THÀNH TÀI

Trang 7

LỜI CẢM TẠ

Kính dâng Cha Mẹ!

Cha Mẹ đã nuôi dạy con nên người và luôn là chỗ dựa vững chắc nhất của

đời con Sự yêu thương và lo lắng của Cha Mẹ và các anh chị luôn là động lực lớn nhất giúp con vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống Con mãi ghi ơn!

Thành kính biết ơn!

Thầy hướng dẫn Ths Phạm Kim Sơn và Ks Châu Nguyễn Quốc Khánh đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy, gợi ý và cho em những lời khuyên hết sức bổ ích để em hoàn thành luận văn

Đặc biệt biết ơn!

Cô cố vấn học tập Nguyễn Thị Thu Nga, thầy Lăng Cẩm Phú và quý thầy cô, các anh chị trong bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp & SHƯD, Trường Đại học Cần Thơ đã hết lòng giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báo cho em trong suốt thời gian học tại trường

Chân thành cảm ơn!

Các bạn Hoàng Dung, Văn Sol, Trọng Tâm, Nhựt Thẩm, Kim Thư, Ngọc Trúc, Ngọc Liễu, Trung Tín, cùng tập thể lớp Bảo Vệ Thực Vật K33; các em lớp BVTV K34 Xin cảm ơn tất cả các bạn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong các thí nghiệm ở phòng và ngoài đồng trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp

Trân trọng!

HUỲNH THÀNH TÀI

Trang 8

DANH SÁCH BẢNG

2.1

Các nghiệm thức trong thí nghiệm đánh giá hiệu quả của

pheromone giới tính trong việc phòng trị sùng khoai lang ở tỉnh

2.2 Cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của nông dân trên ruộng đối

3.1

Tỉ lệ gây hại của sùng đối với giống khoai Tím Nhật ở các thời điểm

khoai được 2,5; 3,5; 4,5 và 5 tháng ở huyện Bình Tân – Vĩnh Long 25

3.2

Thành phần côn trùng và nhện gây hại trên các ruộng khoai thí

nghiệm ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long 27

3.3 Thành phần thiên địch trên các ruộng khoai thí nghiệm tại huyện

3.3

Tỉ lệ gây hại của sùng đối với giống khoai Tím Nhật ở các thời

điểm khoai được 2,5; 3,5; 4,5 và 5 tháng ở xã Thành Đông, huyện

Bình Tân – Vĩnh Long

27

Trang 9

Hình 1.2 Nhộng của sùng khoai lang Cylas formicarius (Đỗ Hoàn Tuấn, 2010) 4

Hình 1.3 Thành trùng của sùng khoai lang Cylas formicarius (Đặng Hoàng

Xuân, 2009)

5

Hình 1.4 Sâu ăn tạp (Spodopetera litura Fabricius) và thành trùng rầy phấn

trắng (Aleurodicus dispersus Russell)

8

Hình 1.5 Thành trùng sâu vẽ bùa (Bedellia somnulentella) 10

Hình 1.6 Thành trùng kiến ba khoang đuôi nhọn (Paederus fuscipes) và nhện

lùn (Atypena formosana)

11

Hình 2.2 Các điểm lấy chỉ tiêu củ trên ruộng khoai thí nghiệm 19

Hình 2.3 Các điểm lấy chỉ tiêu côn trùng gây hại và thiên địch trên ruộng khoai

thí nghiệm

19

Trang 10

Hình 2.4 Lấy chỉ tiêu gây hại của sùng khoai lang trên củ khoai lang 20

Hình 3.1

Biểu đồ biểu diễn sự biến động mật số quần thể sùng khoai lang

(Cylas formicarius Fab.) xung quanh khu vực nhà lưới bộ môn Bảo

Vệ Thực Vật, khoa Nông Nghiệp và SHƯD, trường Đại Học Cần Thơ

21

Hình 3.3 Biểu đồ biểu diễn sự biến động mật số quần thể sùng khoai lang

(Cylas formicarius Fab.) tại khu vực xã Đông Bình, huyện Bình Minh,

tỉnh Vĩnh Long

24

Hình 3.4 Biểu đồ biểu diễn sự biến động mật số quần thể sùng khoai lang

(Cylas formicarius Fab.) tại khu vực huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

25

Hình 3.5 Diễn biến mật số sùng khoai lang trên hai ruộng thí nghiệm tại huyện

Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

27

Trang 11

HUỲNH THÀNH TÀI, 2011 “Khảo sát diễn biến mật số quần thể của sùng khoai lang và đánh giá hiệu quả của Pheromone giới tính đối với sùng khoai

lang (Cylas formicarius Fabricius) trong mùa nghịch tại huyện Bình Tân, tỉnh

Vĩnh Long.” Luận văn tốt nghiệp ĐH, ngành Bảo Vệ Thực Vật, Khoa NN và

SHƯD, Trường ĐH Cần Thơ, trang……

Cán bộ hướng dẫn: Ths Phạm Kim Sơn và Ks Châu Nguyễn Quốc Khánh.

T Ó M LƯ Ợ C

Đề tài “Khảo sát diễn biến mật số quần thể của sùng khoai lang và đánh giá

hiệu quả của Pheromone giới tính đối với sùng khoai lang (Cylas formicarius

Fabricius) trong mùa nghịch tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.” được thực

hiện tại nhà lưới Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và SHƯD, Trường Đại học Cần Thơ, các ruộng khoai thuộc huyện Bình Minh và huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long từ tháng 03/2010 đến tháng 01/2011 đã đạt được những kết quả sau:

- Đối với thí nghiệm khảo sát mật số sùng khoai, bằng cách đặt 3 bẫy pheromone tại mỗi điểm khảo sát, cho thấy mật số sùng khoai lang tăng cao khi điều kiện thời tiết khô hạn nắng nóng ít mưa và khi nguồn thức ăn giảm xuống, khi nông dân thay đổi cơ cấu cây trồng không trồng khoai mà chuyển sang trồng các loại cây trồng khác đặt biệt là cây lúa thì mật số sùng khoai lang giảm xuống rất nhanh Mật số sùng khoai lang xuất hiện cao nhất là ở vùng thâm canh lâu năm xã Thành Lợi, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

- Đối với thí nghiệm phòng trị sùng khoai lang bằng bẫy pheromone tại xã Thành Đông và xã Thành Lợi, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long Trên giống khoai tím nhật, việc sử dụng 12 bẫy pheromone/1.000 m2 cho hiệu quả phòng trị sùng khoai lang tương đương với nghiệm thức đối chứng sử dụng thuốc hóa học theo cách của nông dân, còn ở nghiệm 6 bẫy pheromone/1.000 m2 thì cho hiệu quả kém hơn Ngoài ra, ta còn nhận thấy sùng khoai lang vào bẫy ở tất cả các thời điểm trong suốt vụ khoai và mật số sùng tăng lên cao nhất vào thời điểm cuối vụ khoai và mật

số ở nghiệm thức 6 bẫy pheromone/1.000 m2 luôn cao hơn nghiệm thức 12 bẫy pheromone/1.000 m2 Bên cạnh đó, thành phần côn trùng gây hại lẫn thiên địch hiện diện trên ruộng xử lý đặt bẫy pheromone đều cao hơn so với ruộng đối chứng (xử lý theo cách nông dân phun thuốc 20 lần trong suốt vụ khoai) và nghiệm thức 12 bẫy pheromone/1.000 m2 thì sự xuất hiện côn trùng là cao nhất

Trang 12

MỤC LỤC

LÝ LỊCH CÁ NHÂN iii

LỜI CAM ĐOAN iv

LỜI CẢM TẠ v

DANH SÁCH BẢNG vi

DANH SÁCH HÌNH vii

TÓM LƯỢC ix

MỤC LỤC x

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

1.1 SÙNG KHOAI LANG (Cylas formicarius Fabricius) 3

1.1.1 Phân loại và ký chủ 3

1.1.2 Phân bố 3

1.1.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của sùng khoai lang 3

a Trứng 3

b Ấu trùng 4

c Nhộng 4

d Thành trùng 5

1.1.4 Tập quán sinh sống 5

1.1.5 Cách gây hại 6

1.1.6 Biện pháp phòng trị 6

1.2 MỘT SỐ CÔN TRÙNG GÂY QUAN HẠI TRỌNG KHÁC TRÊN KHOAI LANG 7

1.2 Rầy phấn trắng 7

1.2.1 Sâu ăn tạp 8

a Đặc điểm hình thái 8

b Tập tính sinh sống và cách gây hại 9

1.2.12 Cách phòng trị 9

1.2.2 Sâu đục dây khoai lang 9

a Hình thái 9

b Triệu trứng gây hại 9

1.2.3 Sâu vẽ bùa 10

a Đặc điểm 10

b Tập quán sinh sống và cách gây hại 10

1.3 MỘT SỐ THIÊN ĐỊCH QUAN TRỌNG TRÊN CÂY KHOAI LANG 10

1.3.1 Nhện lùn 10

1.3.2 Kiến ba khoang đuôi nhọn 11

1.3.3 Nhện chân dài 11

1.4 PHEROMONE 11

1.4.1 Khái niệm pheromone 11

1.4.2 Pheromone giới tính 12

1.4.3 Pheromone giới tính của sùng khoai lang (Cylas formicarius Fab.) 12

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN – PHƯƠNG PHÁP 14

2.1 PHƯƠNG TIỆN 14

Trang 13

2.1.1 Thời gian và địa điểm 14

2.1.2 Hóa chất 14

2.1.3 Mồi pheromone 14

2.1.4 Bẫy pheromone 14

2.2 PHƯƠNG PHÁP 15

2.2.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát diễn biến mật số quần thể sùng khoai lang (Cylas formicarius Fab.) 15

a Mục đích 15

b Thời gian 15

c Địa điểm 15

d Cách tiến hành 16

e Cách lấy chỉ tiêu 16

f Xử lý số liệu 16

2.2.2 Thí nghiệm 2: Hiệu quả phòng trị của pheromone giới tính tổng hợp đối với sùng khoai lang (Cylas formicarius Fab.) ở điều kiện ngoài đồng tại tỉnh Vĩnh Long 16

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 20

3.1 Khảo sát diễn biến mật số quần thể sùng khoai lang (Cylas formicarius Fab.) 20 3.1.1 Khảo sát diễn biến mật số quần thể sùng khoai lang (Cylas formicarius Fab.) tại thành phố Cần Thơ 20

3.1.2 Khảo sát diễn biến mật số quần thể sùng khoai lang (Cylas formicarius Fab.) tại tỉnh Vĩnh Long 22

3.2 Hiệu quả phòng trị của pheromone giới tính tổng hợp trên sùng khoai lang (Cylas formicarius Fab.) tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long 26

3.2.1 Diễn biến mật số sùng khoai lang trên ruộng khoai thí nghiệm 26

3.2.2 Khảo sát trên các ruộng khoai thí nghiệm sự hiện diện của các loài sâu hại và thành phần thiên địch 27

a Thành phần côn trùng và nhện gây hại 27

b Thành phần thiên địch 30

3.2.2 Tỉ lệ gây hại của sùng khoai lang trên củ 31

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN – ĐỀ NGHỊ 34

4.1 Kết luận 34

4.2 Đề nghị 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35 PHỤ CHƯƠNG

Trang 14

MỞ ĐẦU

Khoai lang là cây lương thực thực phẩm cung cấp nhiều tinh bột, chứa nhiều chất

sơ tiêu hóa, vitamin Khoai lang có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon và bổ dưỡng, ngoài ra khoai lang được sử dụng làm thuốc, là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến như thực phẩm, sản xuất tinh bột, cồn công nghiệp Khoai lang là cây hằng niên

dễ trồng cho năng suất cao, cho nhiều lợi nhuận nên đã thuyết phục được nông dân chuyển đổi từ lối canh tác truyền thống là trồng lúa sang trồng khoai lang, vì thế diện tích trồng khoai lang ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) không ngừng tăng lên từ 12.700 ha năm 2008 lên 13.700 ha năm 2009 (Tổng cục thống kê) Riêng huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long khoai lang là cây trồng hiệu quả nhất trong các loại cây hoa màu

và phá thế độc canh của cây lúa, với diện tích xuống giống 5.000 ha (năm 2010) thu về hơn 1.000 tỉ đồng chiếm 2/3 giá trị sản xuất của huyện ( http://www.sggp.org.vn ) Hiện nay do nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong nước và xuất khẩu đã tạo sức ép cho việc thăm canh tăng vụ, hậu quả chung là dịch gây hại ngày càng gia tăng đặc biệt trong mùa nghịch, phát sinh nhiều nòi kháng thuốc gây nguy hại cho sản xuất, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm, môi trường ngày càng bị phá hoại Đối tượng gây hại quan trọng nhất của khoai lang chính là sùng khoai lang (còn gọi là bọ hà), chúng gây hại tất cả các bộ phận của cây chủ yếu là phần ruột trong của

củ làm giảm năng suất và phẩm chất Việc phòng trị sùng khoai lang gặp rất nhiều khó khăn vì sùng khoai lang với đặc điểm thành trùng thường sống trong đất hay dưới mặt

lá còn ấu trùng thì sống bên trong củ, phải tốn nhiều chi phí cho việc phun thuốc hóa học với liều lượng cao và liên tục để ngừa và trị sùng khoai lang dẫn đến lợi nhuận kinh tế giảm đi rất nhiều, hiệu quả chưa cao và môi trường ngày càng bị ô nhiễm Chính vì vậy, việc sử dụng pheromone để thay thế thuốc trừ sâu hóa học là một hướng

đi mới, biện pháp sinh học lý tưởng để quản lý sùng khoai lang đạt hiệu quả cao, thân thiện với môi trường và ít tốn chi phí là rất cần thiết

Pheromone giới tính là hóa chất tín hiệu được tiết ra môi trường ngoài để hấp dẫn

sự bắt cặp của những cá thể khác giới trong cùng một loài, có thể do thành trùng đực hay thành trùng cái tiết ra, thông thường do thành trùng cái (Lê Văn Vàng, 2009) Nó

có tính chuyên biệt với nồng độ thấp nên không ảnh hưởng tới môi trường sinh thái (Bùi Công hiển, 2002) Pheromone giới tính của sùng khoai lang đã được xác định chỉ

gồm một thành phần duy nhất là (Z)-3-Dodecenyl-(E)-2-Butenoate (Heath và ctv.,

Trang 15

1986) và đã được các nước như Đài Loan, Nhật Bản, Ấn Độ áp dụng rất thành công để quản lý sùng khoai lang

Đề tài “Khảo sát diễn biến mật số quần thể của sùng khoai lang và đánh giá

hiệu quả của Pheromone giới tính đối với sùng khoai lang (Cylas formicarius

Fabricius) trong mùa nghịch tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.” được thực hiện

nhằm tìm ra biện pháp quản lý sùng khoai lang tốt nhất mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, hướng đến một nền nông nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường

Trang 16

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 SÙNG KHOAI LANG (Cylas formicarius Fabricius)

1.1.1 Phân loại và ký chủ

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), sùng hại khoai lang có tên

khoa học là Cylas formicarius Fabricius (bọ hà hay mọt khoai lang) thuộc:

- Lớp (Class): Insecta

- Bộ (Order): Coleoptera

- Họ (Family): Curculionidae

- Giống (Genus): Cylas

- Loài (Species): formicarius

Ngoài khoai lang, sùng còn phá hại trên một số loại cây thuộc họ Bìm Bìm như

rau muống, một số loài hoa dại (Nguyễn Đức Khiêm, 2006), cỏ Ipomoea spp (Mai

Thạch Hoành, 2001)

1.1.2 Phân bố

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), sùng khoai lang có phân bố rất rộng, đã được phát hiện tại nhiều nước Đông Nam Á và một số thuộc châu Phi, châu

Mỹ và châu Âu Ngoài ra, có hai loài sùng gây hại khoai lang là Cylas puncticollis và

Cylas brunneus chỉ gây hại ở châu Phi (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004;

Nguyễn Đức Khiêm, 2006)

Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006), ở Việt Nam sùng khoai lang chỉ có một loài

đó là Cylas formicarius Chúng xuất hiện và gây hại ở tất cả các vùng trồng khoai lang

trên cả nước Đặc biệt gây hại nặng ở những vùng thường bị khô hạn, đất nức nẻ (Hà Quang Hùng, 2005)

1.1.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của sùng khoai lang

a Trứng

Trứng nhỏ, bóng, có hình bầu dục dài từ 0,5 - 0,7 mm, trứng lúc mới đẻ có màu trắng sữa, sau đó chuyển sang màu vàng, thời gian ủ trứng từ 5 - 10 ngày (Nguyễn Văn

Trang 17

Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004) Theo Nguyễn Danh Vàn (2008), sùng khoai lang đẻ trứng rải rác trong các hốc (do chúng đục) ở gần gốc của dây khoai, hoặc lần theo kẽ

nứt của đất chui xuống đẻ trứng trên củ

b Ấu trùng

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), ấu trùng không có chân, hình ống dài, hai đầu thon nhỏ, màu trắng sữa, đầu màu nâu nhạt, bụng chia đốt rất rõ ràng Chiều dài cơ thể khoảng 5 - 8,5 mm, ấu trùng có 5 tuổi, phát triển từ 15 - 25 ngày

Hình 1.1 Ấu trùng của sùng khoai lang Cylas formicarius (Đỗ Hoàn Tuấn, 2010)

c Nhộng

Nhộng có màu trắng ngà dài từ 4 - 8 mm, sau chuyển dần sang màu vàng Vòi cúi gập về phía mặt bụng Ở mút bụng có một đôi gai lồi, hơi cong, thời gian nhộng kéo dài từ 4 - 10 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)

Hình 1.2 Nhộng của sùng khoai lang Cylas formicarius (Đỗ Hoàn Tuấn, 2010)

Trang 18

d Thành trùng

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), thành trùng có thân dài 5 - 8

mm, hình dạng rất giống kiến, hoạt động mạnh vào ban đêm Đầu có màu đen, bụng có màu xanh đen và ngực có màu nâu đỏ, miệng dài, mắt kép hình bán cầu hơi lồi ra hai bên đầu, râu đầu có 10 đốt Đốt râu cuối thành trùng đực có hình ống dài trong khi thành trùng cái thì có đốt cuối phình to, hình trứng Ngực trước có chiều dài gấp đôi chiều rộng, đốt đùi nở to Thành trùng cái sống khoảng 100 ngày và đẻ khoảng 200 trứng Sùng khoai lang thường đẻ trứng rời rạc vào từng lỗ nhỏ ở dây và củ khoai Thông thường, mỗi lỗ chỉ đẻ một trứng và sau đó thành trùng dùng nước bọt lấp lỗ có

đẻ trứng lại

Trong điều kiện phòng thí nghiệm, ở 15oC thành trùng có thể sống 200 ngày nếu được cung cấp đủ thức ăn và khoảng 30 ngày nếu thiếu thức ăn Còn ở 30oC thì sùng khoai lang sống khoảng 30 ngày trong điều kiện có thức ăn và 8 ngày nếu thiếu thức ăn

Trang 19

thuận lợi cho sự hoạt động của chúng Thời tiết khô hạn còn làm đất nứt nẻ, thành trùng có thể tìm đến các củ khoai đẻ trứng một cách dễ dàng

1.1.5 Cách gây hại

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), chúng gây hại bằng cách ăn biểu

bì của thân, lá và đục phá ruột củ Khi cây khoai chưa có củ thì sùng sống trong thân dây khoai với mật số không cao, khi củ bắt đầu hình thành chúng sinh sản rất nhanh và chuyển sang phá hại củ, nhất là những củ có phần lộ lên khỏi mặt đất hoặc nằm sát mặt đất

Cả ấu trùng và thành trùng đều gây hại cho cây khoai lang (Nguyễn Văn Huỳnh

và Lê Thị Sen, 2004)

Khi trứng của sùng khoai lang nở thì ấu trùng chui ra đục ngay vào phần thịt củ

để phá hại Các đường đục của sâu ngoằn ngoèo, không theo hướng nhất định Do vậy, nếu khoai bị tấn công khi củ còn non, củ sẽ bị lép, không phát triển được và làm giảm năng suất Sự gây hại càng nguy hiểm hơn nếu khoai bị sùng tấn công khi củ đã lớn, phẩm chất khoai giảm do phần thịt xung quanh đường đục bị chuyển sang màu vàng nâu, có mùi hôi, vị đắng không thể ăn được và cũng không thể làm thức ăn cho vật nuôi nên gây thất thu rất lớn cho người trồng khoai Để chống lại sự gây hại của sùng,

củ sinh ra chất terpenes có mùi khó chịu làm cho củ không ăn được dù mức terpenes thấp và mức độ hư hỏng vật chất thấp (Mai Thạch Hoành, 2001) Ngoài ra, ấu trùng còn gây hại trên dây khoai làm chết dây không tạo được củ

Thành trùng sùng khoai lang thường ở mặt dưới lá, chúng gây hại bằng cách ăn gặm phần thân, mầm hoặc lá khoai lang non nhưng đặc biệt là củ khoai Do đó, những

củ khoai nhô lên khỏi mặt đất hay lộ qua kẻ đất nứt rất dễ bị thành trùng sùng khoai lang tấn công Các vết đẻ trứng của thành trùng sẽ là nơi xâm nhập của nấm và vi khuẩn và làm dây khoai bị suy yếu dần (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004) Sùng khoai lang vẫn sinh sống trên những ruộng đã thu hoạch xong, chúng sống trên tàn dư của cây khoai (củ, thân) là nơi lưu tồn gây hại cho vụ sau Vì vậy, những ruộng thâm canh liên tục nhiều năm thường bị sùng tấn công gây hại rất nặng

1.1.6 Biện pháp phòng trị

Theo Dương Minh (1999), để phòng trị sùng khoai lang, chúng ta có thể áp dụng

kết hợp một số biện pháp chính sau đây:

 Sau khi thu hoạch xong, thu gom toàn bộ dây khoai (nhất là những củ đã

bị sùng gây hại) đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế sùng gây hại cho vụ sau

Trang 20

 Không dùng dây khoai đã bị nhiễm sùng làm giống cho vụ sau

 Vệ sinh đồng ruộng trước khi trồng, thu gom dây khoai và củ khoai còn sống sót từ vụ trước đem tiêu hủy

 Trước khi trồng có thể xử lý hom giống bằng cách ngâm trong dung dịch

có chứa thuốc Vibasu 40ND hoặc 50ND trong vòng 30 phút để diệt sâu, nhộng bên trong dây giống

 Luân canh với cây rau màu khác, tốt nhất là với cây lúa

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), trong quá trình trồng khoai lang cần áp dụng các biện pháp sau để phòng trị sùng khoai lang

 Từ khi hình thành củ phải vun cao và kín gốc không để củ ló lên khỏi mặt đất, thường xuyên tưới đủ ẩm cho luống khoai để đất không bị nứt nẻ, bít đường con trưởng thành chui xuống củ đẻ trứng

 Nếu chủ động được nước thì cho ruộng ngập nước từ 1 đến 2 tuần sau khi thu hoạch để tiêu diệt ấu trùng và nhộng nằm trong đất

 Xắt lát củ khoai lang thành từng khóm để thu hút thành trùng tới rồi dùng thuốc trừ sâu để tiêu diệt

Tóm lại, phải áp dụng kết hợp tất cả các biện pháp để đạt hiệu quả phòng ngừa sùng khoai lang tốt nhất

1.2 Một số côn trùng gây hại quan trọng khác trên khoai lang

Trang 21

Hình 1.4 Sâu ăn tạp (Spodopetera litura Fabricius) và thành trùng rầy phấn trắng

(Aleurodicus dispersus Russell)

Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006), sâu ăn tạp có một số đặc điểm:

Bướm có thân dài 16 - 21 mm, sải cánh 37 - 42 mm Cánh trước màu nâu vàng, phần giữa từ mép trước cánh có một vân ngang rộng màu trắng Trong đường vân này

có 2 đường vân màu nâu (ở con đực không rõ), cánh sau có màu trắng có phản quang màu tím

Trứng hình bán cầu, đường kính 0,5 mm Bề mặt trứng có những đường khía dọc

từ đỉnh xuống đáy trứng (36 - 39 đường) cắt ngang bởi những đường khía ngang tạo nên những ô nhỏ Trứng mới đẻ có màu trắng vàng, sau chuyển thành màu vàng xám, khi sắp nở có màu xám Trứng xếp với nhau thành ổ có lông màu nâu vàng phủ bên ngoài

Nhộng dài 18 - 20mm, màu nâu hoặc nâu tối, hình ống tròn Mép trước đốt bụng thứ 4 và vòng quanh các đốt bụng thứ 5, 6, 7 có nhiều chấm lõm Cuối bụng có một đốt gai ngắn

Sâu non đầy sức dài 38 - 51 mm, phần lớn có màu nâu đen hoặc nâu tối, một số ít

có màu xanh lục Vạch lưng và vạch phụ lưng màu vàng Trên mỗi đốt vạch phụ lưng

có một vệt đen hình bán nguyệt, trong đó vệt ở đốt bụng thứ 1 và đốt bụng thứ 8 là lớn nhất

Trang 22

b Tập tính sinh sống và cách gây hại

Bướm vũ hóa vào buổi chiều, hoạt động từ lúc chập tối đến nửa đêm Ban ngày bướm đậu ở mặt dưới lá hoặc trong các bụi cỏ Bướm bay rất mạnh Sau khi vũ hóa vài giờ thì có thể bắt cặp và đẻ trứng ngay sau đó

Sâu vừa nở ăn gặm vỏ trứng và sống tập trung, khi bị động thì nhả tơ buông xuống đất, sâu tuổi 1-2 thích ăn gặm biểu bì dưới lá, từ tuổi 3 trở đi có sự phản ứng với ánh sáng, thích ẩn nấp nơi tối Sâu tuổi lớn ăn thịt lẫn nhau khi thiếu thức ăn Sâu làm nhộng trong đất

Sử dụng một số loại thuốc theo liều khuyến cáo: Regent, Padan, Trebon, Sevin…

1.2.3 Sâu đục dây khoai lang,

Tên khoa học Omphisia anastomasalis Guenée

Nhộng có đầu nhọn, màu vàng rơm

Thành trùng dài 15mm, đầu và thân có màu hơi nâu đỏ, cánh màu nâu vàng, trên cánh có đốm trắng và gợn sang màu nâu nhạt

b Triệu trứng gây hại

Theo Mai Thạch Hoành (2003), sâu đục vào thân chính ngay sau khi nở và đôi khi chui vào củ, ấu trùng ăn làm thân bị rổng, phình to, dây héo vàng, bên trong thân

Trang 23

rổng chứa đầy phân sâu và đôi khi thấy phân thảy ra bên ngoài Dây khoai lang bị hại héo dần và chết sau đó, nếu như dây khoai lang vào đầu thời kỳ sinh trưởng sẽ ức chế

mm, thời gian nhộng 3 - 6 ngày Thành trùng màu xám trắng, dài khoảng 3,5 - 4 mm

b Tập quán sinh sống và cách gây hại

Ấu trùng ăn lớp nhu mô bên trong lá, chừa lại lớp biểu bì Những chổ bị gây hại

có thể nhìn xuyên qua lá do lá bị ăn hết phần nhu mô bên trong Ấu trùng chui ra bên ngoài lá và nhả tơ xung quanh vị trí hóa nhộng Thành trùng cái đẻ từ 1 - 67 trứng từ 1

- 2 ngày

Hình 1.5 Ấu trùng sâu vẽ bùa (Bedellia somnulentella)

1.3 MỘT SỐ TRIÊN ĐỊCH QUAN TRỌNG TRÊN CÂY KHOAI LANG

1.3.1 Nhện lùn

Tên khoa học: Atypena formosana

Họ: Linyphiidae

Bộ: Araneae

Trang 24

Đặc điểm: Nhện lùn trưởng thành có 3 đôi chấm vạch lưng Nhện lùn thích kéo màng ở dưới gốc, nhện di chuyển chậm và bắt mồi chủ yếu khi con mồi mắc vào mạng nhện.

Hình 1.6 Thành trùng kiến ba khoang đuôi nhọn (Paederus fuscipes) và nhện lùn

(Atypena formosana)

1.3.2 Kiến ba khoang đuôi nhọn

Tên khoa học: Paederus fuscipes

Họ: Staphylinidae

Bộ: Coleoptera

Đặc điểm: Thân mình thon, dài 1 - 1,2 cm, ngang 2 - 3 mm, nhìn giống kiến có 3 đôi chân, bụng có đốt, trong đó có một đốt màu đỏ, bay và nhảy rất nhanh; cơ thể đôi khi màu cam tối, hay sậm màu và nhọn ở vùng bụng, vùng bụng trên và đầu có màu đen, vùng trên giữa phát quang ngũ sắc, óng ánh màu xanh, đính kèm đôi cánh cứng Một đôi cánh trong suốt gập lại gọn và được dấu dưới cánh cứng

1.4.1 Khái niệm pheromone

Pheromone là những hóa chất tín hiệu được cá thể côn trùng tiết ra ngoài môi trường để tác động lên hành vi và các hoạt động sinh lý của các cá thể khác nhau cùng

Trang 25

một loài (Bùi Công Hiển, 2002) Dựa vào đặc tính sinh lý, sinh thái của pheromone đối với côn trùng và đặc tính tồn tại ngoài tự nhiên mà pheromone được chia thành: pheromone đánh dấu (trail-making pheromone), pheromone báo động (alarm pheromone) và pheromone giới tính (sex pheromone) (Lê Văn Vàng, 2006)

1.4.2 Pheromone giới tính

Pheromone giới tính (sex pheromone) là một chất hóa học hay hỗn hợp của những chất hóa học được cá thể tiết ra môi trường để hấp dẫn sự bắt cặp của những cá thể khác giới trong cùng một loài Do hoạt động như những hóa chất sinh học với tính chọn lọc cao và nồng độ rất thấp, pheromone giới tính không gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Bên cạnh việc làm đối tượng nghiên cứu cho các lĩnh vực như hoá học hữu cơ, hóa chất sinh thái học và côn trùng học ứng dụng (Ando và ctv., 2004) Pheromone giới tính là nhóm pheromone được nghiên cứu rộng rãi nhất trong IPM, pheromone còn là một sự thay thế hiệu quả cho nông dược trong công tác quản lý

sâu hại (Gibb và ctv., 2005)

1.4.3 Nghiên cứu và ứng dụng pheromone giới tính trên sùng khoai lang (Cylas

formicarius Fab.)

Heath và ctv., (1986), đã xác định pheromone giới tính của sùng khoai lang chỉ

gồm một thành phần duy nhất là (Z)-3-Dodecenyl-(E)-2-Butenoate, đã có nhiều nghiên

cứu pheromone giới tính trong việc quản lý sùng khoai lang

Biện pháp sử dụng bẫy tập hợp con đực với mồi pheromone giới tính đã được ứng dụng thành công để quản lý sùng khoai lang ở các nước như Đài Loan (Hwang, 2000), Ấn Độ (Pillai, 1993), Nhật Bản (Yasuda, 1995)

Ở Okinawa ,Nhật Bản, thì Heath (1992), đã tiến hành thử nghiệm trên cánh đồng dùng 1 tuýp cao su với 1 mg pheromone tổng hợp cho thời gian thu hút hơn 1 tháng Kết quả nghiên cứu Hwang (2000), cho rằng 1 mg pheromone tổng hợp nhồi trong một ống nhựa PE nhỏ cho hiệu quả hơn 2 tháng và khi đặt 4 bẫy pheromone trên 1.000m2 có thể giảm thiệt hại của sùng khoai lang gây ra 57 - 65% và 62 - 75% khi kết hợp giữa bẫy pheromone với thuốc trừ sâu Chlorpyrifos (Dursban)

Yasuda (2004), đã sử dụng bẫy pheromone giới tính kết hợp với nấm Beauveria

bassiana làm cho 96,2% thành trùng đực chết sau khi nhiễm bệnh 21 ngày và 24%

thành trùng cái chết sau khi nhiễm bệnh 35 ngày Tỉ lệ sùng bị nhiễm nấm ở thành trùng đực là 57,9% và ở thành trùng cái là 31,6%

Ngày đăng: 08/04/2018, 23:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w